14 tháng 4, 2018

Cậu sinh viên Vĩnh Long 'ăn ngủ cùng nông dân'


TTO - 20 tuổi, Nguyễn Khắc Duy quyết định đương đầu thử thách bằng việc khởi nghiệp lập dự án "ăn ngủ cùng nông dân" để làm sản phẩm cam sạch.

Sinh viên Nguyễn Khắc Duy cùng thạc sĩ Nguyễn Hoàn Thiện, giảng viên khoa cơ khí chế tạo máy Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long, nghiên cứu trên máy quét 3D - Ảnh: CHÍ HẠNH
Nguyễn Khắc Duy hiện là sinh viên năm 3 khoa cơ khí chế tạo máy Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật (SPKT) Vĩnh Long. Là cậu bé trưởng thành ở vùng quê miệt vườn sông nước miền Tây, ngay từ khi còn là học sinh, Duy đã bộc lộ tài năng trong sáng tạo khoa học kỹ thuật.
Nhiệt huyết của thầy giữ chân trò
Lúc còn là học sinh Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Long), Duy đã có trong tay một số sản phẩm nghiên cứu để đời, đoạt giải quốc gia, được nghiệm thu đưa vào sử dụng như: thiết bị lọc nước mưa bằng vật liệu mới, công trình máy thu hoạch muối thay con người...
Với tính cách sáng tạo, dám nghĩ dám làm, Duy nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo. Trong đó có TS Lê Hồng Kỳ - phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long.
"Lúc tham gia hướng nghiệp tại trường, tôi đã phát hiện Duy có tố chất sáng tạo, chịu khó tìm tòi trong nghiên cứu khoa học nên mới nhận giúp đỡ, hỗ trợ về chuyên môn và kinh phí để em phát huy hết khả năng của mình", TS Kỳ nhớ lại.
Sau kỳ thi THPT quốc gia năm 2015, Duy được Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM tuyển thẳng vào khoa công nghệ vật liệu và công nghệ sinh học. Tuy nhiên, vì là trái ngành sở thích, một phần do nghĩ rằng ơn nghĩa của các thầy cô đã giúp mình nên Duy mới đưa ra quyết định chọn ở lại quê nhà theo học tại Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long.
Nghiên cứu ý nghĩa

Ngay những ngày đầu theo học tại đây, Duy tự thân bươn chải làm thêm kiếm tiền, mua máy móc mở một xưởng cơ khí nhỏ ở phường 4, TP Vĩnh Long để làm nơi thực nghiệm những ý tưởng.
Xuất phát từ chuyện cậu ruột bị tai biến liệt nửa người, Duy nảy sinh ra ý tưởng chế tạo một vật gì đó giúp cho người thân dễ dàng đi lại. Rồi mô hình "khung xương hỗ trợ lực chân" được Duy cho ra đời. Mô hình này lập tức được TS Kỳ đánh giá rất cao, đồng thời hỗ trợ kiến thức cơ bản và kinh phí để em bắt tay vào nghiên cứu.
Sau giờ học ở lớp, Duy xuống xưởng cơ khí của nhà trường mượn máy đo đạc, tính toán để thiết kế thiết bị. Sau đó, Duy mang bản vẽ về xưởng của mình để nghiên cứu, chế tạo. Không lâu sau đó, một phiên bản bằng vật liệu kim loại sắt được bạn cho ra đời và thử nghiệm trên chính bản thân mình.
Để thiết bị gọn nhẹ, đáp ứng được tiêu chuẩn của Bộ Y tế, phần khung thiết bị này lần lượt được Duy thay đổi bằng vật liệu Inox, rồi đến titan. Trong khoảng thời gian 2 năm ròng rã nghiên cứu để chế tạo "khung xương hỗ trợ lực chân" bạn đã không ít lần gặp thất bại.
Duy nhớ lại: "Do chân mỗi người mỗi khác, từ cách đi cho đến kích thước. Còn về mặt cơ khí thì áp dụng cho cả 2 chân bệnh nhân, nhưng về mặt điện tử thì đổi chân sẽ có sai số. Có lúc tính toán không chính xác, mô phỏng bằng phần mềm gặp thất bại nên rất nản, muốn chuyển giao cho người khác. Nhưng tiếc cho đứa con tinh thần, tôi mang cả máy tính xuống xưởng, bố trí hẳn một cái giường ăn ngủ tại đây, cứ nghĩ đến đâu lại tính toán, mô phỏng, chế tạo và lập trình đến đó, không bỏ qua bất cứ sáng kiến nhỏ nào".
Thạc sĩ Nguyễn Hoàn Thiện - giảng viên khoa cơ khí chế tạo máy - đánh giá Duy "là một sinh viên luôn tự giác tìm tòi, sáng tạo". Thầy cô truyền đạt kiến thức, còn Duy tự thực hiện những công trình nghiên cứu của mình.
Thiết bị khung xương hỗ trợ lực chân của Duy đang tiếp tục được em nghiên cứu hoàn thiện để áp dụng rộng rãi. TS Lê Hồng Kỳ cho biết thiết bị mang hàm lượng khoa học rất cao và được nhà trường đăng ký thực hiện đề tài cấp bộ, đồng thời sẽ mang đi thi giải quốc tế trong tương lai gần.
Trong năm 2017, dự án "khung xương hỗ trợ lực chân" đã vượt qua hàng trăm nghiên cứu khác, vinh dự đoạt giải ba cuộc thi sáng tạo KH-KT Trần Đại Nghĩa (Vĩnh Long) và giải khuyến khích cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka (do Thành đoàn TP. HCM tổ chức).
Dự án mới
Chưa dừng lại, Duy còn tiết lộ trong năm nay bạn sẽ tiếp tục "ăn nằm cùng bà con nông dân" để triển khai dự án khởi nghiệp từ chính nông sản ở quê mình. Theo đó, Duy sẽ lập một dự án nghiên cứu, áp dụng KH-CN vào quy trình sản xuất để cho ra những sản phẩm từ lá, vỏ và quả cam hoàn toàn sạch.
"Lúc nhỏ tôi hay theo cha làm ở trung tâm khuyến nông tỉnh đi khảo sát một số nơi và thấy những điều đáng tiếc như cùng một loại máy móc, cùng điều kiện canh tác nhưng nông dân quê mình thua hẳn các nước khác. Mới đây, chuyện bà con ồ ạt bỏ lúa trồng cam, nguy cơ lại sẽ dẫn đến điệp khúc buồn "được mùa, mất giá". Chính vì vậy, tôi phải bắt tay thực hiện dự án này", Duy nói.
CHÍ HẠNH
Hệ sinh thái khởi nghiệp cho người trẻ ở quê nhà
Đã có nhiều học sinh, sinh viên, nông dân miền Tây say mê nghiên cứu, sáng tạo từ thực tiễn. Nguyễn Khắc Duy là một ví dụ. Anh được nhà trường, gia đình ủng hộ, niềm đam mê, tình cảm riêng đối với quê nhà nuôi dưỡng sự sáng tạo.
Thế nhưng, giới trẻ cũng cần một hệ sinh thái khởi nghiệp bền vững hơn khi làm ăn trên quê hương.
Start-up là một quá trình sáng tạo, mạo hiểm. Khởi nghiệp là dấn thân kinh doanh, chấp nhận rủi ro. Bài học ở nhiều quốc gia là chỉ khoảng 10% khởi nghiệp thành công, 30% lừng chừng và 60% thất bại. Thiếu hệ sinh thái khởi nghiệp, giới trẻ sẽ không có nền tảng hỗ trợ vững vàng, rủi ro càng lớn hơn.
Để khuyến khích sáng tạo, khởi nghiệp, các ngành, địa phương cần: Hình thành quỹ hỗ trợ tài năng trẻ hơn là đầu tư kém hiệu quả cho việc thu hút người có học vị, học hàm, nặng lý thuyết; Bồi dưỡng tài năng sáng tạo, niềm đam mê nghiên cứu khoa học; Báo chí, truyền thông tiếp sức, tạo quan tâm của công chúng, thu hút tài trợ của doanh nghiệp cho nghiên cứu, sáng tạo trẻ một cách hiệu quả.
Hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia là cần, nhưng cũng cần tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp ngay tại địa phương cho những người trẻ sáng tạo bằng nhiều hoạt động cụ thể.
TS TRẦN HỮU HIỆP


13 tháng 4, 2018

Kẻ giấu mặt dưới nước ngầm, sau nước dâng


Trần Hữu Hiệp
ĐBSCL là 1 trong 3 đồng bằng trên thế giới chịu tổn thương nặng nề nhất do BĐKH và nước biển dâng. Đi kèm là các hệ lụy như hạn mặn, thời tiết cực đoan đảo lộn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống và sản xuất của người dân.
Tình trạng ngập lụt hay hạn mặn diễn ra trước mắt dễ nhận thấy. Hiện tượng sạt lở cũng được xem là tình huống thiên tai khẩn cấp.
Trong khi đó, mối nguy khác là tình trạng sụt lún đang làm cho đồng bằng "chìm dần" lại ít được quan tâm hơn, khiến nó trở thành "kẻ giấu mặt" làm biến dạng đồng bằng, rất cần được nhận diện để ứng phó kịp thời.
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra, việc khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát là nguyên nhân chính gây sụt lún đất. Tốc độ sụt lún ở ĐBSCL ngày càng nghiêm trọng hơn, trung bình 1,1cm/năm, có nơi 2,5cm/năm, cao hơn 10 lần so với tốc độ nước biển dâng. Mực nước ngầm ở một số nơi đã bị hạ thấp hơn 5m.
Để cứu ĐBSCL khỏi bị biến dạng, cần một chiến lược tổng thể "cân bằng nước", nâng cao hiệu quả khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên nước theo hướng giảm tối đa việc khai thác nước ngầm.
ĐBSCL cần thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiêu dùng nước theo hướng phát triển nền công nghiệp xanh, nông nghiệp sạch, giảm thâm canh, giảm đầu vào, tăng giá trị và chất lượng đầu ra, tăng cường liên kết, chú trọng xây dựng, hoàn thiện các chuỗi giá trị nông sản chủ lực vùng như thủy sản, trái cây, lúa gạo.
Nghị quyết 120/NQ-CP về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu của Chính phủ đã xác định hai tư duy đột phá. Đó là tư duy thích ứng thuận theo tự nhiên và quy hoạch không gian tích hợp. Cần sớm được hiện thực hóa bằng các quy hoạch, chương trình, kế hoạch hành động thực tế.
Những giải pháp công trình mang tính kỹ thuật, công nghệ để ứng phó trước tác động của BĐKH, sụt lún, hạn mặn là cần thiết. Nhưng ĐBSCL có những đặc thù, cần nhận thức đúng để thích ứng chứ không nên chống chọi một cách duy lý. Tác động của BĐKH không còn là cảnh báo mà đã hiển hiện.
Nhưng ĐBSCL không phải sẽ biến mất ngay trong vài mươi năm. Đó là một quá trình đòi hỏi sự thích ứng chủ động và khôn ngoan. Hành động thích ứng có thể đúng, có thể sai trong một tương lai bất định, nhưng cần dựa trên "nguyên tắc không hối tiếc". Nếu hành động sai thì vừa tốn kém, không hiệu quả mà cái giá phải trả cho sai lầm sẽ rất đắt.
Tư duy quy hoạch tích hợp mang tính không gian vùng, tiểu vùng và liên kết đòi hỏi phải thực thi mệnh lệnh liên kết vùng. Mạnh ai nấy làm như mọi khi, địa phương nào biết địa phương đó, ngành nào biết ngành đó không còn phù hợp sẽ làm cho những kẻ thù dấu mặt sụt lún dưới tầng nước ngầm và phía sau BĐKH, nước biển dâng ngày càng hung bạo hơn.
Chỉ có cách tiếp cận theo vùng, liên vùng, phối hợp liên ngành cùng hành động mới mong thích ứng trước các biến đổi tự nhiện và xã hội.
TRẦN HỮU HIỆP


Khó cất cánh với cao tốc... cụt


Trần Hữu Hiệp
TTO - Đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương về miền Tây chẳng khác nào là cao tốc... cụt bởi sau khi "bon bon", mọi người lại phải chen chúc trên quốc lộ 1.
Đến nay, khi cả nước đã có 740km đường cao tốc thì vùng trọng điểm nông nghiệp ĐBSCL nối TP.HCM và miền Đông Nam Bộ chỉ có 40km. Đường về miền Tây còn xa quá. Đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương về miền Tây chẳng khác nào là cao tốc... cụt bởi sau khi "bon bon", mọi người lại phải chen chúc trên quốc lộ 1.

Sinh thời, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng lo ngại khi đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương chỉ dừng lại ở đó, dù có mở rộng quốc lộ đến Cà Mau thì đây vẫn là tuyến độc đạo, bị nghẽn cổ chai.
Chủ trương đầu tư tiếp tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận - Cần Thơ là nhằm xóa cảnh cao tốc cụt, phá thế nghẽn cổ chai cho vùng đồng bằng. 
Tuy nhiên, 9 năm qua, dù tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận đã qua 2 lần khởi công, từ năm 2009 và gần đây nhất là năm 2015, nhưng đến nay vẫn thi công ì ạch. 
Trong khi tiến độ giải phóng mặt bằng đã hoàn thành gần 97% nhưng khối lượng thi công chỉ đạt 3%.
Mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết đã phê bình Bộ GTVT về tiến độ chậm chạp của tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận. Nguyên nhân chậm là do chưa bố trí được vốn, thay đổi thiết kế, thủ tục. 
Đại diện nhà đầu tư cho biết nếu được tháo gỡ về thủ tục, được gia hạn thời gian ký hợp đồng vay vốn ngân hàng thì đến quý 2-2020 mới xong tuyến cao tốc này. Thế là mọi người phải chờ.
Đường về miền Tây còn xa quá là bởi vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản quốc gia nhiều năm liền chỉ có tuyến quốc lộ 1 độc đạo gồng mình quá tải. 
Gần đây, có thêm tuyến N1 (dọc biên giới), N2, đường Hồ Chí Minh giai đoạn II nối từ Chơn Thành đến Cà Mau. 
Rồi cầu Rạch Miễu nối đôi bờ sông Tiền, phá thế độc đạo của xứ dừa Bến Tre và các cầu vượt sông lớn trên trục quốc lộ 1 đã nối nhịp đến mũi Cà Mau. 
Trục chiến lược ven Biển Đông nối TP.HCM với phần ven biển của các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau được hình thành. 
Các quốc lộ 53, 54, 60, 80... đã được nâng cấp, mở mới tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp, Nam Sông Hậu.
Nhưng đã nói đến hạ tầng là phải nghĩ đến kết nối thông suốt, là một hệ thống mạng nhện tỏa ra các nơi, chứ một hoặc hai dự án cũng không thể phá được thế độc đạo, khó phát huy được hiệu quả của các công trình đã đầu tư.
Bởi thế, không chỉ người miền Tây mà ngay cả ở TP.HCM và miền Đông cũng vui khi Quốc hội bố trí vốn làm đường cao tốc Trung Lương - Cần Thơ và dự án cầu Mỹ Thuận 2. 
Nhưng đây cũng là lúc mọi người phải hồi hộp chờ, bởi không khéo thì tình trạng cao tốc cụt khó được xóa bỏ nếu vì lý do nào đó mà xong đoạn này lại phải chờ đoạn kia.
 Cơ hội cất cánh nhanh hơn cho ĐBSCL sẽ không đến nếu toàn tuyến cao tốc từ TP.HCM về Cần Thơ cứ thi công ì ạch, tình trạng cao tốc cụt chưa được xóa bỏ. 
Hãy trải thảm đón nhà đầu tư về với ĐBSCL. Thảm đỏ không chỉ là chính sách, những ưu đãi, mà còn là hạ tầng, trong đó có đường sá, mà thời buổi bây giờ phải là đường cao tốc.


Kinh tế chia sẻ nhìn từ nông dân @


TS. Trần Hữu Hiệp
 NDĐT - Mới đây, Chính phủ thống nhất giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp xây dựng Đề án mô hình kinh tế chia sẻ, báo cáo Chính phủ vào tháng 6-2018. Vậy kinh tế chia sẻ là gì? Nhìn từ nông nghiệp sáng tạo, nông dân miền Tây khởi nghiệp, có gì mới?
Từ lý thuyết đến đồng ruộng
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, kinh tế chia sẻ (sharing economy) là một mô hình thị trường được chia sẻ mang tính cộng đồng thông qua các dịch vụ trực tuyến, dựa trên nhu cầu và lợi ích chung của các tác nhân tham gia nhằm khai thác tối đa các lợi ích kinh tế nhàn rỗi trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản mà nó có thể còn trong trạng thái “standbar”. Sự phát triển của công nghệ thông tin, GPS, mạng internet, smartphone, thương mại điện tử... đã tạo ra “hệ sinh thái lý tưởng” cung cấp nền tảng công nghệ để phát triển mạnh mẽ hơn nền kinh tế chia sẻ.
Ở Việt Nam thời gian gần đây, mô hình kinh tế chia sẻ được biết đến qua các start-up thành công trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, giải trí, dịch vụ. Cách đây không lâu, Nguyễn Hà Đông đã được cả thế giới biết đến như một mẫu hình sáng tạo trẻ. Trò chơi trực tuyến miễn phí Flappy Bird của chàng kỹ sư trẻ này được tung lên iOS App Store và Google Play Store, thu hút ba triệu lượt tải mỗi ngày, nhanh chóng cán mức 50 triệu lượt, đạt lượt tải lớn nhất trên toàn hệ thống iOS thế giới, dẫn đầu bảng xếp hạng của App Store US. Có thông tin cho rằng, Nguyễn Hà Đông đã kiếm khoảng 50.000 USD (một tỷ đồng)/ngày từ sáng tạo độc đáo này. Nhưng điều bất ngờ là không lâu sau, chính Hà Đông đã quyết định gỡ bỏ “Con chim tung cánh - Flappy Bird” của mình được cho vì lý do cá nhân. Có thể là do tác giả phần mềm sáng tạo này muốn tránh rắc rối trước “khoảng trống pháp lý”.
Tương tự, là câu chuyện của Uber và Grab – Một sáng tạo độc đáo khác trên môi trường mạng; tuy được “nhập khẩu” nhưng nhanh chóng phát triển ở Việt Nam. Ứng dụng này giúp người dùng dễ dàng sử dụng dịch vụ ta-xi và cũng tạo ra cơ hội kiếm tìm cho nhiều người, tận dụng phương tiện cá nhân để kinh doanh mọi lúc, mọi nơi. Nhưng nó cũng đặt ra thách thức to lớn cho sự tồn tại của các loại hình ta-xi truyền thống, như việc máy gặt chiếm chỗ làm của người gặt lúa. Ngược lại, nó cũng kích thích sáng tạo mới với việc ra đời GO-IXE của Hàng Bá Trí, được xem như một trợ thủ mới của ta-xi truyền thống với khả năng kết nối các hãng ta-xi với phương thức chia sẻ mới. Ngoài ra, còn các công cụ tìm kiếm, đặt phòng khách sạn nhiều người dùng như Trivago, bán hàng qua mạng Facbook.
Đó là những hình thái mới của kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực dịch vụ, giải trí. Trong khi nước ta còn hơn 70% là nông dân và địa bàn nông thôn rộng lớn. Liệu có phát triển được kinh tế chia sẻ trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn?

Tập đoàn Lộc Trời đã giúp những nông dân trở thành cổ đông, doanh nhân nông nghiệp, mở ra cơ hội chia sẻ lợi ích thông qua sàn giao dịch chứng khoán. Ảnh: TỐ LOAN
Gần đây, mô hình chia sẻ kiến thức kinh doanh, mô hình làm ăn tốt thu hút sự quan tâm của nhiều người.
Trước thực trạng nông sản ứ đọng nhiều năm qua, thường rơi vào tình trạng cần giải cứu, thì người nông dân đã biết bán xoài qua mạng. Nông sản từ khi sản xuất đã được xác định địa chỉ tiêu thụ dựa trên sự phát triển của thương mại điện tử cũng là một dạng của kinh tế chia sẻ.
Tập đoàn Lộc Trời đã giúp những nông dân trở thành cổ đông, doanh nhân nông nghiệp, mở ra cơ hội chia sẻ lợi ích thông qua sàn giao dịch chứng khoán. Tập đoàn này cùng các đối tác cũng đã chính thức ra mắt ứng dụng viễn thám địa lý cho nông nghiệp và nước (SAT4RICE).
Nhờ tích hợp các dữ liệu thông tin cần thiết, công cụ này giúp nông dân nắm bắt thông tin đồng áng cần thiết qua điện thoại thông minh mà không cần phải ra đồng. Nông dân @ chỉ cần truy cập phần mềm, chọn thửa ruộng sẽ nắm được toàn bộ dữ liệu của thửa ruộng đó từ lúc sạ cho đến lúc thu hoạch. Nhiều ứng dụng mà cách đây vài năm như chuyện đùa, nay là sự thật, minh chứng cho các dạng thức của kinh tế chia sẻ trong nông nghiệp, nông dân.
Các bác “Hai Lúa” ở miền Tây có thể ngồi quán cà-phê miệt vườn để theo dõi công nhân làm việc hằng ngày qua màn hình điện thoại di động thông minh. Tương tự, họ có thể điều khiển hệ thống bơm, thoát nước cho vuông tôm bằng cách kích hoạt phầm mềm tự động trên smartphone.
Câu chuyện có thật của một gia đình nông dân miền Tây. Sau bữa ăn sáng, người chồng nói phải đi họp, người vợ thì đi chợ và đứa con thì đi thi. Họ không cần rời khỏi nhà mà vẫn hoàn thành công việc do người chồng họp trực tuyến, vợ thì đi chợ qua mạng và đứa con thì đang làm bài thi trên mạng. Kinh tế chia sẻ từ lý thuyết, từ lĩnh vực dịch vụ đã đến ruộng đồng miền Tây qua những nông dân @.
Nông dân truyền cảm hứng và khoảng trống pháp lý
Chính phủ kiến tạo, nông nghiệp sáng tạo, nông dân khởi nghiệp là những thông điệp mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã truyền cảm hứng, ươm mầm sáng tạo cho giới trẻ, nông dân miền Tây thời gian qua. Khuyến khích khởi nghiệp, ứng dụng điện toán đám mây, xây dựng nền nông nghiệp thông minh. Đẩy mạnh cởi trói, kiến tạo phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, sản xuất theo yêu cầu thị trường không còn là những ý tưởng ban đầu mà đã được hiện thực hóa bằng nhiều mô hình thực tế.
Một hệ sinh thái khởi nghiệp bước đầu đã được hình thành giúp chắp cánh cho những ý tưởng kinh doanh mới lạ. Khởi nghiệp trở thành mệnh lệnh của phát triển, không phải từ ý tưởng cao siêu mà chính từ thực tiễn sinh động, sáng tạo của người miền Tây.
Nhiều Hai Lúa say mê nghiên cứu, sáng tạo từ thực tiễn, xưa nay không hiếm. Nhưng rõ ràng đang xuất hiện một thế hệ trẻ với khát vọng, được đào tạo bài bản, nhạy bén với thị trường. Chính những nông dân @, đến lượt mình đã truyền cảm hứng trở lại cho các mô hình chính quyền điện tử, giải quyết hồ sơ của công dân tại nhà, ứng dụng các dịch vụ công trực tuyến như đăng ký kinh doanh qua mạng, xây dựng hệ thống hồ sơ dữ liệu công dân để tiến tới bỏ hộ khẩu, tích hợp thẻ căn cước công dân.
Những kết quả bước đầu của nông nghiệp sáng tạo, nông dân khởi nghiệp đang đòi hỏi các cơ chế, chính sách, thể chế mới và xây dựng nền tảng ứng dụng công nghệ để khuyến khích thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hơn nền kinh tế chia sẻ nhìn từ những nông dân @.
Trong khi người dùng hồ hởi đón nhận vì những tiện ích tuyệt vời mang tính chia sẻ và lợi ích kinh tế cao, thì các cơ quan quản lý giao thông vận tải cũng đau đầu trong việc quản lý các “hình thái kinh tế chia sẻ” này.
Còn một khoảng trống pháp lý khi mà công nghệ và hoạt động kinh tế vượt lên trước, đòi hỏi sâu hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và những dạng thức của kinh tế chia sẻ trong nông nghiệp. Bản quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ cho những kết quả sáng tạo, khởi nghiệp phát huy kinh tế chia sẻ trong nông nghiệp, nông dân và nhiều vấn đề khác đang đặt ra, đòi hỏi cần hoàn thiện “hệ sinh thái” cho nền kinh tế chia sẻ.
Việc Chính phủ xúc tiến xây dựng đề án mô hình kinh tế chia sẻ là một yêu cầu quan trọng, cần quan tâm cho vấn đề tam nông.
TS TRẦN HỮU HIỆP


Nơi giá rẻ nhất nước: Mừng hay lo?


Trần Hữu Hiệp
Nhìn ở góc độ người dân nông thôn tại chỗ như Hậu Giang thì chỉ số tiêu dùng thấp là sự yếu thế
Ngày 9-4, Báo Người Lao Động đăng bài "Một ngày ở nơi giá rẻ nhất nước", thông tin về giá cả sinh hoạt ở tỉnh Hậu Giang cực kỳ rẻ, thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Từ câu chuyện này, nhìn rộng ra, còn có nhiều điều cần đặt ra với các nhà hoạch định chính sách.
Nhóm cận nghèo nhất vùng
Cuối quý I/2018, Tổng cục Thống kê công bố chỉ số giá sinh hoạt theo không gian năm 2017 (SCOLI). Theo đó, ĐBSCL là vùng có chỉ số SCOLI thấp nhất nước, trong đó có tỉnh Hậu Giang thấp nhất vùng.

Một góc TP Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang Ảnh: DUY NHÂN
SCOLI là một chỉ tiêu thống kê quốc gia, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá sinh hoạt giữa các vùng, địa phương trong một thời gian, thường là một năm. SCOLI phục vụ đánh giá kết quả thực hiện chính sách và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Hậu Giang là tỉnh thuần nông, lực lượng nông dân đông đảo, địa bàn nông thôn chủ yếu. Đây là tỉnh có quy mô nền kinh tế nhỏ nhất vùng ĐBSCL với tổng giá trị GRDP (giá so sánh năm 2010) khoảng 18.200 tỉ đồng, bằng 29,6% của TP Cần Thơ, chỉ chiếm 3,5% tổng GRDP của toàn vùng. Hậu Giang là địa phương có dân số ít nhất vùng, với hơn 770.000 người, chỉ bằng 35,7% dân số tỉnh An Giang và 4,4% dân số ĐBSCL. Mấy năm qua, dân số Hậu Giang có xu hướng giảm cơ học do tình trạng di cư khá cao ra ngoài tỉnh.
Kết quả một số nghiên cứu cho thấy sự chuyển đổi kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ của tỉnh chưa tạo được việc làm cho đại bộ phận lao động dịch chuyển ra khỏi ngành nông nghiệp. Trong đó, việc phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống còn nhiều khó khăn về nguồn vốn và thị trường tiêu thụ.
Thiếu việc làm, thu nhập thấp, thiếu đất sản xuất, lao động chưa qua đào tạo và ít cơ hội nghề nghiệp là nguyên nhân đẩy lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, nông thôn. Phần lớn lao động trẻ có xu hướng đi nơi khác tìm việc làm. TP HCM, Bình Dương và các tỉnh Đông Nam Bộ là những điểm đến hấp dẫn nhất đối với người di cư trong tỉnh. Hậu Giang cùng với Sóc Trăng, Bạc Liêu là 3 địa phương có tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao nhất vùng.
Nguyên nhân giá rẻ
Chỉ số giá tiêu dùng theo không gian của ĐBSCL thấp nhất cả nước chủ yếu ở các nhóm hàng có giá thấp như lương thực, thực phẩm. Theo lý giải của Tổng cục Thống kê, sở dĩ vùng này có mức giá thấp như vậy là do địa hình bằng phẳng, điều kiện khí hậu thuận lợi thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp, nên các nhóm hàng lương thực, thực phẩm có giá thấp.
Trong đó, Hậu Giang là tỉnh có chỉ số giá sinh hoạt thấp nhất cả nước. Chỉ số này chỉ bằng 89,38% so với Hà Nội và giá bình quân các nhóm hàng khác cũng thấp hơn từ 4% đến 25%. Giá thấp chủ yếu do các nhóm hàng lương thực, thực phẩm và nông sản các loại. Phần lớn cư dân của tỉnh sống từ thu nhập nông nghiệp và thủy sản. Trong khi họ phải chi trả cho các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh cùng loại thường cao hơn. Giá dịch vụ y tế của Hậu Giang năm qua tăng 67,05%. Nhóm vật liệu xây dựng của Hậu Giang cao hơn Hà Nội 0,05%, các nhóm hàng như thiết bị và đồ dùng gia đình, dịch vụ y tế cũng thường cao hơn. Điều đó cho thấy, mặc dù giá tiêu dùng rẻ nhất nước, nhưng cư dân nông thôn, người làm nông nghiệp khó khăn hơn.
Ba địa phương có chỉ số SCOLI cao nhất nước là TP HCM, Hà Nội và Đà Nẵng, nếu so với Hậu Giang là tỉnh có chỉ số giá tiêu dùng thấp nhất nước và thực tế đời sống người dân, thì kết quả trên gợi nhiều suy ngẫm hơn là tự hào "nơi đáng sống". Cùng với Hậu Giang là các tỉnh nghèo trong vùng như Trà Vinh, Sóc Trăng cũng có chỉ số SCOLI thấp. So sánh khập khiễng, nhưng giá sinh hoạt ở Mỹ, châu Âu luôn cao hơn ở nước ta, song mức sống của họ luôn được xếp ở chiếu trên. Thu nhập ở phương Tây, tiêu dùng ở xứ ta mới là thượng đế. Nhìn ở góc độ người dân nông thôn tại chỗ như Hậu Giang, thì chỉ số tiêu dùng thấp là sự yếu thế.
Cần chính sách hiệu quả cho người nghèo nông thôn
Một nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL, đã diễn đạt thu nhập của nông dân bằng hình tượng "Hạt gạo cắn làm 8". Trong đó, người trồng lúa, ngoài việc phải lo cho nhà mình, còn chi trả tiền học hành cho con, trả nợ vay ngân hàng, thanh toán cho đại lý vật tư nông nghiệp (mua trước, trả sau), lo cho nhà hàng xóm (hiếu hỷ), góp phần giảm chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tạo vị thế cho quốc gia với tư cách nhà xuất khẩu gạo trên thế giới.
Nay nhìn ở góc độ SCOLI thì lo nhiều hơn mừng cho nông dân. PGS-TS Nguyễn Văn Sánh cũng phân tích kịch bản thu nhập - tiêu dùng - đầu tư của nông dân ĐBSCL theo "Bốn bước". Bước vào là nông dân có vốn, kỹ thuật và quản lý tốt sẽ phát triển trang trại, phát triển kinh tế nông hộ quy mô lớn hơn. Bước ra là hộ ít đất, kỹ thuật thấp và đáp ứng thị trường kém thì bán đất và bước ra ngoài khu vực nông nghiệp. Bước lên là người có đất, thiếu kỹ thuật và vốn đầu tư phải bước lên qua hình thức kinh tế hợp tác, HTX, hoặc công ty cổ phần nông nghiệp. Nếu bước ra không có việc làm, bước vào không được và bước lên không xong thì phải bước xuống trở thành thất nghiệp và nghèo khó, hoặc di dân và tìm việc làm thành thị. Do vậy, nâng cao năng lực nông dân, hình thức tổ chức hợp tác sản xuất, phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm nâng cao thu nhập và tạo cơ hội việc làm cho nông dân Hậu Giang là rất quan trọng.
Chúng ta đang dùng thang đo "nghèo đa chiều" thay cho "tiêu chí thu nhập" đơn điệu để tìm kiếm công bằng hơn. Nhưng đáng lo ngại khi khoảng cách giàu - nghèo càng bị đẩy ra xa hơn. Người nghèo ở khu vực nông thôn, dân cư khó khăn nên khi có bệnh, ít được đến các cơ sở y tế điều trị. Quỹ BHYT ở những nơi này thường kết dư lớn. Ngược lại, ở thành phố luôn bội chi Quỹ BHYT. Người nghèo phải bù đắp chi phí cho người giàu trong khám, điều trị bệnh là một nghịch lý. Nó cũng giống như giá lương thực, thực phẩm của nông dân bù cho các nhóm hàng khác.
Nghịch lý đó đang đặt ra bài toán cần lời giải tổng thể từ cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội, các giải pháp, cách thức thực thi. Người nghèo cần được định vị lại cuộc mưu sinh bền vững hơn. Cần có nhiều hơn nữa các cơ chế, chính sách hỗ trợ người nghèo thiết thực hơn và thực thi có hiệu quả hơn. Các vấn đề đất đai, khoa học kỹ thuật cho sản xuất hàng hóa lớn ở khu vực nông nghiệp, nông thôn đang cần sự sửa đổi cực kỳ mạnh dạn để chuyển đổi nông nghiệp sang một mô hình khác, chứ cứ lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ, một ít chính sách hỗ trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ khoa học - kỹ thuật, rồi trộn lẫn với chính sách giảm nghèo có tính đối phó, theo đuôi thiệt hại như vừa qua thì rõ ràng là không thể cải thiện được đời sống người dân.
Chỉ số SCOLI thấp nhất nước chỉ là một góc nhìn, cần được xem là chỉ dấu để rà soát và hoạch định các chính sách liên quan hơn là tự hào về một nơi đáng sống chỉ đơn thuần vì giá rẻ để tiêu tiền.
TS VÕ HÙNG DŨNG, nguyên Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Chi nhánh Cần Thơ:
Xuất phát từ thu nhập không cao
Sở dĩ tại Hậu Giang có giá cả rẻ như Báo Người Lao Động đã nêu, do thu nhập của người dân không cao nên họ tiêu dùng thấp. Thứ hai, do đô thị phát triển yếu, chưa xuất hiện tầng lớp có nhu cầu mua sắm tốt. Thông thường ở những đô thị lớn như
TP HCM thì tiêu dùng có giá cao nhưng cũng có phân khúc giá thấp như ở những khu dân cư nghèo, khu bình dân. Còn ở những thành phố trung bình hoặc nhỏ, hầu hết có giá rẻ do thu nhập nơi đó thấp. Nếu đi quanh các cửa hàng, cửa hiệu tại Hậu Giang kiếm hàng chất lượng cao sẽ không có.
Muốn cải thiện thu nhập, Hậu Giang cần giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế. Hiện nay tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang không phải là quá thấp nhưng nó lại tập trung ở khu vực bên ngoài chứ không phải khu đô thị. Nơi này có 2 khu vực: khu vực gần sông có khu công nghiệp, đường sá phát triển nhộn nhịp thì giá cả ở đây chưa chắc rẻ. Riêng khu vực TP Vị Thanh nằm phía trong là đô thị, bao quanh là khu vực nông thôn thì ở đó tăng trưởng kinh tế thấp. Vì vậy, Vị Thanh ít dịch vụ, mặc dù có khu hành chính "bao la". Nhưng khu hành chính không tạo ra được của cải như các nhà máy sản xuất, không có nơi mua sắm lớn, hoạt động thương mại để thu hút du khách. Vì vậy, cần khắc phục điểm yếu ở khu trung tâm này để tăng trưởng kinh tế.
C.LINH
Trần Hữu Hiệp


ĐBSCL nên là “Tuabin xanh”


Trần Hiệp Thủy, Ngụy T. Khanh
ĐBSCL không chỉ được xác định là “vùng nông sản lớn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu” mà còn là một trong các “trung tâm năng lượng quốc gia”.
ĐBSCL đang trở thành một trung tâm năng lượng lớn của cả nước, với tổng công suất phát điện vào năm 2030 lên đến 18.224 MW, gấp 7,6 lần nhà máy thủy điện Sơn La có công suất lớn nhất Đông Nam Á (2.400 MW). Nhưng điều đáng lo ngại theo quy hoạch là phần lớn nguồn phát điện ở ĐBSCL phụ thuộc vào nhiệt điện than.
Theo Quy hoạch Điện VII điều chỉnh năm 2016, vùng này có 6 trung tâm nhiệt điện, gồm 14 nhà máy nhiệt điện than. Trong đó, có 8 nhà máy trong quy hoạch, 2 nhà máy đang vận hành là Duyên Hải 1 và Duyên Hải 3 và có 4 nhà máy đang xây dựng.

Ảnh: PHAN THANH CƯỜNG
Ba mối lo từ nhiệt điện than
Việc hình thành trung tâm điện lực ĐBSCL phụ thuộc vào nhiệt điện than đang đặt ra 3 mối lo lớn, cần giải quyết. Đó là ô nhiễm nguồn nước, không khí và tác động của tro xỉ.
Theo các chuyên gia, nhà máy nhiệt điện than là những cỗ máy tiêu tốn nước khổng lồ. Tổng lượng nước làm mát cần cho 14 nhà máy nhiệt điện than ở ĐBSCL khoảng 70 triệu m3/ngày đêm. Nhiệt độ của lượng nước này khi ra môi trường cao hơn nhiệt độ nước đầu vào khoảng 8ºC, vào mùa hè nước thải ra có thể lên đến gần 40ºC. Các nhà máy nhiệt điện than được đặt gần biển và sông để tiện cho vận chuyển than và lấy nước làm mát. Nước nóng thải ra từ các nhà máy nhiệt điện sẽ phá hủy hệ sinh thái dưới nước, ảnh hưởng rất lớn đến đánh bắt cũng như nuôi trồng thủy sản của vùng này. Tình hình ở ĐBSCL càng nghiêm trọng hơn nếu chịu tác động của nhiệt điện cùng với biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của thủy điện thượng nguồn.
Cùng với ô nhiễm nguồn nước là ô nhiễm không khí từ các nhà máy nhiệt điện than. Nhiệt đốt than ngoài phát tán khí CO2 còn phát tán ra các khí độc hại khác như bụi mịn (PM2.5), khí SO2, NOx và một số chất độc hại khác. Các loại bụi mịn (PM2.5), SOx, NOx gây ra nhiều bệnh như ung thư phổi, đột quỵ, bệnh tim và các bệnh hô hấp khác như hen xuyễn… Hiện nay hầu hết các nhà máy chỉ lọc được bụi mịn, khí SO2, NOx, còn các loại khí độc hại khác vẫn chưa làm được. Tuy nhiên mặc dù có bộ lọc nhưng vẫn còn một lượng lớn các chất này bay ra không khí và phát tán ra xung quanh đến hàng trăm km. Theo Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Quốc tế, riêng PM2.5 đã gây ra khoảng 3 triệu cái chết yểu trên toàn thế giới.
Không chỉ tác động đến nguồn nước và ô nhiễm không khí, các nhà máy nhiệt điện than còn thải ra một lượng lớn tro xỉ. Trong khi, cho đến nay, việc xử lý và sử dụng lượng tro xỉ đó như thế nào đang là bài toán của ngành xây dựng, vấn đề kinh tế và môi trường.
Theo các chuyên gia, mỗi năm lượng than cần dùng cho 14 nhà máy nhiệt điện ở ĐBSCL ước tính khoảng 64 triệu tấn, trong đó duy nhất Duyên Hải 1 sử dụng than nội địa, những nhà máy còn lại dự kiến sử dụng than nhập. Ước tính thải ra khoảng 6 triệu tấn tro xỉ. Nếu đắp cao 5m, nhu cầu sử dụng đất để chôn lấp tro xỉ là 85ha/năm. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ra các quyết định về xử lý tro xỉ nhưng cho đến nay vẫn chưa có quy chuẩn đối với tro xỉ được sử dụng làm nguyên vật liệu xây dựng. Vì vậy việc sử dụng tro xỉ vẫn còn tự phát với số lượng hạn chế, phần lớn là chôn lấp, nên đây là một vấn đề nhức nhối cho công tác quản lý tro xỉ trong tương lai ở ĐBSCL.
Triển vọng "tuabin xanh" từ năng lượng tái tạo
ĐBSCL được đánh giá là vùng có tiềm năng rất lớn cho phát triển năng lượng tái tạo (NLTT). Theo nghiên cứu của Viện Năng lượng cho tổ chức Phát triển Đức (GIZ) đầu năm 2018, nếu xét chi phí đầu tư một dự án điện mặt trời ở mức 7,5 cent/KWh với chi phí sử dụng vốn ở mức 7,8% thì tổng tiềm năng kinh tế của điện mặt trời tại khu vực ĐBSCL lên tới 136.275 MW, điện lượng ước tính lên tới 216,5 tỉ kWh hàng năm. Con số này gấp đôi so với tổng toàn bộ 14 nhà máy nhiệt điện than mà điện lượng hàng năm ước tính chỉ khoảng 108 tỉ kWh. Đó là chưa kể đến nguồn điện từ gió, từ sinh khối… khá dồi dào ở vùng này.
Trái ngược với nhiệt điện, phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo hầu như không gây ra các tác động đến môi trường, xã hội. Ngoài ra, với những lợi thế của mình, phát triển năng lượng tái tạo cũng là cơ hội cho ĐBSCL thúc đẩy những đồng lợi ích về kinh tế - xã hội, giúp đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, là động lực thúc đẩy chuỗi giá trị địa phương và đồng thời là giải pháp phù hợp nhằm hoàn thành các mục tiêu quốc gia về điện khí hóa nông thôn.

Tuy nhiên, phát triển năng lượng tái tạo không thể cùng lúc tạo ra sự đột phá như việc đổ tiền vào xây dựng một nhà máy nhiệt điện than có thể phát ra hàng ngàn MW. Đó là một quá trình nhận thức và chuyển dịch năng lượng từ nâu sang xanh.
Để ĐBSCL là một "tuabin xanh" cần nghiên cứu lại nhu cầu điện của ĐBSCL và phân tích chi phí và lợi ích của các kịch bản phát triển năng lượng khác nhau theo mô hình phát triển bền vững để xem xét tính cấp thiết của việc phát triển 14 nhà máy nhiệt điện than như trong Quy hoạch Điện VII và xem xét phát triển điện từ nguồn năng lượng tái tạo để thay thế nhiệt điện than và bảo đảm an toàn môi trường. Bên cạnh đó, cần các cơ chế chính sách, tài chính để thúc đẩy doanh nghiệp, người dân và cộng đồng tham gia phát triển và ứng dụng NLTT để đảm bảo an ninh năng lượng, giảm thiểu nhiệt điện than để giảm thiểu tác động tới môi trường, bảo đảm phát triển bền vững các ngành truyền thống và thế mạnh của ĐBSCL đặc biệt là thủy sản.
TRẦN HIỆP THỦY - NGỤY T. KHANH


10 tháng 4, 2018

Không thể mãi “chân lấm tay bùn”!


Trần Hữu Hiệp
TTO - Thời buổi công nghệ phát triển chóng mặt, công nghệ sản xuất mới ra đời liền liền như các mẫu điện thoại thông minh mới, vì thế cũng đòi hỏi cần có một lớp nông dân @.
Có lớp nông dân @, mới dần xóa đi hình ảnh nhà nông gắn liền với chân lấm tay bùn, cảnh được mùa mất giá, lúc đó mới nghĩ đến làm nông sẽ giàu.
Nông dân chưa giàu vì còn lệ thuộc quá nhiều vào thời tiết, chưa làm chủ được công nghệ, chưa nắm bắt được thị trường, lệ thuộc vào thương lái… 
Còn nông dân @ là những người phải biết tận dụng tối đa những tiến bộ của công nghệ, của khoa học kỹ thuật, làm nông mà không phải lấm bùn, biết khai thác xu hướng tiêu dùng không hóa chất để làm ra những sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao mà người tiêu dùng đang săn tìm.
Sự kiện Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lần đầu tiên đối thoại với nông dân tại Hải Dương trong ngày 9-4 là cơ hội để đặt ra những nền tảng vững chắc hơn nhằm hình thành những lớp nông dân @. 
Trên thực tế, đã xuất hiện các mô hình nông dân kinh doanh nông nghiệp tốt. Một thế hệ trẻ với khát vọng, được đào tạo bài bản, nhạy bén với thị trường mang dáng dấp những người nông dân thông minh.
Nhiều nông dân đã biết tìm thị trường tiêu thụ qua mạng. Nông sản từ đồng ruộng, vườn nhà khi sản xuất đã được xác định địa chỉ tiêu thụ dựa trên sự phát triển của thương mại điện tử. 
Tại ĐBSCL cũng đã có những doanh nghiệp giúp những nông dân trở thành cổ đông, đưa vào ứng dụng viễn thám địa lý cho nông nghiệp và nước. 
Nông dân @ chỉ cần truy cập phần mềm, chọn thửa ruộng sẽ nắm được toàn bộ dữ liệu của thửa ruộng đó từ lúc sạ cho đến lúc thu hoạch. 
Cũng đã xuất hiện các "Hai Lúa doanh nhân", không cần ra đồng vẫn có thể theo dõi công nhân làm việc hằng ngày qua điện thoại thông minh. 
Tương tự, họ có thể điều khiển hệ thống bơm, thoát nước cho vuông tôm bằng cách kích hoạt phần mềm tự động trên smartphone. Rất nhiều sản phẩm nông nghiệp được sản xuất ra mà không cần đất, được tự động hóa, không lệ thuộc vào thời tiết…
Nhưng chỉ có mô hình hoặc số ít người trẻ khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chưa thể xóa đi hình ảnh chân lấm tay bùn, vẫn là làm nông khó giàu. 
Để giúp hình thành một lớp nông dân @, trước mắt các cơ quan chức năng cần phải hỗ trợ nông dân thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn đói vốn, vật tư nông nghiệp dỏm - giả, thiếu thị trường tiêu thụ phải giải cứu… 
Đồng thời phải tạo lập một hệ sinh thái nông nghiệp thông minh và môi trường nông thôn sáng tạo, tháo gỡ rào cản về hạn điền. Khi đó, nông dân cần có sự dẫn dắt, như lời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, phải là sự phối hợp giữa 6 nhà, không thể tách rời là: nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng và nhà phân phối. 
Bên cạnh đó phải hỗ trợ và thúc đẩy quá trình doanh nhân hóa nông dân. Phải chấp nhận một bộ phận nông dân, dân cư nông thôn chuyển dịch, ly nông. 
Không thể mãi cho rằng bám nông thôn, gắn với nông nghiệp theo cách xưa cũ bằng mọi giá là tốt nhất. 
Và hãy biến kênh đối thoại với Thủ tướng, các kênh đối thoại với chính quyền các cấp, các bộ ngành thành những nơi hình thành ra các chính sách giúp cho nhà nông chân lấm tay bùn sớm trở thành những nông dân @ thực thụ.
TTO - Hôm nay 9-4, lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đối thoại trực tiếp với nông dân ở Hải Dương. Đến cuối tuần trước đã có trên 1.000 câu hỏi được nông dân khắp nơi gửi đến Thủ tướng.


Nông dân cần gì để an tâm sản xuất, giàu lên?


TTO - Nhân dịp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lần đầu tiên có cuộc đối thoại trực tiếp với nông dân ở Hải Dương hôm nay 9-4, Tuổi Trẻ hỏi chuyện chính nông dân về những vướng mắc của họ.
Xác định nông nghiệp phục vụ ai, đi về đâu
* TS TRẦN HỮU HIỆP (chuyên gia kinh tế ĐBSCL): Phát triển mạnh nông nghiệp công nghệ cao
Tôi đề xuất quan tâm thực hiện các giải pháp sau: Một là, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung - cầu thị trường. 
Hai là, đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. 
Ba là, tập trung cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, tạo các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao. 
Bốn là, cần chọn đầu tư phát triển các phân ngành dịch vụ nông nghiệp có giá trị gia tăng cao, gắn với phát triển mạnh mẽ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch.
* TS NGUYỄN MINH CHÂU (chuyên gia nông nghiệp): Nhà nước phải làm nhạc trưởng
Trước đây, chúng ta nói sản xuất nông nghiệp phải có bốn "nhà" gồm: Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và doanh nghiệp. Nhưng mấy năm gần đây nhiều nơi kêu ca rằng không thấy "Nhà nước" đâu. 
Vô họp thì bàn sôi nổi, ra khỏi phòng họp thì ai về nhà nấy. Thực tế, hiện chỉ còn hai "nhà" doanh nghiệp và nông dân tự thỏa thuận, liên kết với nhau.
Tôi rất mong Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo quyết liệt để lãnh đạo các địa phương tham gia tích cực và giữ trọng trách nhạc trưởng của mối liên kết bốn "nhà".
* TS DƯƠNG VĂN NI (Đại học Cần Thơ): Xác định phục vụ người dân VN trước tiên
Để giải quyết câu chuyện thu nhập của nông dân được nâng lên, cái gốc của vấn đề mà Bộ NN&PTNT cần làm là phải xác định, phải định hướng nền nông nghiệp phục vụ ai, sẽ đi về đâu.
Theo tôi, nó phải là nền nông nghiệp dựa trên nền tảng văn hóa và phục vụ dân tộc VN là trước tiên, xuất khẩu chỉ là khâu cuối cùng. 
Từ đó mới biết được chúng ta phải đào tạo con người thế nào, áp dụng gì, phương pháp sản xuất ra sao...
Để người làm ăn chân chính không thua lỗ
Nông dân NGUYỄN VĂN ĐỨC (xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, An Giang): Hỗ trợ tài chính mở rộng hạn điền
Mở rộng hạn điền là xu hướng làm ăn tất yếu, vì nếu còn sản xuất nhỏ lẻ sẽ sử dụng lao động rất lớn mà hiệu quả không cao. 
Việc mở rộng hạn điền sẽ giúp doanh nghiệp làm nông nghiệp quy mô lớn và cho nhiều lợi ích.
Lâu nay, việc mở rộng hạn điền chỉ có giải pháp duy nhất là mướn đất dân. Việc này đã được chính quyền đứng ra làm trung gian đảm bảo quyền lợi cho nhân dân.
Tuy nhiên, muốn mở rộng hạn điền thì Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ tài chính.
* Ông NGUYỄN HỮU THẮNG (chủ trại heo ở ấp Cây Xoài, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai): An tâm sản xuất, tránh thua lỗ
Tôi nghĩ Chính phủ cần mổ xẻ thẳng thắn những bất cập để làm sao người chăn nuôi an tâm sản xuất, tránh thua lỗ. 
Tôi thấy Thủ tướng đã yêu cầu các ngân hàng khoanh nợ, giãn nợ cho người chăn nuôi. 
Tuy nhiên, hiện việc vay gặp rất nhiều khó khăn.
* Ông NGUYỄN TRÍ CÔNG (chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai): Tại sao thị trường chăn nuôi chưa ổn định?
Trong chăn nuôi, chúng ta có kinh nghiệm sản xuất nhưng cái chính là bấp bênh đầu ra vì giá cả. Người chăn nuôi đang đặt ra câu hỏi: Chúng tôi phải sản xuất ở mức độ nào để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu?
Tại sao câu chuyện ổn định thị trường trong nước lâu nay chúng ta vẫn chưa làm được? Đơn cử như khi xảy ra chuyện an toàn vệ sinh thực phẩm thì giá thịt heo lại rơi xuống, dù các trang trại vẫn sản xuất theo chuỗi an toàn. 
Đã có nhiều người làm ăn chân chính thua lỗ, "treo chuồng" cũng vì thị trường không ổn định.
* Ông VÕ QUAN HUY (chủ Công ty TNHH Huy Long An, chủ tịch Hiệp hội tôm Mỹ Thanh, Sóc Trăng): Giảm giá thành vật tư
Tôi nghĩ Chính phủ cần sớm có biện pháp kéo giảm giá thành vật tư sản xuất nông nghiệp. 
Hiện nay giá thành quá cao, chỉ một đại lý phân bón, men vi sinh đã chiết khấu lên đến 40% hoặc 50% hoa hồng. 
Chi phí đội lên như thế thì vốn nông dân phải bỏ ra nhiều và rủi ro lợi nhuận cũng nhiều hơn.
* Ông VÕ VIỆT HƯNG (nông dân xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp): Cần giống chất lượng
Các loại giống lúa, cây trồng, thủy sản hiện nay có chất lượng không cao cả về mẫu mã đến chất lượng bên trong và thời gian bảo quản. 
Chính phủ đã có chương trình lớn xây dựng thương hiệu lúa gạo VN nhưng hiện nay chưa nghe thông tin giống nào được chọn là giống quốc gia. 

Nông dân mong sớm được canh tác giống lúa này để tăng chất lượng, bán được giá cao. Cây ăn trái cũng vậy.
TTO - Hôm nay 9-4, lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đối thoại trực tiếp với nông dân ở Hải Dương. Đến cuối tuần trước đã có trên 1.000 câu hỏi được nông dân khắp nơi gửi đến Thủ tướng.
NHÓM PHÓNG VIÊN TUỔI TRẺ