14 tháng 11, 2017

Hậu của “thẻ vàng" EU

Trần Hữu Hiệp
Liên hiệp châu Âu (EU) cảnh báo: Hải sản Việt Nam nhập khẩu vào thị trường này không bảo đảm quy định IUU về nguồn gốc đánh bắt minh bạch. Sau tấm “thẻ vàng” này sẽ là hồi chuông cảnh báo đòi hỏi một giải pháp toàn diện.
Cảng cá Bình Đại, Bến Tre
Trong “nguy” có “cơ”
IUU (illegal, unreported and unregulated fishing) là quy định của EU buộc nhà thương mại phải chứng minh nguồn gốc minh bạch của hải sản khai thác nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ mọi hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý. Năm 2008, IUU được Hội đồng châu Âu chính thức thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2010. Quy định này cũng đang được Hoa Kỳ xem xét áp dụng vào năm 2018.
Theo Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn), đã có 25 quốc gia, vùng lãnh thổ xuất khẩu thủy sản vào thị trường châu Âu bị vướng “thẻ vàng”, trong đó có sáu quốc gia bị phạt “thẻ đỏ”. Tuy nhiên, đến nay, 10 nước được dỡ thẻ vàng, ba nước được dỡ thẻ đỏ. Các nước vướng thẻ thường mất từ một đến hai năm để khắc phục. Ngay cả quốc gia nông nghiệp hàng đầu như Thái-lan, dù có nhiều nỗ lực, nhưng đã ba năm vẫn chưa được EU gỡ thẻ vàng.
Mặc dù “thẻ vàng EU” mới chỉ là một cảnh báo được đưa ra để Việt Nam có biện pháp khắc phục mà chưa có bất kỳ chế tài thương mại nào; nhưng nó cũng đang tác động tiêu cực đến xuất khẩu thủy sản nước ta, dẫn đến hệ lụy 100% lô hàng xuất khẩu vào châu Âu bị kiểm tra nguồn gốc, làm mất thời gian, chi phí và có khả năng tạo hiệu ứng đô-mi-nô, tác động xấu đến việc xuất khẩu sang các thị trường khác như Mỹ.
Bởi vậy, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cần nhanh chóng hành động thích ứng với sân chơi và luật chơi hội nhập ngày càng khắt khe hơn. Rất cần các Bộ quản lý chuyên ngành, Tổng cục Thủy sản và Hiệp hội nghề cá, VASEP phải vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa hỗ trợ cho việc đầu tư, chuyển đổi phương thức đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy sản. Và hơn cả là cần phải tạo dựng môi trường minh bạch, chủ động hội nhập sân chơi lớn và tuân thủ luật chơi chung.
Nhìn ở góc độ tích cực, việc EU rút thẻ vàng đối với mặt hàng thủy sản đánh bắt của Việt Nam cũng chính là cơ hội để chúng ta đánh giá lại thực trạng, tổ chức lại sản xuất, hoàn thiện hệ thống quản lý nghề cá hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Quốc hội cũng đang xem xét thông qua dự thảo Luật Thủy sản (sửa đổi) với những quy định mới về “Khai thác thủy sản bất hợp pháp và chứng nhận, xác nhận thủy sản có nguồn từ khai thác” theo quy định của IUU. Thách thức và cơ hội đan xen nhau, phụ thuộc vào kết quả của nỗ lực và hành động cụ thể.
Thị trường nội cũng có quyền đòi hỏi?!
Việt Nam xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là nông, thủy sản đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng cũng là một thị trường tiêu thụ lớn với hơn 90 triệu dân. Người tiêu dùng Việt hoàn toàn có quyền đòi hỏi thông tin minh bạch đối với các sản phẩm mình bỏ tiền ra mua!
Trong bối cảnh ấy, cần ủng hộ mạnh mẽ hơn những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đã có nhiều ý kiến trái chiều khi UBND tỉnh An Giang ra lệnh cấm và gia tăng kiểm soát việc ngư dân bắt cá linh non đầu mùa lũ năm nay để bảo vệ loài cá đặc sản dòng Mê Công này. Song, tăng cường kiểm soát cùng với những hỗ trợ sinh kế thiết thực cho người dân là cần thiết.
Không chỉ trong lĩnh vực thủy sản, các quy định và điều kiện minh bạch để người tiêu dùng có quyền truy xuất nguồn gốc nông sản đang được áp dụng ngày càng phổ biến hơn ở Việt Nam. Tuy nhiên, quyền này chỉ có thể bảo đảm thực thi khi chúng ta có nền sản xuất được quản lý chặt chẽ theo chuỗi, từ đồng ruộng đến siêu thị và bàn ăn.
Việc ngành thủy sản nỗ lực thoát “thẻ vàng” của EU cần được nhìn rộng hơn, trước yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển. Cần tạo môi trường thuận lợi để thiết lập và tăng cường các mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, HTX; giữa doanh nghiệp, HTX với người dân; giữa người dân với người dân… nhằm tổ chức, hình thành mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm chặt chẽ hơn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc cải tiến, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi giá trị, và thông tin minh bạch để bảo đảm truy xuất nguồn gốc.
Tái cơ cấu, liên kết hợp tác và hội nhập ở ngành thủy sản vừa là yêu cầu, vừa là động lực cho giai đoạn mới đang mở ra, chứ không chỉ là câu chuyện đối phó với IUU.
Muốn quy trách nhiệm đối với nhà cung cấp thương mại, phải có hệ thống pháp luật chặt chẽ, quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng và bộ máy thực thi hiệu quả.


30 tháng 10, 2017

Sản xuất lúa gạo theo hướng bền vững Bài 1: Còn nhiều cản lực

Hằng năm, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất hơn 50% sản lượng lương thực, cung cấp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Lúa gạo khu vực này đã trở thành ngành hàng có ưu thế lớn.

Thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: TTXVN
Tuy nhiên, trước những thách thức của biến đổi khí hậu, thị trường nhiều biến động, cần thiết sớm có giải pháp phát triển bền vững lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ngành hàng này lại đang gặp không ít cản lực tồn tại nhiều năm qua.
Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng sau 30 năm đổi mới, ngành lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đạt nhiều thành tựu quan trọng; góp phần đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực vươn lên thành cường quốc xuất khẩu gạo, tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.
Tuy nhiên, những thành tích đã qua, không phải là một đảm bảo chắc chắn cho thành công tới. Sản xuất nhiều gạo hơn, xuất khẩu gạo thô nhiều hơn không hẳn là giải pháp cho an ninh lương thực và giúp nông dân làm giàu.
Mà cần cách tiếp cận đa ngành, có sự phân biệt rõ ràng giữa đáp ứng cho mục tiêu chính trị - xã hội – công cộng và kinh tế - thương mại – tạo lợi nhuận hợp lý và bền vững cho nông dân.
Trồng lúa trước yêu cầu mới, không chỉ đơn thuần là một ngành trồng trọt, mà nó phải gắn kết theo chuỗi giá trị lúa gạo.
Chia sẻ về thực trạng hiện nay, ông Trần Hữu Hiệp cho hay, sản xuất lúa của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún.
Dựa trên quy mô và hình thức liên kết sản xuất, thì 86% hộ dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long có quy mô nhỏ, diện tích dưới 2ha; hộ trồng lúa quy mô lớn hơn, diện tích từ 2 ha trở lên chỉ chiếm khoảng 14%.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Cần, Trường Đại học Cần Thơ, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối đầu với sự cạnh tranh của nhiều đối thủ sản xuất kinh doanh mạnh.
Cụ thể nông dân phải cạnh tranh với hàng hóa nông sản nhập khẩu và cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu của nông dân các nước mạnh hơn; với sự tổ chức rất tốt về hệ thống và quy mô, cũng như sự hợp tác trong sản xuất kinh doanh ở đỉnh cao.
Trong khi đó, một thực tế nghiệt ngã là nông dân Đồng bằng sông Cửu Long chịu nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Đó là được mùa rớt giá, tổ chức sản xuất lỏng lẻo đơn độc, kinh doanh thiếu hợp tác mạnh ai nấy làm, thiếu kế hoạch.
Ước tính có trên 50% giá trị sản xuất nông nghiệp cho xuất khẩu của Việt Nam theo kiểu "ăn xổi ở thì", các rủi ro về giá cả thị trường nông dân gánh lấy. ác hình thức kinh tế hợp tác như tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp chưa đủ mạnh, chưa đem lại hiệu quả.
Cùng với đó, chuỗi giá trị lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều khâu trung gian và phụ thuộc rất lớn vào thương lái, đại lý vật tư nông nghiệp.
Ngành lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động rất lớn bởi yếu tố rủi ro do thiên tai, biến động của giá cả thị trường lúa gạo trong nước và trên thế giới.
Sự hưởng lợi của khâu trung gian và việc thiếu vắng tiếng nói của nông dân trong quá trình hoạch định, ban hành chính sách liên quan cũng là những vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong ngành lúa gạo hiện nay.
Một trong những trở lực nữa mà theo Tiến sĩ Đoàn Mạnh Tường, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long là việc tổ chức liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long những năm qua gặp không ít thách thức và khó khăn.
Đó là liên kết sản xuất lúa giữa nông dân với nông dân còn rất khiêm tốn, chưa phát huy hết vai trò của liên kết sản xuất nâng cao giá trị hàng hóa của sản phẩm lúa gạo làm ra.
Cụ thể như trong thực hiện cánh đồng mẫu lớn tại Đồng bằng sông Cửu Long đã bước sang giai đoan thứ hai, dựa trên quy mô liên kết để trở thành cánh đồng lớn và định hình vùng nguyên liệu sản xuất ổn định nhiều năm, tiến tới giai đoạn thứ ba là xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam.
Tuy nhiên, qua số liệu của Cục Trồng trọt cho thấy, toàn vùng năm 2014 đã triển khai được gần 150.000 ha và năm 2015 triển khai hơn 200.000 ha, nhưng đến vụ Hè Thu năm 2017 thực hiện cánh đồng lớn với diện tích hơn 100.000 ha, giảm gần 30.000 ha so với vụ Hè Thu 2016.
Điều đáng lo ngại là so diện tích canh tác lúa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì diện tích triển khai cánh đồng lớn vẫn còn quá nhỏ.
Năm 2014 diện tích cánh đồng lớn của vùng chỉ chiếm hơn 3% tổng diện tích canh tác cả vùng, qua năm 2015 diện tích tăng được gần gấp đôi và diện tích này tăng thêm chưa được 1%, chiếm 6,35% tổng diện tích lúa vụ Hè Thu năm 2017 của vùng.
Cùng với đó, việc liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp cũng nằm trong tình trạng chung như liên kết sản xuất giữa nông dân với nông dân trong xây dựng cánh đồng lớn.
Nhiều doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo bắt đầu tham gia liên kết với nông dân thời gian gần đây như Công ty Hoàng Nhật Minh, Công ty Gentraco, Công ty Hiệp Lợi, Công ty Vinacam, Công ty Cờ Đỏ, Công ty Mê Kong; Công ty Lương thực Sông Hậu, Công ty Vinafood I, Công ty Vinafood II,…
Tuy nhiên, sự tham gia sâu trong liên kết của các công ty là chưa nhiều. Năm 2013, diện tích lúa được bao tiêu sản phẩm chỉ chiếm khoảng 4,5% tổng diện tích canh tác lúa và chiếm khoảng 17% diện tích cánh đồng lớn.
Năm 2014, diện tích lúa được bao tiêu sản phẩm chỉ chiếm gần 8% tổng diện tích canh tác lúa và chiếm gần 30% diện tích cánh đồng lớn.
Vụ Hè Thu năm 2017 diện tích lúa được các doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho toàn vùng đạt 3,45% tổng diện tích lúa và chiếm 54,32% diện tích cánh đồng lớn.
Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng hiện phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu gạo chưa có liên kết, hợp tác chặt chẽ với nhau để tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới; chủ yếu tự mình tìm kiếm khách hàng, đặt giá, xây dựng thương hiệu.
Một số doanh nghiệp đầu tư sản xuất gạo hữu cơ, bước đầu quan tâm đầu tư xây dựng thương hiệu và một số sản phẩm sau gạo, tuy chưa nhiều, nhưng cũng đáng ghi nhận, cần được khuyến khích.
Tuy nhiên, nhìn chung, các nhà xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam vẫn chưa có sự liên minh, liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở các nước khác để đạt được thế mặc cả cao hơn trên thị trường.
Ở một khía cạnh khác về sự lỏng lẻo trong liện kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, ông Nguyễn Văn Vui, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, nhìn nhận có nhiều nguyên nhân mà mô hình liên kết sản xuất lúa theo cánh đồng lớn là rất tốt, nhưng không tăng được diện tích trong thời gian qua.
Đó là việc tham gia của chính quyền địa phương trong giải quyết các khó khăn, vướng mắc giữa nông dân và doanh nghiệp chưa được kịp thời. Nhất là việc nông dân mãi chạy theo năng suất mà quên quan tâm chất lượng, chạy theo cái lợi trước mắt mà phá vỡ hợp đồng làm ăn trong lâu dài.
Rõ ràng, liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn là một mối liên kết yếu, đặc biệt chưa thể hiện được nhiều trong mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa nông dân và doanh nghiệp.
Hơn bao giờ hết, người nông dân cần sớm liên kết lại, tổ chức lại theo hình thức hợp tác xã kiểu mới, tiên tiến và đủ mạnh, đủ lớn để giúp họ quản lý, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, sản xuất theo chuỗi giá trị và áp dụng công nghệ cao một cách tốt hơn./.
Bài 2: Nâng cao năng lực hợp tác xã trồng lúa
Xem thêm:
Phạm Duy Khương/TTXVN


7 tháng 10, 2017

Cụm dân cư vượt lũ ĐBSCL

TTO - Trong hai ngày 26 và 27-9 tại Cần Thơ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ chủ trì “hội nghị Diên Hồng” đặc biệt quan trọng đối với ĐBSCL.

Trẻ em vui chơi bên cạnh những ngôi nhà bỏ hoang ở tuyến dân cư Cà Dăm, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An - Ảnh: Vân Trường
Hàng loạt vấn đề lớn liên quan đến sinh kế của người dân, trong đó có cụm dân cư vượt lũ, sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông - thủy lợi, cơ chế điều phối nguồn nhân lực và ngân sách trung ương... sẽ được các chuyên gia quốc tế và VN thảo luận để giúp Chính phủ đưa ra những quyết sách đột phá nhằm phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Đồ họa: VIỆT THÁI


Ông Trần Hữu Hiệp (ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ):"An cư" nhưng không "lạc nghiệp"
Ảnh: C.QUỐC
Sau hơn 15 năm thực hiện cho thấy chương trình xây dựng các cụm - tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL là một chủ trương đúng. 
Nó không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, mà còn mang tính nhân văn sâu sắc vì đã giúp hơn 200.000 hộ với hơn 1 triệu dân vùng ngập lũ có chỗ ở an toàn.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận những tồn tại, hạn chế đã và đang xảy ra. 
Thứ nhất, việc chọn vị trí đầu tư xây dựng các cụm - tuyến dân cư chưa phù hợp, có biểu hiện chạy theo phong trào xây dựng và tiến độ. 
Hai là việc đầu tư "cắt khúc", hạ tầng giao thông, thương mại, điện, trường học, các thiết chế văn hóa không đồng bộ, chưa đảm bảo môi trường sống lâu dài, bền vững. 
Và đặc biệt là phát triển sinh kế cho người dân tại nơi ở mới chưa được chú trọng đúng mức. Đó là lý do nhiều người dân không vào ở hoặc xây dựng nhà xong không ở.
Một không gian sống mới của người dân cần phải được đảm bảo 2 điều kiện là "phần cứng" (hạ tầng kỹ thuật, nhà ở) cho an cư, nhưng "phần mềm" (sinh kế, thu nhập, học hành cho con cháu, sinh hoạt văn hóa, tinh thần) cho lạc nghiệp còn quan trọng hơn. 
Vì vậy, hệ quả là còn nhiều người nghèo vùng lũ chưa được hưởng lợi từ chính sách này và sự lãng phí nguồn lực đầu tư.
Ông Nguyễn Mạnh Khởi (phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng):
Đề xuất chấp thuận mua bán lô nền
Để xử lý tình trạng cụm - tuyến dân cư ít người ở hoặc có tình trạng nhà bỏ hoang, tháng 12-2016, Bộ Xây dựng đã thành lập đoàn công tác liên ngành kiểm tra, rà soát tình hình thực hiện chương trình xây dựng cụm - tuyến dân cư một số địa phương; đồng thời tổ chức cuộc họp với các bộ, ngành để trao đổi và đề xuất hướng xử lý.
Trên cơ sở ý kiến của các bộ ngành, Bộ Xây dựng đã có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ kiến nghị thực hiện một số giải pháp như:
- Cho phép địa phương chủ động điều tiết bán đấu giá nền linh hoạt được xây dựng trong giai đoạn 1 và giai đoạn 2 để có kinh phí đầu tư phát triển, duy tu và bảo trì hệ thống hạ tầng của cụm - tuyến.
- Chấp thuận việc mua bán lô nền để xây dựng nhà giữa những người thừa kế của các hộ được nhận lô nền hoặc giữa các hộ nghèo hoặc cận nghèo hoặc chấp thuận công nhận các trường hợp đã nhận chuyển nhượng lô nền hoặc nhà ở tại các cụm - tuyến để tránh tình trạng bỏ trống lô nền.
- Đối với lô nền còn thừa mà không còn hộ thuộc chính sách để bố trí thì cho phép địa phương bán đấu giá để thu hồi vốn xây dựng cụm - tuyến và có thêm nguồn kinh phí duy tu, bảo trì hệ thống hạ tầng kỹ thuật của cụm - tuyến dân cư...
Tiền Giang: xây nhà ở khu vực đông dân
Ông Trần Phương Nam - phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Tiền Giang - cho biết trong hai giai đoạn chương trình cụm - tuyến dân cư vượt lũ, toàn tỉnh có 125 dự án. Hiện đã có trên 90% hộ dân vào ở, cuộc sống tương đối ổn định.
Theo ông Nam, ngay từ đầu tỉnh quyết định chọn địa điểm xây dựng cụm - tuyến dân cư là ở các khu vực đông dân, gần trung tâm xã, có trường học, trạm y tế, chợ.
Tập quán của người dân nông thôn không muốn đi quá xa nơi họ sinh sống, nên không xây dựng ở nơi đồng trống hoặc quá xa trung tâm xã.
Cũng vì không phải di dời xa và có điều kiện làm thuê làm mướn kiếm sống nên họ "an cư", không đòi trả nhà.
Đồng Tháp: không đưa ra đồng trống nữa
Ông Nguyễn Văn Dương - chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp - nói một số cụm - tuyến dân cư có tỉ lệ dân vào ở thấp (như ở huyện Tân Hồng) là do trong giai đoạn 1 quy hoạch xây dựng chưa hợp lý, hạ tầng giao thông chưa tốt, không kết nối được với trung tâm xã.
Giai đoạn 2 tỉnh rút kinh nghiệm chỉ xây dựng ở các khu trung tâm nên tỉ lệ dân vào ở cao, chỉ xây dựng ở gần trung tâm chứ không đưa ra đồng trống.
VÂN TRƯỜNG - LÂM HOÀI


Nông nghiệp ĐBSCL: Từ đồng ruộng vào thương trường

Trần Hữu Hiệp
Ngày 26-27/9, Hội nghị Chính phủ về “Chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng BĐKH” sẽ diễn ra tại Cần Thơ với khoảng 500 đại biểu trong nước và quốc tế tham dự, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Nhận diện thách thức, định hình chiến lược và hoạch định cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển đồng bằng là những nội dung quan trọng được thảo luận tại hội nghị. Báo Cần Thơ giới thiệu bài viết của ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên Chuyên trách Ban Chỉ đạo (BCĐ) Tây Nam Bộ, trao đổi về vấn đề trên.


Trước “gọng kiềm” ba tầng thách thức

ĐBSCL đang đối mặt trước hai thách thức toàn cầu xuyên biên giới là BĐKH, nước biển dâng và hội nhập, cạnh tranh quốc tế; một thách thức khu vực là việc sử dụng nước đầu nguồn sông Mê Công và thách thức từ chính các vấn đề nội tại của đồng bằng. 3 tầng thách thức đó không tác động riêng lẻ mà đang tạo ra “thế gọng kiềm”, đòi hỏi sự nhận diện hệ thống, có chiến lược ứng phó dài hạn, sự tiếp cận đa ngành và phối hợp giải quyết liên ngành.

BĐKH là một hiện tượng toàn cầu mà ĐBSCL được nhận diện là 1 trong 3 đồng bằng trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Nó không phải là câu chuyện trăm năm mà đang hiển hiện ngay trước mặt, ngày càng rõ nét trong những năm gần đây. Chuỗi đập thủy điện “treo túi nước” và các kiểu “trích máu dòng sông” bằng các dự án chuyển nước dòng chính làm suy thoái nghiêm trọng tài nguyên nước, tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế dựa trên hoạt động nông nghiệp, thủy sản và nền công nghiệp, dịch vụ vốn gắn liền với trụ cột kinh tế đó của đồng bằng. Thách thức kép từ nước biển dâng, xâm nhập mặn với sự sụt giảm và suy thoái nghiêm trọng càng bị nhân lên trước những vấn đề nội tại của đồng bằng. Đó là một mô hình phát triển nặng khai thác tài nguyên, nền nông nghiệp với đầu vào – đầu nặng số lượng, nhẹ chất lượng và giá trị nông sản, ra chậm chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững. Điều đáng lo ngại là các thách thức này không tác động riêng lẻ mà tích lũy, liên hoàn tác động. Rất cần được xem xét tổng thể, định hướng mô hình phát triển, xác định các nhóm giải pháp chiến lược, những đột phá trong tư duy để thống nhất hành động trong toàn xã hội.

Tư duy trên đôi chân phát triển đồng bằng

Khó có thể có cuộc chuyển đổi lớn mang tính cải cách mạnh mẽ, trong khi vẫn còn đó những cản trở về chính sách đất đai, thiếu khoa học kỹ thuật cho sản xuất hàng hóa lớn, mô hình tổ chức sản xuất - kinh doanh nông nghiệp. Không thể lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ lúa, muối, một ít chính sách hỗ trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật có tính đối phó ngắn hạn.

Tầm nhìn tổng quan, tư duy hệ thống là đòi hỏi trước các thách thức, cơ hội để định ra các giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển; xây dựng nền nông nghiệp bền vững, nâng cao sức chống chịu và thích ứng trước nhiều thay đổi. Cần sử dụng công cụ quy hoạch không gian và tích hợp, phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi, xây dựng; xác định nhu cầu và điều phối nguồn lực phát triển vùng đang được kỳ vọng với lời giải tổng thể bằng sự tiếp cận đa ngành, phối hợp giải quyết liên ngành.

Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp, trước tiên cần chuyển đổi tư duy làm chính sách mới thúc đẩy các mô hình làm ăn mới. Nông dân của ta đang miệt mài giải bài toán chi phí - lợi ích, kinh tế - môi trường, sinh kế - đời sống dân sinh. Trong khi thực tiễn cho thấy đòi hỏi, sức ì trong thể chế và nội tại của sản xuất nông nghiệp cần được phá băng.

Tư duy thị trường phải được định hình ngay trong tư duy quy hoạch và định hình cơ chế chính sách. Chính thị trường mới quyết định nuôi trồng, sản xuất cái gì, như thế nào và bán cho ai? Không thể duy ý chí, áp đặt chủ quan từ bên trên để đặt chỉ tiêu phải sản xuất bao nhiêu, kim ngạch xuất khẩu đạt bao nhiêu. Nói cách khác, không thể áp đặt trồng cây gì, nuôi con gì trong một thị trường luôn thay đổi, “trăm người bán, vạn người mua”, mà chỉ có thể định hướng và phải luôn linh hoạt theo độ co giãn của thị trường.

Nông dân “4 bước”, nông nghiệp  “4 đúng”

Nông dân là chủ thể, nông thôn là địa bàn, nông nghiệp là cơ hội. Nông thôn ĐBSCL đang trong tình trạng “4 nhất”: nghèo nhất, lạc hậu nhất, hưởng phúc lợi xã hội thấp nhất và dễ bị tổn thương nhất. Trước thách thức sống còn của những thay đổi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, nước và thị trường, nông thôn ĐBSCL cần thay đổi căn bản; nông nghiệp chuyển đổi theo “4 đúng”: đúng lượng, đúng chất, đúng thời điểm, đúng giá trị nông sản; nông dân phải vượt qua hoặc vướng lại trong “4 bước đi”: bước lên, bước xuống, bước vào, bước ra. Vào làm ăn và đi lên bằng doanh nông hiện đại, theo cách làm mới, liên kết, hợp tác làm giàu hay bước ra riêng lẻ, tụt hậu trước thách thức, cạnh tranh toàn cầu. Cần những nghiên cứu căn cơ, thiết thực, đề xuất cải tiến cơ chế, chính sách liên kết vùng, thực hiện “tam nông” trong điều kiện và đặc thù riêng của vùng.

Các chính sách của Nhà nước cũng phải hướng tới giúp người sản xuất nhận diện và thẩm thấu tư duy thị trường như đào tạo kiến thức thị trường, cung cấp thông tin, hỗ trợ giảm chi phí vận chuyển, bảo quản, phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã (đào tạo nhân lực, đầu tư kho bãi, nhà kho, nhà xưởng...).

Chuyển đổi mô hình phát triển cho đồng bằng phải được tiến hành bằng tư duy, chính sách dài hạn hơn là những đối phó ngắn hạn. Kế hoạch ĐBSCL, tầm nhìn dài hạn đến năm 2100 được các chuyên gia Hà Lan cùng các nhà khoa học trong nước khuyến nghị Chính phủ xem xét qua 4 kịch bản phát và khuyến nghị  mô hình công nghiệp hóa kinh doanh nông nghiệp. Cần tập trung ba vấn đề mang tính xương sống. Một là, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung - cầu thị trường. Hai là, tái cấu trúc nông nghiệp phải theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc đổi mới cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Ba là, tập trung cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, tạo các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao. Đưa nhanh các công nghệ mới vào tất cả các khâu: sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, gắn với đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, khuyến khích nông dân khởi nghiệp cùng với nâng cao tri thức kinh doanh nông nghiệp cho nông dân.

Tư duy về lợi thế của nông nghiệp ĐBSCL cần được thể hiện trong một chiến lược quốc gia, vùng miền để tạo ra sức cạnh tranh hơn là quanh quẩn trong địa giới hành chính tỉnh, huyện như vừa qua. Yêu cầu khắc nghiệt của hội nhập, cạnh tranh quốc tế đòi hỏi người nông dân phải vượt khỏi không gian ruộng đồng, phải chuyển đổi tư duy “làm ra nhiều nông sản” sang tư duy “làm ra nhiều giá trị từ nông sản”. Thách thức gay gắt của hội nhập, cạnh tranh đòi hỏi “tam nông” ĐBSCL phải khắc phục những yếu kém nội tại và tận dụng lợi thế. Doanh nhân hóa nông dân, nông dân làm giàu được từ kinh doanh nông nghiệp và môi trường nông thôn mới đáng sống là những kỳ vọng cho một giai đoạn mới.

Trần Hữu Hiệp

Ủy viên Chuyên trách BCĐ Tây Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long và nguyên tắc ‘không hối tiếc’

Hoài Thanh (Vietnamnet)
Vietnamnet, thứ hai, 25/09/2017 06:30
ThS Nguyễn Hữu Thiện đề xuất áp dụng nguyên tắc “không hối tiếc”: Ưu tiên thực hiện trước những hành động ít rủi ro sai lầm khó sửa chữa được. Tôn trọng quy luật tự nhiên….
ÐBSCL là vùng châu thổ phì nhiêu, hội tụ đủ điều kiện cả về nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản và du lịch sinh thái.
Tuy nhiên, tình trạng sạt lở đã và đang diễn ra tại ĐBSCL 25 năm nay và ngày càng dữ dội trong thời gian gần đây. Hơn một nửa chiều dài bờ biển ĐBSCL sạt lở, với tổng chiều dài sạt lở lên đến 891km.

Vụ sạt lở kinh hoàng ở sông Vàm Nao (huyện Chợ Mới, An Giang) tháng 4/2017, khiến nhà cửa tan hoang, người dân phải sống trong trường học, chùa...

ThS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập nghiên cứu về sinh thái ĐBSCL cho biết: ĐBSCL đang đối mặt với 3 thách thức lớn là biến đổi khí hậu, các vấn đề nội tại về phát triển thiếu bền vững và tác động của các đập thủy điện trên sông Mekong.
“Biến đổi khí hậu là sự thay đổi về nhiệt độ, mưa, gió, bão, nước biển dâng, và những hiện tượng cực đoan như El Nino gây hạn mặn mùa khô năm 2016. Sụt lún nghiêm trọng xảy ra do sử dụng nước ngầm quá mức, do khai thác nước ngầm ven biển và ô nhiễm nước mặt sông rạch ở vùng nội địa. Còn vấn đề sạt lở, nguyên nhân chính là do phù sa mịn và thiếu cát”, ông Thiện phân tích.

Hạn, mặn năm 2016 khiến người dân ĐBSCL điêu đứng
Ngoài ra, ĐBSCL còn phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nước, không khí do canh tác thâm canh 3 vụ lúa liên tục, dinh dưỡng đất cạn kiệt, sử dụng nhiều phân bón…
Ông Thiện đặc biệt lưu ý việc lượng phù sa mịn đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn còn 83 triệu tấn. Nguyên nhân chính là do tác động của các đập thuỷ điện trên sông Mekong.
Ông dự báo, khi 11 đập ở hạ lưu vực hoàn thành, phù sa mịn sẽ giảm 50% và 100% cát, sỏi sẽ bị chặn lại.
Còn ông Trần Hữu Hiệp, ủy viên chuyên trách kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ nhận định: ĐBSCL đang đứng trước 3 tầng thách thức, trước hết là thách thức toàn cầu. Giữa bối cảnh hội nhập và cạnh tranh đang tác động đến nhiều quốc gia, trong đó ĐBSCL với “tư cách” là một nền nông nghiệp thủy sản của Việt Nam được xác định là một trong 3 vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH). Thứ hai là thách thức khu vực. ĐBSCL với lịch sử phát triển dựa vào tài nguyên đất và nước, nhưng đang phải đứng trước sự sụt giảm và suy thoái nghiêm trọng những tài nguyên này. Thứ ba là thách thức từ chính nội tại của vùng với những bất cập trong mô hình phát triển nông nghiệp truyền thống lạc hậu.
Theo ông Hiệp, những thách thức này đòi hỏi vùng ĐBSCL phải có sự chuyển đổi mô hình kinh tế phù hợp để thích ứng BĐKH.
Nguyên tắc ‘không hối tiếc’
Theo các chuyên gia, cần chú trọng công tác quy hoạch, nhu cầu sử dụng nguồn lực, bố trí nguồn lực, phối hợp ứng phó… Đặc biệt, ĐBSCL là vùng nông nghiệp thủy sản, nên việc chuyển đổi phải kèm theo sự đảm bảo hạ tầng giao thông, thủy lợi cho phù hợp; tìm giải pháp thích ứng với BĐKH.
ThS Nguyễn Hữu Thiện đề xuất áp dụng nguyên tắc “không hối tiếc”: Ưu tiên thực hiện trước những hành động ít rủi ro sai lầm khó sửa chữa được. Tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên; không thực hiện những công trình lớn, can thiệp dòng chảy làm ảnh hưởng thủy triều.
Thứ hai về nông nghiệp, vì canh tác thâm canh 3 vụ liên tục trong đê bao khép kín làm cạn kiệt đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng an ninh lương thực về sau. Đê bao khép kín làm gia tăng ngập lụt vào mùa lũ, gia tăng hạn mặn ven biển vào mùa khô. Canh tác 3 vụ lúa tính đúng, tính đủ chi phí không làm cho người dân thoát nghèo, không giúp quốc gia giàu lên. Canh tác thâm canh sử dụng nhiều phân bón, nông dược gây ô nhiễm nguồn nước mặt, tăng sử dụng nước ngầm, gây sụt lún đất nhanh hơn, vì vậy cần đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Chuyển hướng dần sang canh tác bền vững, chú trọng chất lượng hơn số lượng.

Về công nghiệp, ô nhiễm nguồn nước mặt dẫn đến khai thác nước ngầm quá mức khiến ĐBSCL chìm xuống nhanh hơn. Muốn tăng giá trị nông nghiệp, cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp. Tránh công nghiệp ô nhiễm nước, không khí và nguồn nước.
Thứ tư, sụt lún đang diễn ra nhanh gấp nhiều lần nước biển dâng. Nguyên nhân do khai thác nước ngầm, vì vậy phải xem sụt lún phải được xem là vấn đề cấp bách. Ở vùng ven biển, áp dụng công nghệ lọc nước biển để cấp nước sinh hoạt (Nano, RO); chuyển đổi canh tác sang hệ thống canh tác mặn, lợ bền vững ít phụ thuộc nước ngọt; vùng nội địa, giảm canh tác thâm canh để giảm ô nhiễm.
Thứ năm, về vấn đề sạt lở. Khi thiếu phù sa, thiếu cát, sạt lở sẽ diễn ra trầm trọng hơn, khó cưỡng lại cho đến khi dòng sông tìm được điểm cân bằng mới, vì thế phải quản lý khai thác cát, tránh khai thác tràn lan, quá mức. Lập bản đồ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân, tránh thiệt hại. Tránh những công trình lớn, can thiệp sai quy luật, đắt đỏ và kém hiệu quả.

“Cần tiếp cận tổng thể ĐBSCL về không gian. Đẩy mạnh thực hiện liên kết vùng theo Quyết định 593 của Chính phủ. Ngoài ra, cần tính đến vùng nước biển ven bờ, có liên hệ chặc chẽ về sinh thái với ĐBSCL, là một phần quan trọng của nền kinh tế trong vùng.  Tránh cách làm cục bộ theo địa phương. Tránh cách làm theo kiểu “uống thuốc giảm đau”, thấy đâu trị đó, ngắn hạn mà cần phục hồi sức khỏe của hệ thống kinh tế, xã hội, môi trường”, ông Thiện nói.
Theo chuyên gia, hành động thích ứng cần phải dựa vào sự hiểu biết và tôn trọng quy luật tự nhiên ở ĐBSCL đặt trong bối cảnh tổng thể, xem xét đầy đủ chi phí và lợi ích cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường. 
Bộ trưởng TN&MT Trần Hồng Hà từng nhận định: “Trước tác động của biến đổi khí hậu, ÐBSCL hôm nay không còn là vùng đất trù phú mang lại sinh kế lâu dài như trước đây. Vì vậy, chúng ta cần thay đổi tư duy phát triển. Chúng ta không thể dựa vào sự ưu đãi của thiên nhiên ban tặng mà cần dựa vào trí tuệ, tri thức và công nghệ để phát triển bền vững. Biến thách thức do biến đổi khí hậu để ĐBSCL phát triển lâu dài”.
Theo Hoài Thanh - VietNamNet


Thách thức trên “đôi chân” của đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Hôm nay, hội nghị Chính phủ về “Chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu” diễn ra tại Cần Thơ.



Đây không phải là hội nghị chỉ để bàn thảo và quyết nghị, mà quan trọng hơn là hành động.
Những năm qua, ĐBSCL được nhận diện đang đối mặt trước những thách thức toàn cầu xuyên biên giới là: biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hội nhập, cạnh tranh quốc tế. Một thách thức khu vực là việc sử dụng nước đầu nguồn sông Mekong và thách thức thứ ba từ chính các vấn đề nội tại của đồng bằng. Ba tầng thách thức đó không tác động riêng lẻ mà đang tạo ra thế "gọng kìm", tác động tích lũy, liên hoàn, đòi hỏi sự nhận diện hệ thống, có chiến lược ứng phó dài hạn, sự tiếp cận đa ngành và phối hợp giải quyết liên ngành. 
Lối mòn tư duy làm nông nghiệp truyền thống, chạy theo số lượng, nhẹ chất lượng, quên giá trị như đang bị nhân lên... trở thành những tác động tiêu cực tích lũy trước sức ép cạnh tranh - hội nhập - biến đổi khí hậu.
Việc Chính phủ xác định "Chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu" cần được xem là cách tiếp cận mới, giải pháp tổng thể phải phá cho được thế "gọng kìm" của 3 tầng thách thức đó.
Chuyển đổi mô hình phát triển, tái cơ cấu nông nghiệp không phải là việc đeo bám mục tiêu cường quốc xuất khẩu gạo hay lấy sản lượng lương thực làm thành tích, "vẽ lại bản đồ cây trồng" để chọn con tôm, con cá theo suy nghĩ kiểu cũ - dựa vào "nguồn cung", quên đi "hướng cầu", mà phải bắt đầu từ đổi mới tư duy làm nông nghiệp, rất cần tư duy mới trên "đôi chân" phát triển đồng bằng.
Tài nguyên đất và nước được ví như "đôi chân" kiến tạo và phát triển ĐBSCL. "Đôi chân" đó đang đứng trước nhiều thách thức. Sức ì trong thể chế và nội tại của sản xuất nông nghiệp cần được phá băng. Tư duy thị trường cần được định hình ngay trong tư duy quy hoạch và định hình cơ chế chính sách. 
Thị trường quyết định nuôi trồng, sản xuất cái gì, như thế nào và bán cho ai. Không thể duy ý chí, áp đặt chủ quan từ bên trên để giao chỉ tiêu phải sản xuất bao nhiêu diện tích, sản lượng nông sản làm ra và xuất khẩu.
Hỏi nông dân trồng cây gì, nuôi con gì là câu chuyện xưa cũ trong một thị trường luôn thay đổi "trăm người bán, vạn người mua". 
Chính sách chỉ có thể định hướng và phải luôn linh hoạt theo độ co giãn của thị trường. Đó chính là "nguồn cung thực tiễn" cho việc định hình một mô hình phát triển mới cho ĐBSCL.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, sau hội nghị, Chính phủ sẽ ban hành nghị quyết chuyên đề để có cơ chế, chính sách, xác định nhu cầu, huy động và bố trí nguồn lực phát triển, phân công, phân vai các bộ, ngành trung ương và địa phương hành động theo định hướng chiến lược dài hạn, được cụ thể hóa bằng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn với hành động ưu tiên trước mắt và định hướng lâu dài cho một ĐBSCL thịnh vượng, an toàn, trù phú trong tương lai.