Chuyển đến nội dung chính

Giáo dục đại học - bài học từ hạt gạo


    Hàng trăm ngàn sĩ tử ĐBSCL và hàng triệu học sinh toàn quốc đang vào cuộc đua nước rút cho 2 kỳ thi quan trọng: Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ). Cổng trường ĐH vẫn là niềm mơ ước của nhiều bạn trẻ. Trong khi nhiều trường ĐH, CĐ ngoài công lập, sau thời kỳ được bung ra”, đang trong giai đoạn ngoi ngớp “đốt đuốc” tìm thí sinh.
    Sinh viên và người lính. Ảnh: Nguyễn Công Hoá (dự thi ảnh đẹp Tây Nam Bộ)
    Từ số lượng ít ỏi các trường ĐH công lập nặng tính bao cấp trước đây, đến hàng loạt trường ĐH, CĐ ra đời, tạo “diện mạo mới”. Nhưng đáng tiếc, do nhiều trường “đẻ non” nên đến lúc phải “kế hoạch hoá sinh sản”, tiếp sức, thay đổi về chất, xiết lại trật tự kỷ cương... trước khi xuất hiện “cái chết hàng loạt” như nhiều người dự báo.

    Tạp chí Times Higher Education (Anh) mới đây công bố bảng xếp hạng 100 ĐH hàng đầu châu Á. Việt Nam không có một trường ĐH nào trong bảng xếp hạng này. Mong ước có trường ĐH trong tốp đầu thế giới hay khu vực là cần thiết. Đã có những “khởi động” cho các trường ĐH xuất sắc đẳng cấp quốc tế, tốp đầu châu Á, khu vực... Nhưng quan trọng hơn là làm gì để hiện thực hoá điều đó, và đạt được để làm gì?

    Mặc dù ngày càng có nhiều cán bộ quản lý với học hàm, học vị, nhưng số lượng công bố nghiên cứu khoa học quốc tế ở Việt Nam vẫn thưa thớt mà có người đã so sánh “chưa bằng một trường ĐH như Chulalongkorn hay Mahidol của Thái Lan”. Đã xuất hiện hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp ĐH ra trường làm công nhân, hàng loạt sinh viên bị từ chối việc làm. Trong khi chất lượng đào tạo ĐH ngày càng đáng lo ngại, thì mối quan tâm lớn của các trường vẫn là tăng chỉ tiêu, hạ điểm sàn, điểm chuẩn, thậm chí bỏ môn thi để “tuyển được nhiều” và có lãi. Cho đến nay, vẫn khó trả lời là các trường ĐH hoạt động với “động cơ” lợi nhuận hay phi lợi nhuận? 

    Đã có nhiều ý kiến và bài học cho giáo dục ĐH, CĐ ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng. Song, bài học từ hạt gạo của nông dân cũng rất đáng được các bậc thức giả và nhà hoạch định chính sách, chiến lược suy ngẫm. Hạt gạo Việt và vựa lúa miền Tây đã làm nên kỳ tích khi liên tục tăng trưởng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu để nhanh chóng chuyển từ một quốc gia thiếu lương thực trong thập niên 80 lên hàng cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới liền sau đó. Nhưng đằng sau của ngôi vị số 1, số 2 là cảnh “trúng mùa, mất giá”, lúa gạo tồn đọng - mua tạm trữ, là đời sống người dân chưa giàu lên tương ứng với đóng góp của họ.

    Việc lọt vào bảng xếp hạng các trường ĐH xuất sắc châu Á hay trên thế giới không phải là mục tiêu quan trọng vì còn nhiều việc quan trọng hơn phải làm. Giáo dục ĐH - bài học từ hạt gạo, rất đáng được học.

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    "Tính cách người Việt theo vùng miền"

    Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

    Nhớ Cần Thơ phố

    Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...

    GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

    Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...