17 tháng 2, 2018

Tạo dựng “thẻ điểm” thương hiệu cho thủy sản Việt

Trần Hữu Hiệp
Ngành thủy sản Việt Nam đang tập trung mọi nỗ lực cho mục tiêu “thoát thẻ vàng EU”. Tuy nhiên, nếu nhìn trong tổng thể bức tranh phát triển, “sự cố” này có ý nghĩa như một lời cảnh báo - đã đến lúc thủy sản Việt Nam cần thay đổi tư duy, tạo dựng chiến lược phát triển bền vững trước những thách thức hội nhập, cạnh tranh và đòi hỏi ngày càng cao của thị trường tiêu dùng nội địa.

Từ nghị trường, ngư trường đến thị trường
Ngay sau sự kiện EU áp "thẻ vàng" đối với ngành khai thác thủy sản Việt Nam, cùng lúc Quốc hội cũng đã thông qua Luật Thủy sản năm 2017 với những quy định chặt chẽ về truy xuất nguồn gốc thủy sản, trách nhiệm của các bên liên quan nhằm bảo đảm theo dõi, nhận diện một đơn vị sản phẩm thủy sản, không chỉ quản lý đánh bắt, mà qua từng công đoạn của quá trình khai thác, nuôi trồng, chế biến và thương mại... Ðặc biệt, luật cũng dành hẳn các chương, mục quy định mới về khai thác thủy sản bất hợp pháp, khai thác thủy sản nội địa, trong và ngoài vùng biển Việt Nam và việc chứng nhận, xác nhận thủy sản có nguồn từ khai thác để bảo đảm uy tín, thương hiệu thủy sản Việt trên thị trường xuất khẩu thế giới. Nhiều chuyên gia nhìn nhận, Luật Thủy sản 2017 được kỳ vọng sẽ tạo ra cú huých cho việc thoát khỏi "thẻ vàng" của EU. Theo đó, nội dung của IUU (đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định) đã được lồng vào Luật Thủy sản.
Cùng với việc Quốc hội ấn nút thông qua Luật là những hành động quyết liệt của Chính phủ và các bộ, ngành, Tổng cục Thủy sản và Hiệp hội nghề cá, VASEP đã vào cuộc mạnh mẽ trong việc tăng cường hỗ trợ đầu tư, chuyển đổi phương thức đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy sản. Những nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng còn là nhằm tạo dựng môi trường minh bạch, chủ động hội nhập sân chơi lớn và tuân thủ luật chơi chung toàn cầu. Mới đây, Ðại sứ Bruno Angelet, Trưởng phái đoàn EU tại Việt Nam đã có ghi nhận rất tích cực: "Chúng tôi đánh giá Chính phủ Việt Nam đã rất nghiêm túc, đặc biệt đã có chỉ đạo từ Thủ tướng về những hành động khẩn cấp trong việc xử lý vấn đề thẻ vàng IUU".
Cũng phải khẳng định rằng, ngành thủy sản đã nhanh chóng hành động thích ứng với "sân chơi" và "luật chơi" hội nhập ngày càng khắt khe hơn. Trên thực tế đã có sự chuyển động, tạo kỳ vọng chuyển đổi từ phương thức, cách thức khai thác, chế biến, xuất khẩu và các hoạt động thương mại liên quan đến thủy sản đánh bắt, mà ngay như một quan chức EU là Ðại sứ Bruno Angelet cũng đã thừa nhận: "Việc ký kết hiệp định tự do thương mại giữa hai bên không phụ thuộc vào việc "thẻ vàng" về đánh bắt cá trái phép của Việt Nam có được gỡ hay không".
Cú huých và độ bền
Cùng với kết quả xuất khẩu rau quả đạt kỷ lục, xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong năm 2017 đã có bước tăng trưởng ngoạn mục, bất chấp "thẻ vàng" cảnh cáo được rút ra ở một thị trường quan trọng của ngành này là khu vực EU.
Tuy nhiên, bước sang năm 2018, ngành đánh bắt thủy sản được dự báo sẽ gặp không ít khó khăn do các yếu tố như thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu, ngư trường bất lợi. Bên cạnh đó, những yếu kém nội tại của ngành như thiếu liên kết chuỗi giá trị từ khâu khai thác, chế biến, hậu cần nghề cá, thương mại xuất khẩu... đang là những thách thức to lớn. Trong khi chúng ta phải đối mặt với các vấn đề pháp lý, chính sách bảo hộ thương mại và tác động từ thị trường mà các quốc gia luôn sử dụng như một yêu sách.Việc duy trì đà tăng trưởng hiện có, vì vậy, đòi hỏi những nỗ lực vượt bậc của tất cả các thành tố liên quan.
Theo một số chuyên gia cho rằng, chúng ta cần phải nhận thức đúng thời cơ và thách thức. Bởi yêu cầu phát triển với "trách nhiệm xã hội, môi trường" của nghề đánh bắt hải sản và ngành thương mại thủy sản, không chỉ tác động đến các DN, ngư dân mà tới toàn hệ thống nghề cá. Không chỉ là nhiệm vụ thoát "thẻ vàng" của EU mà ngành thủy sản phải hướng tới lộ trình dài hơi hơn, với mục tiêu xây dựng thương hiệu, phát triển bền vững. Bởi không chỉ EU, thị trường nội cũng có quyền đòi hỏi. Với hơn 90 triệu dân, thị trường nội cũng là mảnh đất có tiềm năng rất lớn. Và người tiêu dùng Việt hoàn toàn có quyền yêu cầu thông tin minh bạch đối với các sản phẩm mình bỏ tiền ra mua, chứ không riêng gì công dân EU. Nhưng muốn quy trách nhiệm đối với nhà cung cấp thương mại, đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật chặt chẽ, quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng và bộ máy thực thi hiệu quả. Ðòi hỏi đó, thực tế, đang là một thách thức đối với năng lực và trình độ làm luật cũng như năng lực quản lý của cơ quan chức năng hiện nay.
Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Quyết định phê duyệt Kế hoạch thực hiện một số giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của EU theo quy định IUU. Tuy nhiên, thành công của các giải pháp này phụ thuộc vào các thành tố chính của chuỗi giá trị thủy sản, đó là các DN, hợp tác xã, các nghiệp đoàn và ngư dân. Từng tác nhân riêng lẻ không thể nào đáp ứng các yêu cầu của IUU và các tiêu chuẩn chất lượng thủy sản hiện hành, mà cần phải tăng cường liên kết chặt chẽ. Mặt khác, cần tổ chức lại bộ máy quản lý các cảng cá bảo đảm đủ năng lực kiểm soát tàu cá ra vào cảng, thu nhật ký khai thác, báo cáo khai thác thủy sản và xác nhận nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác; xây dựng cơ sở dữ liệu giám sát hoạt động tàu cá (VMS), vừa hỗ trợ các tác nhân theo chuỗi, chia sẻ cơ sở dữ liệu và tăng cường quản lý nghề cá từ ngư trường đến thị trường.
Rõ ràng, ngành thủy sản đang đứng trước yêu cầu tái cơ cấu mạnh mẽ các thành tố, cũng như thiết lập lại mối liên kết thật sự trong chuỗi giá trị thủy sản. Cần tạo môi trường thuận lợi để thiết lập và tăng cường các mối liên kết giữa DN với DN, HTX, giữa DN, HTX với người dân, giữa người dân với người dân, nhằm tổ chức, hình thành mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm chặt chẽ hơn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc cải tiến, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi giá trị và thông tin minh bạch để bảo đảm truy xuất nguồn gốc...
Ngành thủy sản Việt Nam chắc chắn còn phải làm nhiều việc hơn nữa để giữ vững và phát triển thị trường "khó tính" châu Âu. Tái cơ cấu, liên kết hợp tác và hội nhập của ngành thủy sản vừa là yêu cầu, vừa là động lực cho giai đoạn mới đang mở ra. Tạo dựng "thẻ điểm" thương hiệu, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam, không chỉ cho xuất khẩu mà cho cả tiêu dùng nội địa. Ðó mới chính là lộ trình quan trọng, cần có để phát triển.
Năm 2017 khép lại với con số kỷ lục của xuất khẩu thủy sản Việt Nam: đạt hơn 8,3 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2016 và là mức cao nhất từ trước đến nay. Sản lượng thủy sản khai thác năm 2017 đạt 3.390 nghìn tấn, chiếm khoảng 47%, trong đó, nguồn cung thủy sản từ hoạt động khai thác biển đạt 3.192 nghìn tấn, chiếm hơn 94% sản lượng thủy sản khai thác.

Đầu năm bàn chuyện làm ăn lớn

Trần Hữu Hiệp
Dân gian có câu “ăn tết, chơi tết, vui tết”. Nhưng đó chỉ là lúc xả hơi mấy ngày đầu năm, còn cái gốc lâu dài quanh năm vẫn là chuyện “làm ăn”.
Bên cạnh những câu chúc đa phúc, đa lộc, trường thọ, người thời nay hay chúc nhau “ăn nên, làm ra, phát đạt, phát tài”. Đầu năm, bàn chuyện liên kết vùng, làm ăn lớn trên đất Chín Rồng.

Ngôi nhà chung và liên kết vùng
Nếu ví ĐBSCL như ngôi nhà chung, thì liên kết vùng dù còn bị chê là “chuyện biết rồi, nói mãi”, nhưng nhiều nơi, nhiều người đã làm thiệt. Chính phủ, chính quyền, doanh nghiệp và người dân đã vào cuộc thực sự, kết quả tích cực mang lại nhiều kỳ vọng mới cho năm mới 2018.
Sau hội nghị "Diên Hồng" ở Cần Thơ, cuối năm 2017, Chính phủ đã ra Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu xác định tầm nhìn dài hạn, yêu cầu thay đổi tư duy, kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng, chủ động thích ứng, chuyển hóa những thách thức thành cơ hội để phát triển vùng, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, bảo đảm cuộc sống khá giả của người dân ĐBSCL.

Đã xưa rồi chuyện “dân miền Tây làm chơi ăn thiệt”

Cơ chế thí điểm liên kết vùng ĐBSCL, liên kết các tiểu vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, vùng ven biển phía Đông, vùng kinh tế trọng điểm với tứ giác động lực Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau... được Chính phủ, chính quyền địa phương trong vùng hiện thực hóa bằng nhiều hoạt động cụ thể, góp phần làm nên điểm sáng trong vùng.
Cạnh tranh là động lực phát triển trong kinh tế thị trường. Nhưng để nâng cao sức cạnh tranh, thích ứng trước biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sức ép hội nhập, cạnh tranh, người đồng bằng, chính quyền các tỉnh trong vùng phải chọn con đường liên kết hợp tác và hợp tác có hiệu quả.
Những người nông dân ĐBSCL ngày nay không chỉ “một nắng, hai sương” trên đồng ruộng, mà còn là bạn đồng hành với nhà khoa học, họ không thể không biết đến “thách thức toàn cầu”. Như cha ông xưa “mang gươm đi mở cõi”, nông dân ngày nay vẫn với tư thế bình tĩnh để “thích ứng, thích nghi”: không sợ hãi, không lùi bước.
Bằng kinh nghiệm sống, sức sáng tạo, người đồng bằng đã hình thành tư duy từ “chống lũ”, “né lũ”, đến “sống chung với lũ”, “vượt lên đỉnh lũ”. Và ngày nay, những “Hai Lúa” Miền Tây đang hiện thực hóa triết lý đó bằng hành động gắn với những kết quả nghiên cứu khoa học để thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng - một nguy cơ toàn cầu bằng chính bản lĩnh Việt Nam.
Năm mới 2018 không chỉ là câu chuyên ăn tết, chơi tết mà với nhiều người, đang là câu chuyện tăng cường liên kết vùng, bàn chuyện làm ăn lớn để phát lộc, phát tài.


29 tháng 1, 2018

Giáo dục đại học, cao đẳng ở đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và vài khuyến nghị từ góc nhìn thực tiễn


Trần Hữu Hiệp

TCCSĐT - Sau hơn 6 năm triển khai thực hiện Quyết định số 1033/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020”, công tác giáo dục - đào tạo bậc đại học, cao đẳng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có những chuyển biến tích cực về qui mô trường lớp, số lượng người học, chất lượng lao động qua đào tạo,… Tuy nhiên, từ góc nhìn thực tiễn, lĩnh vực này cũng đang bộc lộ nhiều bất cập, lộ diện những “mảng tối” cần được định hướng lại và can thiệp bằng những chính sách, giải pháp phù hợp trong tình hình mới. 
Những “điểm sáng” 
Thời gian qua, giáo dục đại học, cao đẳng cùng với trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long. Toàn vùng hiện có 17 trường đại học (trong có 6 trường đại học ngoài công lập), 26 trường cao đẳng, 62 cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp. Nếu như năm 2000, toàn vùng chỉ duy nhất ở Cần Thơ có Trường Đại học Cần Thơ thì đến nay, 10/13 tỉnh, thành đã có trường đại học; 3 tỉnh còn lại là Cà Mau có Chi nhánh Đại học Bình Dương, Bến Tre có Chi nhánh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng đã có chủ trương đầu tư trường đại học tư thục. Riêng thành phố Cần Thơ hiện có 4 trường đại học, Vĩnh Long có 3 trường đại học. Theo quy hoạch, đến năm 2020, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ có khoảng 70 trường đại học, cao đẳng - bình quân mỗi tỉnh, thành có gần 5,4 trường đại học, cao đẳng.

Ngoài ra, còn nhiều chương trình liên kết, đề án đào tạo đại học, sau đại học do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, các bộ, ngành trung ương, các địa phương triển khai thực hiện; các đề án đặc thù đào tạo bác sĩ, chuyên ngành y dược, kiến trúc, kinh tế … của các trường: Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình Mê Kông 1.000 là kết quả nỗ lực phối hợp giữa Trường Đại học Cần Thơ cùng với các tỉnh, thành trong vùng đến nay đã đào tạo hơn 500 tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài. Những kết quả này được ghi nhận là những “điểm sáng” trong giáo dục đại học, cao đẳng của vùng. 
Còn “mảng tối”: Thực trạng từ “vùng trũng về giáo dục - đào tạo”
Nhu cầu nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực bậc đại học, cao đẳng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đang đặt ra bài toán khó. Việc giải bài toán đó thời gian qua và hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập trong tư duy, cách thức thực hiện, thể hiện qua các vấn đề thực tiễn sau:
Đại học tư: “chàng Trương Ba” hay “anh hàng thịt”?
Xã hội hóa đầu tư cho giáo dục đại học, cao đẳng là một chủ trương đúng. Bên cạnh cách trường công lập, các trường ngoài công lập đã ra đời, chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, thực tiễn đang tồn tại một câu hỏi cũ chưa có lời giải mới: Đầu tư tư nhân cho giáo dục đại học ở Việt Nam nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận? Đại học ngoài công lập là “chàng Trương Ba” hay “anh hàng thịt”?
Luật Giáo dục đại học năm 2013 quy định: Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận. Phần lợi nhuận tích lũy được hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học; các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ.
Thế nhưng, thời gian qua đã có nhiều ý kiến than phiền rằng các trường đại học tư thục được tổ chức và hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, có cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát và ban giám hiệu. Về cơ cấu quyền lực, mặc dù phải có một số thành viên đương nhiên, nhưng hội đồng quản trị của trường biểu quyết theo nguyên tắc đối vốn, tức theo nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp. Ngay cả quy định về nghĩa vụ thuế của các trường này cũng được áp tương tự doanh nghiệp.
Khung pháp lý hiện nay đang trộn lẫn trường vì lợi nhuận và phi lợi nhuận. Thực tế cho thấy, chính từ sự nhập nhằng và những khe hở pháp lý mà không ít trường đại học xử sự và bị đối xử như một doanh nghiệp. Ngược lại, có trường hợp nhân danh “phi lợi nhuận” để được hỗ trợ của Nhà nước và ủng hộ của công chúng, khó tránh tình trạng trường học cũng “chuyển giá” như doanh nghiệp để hạch toán “lời thật lỗ giả”, nhằm giảm chi phí và trốn tránh nghĩa vụ thuế. Trên thực tế đã nảy sinh các xung đột lợi ích liên quan đến sở hữu cổ phần, chia lợi tức, quản trị điều hành... ở một số trường đại học ngoài công lập.
Hoạt động phi lợi nhuận không có nghĩa là không có lợi nhuận. Vấn đề mang tính quyết định là cách ứng xử với lợi nhuận. Khi xã hội phát triển, hoạt động giáo dục trở thành một dịch vụ đặc biệt; nhu cầu xã hội càng cao, hoạt động này càng mang lại lợi nhuận cao, đòi hỏi phải được kiểm soát một cách chặt chẽ. Xã hội cần “phần hồn” trí tuệ của “chàng Trương Ba”, nhưng cũng khó có thể tránh được “cái xác” cục mịch, trần trụi rất đời thường của “anh hàng thịt” trong nhiều trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Vấn đề là phải có cơ chế phòng ngừa để không dẫn đến phần lỗi nghiêm trọng tạo ra nghịch cảnh “hồn Trương Ba, da hàng thịt” của các trường đại học, cao đẳng. Đó không chỉ là yêu cầu của xã hội mà còn là mong muốn của các trường đại học ngoài công lập đang theo đuổi mục tiêu: không chỉ có đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, mà cần đổi mới và quyền tự chủ thật sự về tài chính để vừa hoạt động hiệu quả, vừa không chạy theo mục tiêu lợi nhuận như một doanh nghiệp thuần túy.
Luật Doanh nghiệp 2014 hiện hành lần đầu tiên quy định về loại hình “doanh nghiệp xã hội”. Tuy nhiên, Luật Giáo dục đại học năm 2013 lại không thừa nhận “mục tiêu lợi nhuận” của các trường đại học tư thục và đang đựợc xem xét trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung. Hoạt động của các trường đại học ngoài công lập đang đòi hỏi một khung pháp lý rõ ràng hơn về sở hữu vốn, cơ chế pháp lý tạo nguồn vốn và phân chia lợi nhuận thích hợp hơn để các trường đại học ngoài công lập thu hút nhiều hơn đầu tư tư nhân cho giáo dục và “chính danh” cho hoạt động đầu tư vào lĩnh vực quốc sách hàng đầu này.
Đào tạo trung cấp trong trường đại học: “anh giành phần em”
Thời gian qua, nhiều trường đại học, cao đẳng được mở ra, trong đó có trường được “nâng hạng” từ trung cấp lên cao đẳng, từ cao đẳng lên đại học. Nhưng không ít trường khi đã lên cao đẳng, đại học rồi vẫn xin chỉ tiêu được đào tạo trung cấp với nhiều lý do gọi là “chính đáng” như: tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và đáp ứng nhu cầu người học. Về mặt tâm lý, nhiều người cũng thích được học ở trong trường đại học hơn, cho dù chỉ ngồi ở lớp trung cấp. Thực trạng này, mà nhiều người gọi là “anh giành phần em”, vừa gây khó khăn về nguồn tuyển cho các trường trung cấp, vừa làm mất cân đối nguồn nhân lực của vùng.
Trong khi ở nhiều quốc gia quy mô đào tạo bậc trung cấp luôn chiếm tỷ lệ nhiều hơn đại học, cao đẳng thì ở nước ta lại có tình trạng ngược lại. Cả nước trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long càng đáng lo ngại hơn khi giáo dục - đào tạo đang có dạng “hình chóp lật ngược”. Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định 1033/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, năm học 2014 - 2015, toàn vùng có 45.248 học viên trung cấp, giảm 18% so với năm học 2010 - 2011. Tuyển sinh đào tạo trung cấp chuyên nghiệp gặp rất nhiều khó khăn do chưa có được những giải pháp hữu hiệu làm chuyển biến, thay đổi căn bản nhận thức của xã hội về bằng cấp, nghề nghiệp, nhằm thực hiện tốt, hiệu quả công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; nhiều tỉnh chưa triển khai thực hiện đầy đủ việc phân cấp quản lý theo Nghị định 115/NĐ-CP của Chính phủ; việc rà soát, cho phép mở ngành đào tạo ở một số địa phương chưa chú ý đến nhu cầu nhân lực, điều kiện đảm bảo chất lượng và hạn chế về hiệu quả công tác kiểm tra chất lượng đào tạo sau khi được mở ngành.
Sau hơn 5 năm thực hiện Quyết định 1033/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chỉ tiêu phát triển giáo dục chuyên nghiệp của vùng đồng bằng sông Cửu Long không đạt, quy mô tuyển sinh giảm 18%; tỷ lệ huy động học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung cấp chuyên nghiệp đạt khoảng 9%, thấp hơn chỉ tiêu đặt ra là từ 10-15%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của vùng năm 2015 đạt 35,2%, tuy có tăng 23,5% so với năm 2010 nhưng còn thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước (40,6%). Trong khi đó, theo thống kê năm học 2014 - 2015, quy mô sinh viên đại học, cao đẳng chính quy của vùng đồng bằng sông Cửu Long là 130.896 sinh viên (trong đó đại học là 86.230 sinh viên và cao đẳng là 44.666 sinh viên), tăng 9% so với năm học 2011 - 2012.
Đại học ngoài công lập: Chạy đua tuyển sinh và bất cập “đầu vào - đầu ra”
Số lượng, chất lượng học sinh phổ thông là “nguồn đầu vào” quan trọng của các trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến cuối năm 2015, vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn là vùng có tỉ lệ học sinh phổ thông bỏ học cao và tỉ lệ huy động học sinh trong độ tuổi thấp so các vùng, miền và bình quân chung cả nước. Cụ thể, tỷ lệ học sinh tiểu học bỏ học là 0,45% (cả nước 0,16%, Tây Bắc 0,1%, Tây Nguyên 0,3%); tỷ lệ bỏ học trung học cơ sở là 3,26% (cả nước 1,37%, Tây Bắc 1,04%, Tây Nguyên 1,3%); tỷ lệ bỏ học trung học phổ thông là 3,94% (cả nước 1,79%, Tây Bắc 1,99%, Tây Nguyên 1,32%). Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở cấp trung học cơ sở đạt 84% (chỉ tiêu đặt ra 85%); trung học phổ thông đạt 48,5% (chỉ tiêu đặt ra 60%).
Hằng năm, có hơn 2,8 triệu học sinh phổ thông và hàng trăm ngàn sinh viên cao đẳng, đại học trong vùng đồng bằng sông Cửu Long bước vào năm học mới. Khi còn áp dụng Quy chế tuyển sinh theo “điểm chuẩn, điểm sàn” thì nhiều trường đại học ngoài công lập thuộc “tốp dưới” tuyển sinh khó khăn, có trường không tổ chức thi tuyển, hồi hộp chờ đợi nhóm thí sinh “trên sàn, dưới chuẩn” tiếp tục đăng ký để xét tuyển cho đủ chỉ tiêu. Trong khi đó, Quy chế tuyển sinh cho phép các em được nộp hồ sơ ở nhiều trường, tạo ra một lượng “hồ sơ ảo”, dẫn đến cuộc đua đến ngày nhập học ở các trường này càng khó khăn hơn. 
Không thể phủ nhận, thời gian gần đây, nhiều trường đại học ngoài công lập rất năng động và có nhiều hoạt động tiếp cận trường học và học sinh phổ thông. Tuy nhiên, do tình trạng khan hiếm nguồn tuyển sinh dẫn đến một số trường có xu hướng xem nhẹ chất lượng nguồn tuyển là học sinh phổ thông. Nhiều học sinh được mời chào, xét tuyển cho đủ chỉ tiêu và nhà trường cần có người học hơn là đảm bảo chất lượng đầu vào đại học. Trong khi đó, chất lượng đào tạo ở nhiều trường đại học ngoài công lập chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều nơi ngán ngại tuyển dụng người tốt nghiệp từ các trường này hay hệ đại học tại chức, liên thông. Nhiều sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng được nhu cầu sử dụng của cơ quan, doanh nghiệp và địa phương. Nhiều trường thiếu gắn kết nhu cầu của xã hội mà biểu hiện rõ nhất là chưa tiếp cận được chiến lược nguồn nhân lực của vùng, của địa phương và thiếu thông tin thị trường lao động.
Hằng năm, các trường vẫn có tổ chức các đợt tư vấn tuyển sinh, nhưng chủ yếu cung cấp thông tin đầu vào, còn việc tiếp thị, quảng bá ngành học của các trường, cơ sở đào tạo chưa được quan tâm đúng mức. Một doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm với chu kỳ vài tuần, vài tháng hay một năm đều dựa trên kết quả khảo sát thị trường, nắm thị phần để cạnh tranh. Trong khi đó, sinh viên đại học, cao đẳng là “sản phẩm đào tạo” chất lượng cao, mà “chu kỳ” kéo dài từ 3-6 năm, không có lý do gì lại thiếu một chiến lược tương tự để đáp ứng tốt nhu cầu xã hội tương xứng. Vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay là nhiều trường đại học, cao đẳng ở đồng bằng sông Cửu Long thiếu gắn kết sau đào tạo, chưa nắm được có bao nhiều sinh viên đã ra trường đang làm gì, ở đâu để điều chỉnh quy mô đào tạo, ngành học cho phù hợp. Nhiều trường, cơ sở đào tạo cũng chưa quan tâm khảo sát thị trường lao động một cách nghiêm túc, chưa có chiến lược quảng bá, tiếp thị một cách khoa học, thiết thực. 
Một vài khuyến nghị 
Tăng cường liên kết vùng đào tạo nhân lực đại học, cao đẳng
Từ xuất phát điểm thấp, nhiều khó khăn, thời gian qua, nhiều tỉnh, thành trong vùng đồng bằng sông Cửu Long đã chủ động phối hợp với các trường đại học, cơ sở đào tạo trong vùng, trong nước nhằm “tăng tốc” trong cuộc “rượt đuổi” các vùng, miền khác về phát triển nhân lực. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành chính sách ưu tiên học đại học cho con em đồng bào dân tộc 22 huyện nghèo vùng biên giới, hải đảo trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (không thuộc 62 huyện nghèo). 
Tuy nhiên, nỗ lực liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giáo dục - đào tạo thời gian qua chỉ mới là hoạt động “kết nối”, “lấp khoảng trống” do các quy định hành chính tạo ra. Bước đầu, những nỗ lực này cũng đã có tác dụng thiết thực hỗ trợ đồng bằng sông Cửu Long nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Song, thực tế đang đòi hỏi cần phải lồng ghép và có các chính sách căn cơ hơn để tạo ra chuyển biến tốt hơn từ nhiều chương trình, tạo ra cuộc vận động lớn, thiết thực và hiệu quả hơn. Cùng với chiến lược nguồn nhân lực quốc gia và các tỉnh, thành trong vùng, rất cần một sự liên kết chặt chẽ để xây dựng chiến lược nguồn nhân lực cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Quy hoạch phát triển hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, trường phổ thông phải dựa trên chiến lược này. Cần “hướng cầu” là thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị trong vùng, lấy đó làm động lực phát triển hơn là chủ yếu dựa trên năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất của các trường đại học, cao đẳng.
“Tái cấu trúc” các trường đại học, cao đẳng
Cùng với tái cấu trúc nền kinh tế, đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và tái cấu trúc ngành ngân hàng, xử lý nợ xấu, thì cũng rất cần “tái cấu trúc” mạng lưới trường đại học, cao đẳng để nâng cao chất lượng đào tạo và “xử lý nợ xấu” ở đầu ra. Cần tăng cường kiểm định chất lượng độc lập, đưa công tác đào tạo vào thực chất, phân biệt rõ giữa đại học nghề (thực hành) và đại học lý thuyết như cách các nước Âu - Mỹ đang áp dụng.
Một lộ trình rõ ràng và điểm đến với thời gian biểu cụ thể cho cơ chế tuyển chọn đầu vào đang được đặt ra và chờ đợi như một yêu cầu bức bách phải “tái cấu trúc các trường đại học, cao đẳng”. Điều đó đang đặt ra một yêu cầu cần có cuộc “tổng rà soát” để xác định lại phù hợp các chỉ tiêu, mục tiêu giáo dục đại học và cao đẳng vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng “quy hoạch tích hợp, đa ngành” gắn với chiến lược nguồn nhân lực và định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng trong tình hình mới, theo yêu cầu mới.
Đại học phải là nơi định hướng cho giáo dục phổ thông
Cần xây dựng một Chiến lược nhân lực cho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, xác định mục tiêu rõ ràng, phù hợp và vai trò, vị trí của giáo dục đại học, cao đẳng là phải định hướng cho những đổi mới của giáo dục phổ thông để nâng cao chất lượng nguồn tuyển đầu vào đại học, cao đẳng, không nên chỉ loay hoay đổi mới giáo dục phổ thông mà ít chú ý đến đại học, cao đẳng. Chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng là một định hướng quan trọng cho giáo dục phổ thông, chứ không phải phổ thông áp đặt đại học, cao đẳng như hiện nay. Không thể để các trường đại học “bị động” bằng cách căn cứ vào bảng điểm phổ thông của học sinh để tuyển sinh đầu vào. 
Phải có những quy định rõ ràng để các trường phổ thông, ngoài giáo dục kiến thức phổ thông cho học sinh, còn có những định hướng rõ ràng theo các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề. Và điều quan trọng là các trường phổ thông phải giữ vai trò quan trọng cho việc “phân luồng” học sinh phổ thông sau tốt nghiệp./.

Tài liệu tham khảo
1. Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Luật Doanh nghiệp năm 2014, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Quyết định 1033/QĐ-TTg ngày 30-6-2011 của Thủ tướng Chính phủ Về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL, giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020.
4. Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội sơ kết 5 năm thực hiện Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30-6-2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2011 - 2015, phương hướng phát triển giai đoạn 2016 - 2020.
5. Các Báo cáo tổng kết năm của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ giai đoạn 2011 - 2016.



23 tháng 1, 2018

‘Hội nghị Diên Hồng’ cho đồng bằng sông Cửu Long

(PL)- Nhiều đại biểu kỳ vọng vào sự kiến tạo từ Chính phủ sẽ tháo gỡ các nút thắt cho vùng ĐBSCL cất cánh.
Hôm nay (26-9), Hội nghị định hình chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu được chính thức khai mạc tại TP Cần Thơ với sự tham dự của trên 500 đại biểu. Đây được coi là “Hội nghị Diên Hồng” cho ĐBSCL, nhằm hiệu triệu các tư tưởng lớn giúp Chính phủ và các địa phương vùng ĐBSCL xác định các nhóm giải pháp chiến lược về chuyển đổi có quy mô lớn nhằm phát triển bền vững ĐBSCL với tầm nhìn đến năm 2100.
Cụ thể, hội nghị lần này nhằm định hình chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với các nguy cơ hiển hiện từ biến đổi khí hậu; cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; cũng như việc sử dụng nước đầu nguồn sông Mekong và các vấn đề nội tại của ĐBSCL.
Đánh thức tiềm năng một cách tương xứng
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, các vấn đề nói trên của ĐBSCL không tác động riêng lẻ mà đang tạo ra “thế gọng kìm”. Điều đó đòi hỏi sự nhận diện hệ thống, có chiến lược ứng phó dài hạn, sự tiếp cận đa ngành và phối hợp giải quyết liên ngành.
Ông Hiệp cho biết biến đổi khí hậu là một hiện tượng toàn cầu mà ĐBSCL được nhận diện là một trong ba đồng bằng trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Nó không phải là câu chuyện trăm năm mà đang hiển hiện ngay trước mặt, ngày càng rõ nét trong những năm gần đây như vấn đề nguồn nước và phù sa từ sông Mekong, tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gay gắt… Và những vấn đề này cần được xem xét tổng thể, định hướng mô hình phát triển, xác định các nhóm giải pháp chiến lược, những đột phá trong tư duy để thống nhất hành động trong toàn xã hội từ đó để vùng ĐBSCL phát triển bền vững.


Ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, cho rằng những đóng góp của ĐBSCL cho quốc gia đã được khẳng định. Đồng thời những điểm nghẽn, nút thắt của ĐBSCL cũng đã được chỉ rõ. Vấn đề còn lại là cần có những quyết sách lớn, triển khai một cách kịp thời và đồng bộ để đánh thức những tiềm năng và những gì tương xứng mà lẽ ra người đồng bằng nhận lại sau khi nỗ lực đóng góp cho quốc gia.
Theo ông Hoan, hiện chưa có những chương trình, dự án khơi thông những điểm nghẽn, lấp đi những chỗ trũng về kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực ở ĐBSCL.
“Tôi rất kỳ vọng vào hội nghị lần này với thông điệp “kiến tạo“ từ đầu nhiệm kỳ, Chính phủ sẽ hoạch định ra các quyết sách lớn để các địa phương vượt qua những điểm nghẽn, tháo gỡ được các nút thắt. Từ đó, các tỉnh đồng bằng sẽ vươn lên khẳng định vị thế một cách đầy đủ nhất, tương xứng nhất với những tiềm năng vốn có của mình” - bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp nói.
Cùng quan điểm này, ông Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang, hy vọng sẽ có một quyết sách căn cơ, đột phá cho vùng ĐBSCL cất cánh, trong đó phải tìm ra giải pháp hiệu quả hơn để ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển bền vững trong điều kiện xâm nhập mặn ngày càng gay gắt và nước biển dâng.
Ba vấn đề xương sống
Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang cũng cho rằng cần có cơ chế riêng, đủ mạnh để đầu tư phát triển đồng bộ cho toàn vùng, nhất là những quyết sách ưu tiên cần thiết để tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư kết cấu hạ tầng và phát triển công nghiệp chế biến.
Cụ thể hơn, ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, cho rằng chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL phải được tiến hành bằng tư duy, chính sách dài hạn hơn là những đối phó ngắn hạn.
Theo ông Hiệp, việc quy hoạch chiến lược phát triển ĐBSCL, tầm nhìn dài hạn đến năm 2100 được các chuyên gia Hà Lan cùng các nhà khoa học trong nước khuyến nghị Chính phủ xem xét qua bốn kịch bản phát triển và khuyến nghị mô hình công nghiệp hóa kinh doanh nông nghiệp.
Hội nghị hết sức quan trọng, có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển vùng ĐBSCL trong giai đoạn mới. Mô hình chuyển đổi, phát triển vùng ĐBSCL thành công sẽ là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu triển khai ở các vùng khác trên cả nước và thế giới.
Bộ trưởng Bộ TN&MT TRẦN HỒNG HÀ
Trung ương phải có những quyết sách nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên nước, đất, sinh vật…) khu vực, tránh việc khai thác quá ngưỡng chịu đựng làm suy thoái môi trường và hệ sinh thái. Bên cạnh đó, phải thấy được các rủi ro và thách thức tiềm năng từ bên ngoài như chuỗi các công trình đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong.
PGS-TS LÊ ANH TUẤN,  Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu
biến đổi khí hậu
 (ĐH Cần Thơ)
Ông Hiệp cho rằng cần tập trung ba vấn đề mang tính xương sống:
Một là, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung cầu thị trường.
Hai là, tái cấu trúc nông nghiệp phải theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc đổi mới cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Ba là, tập trung cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, tạo các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao. Đưa nhanh các công nghệ mới vào tất cả các khâu: Sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, gắn với đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, khuyến khích nông dân khởi nghiệp cùng với nâng cao tri thức kinh doanh nông nghiệp cho nông dân.
Thủ tướng chủ trì phiên toàn thể
Theo Bộ TN&MT, Hội nghị định hình chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ diễn ra trong hai ngày. Cụ thể, ngày 26-9, các đại biểu thảo luận nhận diện được thách thức, cơ hội, dự báo các xu thế tác động đến vùng ĐBSCL dưới tác động từ nội tại, của biến đổi khí hậu và từ bên ngoài làm cơ sở quy hoạch tổng thể, định hình mô hình phát triển bền vững. Cùng đó là hiến kế các giải pháp chuyển đổi bền vững, phát triển kết cấu hạ tầng, phòng chống thiên tai và sạt lở; cơ chế điều phối vùng và huy động, điều phối nguồn lực cho phát triển.
Ngày làm việc thứ hai (27-9), dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ, hội nghị sẽ bàn bạc, thống nhất các quyết sách mới có tính hệ thống, chiến lược, đột phá về quan điểm phát triển, định hướng ưu tiên, quy hoạch phân vùng lãnh thổ, các cơ chế, chính sách phù hợp để huy động sự tham gia của các bên.
GIA TUỆ


Bão số 16 với mức độ “thảm họa”: Nhà cửa sẽ bay như lá?

LĐO | 25/12/2017 | 11:18

Người dân Cà Mau chằng chống nhà cửa ứng phó với bão số 16. Ảnh: Nhật Hồ.
Tại nông thôn ĐBSCL, trên 90% nhà cửa thuộc loại bán kiên cố và nhà đơn sơ. Những căn nhà này chỉ cần một luồng gió xoáy tương đương cấp 5, cấp 6 (trong thang cấp gió Beaufort) là đổ sập tức thì. Trong khi đó, bão số 16 đang dự báo gió mạnh cấp 9-10, giật cấp 12-13.
Những con số thống kê là của PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu, ĐH Cần Thơ. Còn thực tế, đó là những ngôi nhà kiểu “nhà đá, nhà đạp”, dựng bằng lá, bằng tôn, đạp là đổ. 
Nếu bão 16 vào ĐBSCL, có thể hình dung ra một kịch bản thảm họa là nhà cửa sẽ bay như lá.
Nhớ hồi kỷ niệm 20 năm “thảm họa” Linda, có một sự chủ quan lớn đã được nhắc tới. Nguyên Bộ trưởng Nông nghiệp Lê Huy Ngọ kể: Khi các thành viên Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương gọi điện đến lãnh đạo địa phương cảnh báo, họ đều nói, trong đây làm gì có bão mà ngoài đó cứ hốt hoảng.
Một cán bộ địa phương cho rằng: “Biển Tây - biển Kiên Giang là vùng thánh địa, xưa nay chưa hề có bão, các anh ở Hà Nội vừa quan liêu, vừa không hiểu biết gì về vùng này”.
Lãnh đạo thì chủ quan, dân thì thờ ơ. Có người còn kháo nhau, còn hồ hởi đi xem bão là gì, vì vùng đất này cả trăm năm nay bình yên, chưa hề có khái niệm về “bão”.
Và, với chỉ sức gió cấp 8- 9, bão Linda đã khiến 778 người chết, 2.123 người mất tích, 1.232 người bị thương; số nhà bị sập là 107.892,… thiệt hại về vật chất ước tính 7.200 tỉ đồng. Trong đó, riêng tỉnh Cà Mau đã có 128 người chết, 1.164 người mất tích và 601 người bị thương. Một thảm họa trăm năm.
Năm nay, chính Thủ tướng đã nhắc lại cơn bão Linda như một bài học đẫm nước mắt phải trả bằng rất nhiều sinh mạng, tài sản của dân. Năm nay, các kịch bản ứng phó đã được triển khai từ rất sớm. Và năm nay, con số cả triệu dân được cảnh báo để sơ tán tránh bão đã được triển khai.
Nhưng vẫn phải đặt ra câu hỏi, vậy thì ĐBSCL lấy gì để chống bão?
Câu trả lời là không có câu trả lời.
Vùng đất 4 nhất: Nghèo nhất, lạc hậu nhất, hưởng phúc lợi xã hội thấp nhất, dễ bị tổn thương nhất giờ đây đã phải hứng chịu những cơn lũ lịch sử, triều cường lịch sử, hạn mặn lịch sử, và tới đây sẽ là những cơn bão với mức độ thảm họa lịch sử. 
Bởi bên cạnh sự biến đổi khí hậu, “nhân tố con người” giờ cũng gây hại không kém, khiến ĐBSCL mất đi sự hiền hoà, ổn định vốn có. Nói như Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, ông Trần Hữu Hiệp. Đó là những chuỗi đập thủy điện “treo túi nước” ở thượng nguồn Mekong, các dự án “trích máu dòng sông” khắp châu thổ. Mà những điều đó không chỉ đơn giản ứng phó bằng cách chịu bão với những mái lá “đạp là đổ”.
ANH ĐÀO



18 tháng 1, 2018

Làm sao có 'nông dân triệu đô'?

tiến Trình, Hạnh Nguyễn
Báo Tuổi Trẻ, 17/01/2018 21:16 GMT+7
"Muốn phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp ĐBSCL, điều đầu tiên phải thay đổi là từ lối nghĩ của nông dân" - các nhà khoa học, nhà quản lý có cùng quan điểm trên khi phát biểu tại tọa đàm Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL do báo Tuổi Trẻ tổ chức với sự đồng hành của Công ty CP Tôn Đông Á diễn ra ngày 16-1 tại TP Cần Thơ.

Đừng bỏ rơi nông dân
Chuyên gia kinh tế Trần Hữu Hiệp nhắc nhớ câu chuyện cố thủ tướng Võ Văn Kiệt từng chủ trì một hội nghị liên quan đến vấn đề phát triển ĐBSCL và đặt ra các vấn đề bức thiết nơi đây là giao thông, hạ tầng và nguồn nhân lực. Đến nay, sau 14 năm các vấn đề này vẫn là điểm yếu của vùng.
Không hẹn mà gặp, các chuyên gia, nhà quản lý đều có chung quan điểm thay đổi của ĐBSCL phải bắt đầu thay đổi từ người dân, từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Ông Lê Bá Phước - chủ tịch Hội Nông dân TP Cần Thơ - chỉ ra rằng "nông dân gặp khó về khoa học kỹ thuật còn phải lao đao với bài toán thị trường".
Giáo sư Võ Tòng Xuân (hiệu trưởng ĐH Nam Cần Thơ) cho rằng cái nhược lớn nhất khi phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp ĐBSCL là "người lớn không chịu học".
GS Xuân kể chuyện khi ông còn làm hiệu trưởng Trường ĐH An Giang, hầu như năm nào cũng có chương trình phổ cập kiến thức cho nông dân. Tuy nhiên, tại các buổi học đó học viên chủ yếu là... các cán bộ nông nghiệp. Họ đi học để về phổ biến lại cho nông dân vì đối tượng chính này không muốn học.
Cán bộ kể khi vận động nông dân dự các lớp phổ cập kiến thức nông nghiệp thì bị hỏi ngược rằng: "Học làm gì? Mấy ông học có làm ra lúa không? Tui không học nhưng cũng làm ra lúa đầy đồng nè".
Ở chiều vĩ mô, GS Võ Tòng Xuân nói nền giáo dục của Việt Nam cũng phải thay đổi để người học đừng có tâm lý "cố học để thi" thay vì học để làm việc tốt.
Ông Lê Minh Hoan - bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp - kể chuyện khi sang Hàn Quốc học hỏi kinh nghiệm làm nông nghiệp nước bạn, ông được nghe câu nói nổi tiếng từ cố lãnh đạo Park Chung Hee của nước này: "Mọi sự tiếp sức của chính phủ sẽ trở nên vô nghĩa nếu người nông dân không thay đổi tư duy sản xuất".
Ông Hoan cho rằng "điểm nghẽn" lớn nhất đối với nguồn nhân lực cho ĐBSCL là vấn đề tâm lý xã hội khi nông dân vẫn có thói quen làm nhỏ, lẻ, manh mún. Và để nông dân thay đổi cách nghĩ thì trước hết phải thay đổi cách tiếp cận tri thức đối với họ, "làm sao đừng để người nông dân bị bỏ rơi".
Một minh chứng sinh động là Đồng Tháp đã tổ chức thành công mô hình "hội quán nông dân", được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm và đánh giá cao hồi cuối năm 2017. Đây là nơi để nông dân tự sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm làm nông, chia sẻ về những thách thức biến đổi khí hậu với nhau. Đây cũng là nơi giúp người nông dân tiếp cận tri thức mới, thiết bị, thông tin công nghệ hiện đại.
Nông dân "nhạy bén sẽ thu triệu đô"?
PGS.TS Lê Việt Dũng - phó hiệu trưởng Trường ĐH Cần Thơ - dẫn câu nói vui "cửa miệng" của nông dân miền Tây gần đây: "Phen này làm không được thì tui đi Bình Dương đó", hàm chỉ sự dịch chuyển lao động đang rất lớn và thực trạng nông dân ở các tỉnh ĐBSCL phải bỏ xứ đi tìm việc làm ở nơi khác.
Dẫn chứng về lần cùng đoàn cán bộ nông nghiệp của Hậu Giang sang Nhật Bản gặp gỡ một nông dân địa phương chỉ có 1,8ha đất nhưng thu nhập cả triệu đôla nhờ trồng các loại cây, trái trang trí cho thức ăn ở nhà hàng, ông Dũng cho rằng "nông dân thường có cách làm rập khuôn, không chủ động làm ra cái mà thị trường đang đòi hỏi để thu về lợi nhuận cao trên chính đồng đất của mình. Nếu họ nhạy bén, chủ động làm ra cái thị trường cần thì thu nhập từ nông nghiệp là không hề nhỏ".
Ở một hướng khác, PGS.TS Đỗ Văn Xê cho rằng trong đào tạo và thu hút nguồn nhân lực, doanh nghiệp cũng cần phải có vai trò. Bởi để nhân lực phát huy được thì không chỉ có nơi đào tạo mà còn phụ thuộc vào nơi sử dụng lao động. "Học gì xài đó. Nếu người học ra trường không có việc làm thì họ sẽ dẫn đến mai một" - ông Xê nói.
PGS.TS Lê Anh Tuấn - phó viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc ĐH Cần Thơ - đánh giá người dân ĐBSCL có khả năng thích nghi rất tốt, dám nghĩ dám làm, kinh nghiệm bản địa cũng nhiều. Đội ngũ lao động đã được đào tạo nếu phát huy khả năng thích ứng cao sẽ trở thành nguồn nhân lực chất lượng tại chỗ.
Chăm chú lắng nghe các ý kiến, ông Phạm Quốc Thắng - phó tổng giám đốc Công ty CP Tôn Đông Á - bày tỏ niềm tin rằng với sự góp ý kiến tâm huyết từ các nhà khoa học, nhà quản lý... sẽ giúp nông dân thay đổi lối nghĩ, tiếp cận kỹ năng, tri thức, thị trường để làm ăn thành công.
Đồng tình với ông Thắng trong việc ghi nhận những ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, ông Đỗ Văn Dũng - phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ - cho rằng đó đều là "những đề tài báo chí rất chất lượng".
Ông Đỗ Văn Dũng cho biết: "Báo Tuổi Trẻ sẽ chuyển tải những đề tài đó một cách tốt nhất trên chuyên trang Mekong xanh và các ấn phẩm khác của Tuổi Trẻ để góp phần giúp những vấn đề, câu chuyện đặt ra được lan tỏa rộng rãi, giúp các nhà khoa học, nhà quản lý có cách tiếp cận các vấn đề của ĐBSCL hiệu quả, bạn đọc hiểu hơn về cuộc sống của người dân nơi đây, có thể chung tay thúc đẩy sự phát triển của khu vực này"
 Góp sức cho ĐBSCL

Ông Phạm Quốc Thắng - phó tổng giám đốc Công ty CP Tôn Đông Á, đơn vị đồng hành với báo Tuổi Trẻ trong việc thực hiện chuyên trang Mekong xanh (mekongxanh.tuoitre.vn) và chương trình Cùng xây cuộc sống xanh - cho biết: "Nhiều năm qua công ty đã gắn bó với vùng ĐBSCL và quan tâm đến các vấn đề về môi trường. Nay chúng tôi đồng hành với báo Tuổi Trẻ trong các chương trình với mục đích kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, các nhà khoa học, trí thức giúp cho vùng này phát triển đầy đủ nhất và đúng với tiềm năng".     

17 tháng 1, 2018

Nhân lực là động lực phát triển đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Mô hình phát triển ĐBSCL lấy con người làm trung tâm, chú trọng chất lượng hơn số lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra nhanh.

TS. Trần Hữu Hiệp - Ảnh: Chí Quốc
Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu đã xác định tầm nhìn dài hạn, yêu cầu thay đổi tư duy, kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng, chủ động thích ứng, chuyển hóa những thách thức thành cơ hội để phát triển vùng, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, bảo đảm cuộc sống khá giả của người dân ĐBSCL.
Mô hình phát triển ĐBSCL lấy con người làm trung tâm, chú trọng chất lượng hơn số lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra nhanh, ngày càng cực đoan. Mô hình đó đòi hỏi bước chuyển căn bản về chất nguồn nhân lực ĐBSCL, trở thành là động lực cơ bản và xuyên suốt trong phát triển vùng.
Không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực trong giáo dục-đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL góp phần nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực. Các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng trường học, dạy nghề, giải quyết việc làm, đào tạo nghề lao động nông thôn, tín dụng chính sách … đã được triển khai có hiệu quả. 
Song, sau hơn 10 năm chọn "phát triển nguồn nhân lực" là một trong 3 khâu đột phá, chất lượng nguồn nhân lực ĐBSCL vẫn tụt hậu so với các vùng miền cả nước. 
Tây Nam Bộ đang xếp cuối bảng từ các chỉ số giáo dục đại học, cao đẳng, lao động qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế đến giáo dục mầm non, mẫu giáo và phổ thông. Trong khi đó, tỷ lệ học sinh bỏ học ở 3 cấp của vùng này cao nhất, gần gấp 3 lần cả nước. 
Kinh tế khó khăn, chi phí học hành lớn, sinh kế là những nguyên nhân chính dẫn đến phần lớn các em học sinh phổ thông bỏ học, tạo ra cái nền chông chênh cho các bậc giáo dục, đào tạo tiếp theo. 
Trong khi hàng loạt sinh viên ra trường không tìm được việc làm đang tác động tiêu cực đến tâm lý nhiều hộ gia đình gồng gánh đầu tư cho giáo dục.
Thực tế đó đang đòi hỏi một chiến lược đào tạo nhân lực, các giải pháp tổng thể và mạnh mẽ hơn để phát triển nguồn nhân lực chất lượng, tạo ra động lực phát triển vùng. Cùng với Chiến lược nhân lực quốc gia và các tỉnh, rất cần một Chiến lược nhân lực cho vùng ĐBSCL. Qui hoạch phát triển hệ thống các trường ĐH, cao đẳng, trường nghề, trường phổ thông và các hoạt động giáo dục, đào tạo, day nghề… phải dựa trên chiến lược này. 
Cần "hướng cầu" là thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị trong vùng làm động lực phát triển hơn là chủ yếu dựa trên năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất của các trường. Phải thật sự gắn kết được lợi ích, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động trong đào tạo nhân lực của vùng, kèm theo là các chính sách khuyến khich thích hợp. Cần phải quan tâm lồng ghép, kết nối, tập hợp để tạo ra chuyển biến tốt hơn từ nhiều chương trình, tạo ra cuộc vận động lớn, thiết thực và hiệu quả hơn.  
Hệ thống GDĐT từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, ĐH đến các trường nghề, hệ thống giáo dục xã hội trong vùng cần được quan tâm đầu tư để đủ sức tạo ra "sản phẩm nhân lực" tốt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, chứ không phải trông chờ vào chính sách ưu tiên chỉ tiêu đào tạo, chỉ tạo ra "lợi thế ảo". 
Hoạt động liên kết vùng ĐBSCL trong phát triển nguồn nhân lực cần được tiếp tục tăng cường về chất, nội dung, phương thức phù hợp hơn nữa.
Để phát triển đồng bằng, rất cần những nguồn lực mới, những mô hình phát triển mới với hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao hơn. Động lực mới cho các mô hình mới này cần phải được bắt đầu chính từ nội lực của vùng, từ nguồn nhân lực bậc cao, từ khoa học và công nghệ và từ doanh nghiệp. 
Cuộc đua thoát khỏi vùng trũng về chất lượng nhân lực của miền Tây Nam Bộ không chỉ hướng đến một chất lượng, nguồn cung nhân lực có uy tín cho xã hội và doanh nghiệp, mà rất cần biến nó thực sự trở thành một động lực phát triển vùng.     


19 tháng 12, 2017

Hội đồng điều phối vùng - Phòng thí nghiệm chính sách

Trần Hữu Hiệp
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP (NQ 120) về “Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu”. Chuyển đổi mô hình, thay đổi tư duy, tôn trọng quy luật tự nhiên, kiến tạo phát triển bền vững vùng ĐBSCL là quan điểm chỉ đạo, định hướng chiến lược quan trọng. 
Lần đầu tiên, một nghị quyết chuyên đề về phát triển vùng được Chính phủ ban hành thể hiện quyết tâm mạnh mẽ, sự tiếp cận hệ thống và tầm nhìn dài hạn đến năm 2050. Tư duy, tầm nhìn, cách tiếp cận là quan trọng. Song cách thức tổ chức triển khai, bố trí nguồn lực và bộ máy thực thi để đưa nghị quyết vào cuộc sống còn quan trọng hơn. Nhìn ở góc độ đó, NQ 120 đang đứng trước 2 thách thức lớn cần phải vượt qua là nguồn lực ở đâu và bộ máy nào để vận hành theo cơ chế liên kết vùng, phát triển vùng! 
Đi tìm kiếm mô hình
Liên kết vùng là vấn đề lớn, khó, được thực hiện trên hiện trạng tổ chức bộ máy quản lý điều hành, các nguồn lực phân tán, cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật “thiếu phối hợp, thừa chồng chéo” là những thách thức lớn. Việc phân bổ ngân sách cho các chương trình, dự án đầu tư liên kết vùng mang tính tích hợp, vượt ra ngoài không gian hành chính tỉnh và nội bộ một ngành luôn bị vướng mắc bởi nhiều quy định của Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công, Luật Tổ chức chính quyền địa phương.  
NQ 120 “đề nghị Quốc hội xem xét, điều chỉnh, bổ sung và bố trí ngân sách triển khai chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ”. Song chúng ta đang “bị mắc kẹt” trong trần nợ công, nguồn lực khan hiếm, nếu không có quan điểm đột phá thì không thể bố trí một nguồn lực cần thiết cho phát triển đồng bằng. Điều quan trọng hơn là thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách. Muốn vậy, cần ban hành các cơ chế, chính sách hấp dẫn hơn, kiến tạo thu hút mạnh mẽ hơn đầu tư tư nhân. Cần đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo chất lượng của công tác quy hoạch không gian phát triển và yêu cầu tích hợp để tạo môi trường đầu tư tốt hơn. 
Yêu cầu quan trọng đang đặt ra là sớm hoàn thiện cơ chế điều phối vùng. Việc thành lập Hội đồng điều phối phát triển vùng được ví như “phòng thí nghiệm chính sách” cho sự chuyển đổi mô hình phát triển mới. NQ120 giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: xây dựng quy hoạch tổng thể vùng, rà soát, đánh giá cơ chế thí điểm điều phối vùng, trong đó có việc thành lập Hội đồng điều phối vùng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, liên kết chuỗi chặt chẽ nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản, thủy sản của vùng là cần thiết và yêu cầu quan trọng để đảm bảo thực thi thí điểm. Song cần đặt nó trong bối cảnh cải cách tổ chức, bộ máy theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa XII.
Theo đó, cần thành lập Hội đồng điều phối vùng có thực quyền, chỉ tập trung 2 lĩnh vực then chốt: điều phối việc quản lý, sử dụng tài nguyên nước và quyết định các dự án đầu tư lớn, có tính liên kết vùng (theo quy mô, tính chất dự án). Giúp việc cho Hội đồng điều phối vùng chỉ cần có một bộ phận giúp việc hoặc văn phòng gọn, nhẹ, cán bộ chuyên môn tinh thông. Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ chế điều phối và vận hành Trung tâm thông tin dữ liệu vùng ĐBSCL để đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho việc ra quyết định “không hối tiếc” của Hội đồng điều phối vùng.
Bên cạnh Hội đồng điều phối vùng, cần thành lập nhóm tư vấn phát triển nghiên cứu, tư vấn, phản biện về chính sách và các vấn đề phát triển vùng ĐBSCL cho các cấp quyết định ở Trung ương và cấp vùng. Mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, bảo đảm tính liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình hợp lý, trong đó trước mắt tập trung ưu tiên các công trình cấp bách, các công trình có tính chất động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế toàn vùng, các công trình thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân.
Việc vận hành một Hội đồng điều phối phát triển vùng có thể còn những khiếm khuyết, nhưng cần chấp nhận như một “phòng thí nghiệm chính sách” cho yêu cầu liên kết vùng, phát triển vùng đã được đặt ra từ lâu đã lâu chưa làm được!