22 tháng 6, 2017

Miền Tây - những mảnh giáp bảo vệ cuối cùng đang vỡ: Giải pháp thì nhiều, kết quả chẳng thấy đâu...

Vài lời của tôi: Tôi không phải là Tiến sĩ, nhưng thỉnh thoảng một vài bạn nhà báo vẫn hay nhầm. Bài viết này của bạn Hoàng Văn Minh có tâm, nhưng có phần bi quan. Vì bạn Văn Minh có vài đoạn trích dẫn tôi, có thể do khuôn khổ bài báo có hạn, nên khó diễn đạt đầy đủ, nên tôi cũng cần nói cho rõ. Cá nhân tôi trăn trở, nhưng không bi quan về tương lai của đồng bằng. Tôi vẫn có niềm tin về con người miền Tây khí phách, không chịu khuất phục, còn mang trong người khí chất thời đi mở đất của “Hương rừng Cà Mau” mà ông già Nam Bộ học Sơn Nam đã ghi tạc một góc trời Nam qua mấy dòng thơ “Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu/ Mang theo chiếc độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên/ Với câu chữ: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả...”. Tất nhiên, niềm tin đó không phải là “ngồi cầu trời, khấn phật”.

“Tôi không muốn nói là u ám, nhưng đúng là rất… u ám” - câu cảm thán của TS Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - với chúng tôi cách đây 3 năm, khi nói về những bước chân liêu xiêu đói nghèo của người dân cuối Việt. Sau 3 năm gặp lại, hỏi chuyện cũ, ông Hiệp vẫn nhắc lại câu nói cũ kèm thêm những cái lắc đầu: “Không những không thay đổi được gì mà tình hình ngày càng xấu hơn…”.
Những tan vỡ và mất mát
“Thành phố Bavet” (tỉnh Soài Riêng, Campuchia) bên kia Mộc Bài một trưa nắng tháng 6. Lại là một casino bỏ hoang, nhưng lần này chúng tôi ghé lại bởi ngạc nhiên khi thấy trước cổng có cô bé đầu trần ngồi ôm cái thùng nhựa với ánh mắt chờ đợi đặc trưng của người bán hàng ế khách. Lượm - tên cô bé, 14 tuổi, đến từ bên kia cửa khẩu Mộc Bài ở tận dưới miệt Sóc Trăng, theo ba mẹ qua đây kiếm sống đã nhiều năm sau một thời gian bỏ ruộng, bỏ nhà bôn ba lên Sài Gòn, qua Bình Dương làm công nhân. Lượm bán đồ ăn vặt “xách tay” bỏ trong thùng nhựa.
Em gái Lượm - nhỏ hơn một tuổi, đi bán vé số. Mẹ của chị em Lượm thì bán cóc ổi xoài và tất tần tật những gì có thể ăn được trên một chiếc xe đẩy. Đối tượng phục vụ của gia đình lượm, tất nhiên là những người Việt “vượt biên” sang đây chơi đỏ đen trong các casino còn sót lại đang lay lắt cầm chừng...
Hôm trước ở Long An, chúng tôi vừa “xâm nhập” vào một khu nhà trọ có đến mấy chục gia đình từ Campuchia “vượt biên” qua kiếm sống bằng nghề bán vé số. Chưa hết ngạc nhiên thì hôm nay ở Campuachia lại “đụng” phải không chỉ một cô Lượm mà nhiều những người Việt cũng qua đây kiếm cơm bằng đủ thứ nghề buồn chán, trong đó có rất nhiều cô gái có chút nhan sắc đang “làm gái” trong các casino với giá “dò hỏi” lên đến 1.500.000 đồng cho một lần “tàu nhanh” từ “bọn chăn dắt”.
Mà đâu chỉ có mỗi “thành phố Bavet” này. Ở Singapore, Malaysia, Trung Quốc vùng giáp biên… ở đâu chúng tôi cũng gặp rất nhiều người Việt dắt díu nhau kiếm sống với những nghề cũng rất buồn chán. Và thật buồn là phần lớn trong số họ có xuất xứ từ miền Tây - nơi từng là “mảnh đất xanh”, là “đất hứa” của nhiều thế hệ người dân miền Trung, miền Bắc. Khá giả hơn cả là “biệt đội” những cô gái lấy chồng ngoại, nhưng bi kịch thì đầy rẫy, hơn chục năm nay báo chí kể mãi không hết chuyện.
3 năm trước, trong loạt phóng sự “Liêu xiêu nơi cuối Việt”, chúng tôi đã đi qua những ngôi làng bị “đổi ngôi” khi phụ nữ trong gia đình là người kiếm tiền chính bằng cách đi làm công nhân, còn đàn ông ngược lại ở nhà lo quét dọn nhà cửa, cơm nước, đưa đón con đi học và… nhậu! Đó là một sự tan vỡ, mất mát, bắt đầu từ bữa cơm và sự phân công việc làm trong mỗi gia đình, chỉ dấu báo hiệu cho những tan vỡ và mất mát lớn hơn.
“Thời gian gần đây, tỉ lệ ly hôn ở các gia đình có vợ làm công nhân ở Long An do vợ chủ động tăng đột biến” - một chánh án ở Long An than thở. Một khảo sát bỏ túi của chúng tôi cho thấy, cứ 10 gia đình “đổi ngôi” thì có đến 3-4 đã ly hôn hoặc đang ly thân và người “đâm đơn” hoặc chủ động khép mình là người vợ với một lý do chung như thú nhận của một người vợ rất đau lòng: Sau một thời gia “đi ra” làm công nhân, họ tiếp xúc với nhiều người, nhiều không gian sống cùng bao chuyện mới lạ. Cứ thế một hôm, bỗng dưng họ thấy “thằng chồng” suốt ngày say xỉn và không làm ra tiền của mình ở nhà thật là nhạt nhẽo!
Thời sự, vẫn là hạt gạo bị cắn làm 8

Nếu như gốc rễ của chuyện sạt lở ở ĐBSCL là nạn khai thác cát tràn lan thì gốc rễ của những thân phận bị “tước đoạt” tư liệu sản xuất với nhiều hình thức, đang ngập ngụa trong tín dụng đen trá hình thành “ngân hàng trụ điện” và những hành vi “ác hồn nhiên” đang ngày càng phổ biến ở vùng đất này là gì? Là ĐBSCL sau bao nhiêu năm vẫn là một “vùng trũng” về giáo dục, văn hóa, nhận thức và các thiết chế đi kèm. Là sự đi xuống của hình sin đói nghèo và chưa có dấu hiệu dừng lại.
TS Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - nói “đó là thực tế, một thực tế đau lòng!”. Cách đây hơn 5 năm, chính ông Hiệp là người phát triển “lý thuyết” hạt gạo Việt Nam đang bị cắn chia làm 8 nên lợi nhuận của người trồng lúa teo tóp của TS Nguyễn Văn Sánh - Giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ).
Ông Hiệp bảo, trong 8 phần đó, 4 phần đầu tiên phải chia cho “4 nhà” gồm: Nhà băng (nông dân phải trả vốn, đóng lãi ngân hàng, kể cả vay lãi cao bên ngoài để có tiền đầu tư sản xuất); nhà cung ứng vật tư (mua chịu phân bón, thuốc trừ sâu đầu vụ, trả lãi cao cuối vụ, chiếm tới khoảng 65% chi phí sản xuất); nhà mình (ăn uống, chữa bệnh, học hành, các khoản đóng góp... chiếm thêm 21%); nhà hàng xóm (hoan, hôn, tang, tế…). Còn 4 phần sau?
Ông Hiệp liệt kê: Đó là nhà xuất khẩu (nhà gần như có đặc quyền quyết định giá lúa hằng năm căn cứ vào hiệu quả kinh doanh, mà không nhìn vào hầu bao lép kẹp của nông dân); “ông CPI” (lúa gạo do nông dân làm ra phải làm nhiệm vụ bình ổn giá tiêu dùng, không thể tăng-giảm tự nhiên theo nhịp điệu thị trường thế giới); nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần tích cực vào an ninh lương thực thế giới.
Rồi ông Hiệp ví von: “Sản xuất lúa gạo của nông dân hiện nay như cây đòn gánh. Gánh nặng đầu vào là nguyên liệu, vật tư, phân bón, chi phí ngày càng cao; đầu kia là tiêu thụ lúa gạo bấp bênh; cả 2 đầu đều đang “có vấn đề”. Người nông dân vừa gánh, vừa bị “lắc lư” trong thế dễ ngã”.
Mà đâu mỗi hạt gạo bị “cắn” làm 8 phần, ngay cả con cá, cây mía và các loại nông sản khác cũng bị chặt làm nhiều khúc, chia ra nhiều phần nhưng phần của người nông dân được nhận lại quá nhỏ và bất hợp lý, không tương xứng với công sức họ bỏ ra.
Bất cứ con gì, cây gì, bây giờ nếu bán có lời thì hết 70% tiền lời là những thương lái trung gian, phần lớn là thương lái nước ngoài hưởng. Nhưng nếu lỗ thì người dân chịu hoàn toàn. TS Trần Hữu Hiệp cay đắng: “Câu chuyện sản xuất ở ĐBSCL hiện nay như cái đòn gánh. Một bên là đầu vào nặng trĩu giá vật tư, phân bón, tiền lãi vay; một bên là đầu ra với giá cả bấp bênh, phập phù theo giá thị trường sớm nắng chiều mưa, nên người nông dân ở giữa cứ bước liêu xiêu với tương lai mờ mịt”.
Những “mảnh giáp” bảo vệ của ĐBSCL không những ngày càng mỏng đi mà còn đã và đang vỡ ra, bắt đầu từ việc vắng bóng những mùa lũ “đặc sản” hằng năm mang theo nguồn phù sa vô tận cùng với hạn mặn, thiếu nước và sạt lở bủa vây quanh năm.
Là một nền nông nghiệp bị “bỏ hoang” theo nhiều nghĩa khiến vùng đất này thành “túi nghèo” của đất nước và những dòng người “đóng cửa” ruộng vườn, nhà cửa dắt díu nhau ngược lên Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai… làm công nhân kiếm sống qua ngày. Những kết cấu xã hội và các giá trị đạo đức bị xáo tung, đảo lộn, từ bữa cơm gia đình nguội lạnh và người đàn ông phải chăm con, quét nhà… để vợ yên tâm ra ngoài làm công nhân kiếm tiền lo gia đình. Là những cô gái không chỉ ngược xuôi Nam-Bắc mà còn đến hầu khắp khu vực Đông Nam Á kiếm cơm bằng đủ thứ nghề buồn tủi cùng triết lý “lấy chồng nước ngoài thì có hạnh phúc, có khổ đau nhưng ở nhà lấy chồng quê thì chỉ là bất hạnh”.
Một kết quả nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: Bình quân đất sản xuất của người dân ở đây chỉ có 0,4ha/hộ. Và do quy mô nhỏ lẻ nên thu nhập chia cho số nhân khẩu trong hộ thuần nông còn thấp hơn 1USD/người/ngày - chưa đủ để mua một tô phở! Một con số không thể nào tin được!
Sau nhiều năm gặp lại TS Trần Hữu Hiệp, thời sự của ĐBSCL vẫn là chuyện hạt gạo bị “cắn” làm 8 phần và con cá, cây mía, các loại nông sản bị chặt ra nhiều khúc, chia ra nhiều phần… Hỏi giải pháp và kết quả? Ông Hiệp lắc đầu, thở dài bảo “giải pháp thì nhiều nhưng kết quả lại chẳng thấy đâu và nguy hiểm hơn là thực tế lại ngày mỗi xấu đi…”.

Điều kiện kinh doanh bị 'chặt khúc', doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó

Mặc dù đã đạt được thành tích tăng trưởng vượt bậc trong nhiều năm nhưng ngành lúa gạo vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức và rào cản về chính sách khiến năng lực cạnh tranh bị giảm sút.
Bốc xếp gạo xuất khẩu tại cảng Sài Gòn. Ảnh: Đình Huệ/TTXVN
Vẫn còn bất cập
Không thể phủ nhận, suốt một thời gian dài, Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo đã giúp cải thiện tình hình lộn xộn về xuất khẩu gạo của Việt Nam. Cùng với đó, những quy định khắt khe của Nghị định này còn giúp sàng lọc và loại bỏ các thương nhân không có thực lực cũng như định hướng thương nhân đầu tư lâu dài. 
Tuy nhiên, sau 7 năm áp dụng vào thực tiễn, đến nay Nghị định 109/2010/NĐ-CP đã có những bất cập cần phải thay đổi cho phù hợp. Nhưng, “chỉnh sửa” hay “làm mới” đang là vấn đề được nhiều ý kiến đưa ra và đề nghị Chính phủ cân nhắc. Bởi, nếu thiếu công cụ quản lý hiệu quả thì ngành kinh doanh nhạy cảm như xuất khẩu gạo dễ trở nên bát nháo. Nhưng nếu “bó” quá sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp, thương nhân và tác động tiêu cực trở lại.

Theo giới phân tích, thời gian qua, Nghị định 109/2010/NĐ-CP đã giải quyết cơ bản những bất cập tồn tại nhiều năm trong việc thu mua, tiêu thụ thóc gạo và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Thế nhưng, các điều kiện về kho bãi, vùng nguyên liệu, điều kiện hợp đồng đã trở nên hình thức hoặc trở thành rào cản đối với thương nhân.
Lý giải rõ hơn về vấn đề này, ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ nhấn mạnh, nếu dựa theo quy định hiện nay thì cách tiếp cận để định ra các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo bị “chặt khúc” theo từng tác nhân chứ chưa dựa trên nền tảng mối quan hệ của chuỗi giá trị lúa gạo, mà xuất khẩu chỉ là đầu ra.
Điều này khiến các doanh nghiệp phải gồng mình, đầu tư từ vùng nguyên liệu, năng lực chế biến, kho chứa đến xuất khẩu, không phát huy tính chuyên môn hóa theo thế mạnh của từng doanh nghiệp rồi liên kết lại.
Đưa ra ví dụ cụ thể, ông Trần Hữu Hiệp cho biết, chẳng hạn như doanh nghiệp tư nhân Cỏ May (Đồng Tháp), Công ty CP Thương mại và Sản xuất Viễn Phú (Cà Mau) là những doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gạo đặc sản, hữu cơ với số lượng nhỏ, nhu cầu và khả năng đầu tư xây dựng kho chứa, cơ sở xay, xát thóc gạo còn hạn chế nên không đáp ứng điều kiện theo quy định.

Ngoài ra, một số thương nhân khác lại có thế mạnh về khách hàng, thị trường nhưng không có năng lực tài chính, vốn hoặc đất đai và nguồn nhân lực cần thiết để đầu tư vận hành kho chứa, cơ sở xay xát thóc gạo nên cũng được xếp vào loại không đủ điều kiện. 
Một bất cập nữa cũng được đặt ra là Nghị định số 109 buộc thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc và có ít nhất 1 cơ sở xay, xát thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ. Trong khi doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng dịch vụ này thông qua việc liên kết với một doanh nghiệp chuyên ngành mà không nhất thiết bỏ vốn đầu tư tốn kém.
Do đó, dự thảo Nghị định 109/2010/NĐ-CP đã được Bộ Công Thương điều chỉnh về khung pháp lý và thể chế, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp hội nhập sâu và hiệu quả với thị trường thế giới trong bối cảnh thị trường gạo thế giới đang ngày càng khó khăn khi thị trường do người mua quyết định và tình trạng mất cân đối cung - cầu. 
Tuy nhiên, những khó khăn này bắt buộc phải tính toán để giải phóng lực lượng sản xuất, nhất là các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường thế giới.

Hoàn thiện thể chế 
Bộ Công Thương cho biết, năm 2017 sẽ có sự đổi mới thật sự mạnh mẽ cả về quan điểm, chủ trương và thể chế để hình thành các vùng sản xuất lớn nhằm phục vụ cho việc cơ giới hóa, tự động hóa và đưa công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tạo tiền đề xây dựng thành công thương hiệu gạo.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để làm được điều này ngành lúa gạo sẽ tiếp tục phải đối mặt với không ít khó khăn. Vì vậy, ngành gạo Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện những yếu kém nội tại như sản xuất còn manh mún, khâu chế biến chưa bảo đảm tính liên tục và đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.

Theo kiến nghị của Công ty TNHH xuất khẩu lương thực Khiêm Thanh, dự thảo Nghị định mới cần tạo điều kiện, hỗ trợ để giữ uy tín và chất lượng, tiến tới xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam.
Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách giúp doanh nghiệp xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định qua liên kết với nông dân, cũng như tạo điều kiện mở rộng hệ thống phân phối ở nước ngoài. Đặc biệt hơn cả là phải bình đẳng, công bằng và đảm bảo quyền lợi để các doanh nghiệp tự xuất khẩu các loại gạo chất lượng cao.

Đồng tình quan điểm này, ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty TNHH Trung An bày tỏ, dự thảo Nghị định mới cần đưa ra chính sách thuận lợi giúp các doanh nghiệp tạo được vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước tiến tới việc xây dựng thương hiệu gạo chung.
Đặc biệt, cần có biện pháp kiểm soát, loại trừ tình trạng cạnh tranh không lành mạnh bằng việc giảm giá bán, thiếu ổn định về chất lượng của một số doanh nghiệp gây ảnh hưởng chung tới hoạt động xuất khẩu gạo. 
Các chuyên gia thương mại cho rằng, để xuất khẩu gạo phát triển bền vững, ngành lúa gạo Việt Nam cần một tầm nhìn mới đi kèm với hoạch định chiến lược, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và đem lại giá trị gia tăng tốt nhất cho người nông dân trồng lúa ở Việt Nam cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu.

Ngoài việc hỗ trợ từ phía Nhà nước, các Bộ, ngành địa phương rất cần sự nỗ lực của mỗi doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng để tạo ra bước đột biến đưa hạt gạo mang thương hiệu Việt Nam tương xứng với vị thế mới của đất nước. 
Uyên Hương (TTXVN)

19 tháng 6, 2017

Giải quyết từ gốc



Mục sự kiện & Vấn đề, báo SGGP

“Giải cứu” thịt heo đang làm nóng nghị trường Quốc hội và truyền thông thời gian qua.

Vào Google gõ 2 từ “giải cứu”, trong 0,61 giây lập tức có ngay hơn 9,6 triệu kết quả như một ma trận. Từ việc kêu gọi giải cứu các mặt hàng nông sản như dưa hấu, chuối, hành tím, ớt, gừng, cá tra, cá sấu, thịt lợn đến... giải cứu giáo viên.
Để giải cứu nông sản, nhiều hoạt động mang tính nhân văn được phát động, từ kêu gọi, vận động đến quy định chỉ tiêu phấn đấu kiểu như: mỗi giáo viên phải mua ít nhất 10kg thịt lợn/tháng, đoàn viên, thanh niên đi bán dưa hay ăn dưa hấu là yêu nước, thương nông dân, rồi chỉ đạo “bộ đội ăn thịt lợn” để góp phần tiêu thụ lợn. Tình trạng này đã xảy ra mấy năm qua, là câu hỏi cũ chưa có lời giải mới. “Tín hiệu trục trặc” của thị trường nông sản và điểm yếu trong kết nối cung - cầu của nó đã bộc lộ với điệp khúc nông sản “trúng mùa mất giá, được giá hết hàng” trong vòng luẩn quẩn nhiều năm qua.
Nông nghiệp, nông dân gặp khó như hiện nay đã được phản ánh, nhận diện chủ yếu do các nguyên nhân nội tại. Một là, thời kỳ “hái trái ở cành thấp” trong sản xuất nông nghiệp với khai thác tài nguyên sẵn có, nhân công giá rẻ, sản xuất nhỏ lẻ đã lỗi thời. Hai là, những yếu kém nội tại của ngành, đặc biệt thiếu tư duy đổi mới trong nông nghiệp - vốn được ca tụng một thời, đang chậm lại, không thấy những đột phá mới.
Ba là, kênh tiêu thụ, phân phối, phân khúc thị trường nông sản gặp “vấn đề”; năng lực tài chính, quản trị yếu kém của doanh nghiệp, thiếu liên kết giữa các tác nhân nên chưa tạo ra sức mạnh chung trong chuỗi giá trị nông sản. Nhìn tổng thể, các nông sản quốc gia như lúa gạo, thủy sản, cà phê, tiêu, điều, rau quả đang “bị chặt ra” thành nhiều khúc mà phần thiệt thòi nhiều nhất đang thuộc về nông dân.
Xét ở góc độ kinh tế, việc liên tục phải “giải cứu” nông sản thời gian qua đã cho thấy những tồn tại đáng lo ngại của ngành nông nghiệp. Ai cũng biết các quy luật ngàn đời của kinh tế thị trường là quy luật cung - cầu và quy luật giá trị chi phối từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trên thương trường. Khi không đạt đến “thẻ điểm cân bằng” trong mối quan hệ cung - cầu, hàng hóa sẽ tác động đến giá cả, tác động tiêu cực hoặc tích cực đến sản xuất và tiêu dùng. Cuộc vận động “Người Việt dùng hàng Việt” là cần thiết, nhưng không thể cứ kêu gọi mãi việc “giải cứu” nông sản. Một xã hội cứ chạy theo việc “giải cứu” thì còn thời gian và năng lượng nào để phát triển? Nền kinh tế không thể vận hành trên cơ sở lòng hảo tâm phi thị trường! Không giải quyết vấn đề gốc rễ này, thì việc “giải cứu” chỉ là “vuốt ở phần ngọn” mà thôi. 
Trong khi đó, việc hoạch định cơ chế, chính sách, cách thức quản lý của các cơ quan chức năng dường như vẫn chưa có nhiều thay đổi căn bản đáp ứng kịp với thể chế thị trường hiện đại, còn nặng đường cung, nhẹ đường cầu. Chỉ tiêu phấn đấu của nhiều nơi vẫn còn nặng về lượng, nhẹ về chất nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế dựa trên quy mô số lượng ví như phải sản xuất được bao nhiêu tấn lúa, xuất chuồng bao nhiêu con lợn. Cấp lãnh đạo vẫn quen chỉ đạo nuôi con gì, trồng cây gì bằng điều kiện hiện có mà chưa dựa trên dự báo khoa học từ kết nối cung - cầu và tham gia vào chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu để nắm giữ những phân khúc then chốt của các chuỗi giá trị nông sản. 
Để tạo ra nhiều giá trị, lợi nhuận hợp lý cho nông dân và các tác nhân liên quan để họ có thể sống được với nghề, làm giàu được bằng nghề nông, phát triển các dịch vụ nông nghiệp tương xứng; phải chuyển được từ “quyết tâm chính trị”, vận động phong trào, hô hào cứu giúp sang giải “bài toán kinh tế”.
Tư duy về lợi thế cần được thể hiện trong một chiến lược quốc gia để tạo ra sức cạnh tranh hơn là quanh quẩn trong địa giới hành chính tỉnh, huyện như vừa qua. “Chiếc bánh nông sản” cần được chế biến ngon hơn, bán giá cao hơn, lãi hợp lý hơn cho những người làm ra nó. Nông sản có được phát huy lợi thế cạnh tranh hay không bằng chính tư duy, tầm nhìn và cách làm. Đừng mắc kẹt trong chuỗi các cuộc “giải cứu” như thời gian qua.

Thư viện VideoClip: SẠT LỞ Ở ĐBSCL - NHÌN TỪ BẤT CẬP KHAI THÁC CÁT

7 tháng 6, 2017

Chuyện buồn ở xã Ba Chúc làm nhức nhối lòng người

Trần Hữu Hiệp
TTO - Sự việc 'Hàng trăm huân, huy chương bị bỏ quên suốt 30 năm' ở xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã gây bức xúc trong dư luận. Giải pháp nào để không tái diễn chuyện nhức nhối này?
Các liệt sĩ hy sinh, chắc chắn không vì muốn có tấm bằng để treo trong nhà. Hãy ứng xử trân trọng với quý khứ là ươm mầm cho tương lai.
 
Sau khi vụ việc được phát hiện, cơ quan chức năng tỉnh An Giang đã vào cuộc, lập đoàn thanh tra liên ngành làm việc với huyện và cơ sở, tổng kiểm tra, rà soát các chế độ đối với hàng trăm trường hợp người có công, gia đình chính sách bị bỏ quên, với cam kết “không để đối tượng chính sách nào bị thiệt thòi” và làm rõ trách nhiệm của cá nhân, đơn vị.
Nhức nhối lòng người
Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ “khắc phục hậu quả” hay “bù lỗ” cho sự thiệt thòi của người có công do tiền thưởng bị mất giá qua mấy mươi năm, mà quan trọng hơn là yêu cầu xử lý trách nhiệm những người liên quan.
Bên cạnh đó là đòi hỏi phải có giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách và thực thi hiệu quả, trách nhiệm rõ ràng, công khai, minh bạch một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công nhìn từ cấp địa phương.
Tại sao khi một cán bộ phụ trách lao động - thương binh và xã hội chết mới phát hiện vụ việc bị bỏ quên 30 năm liên quan đến hàng trăm người có công? Đó không thể là do sơ suất của một cá nhân mà thuộc về trách nhiệm của cả bộ máy được giao thực hiện một chính sách lớn, đòi hỏi phẩm chất đạo đức công vụ, thể hiện cái tâm của người làm chính sách “đền ơn, đáp nghĩa”.
Thực hiện chính sách ưu đãi người có công là nghĩa vụ của chúng ta, thể hiện sự ghi nhận, trân trọng những cống hiến của họ đối với đất nước. Đó không chỉ là công vụ, dựa trên nền tảng pháp luật, mà còn mang tính nhân văn, dựa trên nền tảng đạo đức và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Đó cũng không chỉ là thái độ ứng xử của hiện tại đối với quá khứ mà còn đối với tương lai, mang ý nghĩa giáo dục cho thế hệ trẻ về trách nhiệm, ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên để cống hiến cho sự nghiệp gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ những giá trị tốt đẹp, những thành quả to lớn mà cha ông xây đắp nên.
Qua báo Tuổi Trẻ, người đọc rưng rưng với tâm sự của bà Vi Thị Kim Niên, con ông Vi Văn Tòng, một trong hàng trăm trường hợp người có công bị bỏ quên: “Mấy ổng kêu làm giấy ủy quyền để nhận bằng khen nên anh em tui mất ăn mất ngủ đi làm giấy tờ liền. Tại sao bằng khen ký năm 1987 mà không phát lúc đó, đợi khi mấy cụ chết hết mới trao tặng?”.
Câu hỏi đó làm nhức lòng người.
Công khai đến tận cộng đồng dân cư
Vụ việc ở An Giang là bài học chung, nhưng đừng để bài học trách nhiệm này cán bộ học hoài không thuộc, rút kinh nghiệm hoài mà vẫn còn phải rút. Cần quan tâm mấy việc sau đây:
Một là, tránh cách làm “theo đuôi sự việc”, tức khi có sai phạm xảy ra mới kiểm tra, xử lý. Mà cần có cơ chế kiểm tra và chủ động rà soát, quy trách nhiệm cho từng cán bộ, ngành chức năng.
Cần nhớ rằng cách đây mấy năm, các địa phương đã thực hiện chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 27-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình “Tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong 2 năm 2014-2015”. Nhưng tại sao hàng trăm trường hợp này vẫn không được phát hiện? Liệu có còn trường hợp tương tự như An Giang nào nữa không? Nên việc rà soát, kiểm tra phải thực chất, xử lý đến nơi đến chốn các sai phạm.
Hai là, cần tiến tới ứng dụng tốt công nghệ thông tin quản lý việc thực thi chính sách người có công từ trung ương đến cơ sở, địa bàn dân cư với yêu cầu công khai, minh bạch hơn, đến tận cộng đồng dân cư. Làm như vậy, vừa gắn việc vinh danh đóng góp của người có công và giáo dục truyền thống, vừa tăng cường kênh thông tin giám sát của người dân trong việc thực thi các chính sách người có công, để việc thực hiện chính sách quan trọng này không bị đóng khung trong ranh giới các cơ quan hành chính mà là trách nhiệm chung của cộng đồng.
Ba là, cần xã hội hóa hoạt động ưu đãi người có công với cách mạng, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa ba chủ thể Nhà nước, đối tượng ưu đãi và cộng đồng, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Đến từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng để thực hiện chính sách người có công với thái độ trân trọng, trách nhiệm cao phải là phương châm công tác của cán bộ lao động, thương binh - xã hội và yêu cầu công tác của cấp ủy, chính quyền thời gian tới.


1 tháng 6, 2017

Lập “bản đồ tư duy” ứng phó sạt lở

Trần Hữu Hiệp
Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng cùng đoàn công tác Trung ương vừa thị sát thực tế tình hình sạt lở nghiêm trọng tại Cà Mau, đồng thời, chỉ đạo các giải pháp ứng phó trước mắt cũng như lâu dài các tình huống thiên tai cũng như “nhân tai” gây nên.
Thời gian qua, liên tục các vụ sạt lở nghiêm trọng dọc bờ sông Tiền, sông Hậu và ven biển ĐBSCL đã xảy ra, tạo ra các cuộc “chạy lở” bất an. Chính quyền tỉnh An Giang phải dùng biện pháp cưỡng chế để bảo vệ an toàn tính mạng người dân, còn lại chấp nhận để miệng hà bá nuốt chửng một góc thị tứ sung túc bên bờ sông Vàm Nao.
Liền sau đó, Đồng Tháp cũng phải ban bố tình trạng khẩn ứng phó sạt lở. Các đoàn công tác của các nhà khoa học, lãnh đạo bộ, ngành Trung ương liên quan và Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã trực tiếp khảo sát, chỉ đạo các giải pháp khắc phục trước mắt, lâu dài ứng phó căn cơ tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển ở vùng này.

Theo số liệu của Bộ NN-PTNT, ĐBSCL hiện có 406 đoạn sạt lở, với tổng chiều dài 891km. Trong đó, An Giang có 51 đoạn bờ sông bị sạt lở với tổng chiều dài khoảng 162km, đe dọa an toàn hơn 20.000 hộ dân, hơn 5.380 hộ dân cần di dời khần cấp.

Nguyên nhân sạt lở được nhận diện từ tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng; đặc biệt là sự thiếu hụt lượng phù sa, cát sỏi lòng sông do việc xây đập thủy điện và chuyển nước dòng chính Mê Công của các quốc gia đầu nguồn, tạo ra các tác động tiêu cực xuyên biên giới làm thay đổi sự ổn định theo quy luật tự nhiên ngàn đời nay của sông Mê Công. Cùng với đó là những nguyên nhân nội tại do việc quản lý, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước trời cho của chúng ta, tình trạng cát tặc lộng hành và những lỗ hổng trách nhiệm trong quản lý. Trên hết là hệ quả của những tác động tích lũy, liên hoàn, cộng hưởng từ các tác động tiêu cực nêu trên.
Sạt lở bờ sông không phải đến bây giờ mới có. Nhưng cái đáng lo bây giờ là khai thác cát tràn lan, rồi lượng phù sa sông Mê Công không được về đồng bằng như các nhà khoa học đã đề cập. Các thị trấn, thị tứ đông đúc, mua bán sầm uất, cất nhà, xây dựng các công trình ngay bên bờ sông, kè lấn sông... lại “nện” thêm vào phần đất vốn yếu, mỏng do bị nước xâm thực, càng gia tăng nguy cơ sạt lở. Theo các nhà khoa học, 23 hố xoáy của ĐBSCL nằm trong khoảng 500 hố xoáy trên dòng Mê Công và đã có từ lâu. Nhưng một khi tính quy luật “thủy động lực” của dòng chảy con sông bị tác động, lượng phù sa giảm sút nghiêm trọng làm thay đổi dòng chảy, không chỉ làm cho các hố xoáy hung dữ hơn mà còn bào mòn lòng sông sâu hơn, sạt lở bờ sông nghiêm trọng hơn.

Rõ ràng, vấn đề sạt lở ở ĐBSCL cần được tiếp cận hệ thống chứ không thể quanh quẩn tại các điểm sạt lở hay trong ranh giới hành chính một tỉnh, một huyện. Với thực trạng “thiếu phối hợp, thừa chồng chéo” trong quản lý, liên kết vùng, rất cần giải pháp công trình khi cần thiết, nhưng quan trọng hơn đó là các giải pháp phi công trình. Cần một “bản đồ tư duy” ứng phó sạt lở trước khi vẽ ra bản đồ sạt lở. Bản đồ tư duy không chỉ vẽ ra chuỗi thông tin mà còn dựng lên cấu trúc tổng thể vấn đề với mức độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó đối với nhau; giúp liên kết các giải pháp kết nối để ứng phó trước các tác động tích lũy, liên hoàn, mà hiện tượng sạt lở chỉ là một chỉ dấu.

Rất cần một cuộc tổng khảo sát, điều tra, đánh giá tổng hợp khoa học cả về tình hình, nguyên nhân sạt lở bờ sông, bờ biển để  đề ra giải pháp, lộ trình phù hợp. Trên cơ sở đó, huy động các nguồn lực phù hợp với điều kiện hoàn chỉnh các hệ thống quy chuẩn chống sạt lở bờ sông. Trước mắt, cần tận dụng nguồn vốn đầu tư Chương trình cụm tuyến dân cư ngập lũ ĐBSCL cũng như ổn định dân cư “chạy lở”. Giải pháp dài hạn là phải xây dựng kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu cho mỗi địa phương và cả vùng ĐBSCL; rà soát lại quy hoạch xây dựng, giao thông, thủy lợi, thủy điện để có những điều chỉnh hợp lý, đảm bảo sự an toàn về nhà ở cho người dân và các công trình xây dựng.