16 tháng 7, 2017

Phú Quốc: Từ đại công trường đến thiên đường du lịch

Trần Hữu Hiệp
Phú Quốc có trở thành thiên đường du lịch? Tương lai của Phú Quốc ra sao?... Tất cả phụ thuộc vào cách ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm của con người đối với "đảo ngọc" hiện nay
Trong 3 nơi được chọn xây dựng thành đặc khu là Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang) thì đảo Phú Quốc được đánh giá có nhiều lợi thế hơn. Phú Quốc nằm ở khu vực chiến lược biển Tây Nam, giàu tiềm năng, độc lập với đất liền, có điều kiện áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù và là không gian lý tưởng cho việc thí điểm xây dựng một mô hình đặc khu hành chính - kinh tế.

Thời gian qua, "phần cứng" trên đảo đã được quan tâm đầu tư tạo diện mạo mới. "Cổng trời" - sân bay quốc tế Phú Quốc, "cửa bể" - cảng biển quốc tế tổng hợp An Thới, Dương Đông; các đường trục Bắc - Nam, vòng quanh đảo và tuyến xương cá đã được xây dựng. Theo chân đường cáp ngầm xuyên biển đầu tiên ở nước ta dài nhất Đông Nam Á, đưa điện quốc gia vượt biển ra "đảo ngọc", đường cáp quang viễn thông cũng đã hình thành. Cùng với những công trình hạ tầng lớn trên đảo là nhiều dự án đầu tư tầm cỡ quốc gia và quốc tế, nhất là các dự án du lịch lớn, xác lập nhiều kỷ lục, đang tạo ra sức hút mới.
Phú Quốc đang sở hữu nhiều kỷ lục quốc gia và quốc tế. Đây là hòn đảo lớn nhất nước. Sân bay quốc tế Phú Quốc là sân bay đầu tiên của cả nước được xây dựng mới từ sau năm 1975. Vườn thú thiên nhiên bán hoang dã Safari Phú Quốc (nằm trong tổ hợp dịch vụ du lịch thuộc dự án Khu Du lịch sinh thái Vinpearl có tổng vốn đầu tư 17.000 tỉ đồng) cũng là khu Safari đầu tiên, lớn nhất của cả nước… Nhiều người so sánh Phú Quốc với hình ảnh Đà Nẵng, thậm chí còn vượt qua TP miền Trung năng động này với các dự án kỷ lục như cáp treo Hòn Thơm dài hơn cáp treo Bà Nà, vốn chung một nhà đầu tư.
Thực ra, Phú Quốc đang như một đại công trường. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng 50.000 lao động là ngư dân từ khắp mọi miền đất nước đến Phú Quốc; hơn 20.000 lao động làm việc ở các công trình, có nơi hằng ngày trên 2.000 công nhân. Việc phát triển "nóng" như vậy đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý của địa phương. Đặc biệt, tình hình an ninh - trật tự ở Phú Quốc có nhiều diễn biến phức tạp do các lực lượng lao động phổ thông đổ về đây rất lớn. Chỉ riêng số vụ tai nạn giao thông, huyện đảo này đã chiếm 50% toàn tỉnh Kiên Giang. Số vụ trọng án xảy ra nhiều hơn. Phú Quốc bao đời nay vốn rất bình yên, đêm đến nhiều nhà dân ngủ không đóng cửa nhưng hiện nay có nguy cơ trở thành túi chứa tệ nạn. Người bể hụi, trốn nợ, trốn lệnh truy nã... cũng chạy ra Phú Quốc.
Tội phạm ở đâu cũng có nhưng Phú Quốc là "đảo ngọc", khách du lịch đến đây sẵn sàng trả phí cao hơn trong đất liền nên họ có quyền đòi hỏi được cung cấp "sản phẩm dịch vụ chất lượng cao". Những gì đang diễn ra ở Phú Quốc trong thời gian qua rất đáng lo ngại. Vì thế, cần làm sạch môi trường xã hội, quản lý tốt hơn và xây dựng một cộng đồng dân cư sạch.

Văn hóa bản địa, ý thức, niềm tự hào, ham muốn làm giàu từ "đảo ngọc" sẽ biến mỗi người dân trở thành một "đại sứ tiếp thị" cho Phú Quốc. Họ sẽ là yếu tố kết nối văn hóa "đảo ngọc" với cộng đồng khác trong nước và quốc tế. Cùng với văn hóa, xã hội là yêu cầu đầu tư, bảo vệ môi trường. Sự phát triển quá nóng của Phú Quốc gần đây đã mang đến thực tế: bộ máy công quyền quá tải, ô nhiễm môi trường. Ngoài các dự án đầu tư cục bộ thì hệ thống xử lý nước thải, rác thải, Phú Quốc gần như chưa có gì.
Phú Quốc có trở thành thiên đường du lịch? Tương lai của Phú Quốc ra sao?... Tất cả phụ thuộc vào cách ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm của con người đối với đảo ngọc hiện nay!


14 tháng 7, 2017

Đồng bằng sông Cửu Long: Cần đột phá trong phát triển hạ tầng giao thông

Xác định giao thông là một trong ba khâu đột phá cho sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội, thời gian qua, mạng lưới giao thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã có sự quan tâm đầu tư. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cơ sở hạ tầng giao thông vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu để phát huy thế mạnh của vùng và đang là “điểm nghẽn” của quá trình phát triển.
Kết nối thông suốt
Thời gian qua, nhiều công trình giao thông trọng điểm của vùng ĐBSCL đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng như: Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 TP Hồ Chí Minh-Năm Căn; đường cao tốc TP Hồ Chí Minh-Trung Lương; tuyến Nam Sông Hậu, Quản Lộ-Phụng Hiệp; đường nối Cần Thơ-Vị Thanh... khởi công nâng cấp tuyến vận tải thủy từ TP Hồ Chí Minh qua Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đến Hà Tiên và TP Hồ Chí Minh-kênh Chợ Gạo-Chợ Lách-Mang Thít-Đại Ngãi-Bạc Liêu...
Bên cạnh các công trình, dự án đã hoàn thành, còn có những con đường mới cùng các cây cầu được đầu tư xây dựng. Đơn cử như cầu Cao Lãnh bắc qua sông Tiền; cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu, nối huyện Lấp Vò (tỉnh Đồng Tháp) và quận Thốt Nốt (TP Cần Thơ) cùng các công trình quan trọng như Đường Hồ Chí Minh giai đoạn II, đường hành lang ven biển phía Tây Nam cũng được khởi công... Đây là dự án đặc biệt quan trọng để kết nối khu vực phía Tây của ĐBSCL tạo thành trục giao thông huyết mạch thứ hai song song với Quốc lộ 1, xóa đi cảnh chen chúc lộn xộn, mất thời gian, thiếu an toàn tại các bến phà vốn tồn tại hàng thế kỷ nay. Đồng thời, góp phần rút ngắn khoảng đi từ TP Hồ Chí Minh đến các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang...  

Cầu Cần Thơ đi vào hoạt động góp phần thuận lợi cho giao thương của bà con các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long. 
Còn những “điểm nghẽn”
Thực tế cho thấy, còn nhiều hạn chế trong đầu tư phát triển hạ tầng giao thông hỗ trợ phát triển liên kết vùng ĐBSCL. Cụ thể là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nhất là hạ tầng giao thông trục chưa có tính kết nối và liên thông thuận lợi giữa các địa phương trong nội vùng và liên vùng. Đầu tư kết nối giữa các phương thức vận tải chưa phát huy hiệu quả của toàn hệ thống, thiếu đồng bộ, nhất là kết nối giữa đường sắt và cảng biển.
Bên cạnh đó, đầu tư cho giao thông thủy cũng thiếu đồng bộ, chỉ tập trung đầu tư, xem nhẹ việc duy tu, bảo trì luồng lạch, trang thiết bị đường thủy, nâng cao năng lực bốc xếp, kho bãi… Trong khi đó, hệ thống cảng biển, cảng sông trên địa bàn cũng manh mún. Lĩnh vực vận tải thủy chưa khai thác hết thế mạnh về điều kiện tự nhiên sông nước của khu vực để phát triển, tạo sự liên kết giữa các phương thức vận tải thủy-bộ trong vận chuyển hành khách, hàng hóa giữa các địa phương trong toàn vùng. Ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho rằng: “Thời gian qua, ở ĐBSCL vận tải bằng đường bộ là chủ yếu, các phương thức vận tải khác chưa phát huy được hiệu quả khai thác. Việc khai thác, sử dụng hiệu quả công trình sau đầu tư chưa được chú trọng, gây lãng phí nguồn lực. Các trung tâm logistics quy mô còn nhỏ (dưới 10ha), chủ yếu phục vụ một số doanh nghiệp trong khu vực khu công nghiệp hoặc một địa phương, chưa phát triển đến quy mô phục vụ một ngành hoặc một vùng kinh tế.
Về các địa phương, để hoàn thành một dự án giao thông cần có sự tham gia đầu tư của Nhà nước ít nhất là 50% tổng vốn đầu tư, nhưng khả năng ngân sách nhà nước rất khó khăn. Chủ yếu nguồn vốn ngân sách hằng năm phân bổ cho ngành giao thông chỉ đủ để bố trí nguồn vốn đối ứng phục vụ các dự án ODA, không còn vốn để triển khai các dự án khác. Do đó vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu đầu tư và khả năng nguồn lực.
Gỡ khó cho hạ tầng giao thông
Nhiều ý kiến cho rằng, đối với việc đầu tư cho hạ tầng giao thông, bên cạnh những công trình, dự án trước mắt, cần phải có chiến lược và tầm nhìn dài hơi. ĐBSCL có tiềm năng rất lớn về giao thông thủy, nhưng không thể phát huy được do trước đây khi xây dựng các cầu, chúng ta không chú ý đến tĩnh không thông thuyền. Giờ đây nó trở thành "điểm nghẽn" kìm hãm sự phát triển giao thông thủy. 
Bên cạnh đó, do đặc điểm của vùng ÐBSCL có nhiều kênh rạch, nền địa chất phức tạp, vật liệu khan hiếm, các dự án trong khu vực có tổng mức đầu tư rất lớn, do đó cần có những giải pháp, cơ chế đặc thù nhằm tăng cường nguồn vốn đầu tư cho khu vực này. “Chúng ta nên tăng nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông vùng ÐBSCL; ban hành một số cơ chế, chính sách phù hợp tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn vốn thực hiện các dự án, trong đó Nhà nước phải góp từ 30 đến 50% vốn vào dự án, đồng thời thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước bỏ vốn xây dựng hạ tầng giao thông bằng các hình thức BT, BOT...”-ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nói.
Ông Nguyễn Văn Thể, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng nhấn mạnh, nhu cầu đầu tư hệ thống giao thông ở ĐBSCL là rất lớn. Ông Thể cho rằng: “Để đột phá về giao thông, việc đầu tư cần làm nhanh và có trọng điểm. Nên tập trung cho những tuyến đường thúc đẩy phát triển kinh tế vùng. Rà soát lại quy hoạch hạ tầng giao thông của vùng và của các địa phương, kể cả quy hoạch của ngành giao thông và các lĩnh vực. Phải xác định vai trò thật sự của công tác quy hoạch để qua đó loại bỏ các quy hoạch không phù hợp, không bám sát sự phát triển của ngành, địa phương và của vùng. Không phát triển hạ tầng giao thông bằng mọi giá, phải thật sự tính toán kỹ. Phát triển hạ tầng giao thông phải gắn với chiến lược phát triển của ngành trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực”.

Bài và ảnh: THÚY AN

10 tháng 7, 2017

Chiếc giày Nike và con cá tra Việt Nam

Trần Hữu Hiệp
(TBKTSG) - Từ ngày 1-7-2017, Nghị định 55/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra có hiệu lực thi hành, thay thế Nghị định 36/2014/NĐ-CP còn nhiều bất cập. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với cá tra thương phẩm. Nhiều doanh nghiệp đã thể hiện sự đồng tình với “khung pháp lý mới”. Ông Dương Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần (CTCP) Hùng Vương, cho rằng “Nghị định 55 sẽ là nghị định khởi nghiệp”.
Nhưng đằng sau ánh hào quang “kỳ tích cá tra” và kỳ vọng “đường bơi mới” cho đế ngư, còn nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết để “cá tra khởi nghiệp” thành công.
Thu hoạch cá tar của người nuôi ở Thốt Nốt - Cần Thơ. Ảnh: hiepcantho

Khi Thủ tướng làm tiếp thị
Một câu chuyện không liên quan gì đến cá tra, nhưng cũng gợi ý một cách tiếp cận mới. Hình ảnh truyền thông ấn tượng trong chuyến thăm Mỹ đầu tháng 6 vừa qua của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc là “chiếc giày Nike” được ông dùng để chứng minh lợi ích của nhà đầu tư Mỹ.
Theo phân tích của Thủ tướng, một đôi giày sản xuất tại Việt Nam vào thị trường Mỹ giá 100 đô la Mỹ, “phân khúc Việt” chỉ hưởng một phần nhỏ là 22 đô la, còn lại 78 đô la là chi phí bán lẻ, vận chuyển, thuế, phí, hậu cần logistics và các chi phí liên quan do phía Mỹ hưởng. Đồng nghĩa với việc nó đã tạo ra dịch vụ, việc làm chiếm đến 78% chuỗi giá trị chiếc giày Mỹ “Made in Vietnam”. Các tập đoàn kinh tế lớn của Mỹ với đội ngũ chuyên gia tư vấn đầu tư, thương mại và pháp lý hùng hậu chắc chắn không thể không nhìn ra điều này.
Mỹ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam. Trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước khoảng 51 tỉ đô la Mỹ, họ đã nhập siêu từ nước ta hơn 32 tỉ. Mặc dù các tập đoàn hàng đầu của Mỹ đã có mặt sớm và đạt nhiều thành công, nhưng cường quốc kinh tế số 1 thế giới này chỉ đạt mức đầu tư khiêm tốn hơn 10,2 tỉ đô la Mỹ, chiếm 3,36% tổng vốn FDI và xếp thứ 9 trong số 119 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam. Con số này thấp xa so quốc gia đầu bảng là Hàn Quốc, với gần 54,5 tỉ đô la Mỹ. Số liệu này chắc chắn chưa làm hài lòng các ông chủ Mỹ. Nhưng nó cũng không làm hài lòng chúng ta đứng trên phương diện lợi ích quốc gia.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như sản phẩm may mặc, trái cây, tôm, cá tra, giúp nước ta là một trong 16 quốc gia nhập siêu vào Mỹ, nhưng “phân khúc” chuỗi giá trị mà ta được hưởng cũng chỉ là phần nhỏ bé. Tiếp tục đặt “giày Nike” bên cạnh “con cá tra Việt Nam” sẽ thấy ra nhiều điều đáng suy ngẫm. Mặc dù Mỹ là thị trường xuất khẩu cá tra hàng đầu của Việt Nam, nhưng cho đến nay chưa thấy một chính khách nào “tiếp thị quốc gia” cho con cá tra như cách làm của Thủ tướng.
Tái cấu trúc ngành cá tra cần tầm nhìn rộng hơn, sự tiếp cận đa ngành và giải quyết liên ngành. Có hay không kiểu tư duy quẩn quanh trong ao hồ? Nay, cần tiếp cận mới với yêu cầu chi phối được chuỗi giá trị đích thực của con cá tra toàn cầu.
Đặt “chiếc giày Nike” của Mỹ bên cạnh con cá tra Việt Nam là một so sánh khập khiễng, nhưng nhiều gợi mở. Một bên là giá trị thương hiệu được Brand Finance định giá 32 tỉ đô la Mỹ, đứng đầu danh sách thương hiệu may mặc toàn cầu có giá trị cao nhất năm 2017, chiếm hơn 60% thị trường cường quốc số 1 thế giới. Một bên là con cá tra mặc dù nổi tiếng, nhưng hầu như chưa có thương hiệu, đang bị chặt ra làm nhiều khúc. Chia sẻ lợi ích vượt trội của nhà đầu tư Mỹ qua góc nhìn “đôi giày Nike” cũng rất cần tăng cường lợi ích của chuỗi giá trị cá tra Việt vào thị trường Mỹ. Đó cũng chính là thông điệp cốt lõi từ chiếc giày Nike và con cá tra.
Phân khúc giá trị cá tra nào cho người Việt?
Đầu năm nay, giá cá tra nguyên liệu tăng mạnh có lúc vượt đỉnh giá 28.000 đồng/ki lô gam. Nguyên nhân chủ yếu được cho là do thị trường Trung Quốc ăn hàng mạnh để tiêu thụ trong nước và chế biến, gắn mác xuất khẩu đi nước thứ ba. Mặc dù vậy, giá cá tra nguyên liệu nông dân ĐBSCL bán ra chỉ hơn 1 đô la Mỹ/ki lô gam. Sau chế biến, các doanh nghiệp Việt bán cá tra phi lê vào thị trường Mỹ chỉ khoảng 2,2-2,4 đô la Mỹ/ki lô gam, trong khi giá bán tại các siêu thị Mỹ khoảng 12-15 đô la Mỹ/ki lô gam. Một “phân khúc giá trị” mới được tạo ra ngay trên đất Mỹ. Các nhà kinh doanh Mỹ đang nắm giữ lợi ích lớn hơn nhiều những ông chủ nhỏ ở quê hương con cá tra nhờ lợi thế hệ thống phân phối, dịch vụ thương mại liên quan. Điều đó góp phần lý giải tại sao người Mỹ, thay vì cấm cửa cá tra Việt Nam bằng cuộc chiến cá da trơn trước đây để bảo vệ những người nuôi cá nheo, thì họ đã chọn mở cửa đón nhận, nhưng kèm theo các “yêu sách” kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, vệ sinh an toàn thực phẩm để tiếp tục hưởng lợi từ “phân khúc thị trường” cá tra mà họ đang nắm giữ.
Việt Nam đang trong thế “độc quyền” cung ứng hơn 90% thị phần xuất khẩu cá tra thế giới. Nhưng nhà độc quyền không có quyền làm giá. Hiện khoảng 80% giá thành cá tra là chi phí thức ăn; trong khi khoảng 80% các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ quyền cung cấp thức ăn, quyết định giá nguyên liệu. Cũng khoảng 70% nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, thủy sản như bắp, dầu cám và các nguyên, phụ liệu khác cũng được nhập khẩu. Sản xuất cá tra đang bị chi phối mạnh từ “đầu vào”. Khi cá tra được giá, người nuôi chỉ lãi khoảng 20%, còn lại 80% thuộc phân ngành thức ăn. Thua lỗ, thì người nuôi mất trắng. Chưa kể, vẫn còn tình trạng “bồ nhà chơi xấu nhau trên sân khách” khi các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra cạnh tranh nhau bằng cách hạ giá bán, tác động xấu đến người nuôi. Năng lực tài chính, quản trị yếu kém và thiếu liên kết chuỗi cá tra đang là thách thức mà doanh nghiệp và nông dân cần phải vượt qua.
Trong khi đó, gần 20 năm cá tra “vượt biên giới quốc gia” cũng chỉ đơn điệu với sản phẩm catfish, chưa có nhiều sản phẩm giá trị gia tăng mới với hàm lượng chất xám nhiều hơn. Bên cạnh đó, 92 triệu dân Việt Nam là một thị trường lớn, khó có thể chấp nhận một thị phần tiêu thụ cá tra nội địa chỉ chiếm khoảng 2% như hiện nay. Bên cạnh các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc, sản phẩm cá tra cần tìm đường đi vào bàn ăn của người tiêu dùng ngay quê hương mình.
Phân khúc cá tra nào của chúng ta? Chuỗi giá trị con cá tra không chỉ nằm ở công đoạn nuôi, chế biến và xuất khẩu khỏi biên giới quốc gia, mà còn một phân khúc rất lớn từ “đầu vào” - thức ăn và “đầu ra” mà nhà nhập khẩu đang nắm giữ. Dư địa gia tăng giá trị từ cá tra còn nhiều. Chỉ riêng lượng bùn thải từ các ao nuôi cá tra hiện nay làm ô nhiễm môi trường cũng có thể biến thành tiền khi nó được tận dụng làm nguyên liệu chế biến phân sinh học. Các dịch vụ hậu cần logistics, giá trị thương hiệu và các sản phẩm như collagen được tạo ra từ da cá tra của Công ty Vĩnh Hoàn, dầu ăn Ranee từ mỡ cá tra của tập đoàn Sao Mai cùng nhiều sản phẩm sáng tạo khác cần được khuyến khích, đầu tư mạnh mẽ hơn nữa để tạo ra nhiều phân khúc giá trị của loài cá này.
Tái cấu trúc ngành cá tra cần tầm nhìn rộng hơn, sự tiếp cận đa ngành và giải quyết liên ngành. Có hay không kiểu tư duy quẩn quanh trong ao hồ, nay cần tiếp cận mới với yêu cầu chi phối được chuỗi giá trị đích thực của con cá tra toàn cầu. Tại sao không? Trong khi chúng ta chứ không phải ai khác đang nắm giữ thế độc quyền. “Cá tra khởi nghiệp” có thành công hay không phụ thuộc vào tư duy phát triển, cách tiếp cận hệ thống và giải quyết hiệu quả những thách thức của chuỗi giá trị cá tra đang đặt ra hiện nay.

Thư viện VideoClip THVL: Bài toán khai thác cát sông




Chém gió một chút ở phút thứ 6 và phút thứ 12.10.

4 tháng 7, 2017

“Đề án đã thực sự đi vào cuộc sống, chọn đúng trọng tâm và phối hợp chỉ đạo hiệu quả”

Hội nghị tổng kết 5 năm (giai đoạn 2012 - 2016) thực hiện Đề án củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách tại khu vực Tây Nam Bộ sẽ tổ chức vào ngày 28/6/2017 tại TP. Cần Thơ. 
http://tacnghiep.thoibaonganhang.vn/modules/frontend/themes/thoibaonganhang/images/icon_new_other.png
http://tacnghiep.thoibaonganhang.vn/modules/frontend/themes/thoibaonganhang/images/icon_new_other.png

Trước thềm Hội nghị, Phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ về kết quả, kinh nghiệm trong quá trình thực hiện Đề án cũng như hiệu quả tín dụng chính sách trong việc giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội trong khu vực.

Xin ông cho biết kết quả sự phối hợp thực hiện các chương trình tín dụng chính sách tại khu vực Tây Nam Bộ giữa Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ với NHCSXH. Nguồn vốn tín dụng chính sách của Chính phủ đã góp phần ổn định tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ra sao?
Như chúng ta biết, tín dụng chính sách là tín dụng đặc biệt, không chỉ có ý nghĩa về đòn bẩy kinh tế mà nó còn có ý nghĩa về mặt thực hiện chính sách, đặc biệt là trong lĩnh vực an sinh xã hội nhằm hỗ trợ người nghèo, các đối tượng chính sách vươn lên thoát nghèo để cải thiện cuộc sống.
Vì vậy trong quá trình triển khai thực hiện Đề án này, ngay từ đầu cũng như xuyên suốt trong 5 năm qua, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ đã phối hợp với NHCSXH, các địa phương trong vùng quán triệt yêu cầu này đầy đủ, xuyên suốt, tập trung ở 3 trọng tâm.
Thứ nhất, là quán triệt, tạo chuyển biến thực chất từ trong nội bộ. Trong đó, xác định địa phương, đặc biệt là đơn vị ở cấp cơ sở là hết sức quan trọng. Từ đó tăng cường phối hợp giữa các cơ quan ở Trung ương và Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ với các tỉnh, thành và lực lượng chuyên trách là NHCSXH.
Thứ hai, triển khai tới người dân, đặc biệt là các đối tượng thụ hưởng là người nghèo và các đối tượng chính sách để thực hiện một cách quyết tâm, nhằm nâng cao chất lượng tín dụng chính sách của vùng Tây Nam bộ.
Thứ ba, trong quá trình triển khai thực hiện cũng như phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương thì Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ cũng đã đề xuất và chọn địa bàn cơ sở, lấy lực lượng cán bộ nghiệp vụ ngân hàng cùng với các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và Tổ tiết kiệm và vay vốn làm lực lượng nòng cốt, từ đó tạo chuyển biến về chất lượng và nâng cao tín dụng chính sách trong vùng.
Nguồn vốn tín dụng chính sách trong vùng đã giúp gần 400 nghìn hộ thoát nghèo và giải quyết việc làm cho gần 150 nghìn lao động

 Ông có thể cho biết sự chuyển biến tích cực đó thể hiện ở những nội dung nào?
Qua 5 năm thực hiện Đề án có thể thấy rằng kết quả đã “vẽ lại được bản đồ” chính sách tín dụng của quốc gia. Trong đó, vùng Tây Nam Bộ từ “vùng trũng” với những điểm tối của tín dụng chính sách nay đã chuyển sang những gam màu sáng.
Trong đó nổi bật là “4 tăng - 1 giảm”: Một là, tăng tổng nguồn vốn ủy thác của các địa phương ở mức 47,5%, nâng tổng nguồn vốn này lên trên 920 tỷ đồng; Hai là, tăng tổng dư nợ tín dụng chính sách lên hơn 64,5% với tổng dư nợ chính sách tín dụng là 28.000 tỷ đồng và đưa mức tăng trưởng tín dụng chính sách hàng năm từ mức thấp hơn so với bình quân cả nước thì vùng Tây Nam Bộ đã tăng trưởng hàng năm hơn 10,5%, cao hơn mức bình quân của cả nước chỉ là 8,7%; Ba là, việc tăng số hộ thoát nghèo.
Cụ thể tín dụng chính sách trong vùng đã giúp gần 400 nghìn hộ thoát nghèo và giải quyết việc làm cho gần 150 nghìn lao động thông qua việc cho vay và thực hiện tín dụng chính sách; Bốn là, số lượng cũng như chất lượng của các Tổ tiết kiệm và vay vốn từ một vùng có số lượng tổ với chất lượng hoạt động kém, đến nay chất lượng đã được nâng hẳn lên. Đến nay có 29.135 tổ xếp loại khá (chiếm tỷ lệ 73,5%), tăng 13.208 tổ so thời điểm bắt đầu thực hiện Đề án.
Và một chỉ tiêu giảm hết sức quan trọng nữa, đó là giảm tỷ lệ nợ quá hạn từ mức rất cao, từ 4,11% (gần 2,1 lần tỷ lệ nợ quá hạn bình quân chung toàn hệ thống) xuống còn 0,81%. Đến nay, tỷ lệ này bình quân thấp hơn so với các vùng miền khác cũng như bình quân của cả nước. Đó là kết quả có thể thấy được từ việc phối hợp triển khai thực hiện hiệu quả của Đề án.
Đề nghị ông cho biết kinh nghiệm rút ra trong quá trình phối hợp thực hiện tín dụng chính sách giữa Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ với NHCSXH?
Qua theo dõi thực tế và công tác phối hợp thì tôi thấy rằng có 3 bài học kinh nghiệm cần được rút ra để tiếp tục phát huy.
Trước hết, trong 5 năm qua, các ban, ngành Trung ương, đặc biệt là NHCSXH phối hợp với Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, cùng các địa phương trong vùng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Từ việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức đến việc củng cố, tổ chức, từ hoạt động nghiệp vụ của ngành Ngân hàng đến các việc làm chính sách, từ những giải pháp về kinh tế gắn với giải pháp về xã hội. Có thể nói rằng đó là bài học kinh nghiệm quý trong việc thực hiện đồng bộ các giải pháp.
Thứ hai, hết sức quan trọng, góp phần thực hiện thành công Đề án 5 năm qua đó là việc tăng cường, phối hợp và đạt được hiệu quả trong việc phối hợp triển khai thực hiện.
Thứ ba, đã đánh giá đúng thực chất tín dụng chính sách trong vùng, từ đó đã chọn điểm chỉ đạo đúng trọng tâm. Đó là chỉ đạo ở địa phương, ở cơ sở, lấy cơ sở làm điểm chỉ đạo. Với giải pháp phối hợp và đặc biệt là vùng Tây Nam Bộ cũng có những sáng kiến, đề xuất.
Ví dụ như việc đề nghị bổ sung Chủ tịch UBND cấp xã làm thành viên Ban đại diện HĐQT NHCSXH cấp huyện là một sáng kiến đề xuất của vùng Tây Nam Bộ, nay đã được nhân rộng ra cả nước. Từ sáng kiến đó đã phát huy được hiệu quả rất tích cực, đã kết nối giữa cơ sở với Ban đại diện HĐQT NHCSXH cấp huyện. Và thực tế việc củng cố hoạt động Tổ tiết kiệm và vay vốn nay đã đi vào nề nếp.
Sự phối hợp trong thời gian tới giữa Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ với NHCSXH sẽ tập trung vào những nội dung gì, thưa ông?
Trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được trong 5 năm thực hiện Đề án, theo tôi cần phải quan tâm chỉ đạo thực hiện 3 yêu cầu, đó là: Cần quan tâm để tranh thủ tạo nguồn vốn cho vay. Chúng ta biết rằng tín dụng chính sách là một công cụ, do vậy nguồn vốn cần phải tâm bố trí từ các nguồn vốn của Trung ương, điều đó là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, để nguồn vốn đáp ứng được nhu cầu thì vai trò tham mưu của NHCSXH, NHNN và các Bộ, ngành liên quan với Chính phủ là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó một vấn đề trong thời gian qua còn gặp khó khăn là nguồn vốn ủy thác từ địa phương.
Như chúng ta đã biết là 13 tỉnh, thành trong vùng Tây Nam Bộ thì duy nhất hiện nay chỉ có thành phố Cần Thơ có nguồn thu điều tiết về Trung ương. Còn lại 12 tỉnh trong khu vực còn khó khăn. Tuy nhiên, nếu chúng ta quan tâm lồng ghép hiệu quả các chương trình, dự án khác thì có thể tranh thủ được nguồn vốn của địa phương chuyển sang để cho vay. Khi chúng ta tranh thủ được nguồn vốn phong phú lúc đó mới có điều kiện tăng trưởng tín dụng.
Một điểm nữa, là tăng cường phối hợp trong chỉ đạo giữa các Bộ, ngành Trung ương cũng như chỉ đạo xuống địa phương. Chủ lực ở đây vẫn là NHCSXH, giữa Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ với cấp ủy, chính quyền địa phương để tạo ra một sức mạnh tổng hợp nâng cao chất lượng này. Phối hợp chung là cần thiết nhưng cũng cần chọn một lực lượng nòng cốt, đó là NHCSXH với các hội, đoàn thể nhận ủy thác. Và, trong đó vai trò của Tổ tiết kiệm và vay vốn là không thể thiếu.
Cùng với đó, lồng ghép về vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Chúng ta phải thấy rằng, tín dụng chính sách là một giải pháp, NHCSXH là một kênh thực hiện chính sách. Để đảm bảo phát triển ổn định, bền vững cũng như các đối tượng chính sách này họ vươn lên vượt khó, thoát nghèo thì cần nhiều giải pháp khác.
Trong đó, tạo việc làm, nhân rộng các mô hình làm ăn hiệu quả cũng như phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương sẽ hỗ trợ rất lớn cho hoạt động tín dụng chính sách này thực sự hiệu quả.
Xin cảm ơn ông!
Việt Hải thực hiện


Các giải pháp gỡ "nút thắt" nông nghiệp công nghệ cao

Theo tạp chí Nông Thôn Việt, 10/03/2017 (GMT+7)
 “Nông nghiệp công nghệ cao” đang là cụm từ được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian gần đây, nhất là kể từ khi Thủ tướng Chính phủ quyết định nâng gói tín dụng ưu đãi nông nghiệp lên mức 100.000 tỷ đồng. Hầu hết các ý kiến đều cho rằng chủ trương đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao gắn với khởi nghiệp là hướng đi đúng. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần giải quyết rất nhiều “nút thắt” đang tồn tại trên lĩnh vực nông nghiệp nói chung và nông nghiệp công nghệ cao nói riêng.
Mô hình rau thủy canh trong nhà lưới. Ảnh: Đăng Khoa.
Mô hình rau thủy canh trong nhà lưới. Ảnh: Đăng Khoa.

TS Đặng Kim Sơn - Nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn
CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT 4 NHÓM VẤN ĐỀ CHÍNH
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đang là bài toán cần tập trung giải quyết với 4 nhóm vấn đề chính. Một là đất sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cần diện tích lớn và thời hạn sử dụng đất lâu dài để thực hiện cơ giới hóa, tự động hóa nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm. Tiếp đến, về chính sách, nhà đầu tư không chỉ trông chờ vào những chính sách ưu đãi của Nhà nước, mà còn quan tâm đến tuổi thọ của các chính sách đó có lâu dài và ổn định hay không. Thứ ba về công nghệ, các doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp vì thấy có nhiều tiềm năng nhưng không chủ động nắm bắt, triển khai và thích nghi được công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao cùng những trang thiết bị liên quan đến nông nghiệp công nghệ cao bởi đặc tính luôn thay đổi của công nghệ. Cuối cùng là việc liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất với người nông dân đang gặp phải không ít rào cản, khó khăn. Hiện nay, đất sản xuất đang thuộc quyền sử dụng của người dân, mỗi hộ một diện tích nhỏ, manh mún và không đồng đều. Doanh nghiệp lại cần tích tụ ruộng đất để sản xuất lớn, còn người dân lại không muốn rời bỏ mảnh đất vốn là tài sản lớn nhất của mình và tập quán canh tác đã hình thành từ lâu đời.
 Ông Ngô Tiến Dũng - Tổng Thư ký Hiệp hội các Doanh nghiệp ứng dụng CNC trong nông nghiệp
THÁO GỠ NÚT THẮT ĐỂ THU HÚT DOANH NGHIỆP
Thực tế nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện nay là có lao động nhưng trình độ thấp, có đất đai nhưng chất lượng thấp, mảnh đất được chia ra với diện tích nhỏ thì làm sao phát triển nông nghiệp công nghệ cao được, làm sao đầu tư công nghệ vào đó trong khi ở nước ngoài mỗi mảnh đất sản xuất rộng hàng chục, hàng trăm héc ta. Mặt khác, việc áp dụng công nghệ sâu vào nông nghiệp còn rất hạn chế. Cùng với đó, việc chứng nhận doanh nghiệp là doanh nghiệp chất lượng cao vẫn còn nhiều khó khăn, nên rất ít doanh nghiệp hào hứng với danh hiệu này.
Do đó, Chính phủ cần có những chính sách tháo gỡ các nút thắt, cơ chế đi kèm phải thông thoáng và hợp lý để thu hút doanh nghiệp tham gia làm công nghệ cao trong nông nghiệp. Đặc biệt là Chính phủ cần có chủ trương về nguồn kinh phí đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao, các doanh nghiệp cần tiếp cận tốt với nguồn kinh phí này để mở rộng và phát triển sản xuất.
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam bộ: XÁC ĐỊNH RÕ TIÊU CHÍ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CNC
Tiêu chí sản xuất nông nghiệp công nghệ cao không thể do mình tự đặt ra mà phải theo chuẩn của quốc tế, tất nhiên nên xem xét tình hình thực tế của Việt Nam. Cần tính toán để tránh tình trạng một thời gian dài tỉnh nào cũng nói phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp, thành phố công nghiệp, nhưng tiêu chí cụ thể để trở thành tỉnh công nghiệp lại không có. Tiếp đến, phải xác định rõ tiêu chí cho một dự án ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, chứ không thể nói chung chung được. Ai cũng nói ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nhưng công nghệ cao là gì trong nông nghiệp thì không phải ai cũng xác định rõ. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai gói tín dụng ưu đãi100.000 tỷ đồng mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa thông qua nhằm hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Không có tiêu chí thì có khi doanh nghiệp thực sự làm nông nghiệp công nghệ cao sẽ bị làm khó, trong khi các doanh nghiệp không phải làm nông nghiệp công nghệ cao cũng được hưởng ưu đãi.

Nhóm nghiên cứu Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn
TRÁNH NHẦM LẪN CHỨC NĂNG CỦA NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Đúng ra, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải tập trung vào chức năng thương mại nhưng ở Việt Nam lại “nhầm lẫn” sang chức năng trình diễn, giới thiệu, vì khi là công nghệ thì không phải nghiên cứu mà chỉ hoàn thiện và ứng dụng trong điều kiện cụ thể. Khi lấy thương mại làm đầu thì phải tính hiệu quả kinh tế là chính, chứ không phải hiệu quả về đào tạo, trình diễn hay tập huấn. Doanh nghiệp phải là chủ thể và phải lựa chọn 3 yếu tố: thứ nhất, thị trường sản phẩm hướng tới có nhu cầu như thế nào; thứ hai, sản phẩm định làm đã có công nghệ chưa? thứ ba, giá thành sản phẩm như thế nào?”
Trích báo cáo “Những nút thắt trong đầu tư nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các giải pháp”-  Nghiên cứu của nhóm tác giả: TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, TS Nguyễn Đức Lộc, Nguyễn Anh Phong, Nguyễn Thị Hồng Thanh.

NTV lược ghi

22 tháng 6, 2017

Miền Tây - những mảnh giáp bảo vệ cuối cùng đang vỡ: Giải pháp thì nhiều, kết quả chẳng thấy đâu...

Vài lời của tôi: Tôi không phải là Tiến sĩ, nhưng thỉnh thoảng một vài bạn nhà báo vẫn hay nhầm. Bài viết này của bạn Hoàng Văn Minh có tâm, nhưng có phần bi quan. Vì bạn Văn Minh có vài đoạn trích dẫn tôi, có thể do khuôn khổ bài báo có hạn, nên khó diễn đạt đầy đủ, nên tôi cũng cần nói cho rõ. Cá nhân tôi trăn trở, nhưng không bi quan về tương lai của đồng bằng. Tôi vẫn có niềm tin về con người miền Tây khí phách, không chịu khuất phục, còn mang trong người khí chất thời đi mở đất của “Hương rừng Cà Mau” mà ông già Nam Bộ học Sơn Nam đã ghi tạc một góc trời Nam qua mấy dòng thơ “Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu/ Mang theo chiếc độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên/ Với câu chữ: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả...”. Tất nhiên, niềm tin đó không phải là “ngồi cầu trời, khấn phật”.

“Tôi không muốn nói là u ám, nhưng đúng là rất… u ám” - câu cảm thán của TS Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - với chúng tôi cách đây 3 năm, khi nói về những bước chân liêu xiêu đói nghèo của người dân cuối Việt. Sau 3 năm gặp lại, hỏi chuyện cũ, ông Hiệp vẫn nhắc lại câu nói cũ kèm thêm những cái lắc đầu: “Không những không thay đổi được gì mà tình hình ngày càng xấu hơn…”.
Những tan vỡ và mất mát
“Thành phố Bavet” (tỉnh Soài Riêng, Campuchia) bên kia Mộc Bài một trưa nắng tháng 6. Lại là một casino bỏ hoang, nhưng lần này chúng tôi ghé lại bởi ngạc nhiên khi thấy trước cổng có cô bé đầu trần ngồi ôm cái thùng nhựa với ánh mắt chờ đợi đặc trưng của người bán hàng ế khách. Lượm - tên cô bé, 14 tuổi, đến từ bên kia cửa khẩu Mộc Bài ở tận dưới miệt Sóc Trăng, theo ba mẹ qua đây kiếm sống đã nhiều năm sau một thời gian bỏ ruộng, bỏ nhà bôn ba lên Sài Gòn, qua Bình Dương làm công nhân. Lượm bán đồ ăn vặt “xách tay” bỏ trong thùng nhựa.
Em gái Lượm - nhỏ hơn một tuổi, đi bán vé số. Mẹ của chị em Lượm thì bán cóc ổi xoài và tất tần tật những gì có thể ăn được trên một chiếc xe đẩy. Đối tượng phục vụ của gia đình lượm, tất nhiên là những người Việt “vượt biên” sang đây chơi đỏ đen trong các casino còn sót lại đang lay lắt cầm chừng...
Hôm trước ở Long An, chúng tôi vừa “xâm nhập” vào một khu nhà trọ có đến mấy chục gia đình từ Campuchia “vượt biên” qua kiếm sống bằng nghề bán vé số. Chưa hết ngạc nhiên thì hôm nay ở Campuachia lại “đụng” phải không chỉ một cô Lượm mà nhiều những người Việt cũng qua đây kiếm cơm bằng đủ thứ nghề buồn chán, trong đó có rất nhiều cô gái có chút nhan sắc đang “làm gái” trong các casino với giá “dò hỏi” lên đến 1.500.000 đồng cho một lần “tàu nhanh” từ “bọn chăn dắt”.
Mà đâu chỉ có mỗi “thành phố Bavet” này. Ở Singapore, Malaysia, Trung Quốc vùng giáp biên… ở đâu chúng tôi cũng gặp rất nhiều người Việt dắt díu nhau kiếm sống với những nghề cũng rất buồn chán. Và thật buồn là phần lớn trong số họ có xuất xứ từ miền Tây - nơi từng là “mảnh đất xanh”, là “đất hứa” của nhiều thế hệ người dân miền Trung, miền Bắc. Khá giả hơn cả là “biệt đội” những cô gái lấy chồng ngoại, nhưng bi kịch thì đầy rẫy, hơn chục năm nay báo chí kể mãi không hết chuyện.
3 năm trước, trong loạt phóng sự “Liêu xiêu nơi cuối Việt”, chúng tôi đã đi qua những ngôi làng bị “đổi ngôi” khi phụ nữ trong gia đình là người kiếm tiền chính bằng cách đi làm công nhân, còn đàn ông ngược lại ở nhà lo quét dọn nhà cửa, cơm nước, đưa đón con đi học và… nhậu! Đó là một sự tan vỡ, mất mát, bắt đầu từ bữa cơm và sự phân công việc làm trong mỗi gia đình, chỉ dấu báo hiệu cho những tan vỡ và mất mát lớn hơn.
“Thời gian gần đây, tỉ lệ ly hôn ở các gia đình có vợ làm công nhân ở Long An do vợ chủ động tăng đột biến” - một chánh án ở Long An than thở. Một khảo sát bỏ túi của chúng tôi cho thấy, cứ 10 gia đình “đổi ngôi” thì có đến 3-4 đã ly hôn hoặc đang ly thân và người “đâm đơn” hoặc chủ động khép mình là người vợ với một lý do chung như thú nhận của một người vợ rất đau lòng: Sau một thời gia “đi ra” làm công nhân, họ tiếp xúc với nhiều người, nhiều không gian sống cùng bao chuyện mới lạ. Cứ thế một hôm, bỗng dưng họ thấy “thằng chồng” suốt ngày say xỉn và không làm ra tiền của mình ở nhà thật là nhạt nhẽo!
Thời sự, vẫn là hạt gạo bị cắn làm 8

Nếu như gốc rễ của chuyện sạt lở ở ĐBSCL là nạn khai thác cát tràn lan thì gốc rễ của những thân phận bị “tước đoạt” tư liệu sản xuất với nhiều hình thức, đang ngập ngụa trong tín dụng đen trá hình thành “ngân hàng trụ điện” và những hành vi “ác hồn nhiên” đang ngày càng phổ biến ở vùng đất này là gì? Là ĐBSCL sau bao nhiêu năm vẫn là một “vùng trũng” về giáo dục, văn hóa, nhận thức và các thiết chế đi kèm. Là sự đi xuống của hình sin đói nghèo và chưa có dấu hiệu dừng lại.
TS Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - nói “đó là thực tế, một thực tế đau lòng!”. Cách đây hơn 5 năm, chính ông Hiệp là người phát triển “lý thuyết” hạt gạo Việt Nam đang bị cắn chia làm 8 nên lợi nhuận của người trồng lúa teo tóp của TS Nguyễn Văn Sánh - Giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ).
Ông Hiệp bảo, trong 8 phần đó, 4 phần đầu tiên phải chia cho “4 nhà” gồm: Nhà băng (nông dân phải trả vốn, đóng lãi ngân hàng, kể cả vay lãi cao bên ngoài để có tiền đầu tư sản xuất); nhà cung ứng vật tư (mua chịu phân bón, thuốc trừ sâu đầu vụ, trả lãi cao cuối vụ, chiếm tới khoảng 65% chi phí sản xuất); nhà mình (ăn uống, chữa bệnh, học hành, các khoản đóng góp... chiếm thêm 21%); nhà hàng xóm (hoan, hôn, tang, tế…). Còn 4 phần sau?
Ông Hiệp liệt kê: Đó là nhà xuất khẩu (nhà gần như có đặc quyền quyết định giá lúa hằng năm căn cứ vào hiệu quả kinh doanh, mà không nhìn vào hầu bao lép kẹp của nông dân); “ông CPI” (lúa gạo do nông dân làm ra phải làm nhiệm vụ bình ổn giá tiêu dùng, không thể tăng-giảm tự nhiên theo nhịp điệu thị trường thế giới); nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần tích cực vào an ninh lương thực thế giới.
Rồi ông Hiệp ví von: “Sản xuất lúa gạo của nông dân hiện nay như cây đòn gánh. Gánh nặng đầu vào là nguyên liệu, vật tư, phân bón, chi phí ngày càng cao; đầu kia là tiêu thụ lúa gạo bấp bênh; cả 2 đầu đều đang “có vấn đề”. Người nông dân vừa gánh, vừa bị “lắc lư” trong thế dễ ngã”.
Mà đâu mỗi hạt gạo bị “cắn” làm 8 phần, ngay cả con cá, cây mía và các loại nông sản khác cũng bị chặt làm nhiều khúc, chia ra nhiều phần nhưng phần của người nông dân được nhận lại quá nhỏ và bất hợp lý, không tương xứng với công sức họ bỏ ra.
Bất cứ con gì, cây gì, bây giờ nếu bán có lời thì hết 70% tiền lời là những thương lái trung gian, phần lớn là thương lái nước ngoài hưởng. Nhưng nếu lỗ thì người dân chịu hoàn toàn. TS Trần Hữu Hiệp cay đắng: “Câu chuyện sản xuất ở ĐBSCL hiện nay như cái đòn gánh. Một bên là đầu vào nặng trĩu giá vật tư, phân bón, tiền lãi vay; một bên là đầu ra với giá cả bấp bênh, phập phù theo giá thị trường sớm nắng chiều mưa, nên người nông dân ở giữa cứ bước liêu xiêu với tương lai mờ mịt”.
Những “mảnh giáp” bảo vệ của ĐBSCL không những ngày càng mỏng đi mà còn đã và đang vỡ ra, bắt đầu từ việc vắng bóng những mùa lũ “đặc sản” hằng năm mang theo nguồn phù sa vô tận cùng với hạn mặn, thiếu nước và sạt lở bủa vây quanh năm.
Là một nền nông nghiệp bị “bỏ hoang” theo nhiều nghĩa khiến vùng đất này thành “túi nghèo” của đất nước và những dòng người “đóng cửa” ruộng vườn, nhà cửa dắt díu nhau ngược lên Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai… làm công nhân kiếm sống qua ngày. Những kết cấu xã hội và các giá trị đạo đức bị xáo tung, đảo lộn, từ bữa cơm gia đình nguội lạnh và người đàn ông phải chăm con, quét nhà… để vợ yên tâm ra ngoài làm công nhân kiếm tiền lo gia đình. Là những cô gái không chỉ ngược xuôi Nam-Bắc mà còn đến hầu khắp khu vực Đông Nam Á kiếm cơm bằng đủ thứ nghề buồn tủi cùng triết lý “lấy chồng nước ngoài thì có hạnh phúc, có khổ đau nhưng ở nhà lấy chồng quê thì chỉ là bất hạnh”.
Một kết quả nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: Bình quân đất sản xuất của người dân ở đây chỉ có 0,4ha/hộ. Và do quy mô nhỏ lẻ nên thu nhập chia cho số nhân khẩu trong hộ thuần nông còn thấp hơn 1USD/người/ngày - chưa đủ để mua một tô phở! Một con số không thể nào tin được!
Sau nhiều năm gặp lại TS Trần Hữu Hiệp, thời sự của ĐBSCL vẫn là chuyện hạt gạo bị “cắn” làm 8 phần và con cá, cây mía, các loại nông sản bị chặt ra nhiều khúc, chia ra nhiều phần… Hỏi giải pháp và kết quả? Ông Hiệp lắc đầu, thở dài bảo “giải pháp thì nhiều nhưng kết quả lại chẳng thấy đâu và nguy hiểm hơn là thực tế lại ngày mỗi xấu đi…”.