18 tháng 1, 2018

Làm sao có 'nông dân triệu đô'?

tiến Trình, Hạnh Nguyễn
Báo Tuổi Trẻ, 17/01/2018 21:16 GMT+7
"Muốn phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp ĐBSCL, điều đầu tiên phải thay đổi là từ lối nghĩ của nông dân" - các nhà khoa học, nhà quản lý có cùng quan điểm trên khi phát biểu tại tọa đàm Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL do báo Tuổi Trẻ tổ chức với sự đồng hành của Công ty CP Tôn Đông Á diễn ra ngày 16-1 tại TP Cần Thơ.

Đừng bỏ rơi nông dân
Chuyên gia kinh tế Trần Hữu Hiệp nhắc nhớ câu chuyện cố thủ tướng Võ Văn Kiệt từng chủ trì một hội nghị liên quan đến vấn đề phát triển ĐBSCL và đặt ra các vấn đề bức thiết nơi đây là giao thông, hạ tầng và nguồn nhân lực. Đến nay, sau 14 năm các vấn đề này vẫn là điểm yếu của vùng.
Không hẹn mà gặp, các chuyên gia, nhà quản lý đều có chung quan điểm thay đổi của ĐBSCL phải bắt đầu thay đổi từ người dân, từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Ông Lê Bá Phước - chủ tịch Hội Nông dân TP Cần Thơ - chỉ ra rằng "nông dân gặp khó về khoa học kỹ thuật còn phải lao đao với bài toán thị trường".
Giáo sư Võ Tòng Xuân (hiệu trưởng ĐH Nam Cần Thơ) cho rằng cái nhược lớn nhất khi phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp ĐBSCL là "người lớn không chịu học".
GS Xuân kể chuyện khi ông còn làm hiệu trưởng Trường ĐH An Giang, hầu như năm nào cũng có chương trình phổ cập kiến thức cho nông dân. Tuy nhiên, tại các buổi học đó học viên chủ yếu là... các cán bộ nông nghiệp. Họ đi học để về phổ biến lại cho nông dân vì đối tượng chính này không muốn học.
Cán bộ kể khi vận động nông dân dự các lớp phổ cập kiến thức nông nghiệp thì bị hỏi ngược rằng: "Học làm gì? Mấy ông học có làm ra lúa không? Tui không học nhưng cũng làm ra lúa đầy đồng nè".
Ở chiều vĩ mô, GS Võ Tòng Xuân nói nền giáo dục của Việt Nam cũng phải thay đổi để người học đừng có tâm lý "cố học để thi" thay vì học để làm việc tốt.
Ông Lê Minh Hoan - bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp - kể chuyện khi sang Hàn Quốc học hỏi kinh nghiệm làm nông nghiệp nước bạn, ông được nghe câu nói nổi tiếng từ cố lãnh đạo Park Chung Hee của nước này: "Mọi sự tiếp sức của chính phủ sẽ trở nên vô nghĩa nếu người nông dân không thay đổi tư duy sản xuất".
Ông Hoan cho rằng "điểm nghẽn" lớn nhất đối với nguồn nhân lực cho ĐBSCL là vấn đề tâm lý xã hội khi nông dân vẫn có thói quen làm nhỏ, lẻ, manh mún. Và để nông dân thay đổi cách nghĩ thì trước hết phải thay đổi cách tiếp cận tri thức đối với họ, "làm sao đừng để người nông dân bị bỏ rơi".
Một minh chứng sinh động là Đồng Tháp đã tổ chức thành công mô hình "hội quán nông dân", được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm và đánh giá cao hồi cuối năm 2017. Đây là nơi để nông dân tự sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm làm nông, chia sẻ về những thách thức biến đổi khí hậu với nhau. Đây cũng là nơi giúp người nông dân tiếp cận tri thức mới, thiết bị, thông tin công nghệ hiện đại.
Nông dân "nhạy bén sẽ thu triệu đô"?
PGS.TS Lê Việt Dũng - phó hiệu trưởng Trường ĐH Cần Thơ - dẫn câu nói vui "cửa miệng" của nông dân miền Tây gần đây: "Phen này làm không được thì tui đi Bình Dương đó", hàm chỉ sự dịch chuyển lao động đang rất lớn và thực trạng nông dân ở các tỉnh ĐBSCL phải bỏ xứ đi tìm việc làm ở nơi khác.
Dẫn chứng về lần cùng đoàn cán bộ nông nghiệp của Hậu Giang sang Nhật Bản gặp gỡ một nông dân địa phương chỉ có 1,8ha đất nhưng thu nhập cả triệu đôla nhờ trồng các loại cây, trái trang trí cho thức ăn ở nhà hàng, ông Dũng cho rằng "nông dân thường có cách làm rập khuôn, không chủ động làm ra cái mà thị trường đang đòi hỏi để thu về lợi nhuận cao trên chính đồng đất của mình. Nếu họ nhạy bén, chủ động làm ra cái thị trường cần thì thu nhập từ nông nghiệp là không hề nhỏ".
Ở một hướng khác, PGS.TS Đỗ Văn Xê cho rằng trong đào tạo và thu hút nguồn nhân lực, doanh nghiệp cũng cần phải có vai trò. Bởi để nhân lực phát huy được thì không chỉ có nơi đào tạo mà còn phụ thuộc vào nơi sử dụng lao động. "Học gì xài đó. Nếu người học ra trường không có việc làm thì họ sẽ dẫn đến mai một" - ông Xê nói.
PGS.TS Lê Anh Tuấn - phó viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc ĐH Cần Thơ - đánh giá người dân ĐBSCL có khả năng thích nghi rất tốt, dám nghĩ dám làm, kinh nghiệm bản địa cũng nhiều. Đội ngũ lao động đã được đào tạo nếu phát huy khả năng thích ứng cao sẽ trở thành nguồn nhân lực chất lượng tại chỗ.
Chăm chú lắng nghe các ý kiến, ông Phạm Quốc Thắng - phó tổng giám đốc Công ty CP Tôn Đông Á - bày tỏ niềm tin rằng với sự góp ý kiến tâm huyết từ các nhà khoa học, nhà quản lý... sẽ giúp nông dân thay đổi lối nghĩ, tiếp cận kỹ năng, tri thức, thị trường để làm ăn thành công.
Đồng tình với ông Thắng trong việc ghi nhận những ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, ông Đỗ Văn Dũng - phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ - cho rằng đó đều là "những đề tài báo chí rất chất lượng".
Ông Đỗ Văn Dũng cho biết: "Báo Tuổi Trẻ sẽ chuyển tải những đề tài đó một cách tốt nhất trên chuyên trang Mekong xanh và các ấn phẩm khác của Tuổi Trẻ để góp phần giúp những vấn đề, câu chuyện đặt ra được lan tỏa rộng rãi, giúp các nhà khoa học, nhà quản lý có cách tiếp cận các vấn đề của ĐBSCL hiệu quả, bạn đọc hiểu hơn về cuộc sống của người dân nơi đây, có thể chung tay thúc đẩy sự phát triển của khu vực này"
 Góp sức cho ĐBSCL

Ông Phạm Quốc Thắng - phó tổng giám đốc Công ty CP Tôn Đông Á, đơn vị đồng hành với báo Tuổi Trẻ trong việc thực hiện chuyên trang Mekong xanh (mekongxanh.tuoitre.vn) và chương trình Cùng xây cuộc sống xanh - cho biết: "Nhiều năm qua công ty đã gắn bó với vùng ĐBSCL và quan tâm đến các vấn đề về môi trường. Nay chúng tôi đồng hành với báo Tuổi Trẻ trong các chương trình với mục đích kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, các nhà khoa học, trí thức giúp cho vùng này phát triển đầy đủ nhất và đúng với tiềm năng".     

17 tháng 1, 2018

Nhân lực là động lực phát triển đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Mô hình phát triển ĐBSCL lấy con người làm trung tâm, chú trọng chất lượng hơn số lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra nhanh.

TS. Trần Hữu Hiệp - Ảnh: Chí Quốc
Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu đã xác định tầm nhìn dài hạn, yêu cầu thay đổi tư duy, kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng, chủ động thích ứng, chuyển hóa những thách thức thành cơ hội để phát triển vùng, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, bảo đảm cuộc sống khá giả của người dân ĐBSCL.
Mô hình phát triển ĐBSCL lấy con người làm trung tâm, chú trọng chất lượng hơn số lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra nhanh, ngày càng cực đoan. Mô hình đó đòi hỏi bước chuyển căn bản về chất nguồn nhân lực ĐBSCL, trở thành là động lực cơ bản và xuyên suốt trong phát triển vùng.
Không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực trong giáo dục-đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL góp phần nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực. Các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng trường học, dạy nghề, giải quyết việc làm, đào tạo nghề lao động nông thôn, tín dụng chính sách … đã được triển khai có hiệu quả. 
Song, sau hơn 10 năm chọn "phát triển nguồn nhân lực" là một trong 3 khâu đột phá, chất lượng nguồn nhân lực ĐBSCL vẫn tụt hậu so với các vùng miền cả nước. 
Tây Nam Bộ đang xếp cuối bảng từ các chỉ số giáo dục đại học, cao đẳng, lao động qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế đến giáo dục mầm non, mẫu giáo và phổ thông. Trong khi đó, tỷ lệ học sinh bỏ học ở 3 cấp của vùng này cao nhất, gần gấp 3 lần cả nước. 
Kinh tế khó khăn, chi phí học hành lớn, sinh kế là những nguyên nhân chính dẫn đến phần lớn các em học sinh phổ thông bỏ học, tạo ra cái nền chông chênh cho các bậc giáo dục, đào tạo tiếp theo. 
Trong khi hàng loạt sinh viên ra trường không tìm được việc làm đang tác động tiêu cực đến tâm lý nhiều hộ gia đình gồng gánh đầu tư cho giáo dục.
Thực tế đó đang đòi hỏi một chiến lược đào tạo nhân lực, các giải pháp tổng thể và mạnh mẽ hơn để phát triển nguồn nhân lực chất lượng, tạo ra động lực phát triển vùng. Cùng với Chiến lược nhân lực quốc gia và các tỉnh, rất cần một Chiến lược nhân lực cho vùng ĐBSCL. Qui hoạch phát triển hệ thống các trường ĐH, cao đẳng, trường nghề, trường phổ thông và các hoạt động giáo dục, đào tạo, day nghề… phải dựa trên chiến lược này. 
Cần "hướng cầu" là thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị trong vùng làm động lực phát triển hơn là chủ yếu dựa trên năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất của các trường. Phải thật sự gắn kết được lợi ích, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động trong đào tạo nhân lực của vùng, kèm theo là các chính sách khuyến khich thích hợp. Cần phải quan tâm lồng ghép, kết nối, tập hợp để tạo ra chuyển biến tốt hơn từ nhiều chương trình, tạo ra cuộc vận động lớn, thiết thực và hiệu quả hơn.  
Hệ thống GDĐT từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, ĐH đến các trường nghề, hệ thống giáo dục xã hội trong vùng cần được quan tâm đầu tư để đủ sức tạo ra "sản phẩm nhân lực" tốt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, chứ không phải trông chờ vào chính sách ưu tiên chỉ tiêu đào tạo, chỉ tạo ra "lợi thế ảo". 
Hoạt động liên kết vùng ĐBSCL trong phát triển nguồn nhân lực cần được tiếp tục tăng cường về chất, nội dung, phương thức phù hợp hơn nữa.
Để phát triển đồng bằng, rất cần những nguồn lực mới, những mô hình phát triển mới với hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao hơn. Động lực mới cho các mô hình mới này cần phải được bắt đầu chính từ nội lực của vùng, từ nguồn nhân lực bậc cao, từ khoa học và công nghệ và từ doanh nghiệp. 
Cuộc đua thoát khỏi vùng trũng về chất lượng nhân lực của miền Tây Nam Bộ không chỉ hướng đến một chất lượng, nguồn cung nhân lực có uy tín cho xã hội và doanh nghiệp, mà rất cần biến nó thực sự trở thành một động lực phát triển vùng.     


19 tháng 12, 2017

Hội đồng điều phối vùng - Phòng thí nghiệm chính sách

Trần Hữu Hiệp
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP (NQ 120) về “Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu”. Chuyển đổi mô hình, thay đổi tư duy, tôn trọng quy luật tự nhiên, kiến tạo phát triển bền vững vùng ĐBSCL là quan điểm chỉ đạo, định hướng chiến lược quan trọng. 
Lần đầu tiên, một nghị quyết chuyên đề về phát triển vùng được Chính phủ ban hành thể hiện quyết tâm mạnh mẽ, sự tiếp cận hệ thống và tầm nhìn dài hạn đến năm 2050. Tư duy, tầm nhìn, cách tiếp cận là quan trọng. Song cách thức tổ chức triển khai, bố trí nguồn lực và bộ máy thực thi để đưa nghị quyết vào cuộc sống còn quan trọng hơn. Nhìn ở góc độ đó, NQ 120 đang đứng trước 2 thách thức lớn cần phải vượt qua là nguồn lực ở đâu và bộ máy nào để vận hành theo cơ chế liên kết vùng, phát triển vùng! 
Đi tìm kiếm mô hình
Liên kết vùng là vấn đề lớn, khó, được thực hiện trên hiện trạng tổ chức bộ máy quản lý điều hành, các nguồn lực phân tán, cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật “thiếu phối hợp, thừa chồng chéo” là những thách thức lớn. Việc phân bổ ngân sách cho các chương trình, dự án đầu tư liên kết vùng mang tính tích hợp, vượt ra ngoài không gian hành chính tỉnh và nội bộ một ngành luôn bị vướng mắc bởi nhiều quy định của Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công, Luật Tổ chức chính quyền địa phương.  
NQ 120 “đề nghị Quốc hội xem xét, điều chỉnh, bổ sung và bố trí ngân sách triển khai chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ”. Song chúng ta đang “bị mắc kẹt” trong trần nợ công, nguồn lực khan hiếm, nếu không có quan điểm đột phá thì không thể bố trí một nguồn lực cần thiết cho phát triển đồng bằng. Điều quan trọng hơn là thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách. Muốn vậy, cần ban hành các cơ chế, chính sách hấp dẫn hơn, kiến tạo thu hút mạnh mẽ hơn đầu tư tư nhân. Cần đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo chất lượng của công tác quy hoạch không gian phát triển và yêu cầu tích hợp để tạo môi trường đầu tư tốt hơn. 
Yêu cầu quan trọng đang đặt ra là sớm hoàn thiện cơ chế điều phối vùng. Việc thành lập Hội đồng điều phối phát triển vùng được ví như “phòng thí nghiệm chính sách” cho sự chuyển đổi mô hình phát triển mới. NQ120 giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: xây dựng quy hoạch tổng thể vùng, rà soát, đánh giá cơ chế thí điểm điều phối vùng, trong đó có việc thành lập Hội đồng điều phối vùng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, liên kết chuỗi chặt chẽ nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản, thủy sản của vùng là cần thiết và yêu cầu quan trọng để đảm bảo thực thi thí điểm. Song cần đặt nó trong bối cảnh cải cách tổ chức, bộ máy theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa XII.
Theo đó, cần thành lập Hội đồng điều phối vùng có thực quyền, chỉ tập trung 2 lĩnh vực then chốt: điều phối việc quản lý, sử dụng tài nguyên nước và quyết định các dự án đầu tư lớn, có tính liên kết vùng (theo quy mô, tính chất dự án). Giúp việc cho Hội đồng điều phối vùng chỉ cần có một bộ phận giúp việc hoặc văn phòng gọn, nhẹ, cán bộ chuyên môn tinh thông. Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ chế điều phối và vận hành Trung tâm thông tin dữ liệu vùng ĐBSCL để đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho việc ra quyết định “không hối tiếc” của Hội đồng điều phối vùng.
Bên cạnh Hội đồng điều phối vùng, cần thành lập nhóm tư vấn phát triển nghiên cứu, tư vấn, phản biện về chính sách và các vấn đề phát triển vùng ĐBSCL cho các cấp quyết định ở Trung ương và cấp vùng. Mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, bảo đảm tính liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình hợp lý, trong đó trước mắt tập trung ưu tiên các công trình cấp bách, các công trình có tính chất động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế toàn vùng, các công trình thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân.
Việc vận hành một Hội đồng điều phối phát triển vùng có thể còn những khiếm khuyết, nhưng cần chấp nhận như một “phòng thí nghiệm chính sách” cho yêu cầu liên kết vùng, phát triển vùng đã được đặt ra từ lâu đã lâu chưa làm được! 


13 tháng 12, 2017

Ì ạch du lịch đồng bằng

Thứ Hai, 27/6/2016 10:09
Du lịch đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không phải đi xuống, vẫn đang phát triển, chỉ có điều sự phát triển không được như kỳ vọng, chưa xứng với tiềm năng… 
Bao năm… chưa lớn

Theo Tổng cục Du lịch, năm 2014, ĐBSCL thu hút 1,7 triệu lượt khách quốc tế; trong khi đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc đạt 8,2 triệu lượt khách, duyên hải Nam Trung bộ 4,3 triệu lượt khách; vùng Đông Nam bộ 5,1 triệu lượt khách. Năm 2015, vùng ĐBSCL đạt 1,8 triệu lượt khách quốc tế, thấp hơn nhiều so với đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc với 8,4 triệu lượt khách; duyên hải Nam Trung bộ 4,9 triệu lượt khách và Đông Nam bộ 5,6 triệu lượt khách.

Vẻ đẹp hấp dẫn của biển Phú Quốc
Trong khi đó, lượng khách nội địa đến với ĐBSCL tuy có nhỉnh hơn vùng duyên hải Nam Trung bộ và Bắc Trung bộ, nhưng chưa bằng 40% lượng khách nội địa của vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ. Giữa các địa phương ở ĐBSCL cũng có chênh lệch rất lớn. Tiền Giang, Bến Tre chiếm đến 50% tổng lượng khách quốc tế cả vùng. An Giang chiếm 1/3 tổng lượng khách nội địa cả vùng. Kiên Giang, Cần Thơ dù chỉ chiếm 17% lượng khách nội địa và 23% lượng khách quốc tế của cả vùng nhưng đạt gần 50% trong tổng thu (8.636 tỷ đồng) từ khách du lịch toàn vùng… Tổng cục Du lịch cho rằng, hoạt động du lịch của ĐBSCL từ năm 2006 đến nay không có nhiều thay đổi. Và đã đến lúc cần nhìn thẳng vào thực trạng “nuôi hoài không chịu lớn” để có sự chuyển biến của du lịch đồng bằng.
Nguyên nhân chính là do sản phẩm du lịch ĐBSCL trùng lắp, thiếu nét độc đáo, không rõ tính đặc thù trong phát triển tour, tuyến… Khách đến và đi chủ yếu chỉ trong ngày, kéo theo thời gian lưu trú ngắn, chi tiêu ít khiến doanh thu thấp. Hiện nay tỷ lệ lưu trú của khách ở ĐBSCL chỉ đạt bình quân 1,95 ngày với khách quốc tế và 1,7 ngày với khách nội địa. Theo các chuyên gia du lịch, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ là 3 trong 5 địa phương nằm trong tuyến du lịch “Một điểm đến 4 địa phương +” (thêm Cà Mau và Bạc Liêu) thuộc vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL; nổi trội bởi sông, biển, núi, rừng và sinh thái vườn; có 2 cơ sở nghỉ dưỡng cao cấp cùng hệ thống cảng sông, cảng biển, cảng hàng không thuận lợi… nhưng chỉ số lưu trú trung bình cũng chỉ có... 1 ngày.
Chờ tư duy, diện mạo mới
Tăng số ngày khách lưu trú, số lần khách quay lại chính là bài toán “cốt tử” của du lịch ĐBSCL và cả nước. Muốn vậy, trước tiên phải tạo ra sản phẩm du lịch mới, độc đáo, khác biệt, hấp dẫn. “Cái gì ĐBSCL cũng có, nhưng rất ít món đủ chuẩn”, chuyên gia du lịch Phan Xuân Anh nhận định. Muốn “đủ chuẩn” cần đầu tư chuyên nghiệp, đúng hướng, đúng trọng điểm, tránh dàn trải...
ĐBSCL có hơn 700km bờ biển của 8/13 tỉnh, thành giáp biển, có biển Tây (vịnh Thái Lan) thông thoáng và xu hướng gia tăng du lịch biển trên thế giới. Nhưng thật lạ, một tuyến liên vận biển quốc tế Phú Quốc (hoặc Hà Tiên) ngược dòng Mekong huyền thoại để nối với các điểm du lịch nổi tiếng Kep, Kampot, Sihanoukville, KohKong (Campuchia); Chanthaburi, Pattaya, Bangkok (Thái Lan) đến giờ vẫn chỉ là suy nghĩ? Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), nơi thể hiện cao nhất “văn minh sông nước” đang “hụt hơi, đuối sức”, sụt giảm đến phân nửa số ghe, thuyền chỉ trong vòng mấy năm. Mới đây, đề án “Bảo tồn và phát triển chợ nổi Cái Răng” kinh phí 63 tỷ đồng được chính quyền thông qua với phương án giữ nguyên hiện trạng, có sắp xếp, điều chỉnh như lắp đặt phao tiêu, đầu tư cầu tàu, nhà vệ sinh, du thuyền; quy hoạch địa điểm tập kết hàng hóa và các kho vựa… Tuy nhiên, vẫn thiếu điểm nhấn, chưa xứng tầm. Do sự “rụt rè, tự ti” khiến điểm du lịch nổi tiếng này vẫn do cấp quận quản lý; mới cung cấp chủ yếu một sản phẩm (tham quan), chỉ 15 phút loanh quanh khắp chợ rồi… về.
Để thay đổi, cần sự đầu tư trọng điểm, tạo sự bứt phá cho du lịch cả vùng như hình thành một “trung tâm dịch vụ du lịch chợ nổi” tầm cỡ, chuyên nghiệp; với “Bảo tàng ghe xuồng Nam bộ”; nhà biểu diễn nghệ thuật các dân tộc, nhà trình diễn ẩm thực dân gian, cùng đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng (hàng hóa, quà lưu niệm…) ngay trên sông nước sẽ giúp nơi này “lột xác”, mang dáng vóc mới, hấp dẫn, sôi động hơn... Các chuyên gia cho rằng, với sự đa dạng và tầng sâu văn hóa truyền thống bản địa (Kinh -  Khmer - Hoa - Chăm) luôn là mục tiêu “săn tìm” của du khách, đặc biệt là khách quốc tế.
Sự quan tâm, đầu tư thiết thực từ ngành dọc sẽ giúp “đứa con xa” bớt “bơ vơ, tủi thân” và “lớn” nhanh hơn nữa. Đề án “Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL” và đề án “Thành lập Ban điều phối phát triển du lịch vùng ĐBSCL” đã trôi qua cả năm. Vì vậy, sắp tới cần triển khai quyết liệt nhằm thúc đẩy du lịch đồng bằng cất cánh…
 
 Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách (Ban chỉ đạo Tây Nam bộ), chỉ rõ: Cách làm du lịch còn mang nặng tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp. Các sản phẩm chủ yếu dựa vào thiên nhiên, thiếu sự đầu tư dài hạn, thiếu liên kết. Đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, nguồn nhân lực và cơ chế điều phối, liên kết chuỗi giá trị du lịch ĐBSCL để phát triển bền vững là “ba điểm yếu” cần phải thay đổi…

VŨ THỐNG NHẤT


28 tháng 11, 2017

Nên giảm diện tích lúa vụ 3

Công Tuấn
Báo Người Lao Động, 23/10/2017 22:28
Nhiều chuyên gia về nông nghiệp cho rằng đã đến lúc phải giảm diện tích trồng lúa vụ 3 để chuyển đổi sang mô hình canh tác khác hiệu quả hơn
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã hiện hữu ở ĐBSCL trong thời gian gần đây. Tác động kép này đang làm tổn hại mạnh đến sản xuất nông nghiệp ở vùng đất thấp như ĐBSCL. Trong đó, lúa vụ 3 được xem là thiệt hại nặng nhất.
Nhiều rủi ro
Lúa vụ 3 canh tác trong điều kiện thời tiết ít thuận lợi nên nhiều rủi ro. Nếu năm nào may mắn, nhà nông được tăng thêm một ít thu nhập từ vụ lúa này, ngược lại thì trắng tay. Ở khu vực Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, vụ 3 là lúa thu đông, trong cơ cấu 3 vụ đông xuân - hè thu - thu đông. Theo đó, vụ thu đông sản xuất trong các tháng mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 10 dương lịch). Giai đoạn này, thời tiết bất lợi từ lúc xuống giống đến khi thu hoạch do nước lũ đe dọa, lúa dễ bị đổ ngã gây thất thoát nhiều khi thu hoạch, năng suất và chất lượng lúa thường rất thấp nên giá bán không cao.
Mới đây, vào cuối tháng 7 đến giữa tháng 8 vừa qua, nông dân trồng lúa ở vùng Tứ giác Long Xuyên đã đứng ngồi không yên do lúa vụ 3 đang trong giai đoạn trổ bông nhưng gặp mưa, lũ lên nhanh gây ngập úng cục bộ. Tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, khoảng 5.000 ha lúa vụ 3 đã bị ngập úng. Bà Phạm Thị Vẹn (ngụ xã Mỹ Thái, huyện Hòn Đất) cho biết do ảnh hưởng của mưa bão và nước lũ đổ về khiến cho hơn 30 công lúa của bà chìm trong nước, trong đó 20 công trồng giống Nhật không kịp thu hoạch. "13 công lúa, tương đương 1,3 ha nhưng chỉ thu được 5 tấn. Sau khi trừ hết chi phí, gia đình tôi lỗ gần 300.000 đồng/công lúa" - bà Vẹn nói. Tuy nhiên, theo bà, dù biết làm lúa vụ 3 khó tránh khỏi rủi ro nhưng nếu không làm thì nông dân không biết phải làm gì.

Sản xuất lúa vụ 3 thường phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt Ảnh: NGỌC TRINH
Trong khi đó, đối với các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu..., vụ 3 lại là vụ xuân hè trong cơ cấu 3 vụ đông xuân sớm - xuân hè - hè thu. Vụ này, dù thời tiết thuận lợi do trong mùa nắng (từ tháng 1 đến tháng 4 dương lịch) nhưng thủy văn thì bất lợi vì hạn hán, xâm nhập mặn. Liên tiếp những năm gần đây, do biến đổi khí hậu đã khiến hạn, mặn diễn ra gay gắt nên lúa vụ 3 ở những địa phương này thiệt hại nặng nề.
PGS-TS Nguyễn Bảo Vệ (Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng Trường ĐH Cần Thơ) đưa ra 9 yếu tố có ảnh hưởng đến tính bền vững của sản xuất lúa 3 vụ ở ĐBSCL, trong đó 7 yếu tố thuộc về nông học, như: Sâu bệnh nhiều hơn là do canh tác lúa liên tục đã tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển bởi thức ăn lúc nào cũng có; đất không còn nhận được phù sa vì xây đê bao không cho nước nổi hay triều cường chảy vào đồng ruộng; ô nhiễm môi trường nặng hơn; gây ngộ độc hữu cơ cho lúa; đất mau suy thoái vì nông dân không có thời gian để cày ải phơi đất…; hiệu quả kinh tế thấp do năng suất và chất lượng thấp; năng suất lúa giảm theo thời gian.
ThS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập sinh thái ĐBSCL, cho rằng thâm canh 3 vụ liên tục trong đê bao khép kín làm cạn kiệt đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực về sau. Bởi lẽ, đê bao khép kín làm gia tăng ngập lụt nơi khác vào mùa lũ, gia tăng hạn - mặn ven biển vào mùa khô. Nói cách khác, canh tác 3 vụ lúa tính đúng, tính đủ chi phí thì không giúp nông dân thoát nghèo. "Canh tác 3 vụ sẽ sử dụng nhiều phân bón và nông dược gây ô nhiễm nguồn nước mặt, tăng sử dụng nước ngầm, gây sụt lún đất nhanh hơn. Theo tính toán của chúng tôi, canh tác lúa vụ 3 khiến cho xã hội thiệt hại khoảng 47,8 triệu đồng/ha" - ông Thiện phân tích.
Mạnh dạn chuyển đổi
Ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, nhìn nhận nhiều năm qua, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hay tỉnh Đồng Tháp thường quan tâm đến các số liệu về năng suất, sản lượng và lượng gạo xuất khẩu. Trong khi đó, yếu tố đầu vào hay chi phí sản xuất hầu như không được đề cập. Nông dân cũng quên tính đến yếu tố quan trọng này trong hoạt động của mình nên gia tăng sản xuất 3 vụ/năm, có nơi 7 vụ/2 năm.
Tại Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu tổ chức ở Cần Thơ vào cuối tháng 9 vừa qua, ông Lê Minh Hoan thừa nhận tỉnh này đang triển khai tái cơ cấu nông nghiệp theo định hướng chuyển đổi tư duy độc canh và tăng sản lượng lúa gạo bằng giảm dần diện tích lúa vụ 3, luân canh các loại cây trồng, thủy sản khác để tận dụng nước lũ… Từ định hướng này, tỉnh đang đánh giá lại hiệu quả hoạt động của hệ thống HTX, chuyển đổi các HTX cũ và thành lập các HTX mới theo đúng mục tiêu và tinh thần Luật HTX năm 2012. HTX không chỉ hướng đến lợi nhuận kinh doanh mà còn đem lại lợi ích cho thành viên nhờ giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, liên kết với doanh nghiệp thông qua "Cánh đồng liên kết", cải tiến quy trình canh tác, ứng dụng công nghệ bảo quản, chế biến nông sản, trong đó có lúa.
Trong khi đó, UBND tỉnh Bến Tre cũng vừa ban hành văn bản nhất trí với chủ trương chung là nên sản xuất 2 vụ lúa/năm (nếu có thể thì nên luân canh 2 lúa + 1 màu) để đất có thời gian ổn định, cắt vòng đời của sâu bệnh, phát triển theo hướng ổn định, bền vững và hiệu quả.
Ngày 3-10 vừa qua, Văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang có thông báo về kết luận của chủ tịch UBND tỉnh này tại kỳ họp UBND tỉnh thường kỳ quý III/2017. Theo đó, về sản xuất nông nghiệp, trước tình hình thời tiết bất thường, diễn biến phức tạp do biến đổi khí hậu, chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với một số cơ quan có liên quan phân tích, đánh giá hiệu quả trong việc sản xuất lúa vụ 3. Từ đó, khuyến cáo việc có nên tiếp tục sản xuất lúa vụ 3 hay chuyển sang mô hình sản xuất khác hiệu quả hơn, tránh tình trạng khai thác đất quá mức, định hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị là chính, không chạy theo sản lượng.
Theo GS Võ Tòng Xuân, lúa gạo nước ta đang được sản xuất thặng dư trên 10 triệu tấn/năm. Theo quy luật cung cầu, cung tăng nhiều mà cầu không tăng tương xứng thì giá phải sụt giảm triền miên. Hơn nữa, trồng lúa cần nhiều nước ngọt nhưng giá gạo lại quá thấp, dân trồng lúa không hưởng lợi bao nhiêu. Do vậy, dứt khoát phải giảm diện tích lúa vụ 3. "Hạn chế vụ 3 để lấy nước lũ được phù sa, cá tôm… Chuyển các diện tích lúa bấp bênh, vốn đầu tư cao ở vùng phèn nặng, nhiễm mặn sang nuôi trồng cây con khác có giá trị cao, như lên liếp trồng cây ăn trái thích hợp, nuôi cá đồng, nuôi tôm…" - GS Võ Tòng Xuân đề xuất.
Cũng theo GS Võ Tòng Xuân, Thái Lan đã chuyển hàng trăm ngàn ha lúa sang trồng mía từ 3 năm nay và đang tiếp tục chuyển đổi. Do vậy, chúng ta nên mạnh dạn chuyển đổi lúa vụ 3. 
Những người làm nên "cường quốc" vẫn quá khó khăn!
Nói về việc các địa phương chưa mạnh dạn giảm diện tích lúa vụ 3 vì còn chạy theo sản lượng xuất khẩu, ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, nhận định danh xưng "vựa lúa quốc gia" dành cho ĐBSCL đã có từ lâu nhưng cần nhận thức lại. Đã đến lúc không cần tự hào về mỹ từ "vựa lúa". Nhìn rộng hơn, người Việt cũng không cần thiết phải tự hào là cường quốc thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, cá tra… "Tự hào làm chi khi những người làm ra rất nhiều nông sản cung ứng cho toàn cầu mà vẫn còn nhiều khó khăn" - ông Hiệp bày tỏ.
Công Tuấn


4 điểm nghẽn trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao

TTXVN,  24/11/2017
Thanh Liêm

Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã chỉ ra 4 điểm nghẽn trong đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Tại Hội thảo “Phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội và thách thức” trong khuôn khổ Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế Việt Nam 2017 diễn ra tại Cần Thơ do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ tổ chức ngày 24/11, Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã chỉ ra 4 điểm nghẽn trong đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đó, nhận thức về nông nghiệp công nghệ cao và thị trường khoa học công nghệ còn nhiều bất cập; quy hoạch không gian và yêu cầu tích hợp trong quy hoạch phát triển các khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao ở Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều tồn tại, hạn chế; chưa có không gian đủ lớn hoặc tiềm lực đầu tư lớn trên diện tích nhỏ cho nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; thị trường tiêu thụ, hệ thống tiêu thụ chưa đủ mạnh và ổn định, tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cho nông sản công nghệ cao chưa rõ ràng. Ông Trần Hữu Hiệp cho rằng, các điểm nghẽn trên cần được nhận diện và có giải pháp khơi thông để nông nghiệp công nghệ cao của Đồng bằng sông Cửu Long có thể phát triển.
Những vấn đề còn tồn tại đó phải được nhận thức đúng đắn, có giải pháp khả thi, tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững cho vùng để đến năm 2050 tỉ trọng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm trên 80% theo Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chinh phủ về “Phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long thích nghi với biến đổi khí hậu”.
Với diện tích đất tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, dân số gần 18 triệu người, Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực rộng và đông dân cư thứ hai trong các vùng kinh tế của Việt Nam. Đây là trung tâm sản xuất nông nghiệp, hàng năm đóng góp 55% sản lượng lương thực, 95% sản lượng gạo xuất khẩu, 70% lượng trái cây, 65% lượng nuôi thủy sản và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Thời gian qua, triển khai nông nghiệp công nghệ cao dù được nhiều địa phương trong vùng quan tâm thực hiện, nhưng kết quả đạt được còn hạn chế.
Đến nay, Đồng bằng sông Cửu Long đã có 2/3 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập là Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang và Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu. Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp đã đề xuất 5 giải pháp để hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao hiệu quả và bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong đó, cần quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở cung - cầu của thị trường; các địa phương cần tạo môi trường thuận lợi để thiết lập và tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người dân và giữa người dân nhằm hình thành mối liên kết sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phảm…
Cũng theo ông Hiệp, trong quy hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần tránh tình trạng mỗi địa phương tự làm, tỉnh nào cũng có khu nông nghiệp công nghệ cao, trong khi nguồn lực đầu tư hạn hẹp, dàn trải. Nhận định từ các chuyên gia cho thấy, hệ thộng pháp lý chưa đảm bảo chế tài đủ mạnh bảo vệ nhà đầu tư, nhà sản xuất, ràng buộc trách nhiệm nhà thương mại về truy xuất nguồn gốc nông sản.
Thực trạng này đang tác động tiêu cực trở lại, ảnh hưởng xấu đến đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lang, Viện nghiên cứu nông nghiệp công nghệ cao Đồng bằng sông Cửu Long (HATRI) chia sẻ: Có 3 thách thức mà nhà đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đang phải đối diện: kế hoạch vốn đầu tư bao nhiêu trong chặng đường trước mắt hoặc lâu dài, thị trường ở đâu và ai là đối tác trong phối hợp tổ chức, quản lý.
Theo bà Lang, không phải nhà đầu tư nào vào nông nghiệp công nghệ cao đều có thể đem lại thay đổi tích cực, thậm chí sẽ là “thảm họa” nếu trồng trên quy mô lớn mà không có đầu ra. Do đó, tổ chức lại sản xuất là yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết. Trong đó, đầu tư và phát triển khoa học công nghệ, tăng cường ứng dụng những công nghệ này vào sản xuất nông nghiệp mới là nội dung cốt lõi trong tái cấu trúc nông nghiệp Việt Nam. Do vậy, cần phải nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp, trong đó tập trung đào tạo, tập huấn kỹ thuật và chuyển giao cho doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Thanh Liêm

Theo TTXVN

21 tháng 11, 2017

Can thiệp “thô bạo” vào các dòng sông sẽ phải trả giá
Trung Chánh

Một đoạn sạt lở bờ sông Tiền (photo: hiepcantho)

(TBKTSG) - Chúng ta cần hành động như thế nào để không phải hối tiếc về những hậu quả có thể xảy ra trong tương lai xuất phát từ việc can thiệp “thô bạo” vào những dòng sông từ hôm nay?
Giờ đây, các dự án lấn sông, lấn biến ngày càng trở nên phổ biến ở nước ta, cả ở Bắc, Trung, Nam. Phải chăng vì nhu cầu phát triển mà con người ta sẵn sàng xâm hại tới môi trường thiên nhiên?
Thấy gì qua dự án công viên trái cây ở Tiền Giang?
Mới đây nhất, dự án công viên trái cây ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã bị dư luận lên tiếng phản đối và Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị UBND tỉnh Tiền Giang chỉ đạo chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan tạm dừng việc thi công dự án. Bộ này yêu cầu các đơn vị liên quan tiến hành rà soát lại công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM), nhất là đánh giá tác động của dự án tới thoát lũ; lưu thông dòng chảy; bồi lắng; sạt lở lòng, bờ bãi sông theo quy định...
Sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như trên, ông Nguyễn Quốc Thanh, Chủ tịch UBND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã có buổi gặp mặt báo chí để trao đổi về dự án công viên trái cây. Ông Thanh cho biết, tiền thân dự án công viên trái cây là dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại và dịch vụ cặp sông Tiền.
Chủ tịch huyện này khẳng định dự án công viên trái cây đã thực hiện đầy đủ mọi thủ tục có liên quan trước khi xây dựng, kể cả lập báo cáo ĐTM. Thế nhưng, khi cho báo chí xem bản báo cáo ĐTM hiện sử dụng để thi công dự án công viên trái cây, báo chí nhận thấy tên dự án ghi trong đó không phải là dự án công viên trái cây mà là dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại, dịch vụ cặp sông Tiền.
Sau khi “chuyển đổi” dự án, quy mô của dự án đã thay đổi theo. Cụ thể, báo cáo ĐTM của dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại, dịch vụ cặp sông Tiền thể hiện diện tích là 8,97 héc ta, trong khi đó quy mô đang triển khai của dự án công viên trái cây là 9,78 héc ta. Diện tích phần lấn sông Tiền cũng đã thay đổi, mức gần 5 héc ta của dự án trước được nâng lên thành 6,8 héc ta trong dự án sau.
Với những thay đổi như nêu trên, rõ ràng không thể “châm chước” lấy báo cáo ĐTM của dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại, dịch vụ cặp sông Tiền sử dụng cho dự án công viên trái cây. Khoản 2, điều 19, Luật Bảo vệ môi trường quy định việc đánh giá ĐTM phải thực hiện trong giai đoạn “chuẩn bị dự án”. Dự án công viên trái cây đã được triển khai thi công, nên rõ ràng nó đã thực hiện không đúng quy định của pháp luật.
Từ dự án công viên trái cây này, không thể đánh đồng các dự án lấn sông, lấn biển khác cũng sai như vậy. Thế nhưng, với không ít dự án, báo cáo ĐTM chưa bao giờ được công khai, thì những hoài nghi về sai phạm hay có dư luận không tốt cũng là điều dễ hiểu.
Để không hối tiếc vì lấn sông
Trao đổi với TBKTSG, ông Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ, cho biết: các dự án lấn sông chắc chắn sẽ có tác động ở rất nhiều phương diện khác nhau, như điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái, kinh tế, xã hội, thậm chí sức khỏe của người dân. Bên cạnh đó, về mặt nguyên tắc, ít nhiều chúng cũng vi phạm các quy định về quản lý sông ngòi. Ví dụ, quy định hiện nay là cấm lấn dòng chảy, thu hẹp dòng chảy...
Tuy nhiên, việc xác định chính xác có hành vi vi phạm hay không, mức độ tới đâu là rất khó. “Bởi, chúng ta không nắm được hồ sơ dự án và báo cáo ĐTM”, ông Tuấn nói.
Vì vậy ông Tuấn đề nghị thứ nhất là phải công khai các báo cáo ĐTM, thứ hai là công khai hội đồng phê duyệt gồm những ai để họ phải có trách nhiệm với quyết định phê duyệt của mình.
Chuyên gia Trần Hữu Hiệp cho rằng vấn đề nào liên quan đến tài sản dùng chung, dù nó nằm trên địa bàn một tỉnh, cũng cần xem xét tác động chung đến các tỉnh xung quanh. “Khi làm sân bay, cảng biển hay khai thác sử dụng tài nguyên nước của những dòng sông lớn, cần phải xem xét để việc khai thác sử dụng của địa phương này không tác động đến địa phương khác”, ông Hiệp nêu ví dụ.
Một bài học đã thấy rất rõ, theo ông Hiệp, đó là việc lấn sông Đồng Nai, con sông nằm trên địa bàn Đồng Nai nhưng liên quan đến nhiều địa phương khác ở hạ nguồn, trong đó có TPHCM. “Xét về mặt quy trình là đầu tư trên địa bàn thì chính quyền địa phương được toàn quyền. Thế nhưng, công trình đó có thể ảnh hưởng đến nhiều địa phương nên cần thiết đặt ra vấn đề phải xem xét tác động liên hoàn, vượt qua ranh giới hành chính tỉnh”, ông Hiệp nói.
Ông Hiệp đề nghị cần có quy hoạch hệ thống, chẳng hạn, dọc sông Tiền, sông Hậu được làm cái gì, có thể có những công trình lớn nào. Đầu tư để phát triển kinh tế là việc làm chính đáng của một địa phương nhưng theo ông, “để tránh hối tiếc, tránh việc được cho ông này, mất của ông kia hay cái chung của xã hội, thì phải có cách tiếp cận ít nhất là tiểu vùng”.
Thông điệp “không thô bạo” của thế giới
Trao đổi với TBKTSG, ông Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển tài nguyên nước bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu (CEWAREC) kiêm Trưởng ban điều hành mạng lưới lưới sông ngòi Việt Nam (VRN), khẳng định: “Một trong những nguồn tài nguyên thiên thiên vô cùng quan trọng cho cuộc sống của con người, sự phồn thịnh của một quốc gia, đó là các con sông, là tài nguyên nước”.
Theo ông Tứ, tại “Diễn đàn nước thế giới lần thứ 7” diễn ra tại thành phố Daegu, Hàn Quốc hồi tháng 4-2015, một số nước đã đưa ra những thông điệp rất rõ ràng về cách ứng xử với những dòng sông theo hướng không can thiệp “thô bạo”.
Dẫn thông điệp của bảy tổ chức quản lý nước ở Pháp đưa ra tại diễn đàn nêu trên, ông Tứ nhấn mạnh: “Hãy trả lại cho các dòng sông không gian để chúng có thể làm tốt chức năng tự nhiên đã tạo nên nó. Chúng ta cần trả lại bản chất thiên nhiên cho các dòng sông để nó có thể thích ứng với biến đổi khí hậu và nhờ đó nó mới có thể bảo vệ được chúng ta”.
Đi liền thông điệp trên, các tổ chức của Pháp đã đề xuất một kế hoạch là phải thay đổi cách sử dụng đất để trả lại khu vực đất ngập nước dọc theo chiều dài dòng sông. Cụ thể, phải trả lại ít nhất 20% diện tích đất ngập nước dọc các dòng sông vào năm 2050 hoặc nối các vùng đất ướt với nhau để chúng tạo thành những túi trữ nước.
Gần đây, ông Tứ cho biết, như một hành động thiết thực, Hàn Quốc đã quyết định khôi phục lại dòng sông ở Seoul bị lấn chiếm. “Quyết định này tạo nên sự phấn khích cho toàn xã hội Hàn Quốc vì nó tạo nên một dòng sông “sống” giữa thủ đô của nước này”, ông Tứ nói.