29 tháng 7, 2013

Thư viện VideoClip.HGTV.Liên kết vùng ĐBSCL từ góc nhìn Hậu Giang


Phỏng vấn ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng vụ Kinh tế,

 Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ

30/07/2013
(HGTV) Phóng viên Thời sự trao đổi với ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ về chuyện liên kết của các tỉnh ĐBSCL.

Trong sản xuất kinh doanh, việc liên kết là một yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường. Nói một cách khác liên kết là sự phân công lao động và chia sẻ lợi nhuận hợp lý từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Với thực trạng của lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hiện nay, việc liên kết ở cấp vùng là một nhu cầu cấp bách nhất là từ khi Chính phủ đã có chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Xung quanh nội dung này phóng viên Thời sự có cuộc trao đổi với ông Trần Hữu Hiệp- Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ.
Phóng viên: Để tạo tiền đề cho việc liên kết vùng thì Hậu Giang đã tiến hành quy hoạch 10 loại nông sản chủ lực là từ nay đến năm 2015. Vậy thì ông có thể đánh giá việc quy hoạch này có ý nghĩa như thế nào trong việc liên kết?
Ông Trần Hữu Hiệp: Việc địa phương chủ động quy hoạch và quyết định những sản phẩm chủ lực của địa phương mình để qua đó tập trung đầu tư phát triển, sản xuất là điều hết sức cần thiết. Tuy nhiên cần nguồn lực đầu tư, cũng như việc chọn lựa các sản phẩm chủ lực phải thực sự có thế mạnh, không chỉ trong phạm vi một tỉnh mà cần nhìn ra cấp vùng và thị trường rộng lớn hơn. Cũng cần chú ý rằng việc liên kết vùng không chỉ bó hẹp trong phạm vi hành chính của một tỉnh mà nó cần được liên kết giữa các địa phương với nhau tạo ra một thị trường rộng lớn. Tôi thấy thời gian qua thì Hậu Giang đã chủ động trong việc đề xuất và đã được Thủ tướng Chính phủ thống nhất chủ trương việc đầu tư xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đầu tiên của vùng ĐBSCL tại Hậu Giang đó là một hướng đi đúng. Tuy nhiên đây là một mô hình mới không có tiền lệ, vì đó là khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nó cũng khác với khu công nghệ cao của TPHCM đã có, hiệu quả của nó cần những điều kiện quan trọng như: Công tác quy hoạch, thực hiện quy hoạch rồi tổ chức nghiên cứu ứng dụng để có những sản phẩm, những loại nông sản chủ lực có lợi thế cạnh tranh và việc chọn những sản phẩm chủ lực của vùng, của tỉnh, của địa phương cần phải theo định hướng này để phát huy hiệu quả thiêt thực.
Phóng viên: Thời gian qua, nhiều tỉnh ở ĐBSCL đã tiến hành liên kết với nhau và quy hoạch ở địa phương mình thế nhưng cho đến nay vẫn chưa phát huy được hiệu quả. Ông có thể cho biết là nguyên nhân vì sao?
Ông Trần Hữu Hiệp:Cho đến nay thì ai cũng thừa nhận là phải liên kết vùng. Tuy nhiên điều quan trọng là phải xác định liên kết cái gì, ai làm và làm như thế nào cho thực sự hiệu quả mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Thời gian qua các địa phương trong vùng đã kí kết các chương trình hợp tác. Tuy nhiên, mặc dù trong thực tế nó cũng phát huy được hiệu quả nhất định, tuy nhiên kết quả chưa mong muốn, nguyên nhân về đâu thì theo tôi có một số nguyên nhân sau đây: Một là, cho đến nay thì vẫn chưa có một cơ chế pháp lý rõ ràng đảm bảo cho các việc liên kết vùng phải được thực thi, có một mô hình điều phối liên kết có thực quyền thực sự hiệu quả. Vấn đề thứ hai là các liên kết chủ yếu là liên kết giữa chính quyền với chính quyền dựa trên cơ sở các mối quan hệ tốt đẹp giữa các địa phương với nhau đó cũng là sự tự nguyện hỗ trợ nhau thiếu sự ràng buộc về trách nhiệm, về pháp lý, đặc biệt là thiếu sự hỗ trợ về khung cơ chế, chính sách và pháp lý từ Trung ương. Và thứ ba là lâu nay chúng ta nói nhiều đến liên kết 4 nhà, tuy nhiên cái mối liên hệ giữa sản xuất, chế biến, tồn trữ và tiêu thụ nông sản vùng ĐBSCL luôn phát sinh những vấn đề cần phải giải quyết. Nói một cách hình tượng là nó đang bị chặt ra thành nhiều khúc, cái chuỗi đó chặt ra thành nhiều khúc mà thua thiệt thì thường thuộc về người nông dân.
Phóng viên: Vậy theo ông để khắc phục những hạn chế này ta cần có những biện pháp như thế nào để việc liên kết trở nên khả thi hơn?
Ông Trần Hữu Hiệp:Theo tôi thì cần quan tâm đến những việc sau đây: Thứ nhất, cần có một khung cơ chế chính sách và pháp lý từ nhà nước Trung ương để hỗ trợ cho địa phương để đẩy mạnh tăng cường các hoạt động liên kết. Thứ hai là các địa phương phải rà soát lại quy hoạch phải chọn những sản phẩm chủ lực và xác định nội dung về kinh tế, phải xây dựng cho được những chuỗi sản phẩm chủ lực mà trên cơ sở đó có thể phân công, phân vai và chia sẻ lợi ích cũng như khắc phục những hạn chế của địa phương mình tạo ra những giá trị chung cho vùng và đồng thời nó cũng phát huy những lợi thế của từng địa phương, của doanh nghiệp và hài hòa giữa lợi ích giữa phát triển chung của vùng, địa phương cũng như lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp và người dân, đó là xu hướng phát triển bền vững nền kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSCL trong tương lai.

Xin cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn.

Thư viện VideoClip.VTC16.ĐBSCL: Hệ luỵ "dự án treo" đến xây dựng nông th...

Nhà nông cực nhọc, lợi nhuận lại thấp

Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 23/07/2013

TTCT - Gặp gỡ ông Lê Văn Lam (62 tuổi, ấp Tuyết Hồng, xã Tân Phước, huyện Tân Hồng, Đồng Tháp) - người nông dân cách đây năm năm (tháng 5-2008) đã gửi thư đến Thủ tướng nói về những khó khăn và nguyện vọng của nông dân trong thời “bão giá”.
Vụ hè thu 2013 lúa khó bán giá thấp kéo dài, nông dân đành chở lúa về nhà phơi trữ 

Ông Lê Văn Lam - Ảnh: Tấn Đức
Theo ông, hiện tại nông dân gặp khó nhất ở khâu nào?
- Việc tiêu thụ sản phẩm. Thời gian qua giá nông sản hàng hóa lên xuống thất thường là do sản phẩm làm ra quá thừa hoặc thiếu. Những người làm quản lý, điều hành đã không bám sát thực tế. Lẽ ra ngành nông nghiệp phải tiến hành khảo sát thổ nhưỡng, địa hình, xác định đặc điểm của từng địa phương, từng vùng đất, nơi nào đất đai và điều kiện khí hậu thích hợp cho trồng lúa, nơi nào trồng cây màu, nơi nào phù hợp việc chăn nuôi gia súc gia cầm... rồi trên cơ sở đó lập quy hoạch vùng nuôi trồng.
Có thể những việc này người ta đã làm rồi nhưng làm không tới nơi hoặc làm một cách chủ quan, áp đặt, không phù hợp điều kiện tự nhiên, không tính toán đầu ra. Hệ quả là nông dân chúng tôi cứ loay hoay tự trồng, tự nuôi rồi tự gánh hậu quả.
Riêng với cây lúa thì sao, thưa ông?
- Hiện nhiều nơi đang “rắp tâm” xuống giống vụ ba, ngay sau khi thu hoạch vụ hè thu. Theo tôi, việc này không nên làm. Sản xuất vụ ba hiệu quả không cao do chi phí đầu tư đội lên rất nhiều lần, trong khi năng suất thấp: giá thành sản xuất 1ha lúa vụ đông xuân vào khoảng 16 triệu đồng, vụ hè thu tăng lên 19 triệu đồng, tới vụ ba thì phải mất 22-25 triệu đồng/ha.
Chi phí tăng nhưng năng suất theo chiều ngược lại, từ vụ đông xuân qua hè thu rồi tới vụ ba, giảm dần đều 20-30%, chưa kể hàng loạt yếu tố bất lợi khác kéo theo khi làm vụ ba như nguy cơ lây lan dịch bệnh, đất đai bạc màu...
Chính phủ có đặt mục tiêu sao cho nông dân đạt lợi nhuận tối thiểu 30%. Ông thấy việc này có khả thi?
- Nói thiệt lời 100% cũng chưa ăn thua. Tại sao? Vì khi hạch toán chi phí đầu tư người ta quên tính giá trị đất, chỉ tính tiền mua phân, thuốc bảo vệ thực vật, giống, công cày xới, tưới tiêu khoảng 2 triệu đồng/công (1.000m2)... Diện tích canh tác của các nông hộ phần lớn chỉ 5-7 công, lợi nhuận dù 30% hay 100% theo như cách tính này thì nông dân khó mà vươn lên được.
Vậy theo ông, nông dân cần được hỗ trợ gì?
- Trước giờ nông dân chúng tôi quen trồng trọt, chăn nuôi theo kinh nghiệm, cha mẹ truyền cho con cái. Bởi vậy bên cạnh việc sớm thực hiện quy hoạch, chuyển đổi sản xuất, có chính sách đầu tư đột phá cho nông nghiệp, Nhà nước cần chú ý việc dạy nghề cho nông dân. Nuôi trồng loại cây, con gì cũng phải học thì hiệu quả mới cao.
Quan trọng nữa là phải tính toán, tìm cách cân bằng quyền lợi giữa nông dân - những người sản xuất trực tiếp - với những doanh nghiệp thu mua, chế biến xuất khẩu. Nông dân cực nhọc vài ba tháng mới làm ra sản phẩm, nhưng lợi nhuận thu được thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp.
Trên nhiều tuyến đường nông thôn có khẩu hiệu “Học là cách thoát nghèo”. Ông nghĩ gì về điều này?
- Tiếc là trường dạy nghề phổ thông của mình còn ít quá. Học sinh chỉ có con đường học lên “tới đọt” tức là vào đại học, chứ những nhánh dành cho người không lên “tới đọt” ít quá, nên con em gia đình nghèo ít cơ hội học tập tới nơi tới chốn. Tôi có cháu gái trúng tuyển đại học quản trị kinh doanh tại TP.HCM nhưng cha mẹ cháu nghèo, tính cho con bỏ học.
Hay tin, tôi tới phân tích: Một công ruộng bây làm cực nhọc suốt ba tháng (một vụ lúa) cũng chỉ thu được lợi nhuận chừng 2 triệu đồng, chi bằng bán đất cho con ăn học. Nó nghe theo, bán một công ruộng lấy 50 triệu đồng gửi tiết kiệm, đầu năm học rút ra 10 triệu đồng đóng học phí, sau đó mỗi tháng rút thêm 3-4 triệu gửi cho con chi tiêu. Bây giờ con bé đã vào năm thứ ba, còn năm rưỡi nữa mới ra trường nhưng đã đi làm thêm, lương gấp mấy lần làm công ruộng.
Nếu con bé ngày trước không được đi học, ở quê giờ này chắc đã có hai, ba mặt con, cuộc sống lại loay hoay dựa vào mấy công ruộng như cha mẹ nó. Cho nên tôi nghĩ dù còn nhiều khó khăn nhưng phải ưu tiên cho việc học.
Ông thấy điều gì thay đổi sau năm năm?
- Cũng là những câu chuyện cũ. Nhưng dẫu sao những ý kiến, trăn trở của mình đã được nhiều người quan tâm, chia sẻ!
TẤN ĐỨC thực hiện
___________
Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp - Ảnh: H.T.D.
“Chẳng những cần thay đổi tư duy, mà còn cần chuyển từ quyết tâm chính trị sang bài toán kinh tế cho nông nghiệp” - thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, vụ trưởng Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, trao đổi với TTCT.
Chuỗi giá trị sản xuất, kênh phân phối, phân khúc thị trường của các mặt hàng nông sản đang có vấn đề, rõ nhất là đối với cây lúa. Ông đề xuất giải pháp nào để khắc phục?
- Tôi nghĩ cần hệ thống giải pháp căn cơ, đồng bộ mới giải quyết được tình trạng “trúng mùa mất giá, được giá hết hàng” và vòng luẩn quẩn “trồng cây gì, nuôi con gì” quá xưa cũ, thay bằng “cung cấp cái gì thị trường cần và có lợi nhuận”. Nói cách khác là cần nền kinh tế “giá trị” thay cho “sản lượng”. Cần phải chuyển từ tư duy làm ra “chén cơm đầy” - nhiều sản lượng, sang “chén cơm ngon” - mang lại nhiều giá trị, đặc biệt là lợi nhuận hợp lý cho nông dân.
Như vậy, phải chuyển được từ quyết tâm chính trị sang bài toán kinh tế. Nông dân cần được giải phóng bằng kiến thức của nhà kinh doanh.
Tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL phải là quá trình hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái và xây dựng nông thôn mới, giúp hàng chục triệu nông dân ĐBSCL vượt qua thách thức, trở thành “doanh nhân nông nghiệp”. Hơn cả tái cơ cấu, phải đổi mới tư duy như ta từng làm trong nông nghiệp.
Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đặt mục tiêu đến năm 2020 thu nhập hộ gia đình nông thôn tăng lên 2,5 lần so với năm 2008. Tuy nhiên, đề án chỉ mới vạch ra hướng đi, đích đến, lộ trình, phương tiện..., còn nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều yếu tố và điều kiện thực thi. ĐBSCL là vựa lúa của cả nước, vì vậy cần có một vị trí quan trọng trong việc thực thi đề án này.
Bộ NN&PTNT khuyến cáo cần giảm trên 200.000ha trồng lúa ở ĐBSCL chuyển sang trồng đậu nành hoặc các loại cây khác. Nhiều tỉnh lại cho rằng không nên vội vàng chuyển đổi khi đầu ra còn rất mù mờ? Quan điểm của ông thế nào?
- Bây giờ mà vội vã chuyển sang đậu nành, rau màu hay cây trồng khác chỉ vì lúa gạo đang gặp khó là cách làm không căn cơ. Ai đảm bảo đậu nành làm ra tiêu thụ tốt, nông dân lãi cao trong khi các loại rau màu, khoai lang, con cá tra, con tôm cũng đang gặp khó? Mà để đầu tư cho chuyển dịch này, nông dân cần nhiều vốn hơn, kỹ thuật canh tác tốt hơn, rồi giống nào để giá đậu nành trong nước đủ sức cạnh tranh?
ĐBSCL từng chuyển đổi trồng đậu nành, bông vải, mè, nuôi bò sữa... nhưng không thành công vì thiếu giải pháp đồng bộ. Thực tế hiện nay rất cần một cuộc “chuyển đổi lớn” trong nông nghiệp, mang tính cải cách mạnh mẽ.
Các vấn đề đất đai, khoa học kỹ thuật cho sản xuất hàng hóa lớn đang cần những sửa đổi cực kỳ mạnh dạn để chuyển đổi nông nghiệp sang một mô hình khác, chứ cứ lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ, một ít chính sách hỗ trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật... có tính đối phó, theo đuôi thiệt hại như vừa qua thì rõ ràng không ăn thua.
Câu chuyện liên kết đã được đề xuất từ nhiều năm mà vẫn chưa có cơ chế thực thi. Nhiều nơi “nóng ruột” tìm đến với nhau như Long An và Tiền Giang liên kết sản xuất trái cây. Theo ông, có nên ủng hộ xu hướng này?
- Kịch bản cung - cầu nông sản hiện nay đã được các nhà khoa học của Viện Lúa ĐBSCL, Viện Cây ăn quả miền Nam, Trường ĐH Cần Thơ dự báo cách đây năm năm với một đề án tổng thể liên kết vùng với năm dự án kết nối, phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, trái cây, tôm, cá tra; đào tạo nghề cho nông dân và cơ chế, chính sách kèm theo.
Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã nhiều lần làm việc với các bộ ngành, địa phương xác định quy hoạch sản xuất và thị trường cụ thể các dòng sản phẩm chủ lực. Thủ tướng Chính phủ đã ra nhiều văn bản chỉ đạo, giao Bộ NN&PTNT trình thủ tục nhưng đến nay đề án vẫn chưa được phê duyệt.
Trong bối cảnh như vậy, việc một số tỉnh chủ động liên kết với nhau cần được khuyến khích, nhưng cần liên kết thực chất theo chuỗi giá trị ngành hàng chứ không nên cam kết chung chung. Những vấn đề như dịch bệnh, nguồn nước, thị trường... phải được giải quyết ít nhất ở cấp vùng chứ vài ba tỉnh không làm nổi. Liên kết vùng cần phải được hỗ trợ bằng khung cơ chế, chính sách và pháp lý từ trung ương.
HOÀNG TRÍ DŨNG thực hiện

28 tháng 7, 2013

Khởi động MDEC - Vĩnh Long 2013. THVL



Khởi động MDEC – Vĩnh Long 2013


Diễn đàn hợp tác kinh tế vùng ĐBSCL năm 2013 sẽ do tỉnh Vĩnh Long đăng cai tổ chức. Đây là một trong những sự kiện kinh tế – chính trị- xã hội  không chỉ mang tính cấp vùng, mà có ý nghĩa quan trọng trong việc quảng bá tiềm năng – lợi thế của các tỉnh trong khu vực với các bộ – ngành trung ương, các tỉnh – thành trong cả nước, tạo điều kiện thu hút đầu tư, thúc đẩy KT-XH trong vùng phát triển. Đến nay công tác chuẩn bị cho MDEC Vĩnh Long 2013 đã  khởi động với sự hỗ trợ tích cực từ các bộ- ngành trung ương,  ban chỉ đạo Tây Nam bộ, ban chỉ đạo diễn đàn và ban thư ký diễn đàn.

Với chủ đề "ĐBSCL hướng đến nền kinh tế xanh” , diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL lần này nhằm khẳng định:  Việc hướng đến nền kinh tế xanh là giải pháp để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với bảo tồn môi trường, ngăn chặn sự mất mát về đa dạng sinh học và giảm thiểu việc sử dụng không bền vững về tài nguyên thiên nhiên.
Ông Trần Hữu Hiệp – Vụ trưởng vụ kinh tế BCĐ Tây Nam Bộ- Phó trưởng ban thường trực ban thư ký diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL cho biết: “ĐBSCL hướng đến nền kinh tế xanh”. Đây là 1 chủ đề được sự quan tâm của các địa phương trong vùng, của các bộ- ngành cũng như các tổ chức quốc tế, đặc biệt đối với vùng ĐBSCL có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát huy tiềm năng- lợi thế của vùng ĐBSCL trong lĩnh vực NN, trong phát triển CN, gắn với đảm bảo môi trường, phát triển bền vững, phát triển KT-XH .
Với chuỗi hoạt động tổng thể bao gồm 11 sự kiện sẽ được tổ chức từ ngày 21 đến ngày 24  tháng 11 năm 2013, trong đó có nhiều hoạt động chính như: Triễn lãm – hội chợ “ Tuần lễ môi trường xanh- công nghệ xanh- phát triển bền vững kinh tế xanh” vùng ĐBSCL; Hội nghị xúc tiến đầu tư – thương mại – du lịch vùng ĐBSCL năm 2013; hoạt động gây quỹ an sinh xã hội vùng ĐBSCL, diễn đàn doanh nghiệp vùng ĐBSCL, các hoat động kết nối cung – cầu; Hội thảo liên kết phát triển vùng ĐBSCL theo hướng kinh tế xanh; Hội thảo phát triển và nhân rộng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGap; Hội nghị  giữa các tỉnh – thành trong khu vực ĐBSCL và TPHCM. Ngoài ra tại diễn đàn lần này cũng sẽ tập hợp sáng kiến, đề xuất với Thủ tướng chính phủ các cơ chế, chính sách phù hợp để từng bước ứng dụng vào nền kinh tế xanh của vùng ĐBSCL. Đây không chỉ là diễn đàn của những sự kiện, những hoạt động, những đề xuất cơ chế- chính sách để thúc đẩy KT-XH vùng phát triển, mà  thông qua diễn đàn lần này, còn có những công trình an sinh xã hội, những phần việc cụ thể để chăm lo đời sống nhân dân trong vùng.
Một trong những khởi động quan trọng đầu tiên mà tỉnh Vĩnh Long đã tập trung thực hiện là thành lập ban tổ chức MDEC Vĩnh Long  2013, tổ giúp việc cho thường trực ban tổ chức. Các tiểu ban chuyên trách cũng đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể để thực hiện tốt công tác chuẩn bị cho MDEC Vĩnh Long 2013 như: vận động các nhà tài trợ, làm việc với các bộ- ngành trung ương , các ngoại giao đoàn để chuẩn bị cho nội dung các sự kiện được tổ chức diễn đàn, xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự, khánh tiết- hậu cần, xây dựng danh mục các dự án tỉnh Vĩnh Long ưu tiên mời gọi đầu tư nhân sự kiện này.
Theo ông Phan Anh Vũ- Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long: Các Bộ nói chung ủng hộ rất cao và sẽ tham gia, chẳng hạn Bộ ngoại giao sẽ chủ trì HN giữa 13 tỉnh với các đoàn ngoại giao của các đại sứ, tổng lãnh sự các nước. Bộ KHĐT cùng BCĐTNB và UBT VL sẽ tổ chức HN xúc tiến đầu tư .  Bộ VH sẽ hỗ trợ 1 số chương trình nghệ thuật ở trong đêm văn nghệ an sinh. Bộ NN cùng sở NN và BTC sẽ tổ chức HN về quy chuẩn sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững, rồi tiêu chuẩn Vietgap, Globalgap của ĐBSCL , phòng TM&CN VN sẽ tổ chức diễn đàn doanh nghiệp.
Ông Phạm Thành Khôn- Phó Giám đốc Sở KH& ĐT- Giám đốc TT xúc tiến đầu tư & hổ trợ doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long cho biết: Hội nghị xúc tiến ĐT-TM-DL vào vùng ĐBSCL đối với đơn vị đăng cai tỉnh VL đã có bước chuẩn bị tương đối hoàn chỉnh về danh mục các dự án kêu gọi đầu tư, về chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư vào tỉnh VL có biên soạn sửa đổi. Nói chung chúng tôi có sự chuẩn bị rất tốt và trong ni dung này thì đối với VL sẽ tập trung vào các DA trọng điểm. Thứ nhất lĩnh vực đầu tư hạ tầng có 7 DA, lĩnh vực đầu tư vào công nghệ phụ trợ phát triển đô thị đô thị có 3 DA và một số lĩnh vực TM-DL –dịch vụ là 3 DA với tổng mức mời gọi đầu tư khoảng 9.000 tỷ đồng.
Theo ông Trần Hữu Hiệp –Vụ trưởng vụ kinh tế BCĐ Tây Nam Bộ – Phó trưởng ban thường trực ban thư ký diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL:  Vĩnh Long có bước chuẩn bị tích cực- trách nhiệm- và chu đáo từ việc tham gia để chọn chủ đề, hoạch định những sự kiện, cũng như là công tác phối hợp, cho đến thời điểm này là tốt. Có thể nói rằng đây là 1 trong những kỳ MDEC mà có sự chuẩn bị chu đáo và tích cực nhất.
Với sự hỗ trợ của các bộ – ngành trung ương, ban chỉ đạo diễn đàn, tỉnh Vĩnh Long đã và đang khẩn trương triển khai các công tác chuẩn bị theo đúng kế hoạch đã đề ra, góp phần cho Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL năm 2013 thành công tốt đẹp ./. 
Anh Kiệt

26 tháng 7, 2013

BÁO CÁO SỐ 151/BC-BTP NGÀY 15 THÁNG 7 NĂM 2013 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ TỔNG KẾT THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

Posted on  by Civillawinfor

Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi là BLDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2006) là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội trong giao lưu dân sự. Bộ luật này cũng là nền tảng pháp lý cho hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ dân sự).
Qua thực tiễn thi hành, BLDS đã phát huy vai trò to lớn trong việc quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự; góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, BLDS đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.
Nắm bắt được thực trạng này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1322/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành BLDS. Việc tổng kết này được coi là hoạt động quan trọng nhằm đánh giá tác động của BLDS tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tác động của phát triển kinh tế – xã hội đến các quan hệ dân sự và quy định của BLDS; mối liên hệ giữa BLDS với các luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế có liên quan; những thành công, cũng như những hạn chế trong quy định và tổ chức thực hiện Bộ luật; xác định những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể để xử lý các vấn đề này một cách có hiệu quả.
Trên cơ sở tổng kết thi hành BLDS ở các Bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ý kiến độc lập của các cơ quan, tổ chức có liên quan; các hoạt động hội thảo khoa học và các hoạt động khảo sát về đánh giá bất cập, hạn chế của BLDS, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Báo cáo tổng kết thi hành BLDS.[1]

Đọc Hồ Biểu Chánh

Vì sao trong thời buổi “số hóa” hôm nay, cái “cốt cách quê mùa” trong văn chương Hồ Biểu Chánh lại phục sinh trong lòng người mạnh như vậy? Có thể tìm được câu trả lời qua cuốn Hồ Biểu Chánh - người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của nhiều tác giả, do NXB Văn Nghệ ấn hành từ tháng 3.2006, mà nay không còn thấy trong nhiều nhà sách.
Trước hết, xin đọc đoạn văn cụ Hồ Biểu Chánh miêu tả cảnh chợ đêm ở Sài Gòn năm 1937 mà tập sách này trích in ở bìa 4 như một điển hình về văn phong của cụ: “Tại các cửa lớn, người ta tụ lại chật nức, trai chải dầu láng mướt, gái thoa môi đỏ lòm, già ngậm thuốc điếu phì phà khói bay tưng bừng, mẹ dắt tay bầy con, đứa chạy trước nghinh ngang, đứa theo sau núc ních, kêu nhau inh ỏi, tốp chen lấn mua giầy, tốp ùng ùng vô cửa, người mặc y phục đàng hoàng, chung lộn với kẻ bình dân lao động không ai ngại chi hết, mà coi ra thì trên gương mặt mỗi người đều có vẻ hân hoan hớn hở…”.
Không phải ngẫu nhiên mà nhóm chủ biên cuốn sách này (Trang Quan Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở) đã khẳng định ngay ở lời đầu sách: “Nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của… là những người tiên phong đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ thì Hồ Biểu Chánh là một trong những người đã làm cho chữ Quốc ngữ được phong phú. Ông thuộc vào một số rất ít nhà văn Việt Nam đã sử dụng những từ ngữ bình dân một cách tự nhiên, phản ánh trung thực tâm tình và tâm lý của người dân bình dị và nhờ đó các truyện viết của ông dễ gây xúc động cho người đọc”. Và: “Tiểu thuyết của ông là một bức tranh sống động về phong tục và cuộc sống người dân miền Nam bằng chữ trong thời kỳ đầu của thế kỷ 20”.
Có 21 bài viết về Hồ Biểu Chánh trong tập sách này, đầy đủ từ thân thế sự nghiệp đến tác phẩm. Trong bài Hồ Biểu Chánh - cây cầu nối những giá trị cổ truyền với con người hiện đại, sau khi phân tích các tác phẩm, nhà văn Hoài Anh nhấn mạnh: “Bản thân Hồ Biểu Chánh đã đóng trọn vai trò một cây cầu: bắc ngang văn học cổ với văn học hiện đại, bắc ngang những giá trị tinh thần truyền thống với con người trong xã hội văn minh vật chất”. Thạc sĩ Huỳnh Thị Lan Phương đã tìm thấy bốn lối phản ánh hiện thực trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh: hiện thực về nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu ở Nam bộ đầu thế kỷ 20 (những tác phẩm như Thầy thông ngôn, Một chữ tình, Ngọn cỏ gió đùa, Con nhà nghèo, Nợ đời, Cười gượng, Ai làm được, Cay đắng mùi đời, Lạc đường, Ông cử, Vì nghĩa vì tình); hiện thực về giai cấp địa chủ phong kiến (Khóc thầm, Con nhà nghèo, Cha con nghĩa nặng, Chúa tàu Kim Qui, Ngọn cỏ gió đùa); hiện thực về thế lực đồng tiền trong xã hội đương thời; và hiện thực về tình trạng giằng co giữa hai lối sống cũ và mới của con người Nam bộ. Rồi tác giả nhận xét: “Nhìn chung, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh tập trung phản ánh hiện thực thuộc về đạo đức, chưa đề cập đến những vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị… Ông tái hiện bức tranh xã hội Nam bộ không nhằm mục đích đả phá cái cũ để hô hào đi theo cái mới nhưng ông sẵn sàng tiếp nhận cái mới ở những điểm phù hợp với quan niệm truyền thống”.
Sách còn có một bài nghiên cứu độc đáo của Giáo sư Nguyễn Văn Trung , Les Misérables của Victor Hugo và Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh, trong đó tác giả so sánh rành rẽ từ khung cảnh xã hội, lịch sử đến tư tưởng chủ đề và các nhân vật chính của hai tác phẩm này. Từ đây, tác giả kết luận: “Tuy mô tả cuộc chiến đấu với chính mình một cách khác nhau, cả hai nhà văn đều thực hiện được điều mà chúng tôi gọi là “sứ mệnh của nhà văn”, làm cho người đọc ở những hoàn cảnh khác nhau thuộc những dân tộc văn hóa khác nhau cảm thấy xúc động mãnh liệt trước những gì là nhân loại, tình người quảng đại và cao quý nhất, đáp lại những thách thức của thân phận ở đời và sau cùng, của cái chết”.
Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, sinh ngày 1.10.1885 tại tỉnh Gò Công (nay là Tiền Giang). Sau khi đậu bằng Thành chung năm 1905, ông làm thông ngôn và cuối đời được thăng chức Đốc phủ sứ. Năm 1946 ông nghỉ hưu và dành trọn quãng đời còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4.11.1958 tại Phú Nhuận, Sài Gòn. Hồ Biểu Chánh viết văn từ năm 1910; tiểu thuyết đầu tay, Ai làm được, ra đời năm 1912; tiểu thuyết cuối cùng viết dở dang là quyển Hy sinh. Tổng cộng ông có hơn 130 tác phẩm, một con số ít có nhà văn Việt Nam nào đạt được, bao gồm 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 2 truyện dịch, 12 hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu, phê bình.
Thú vị hơn là nhóm chủ biên (do Tiến sĩ Trang Quan Sen, Việt kiều Đức chủ trì) còn lập riêng trang webwww.hobieuchanh.com và đã dành 44 trong số 352 trang sách này để soạn 3 phụ lục: tác phẩm Hồ Biểu Chánh sắp theo thời gian; tác phẩm Hồ Biểu Chánh sắp theo mẫu tự và cuốn “tự điển mini” về từ ngữ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh - kiểu như từ chật nức được trích ở trên.

22 tháng 7, 2013

Xưng hô tại toà như thế nào cho đúng?

Trong các phiên tòa, việc xưng hô giữa những người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng muôn hình vạn trạng: Bị cáo khi thì xưng con, lúc xưng tôi.

Có bị cáo luôn miệng “thưa quan tòa”. Những người tham gia tố tụng khác thì có người thưa quý tòa, có người thưa hội đồng xét xử. Đối với đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa cũng được gọi rất khác nhau: Người thì gọi là quý viện, người thưa công tố viên, người lại gọi là kiểm sát viên…
Cũng có lúc luật sư hỏi người tham gia tố tụng và yêu cầu trả lời cho hội đồng xét xử thì bị chủ tọa nhắc vì luật sư không phải hội đồng xét xử, thế là gây ra tranh cãi. Có luật sư vốn là cán bộ tố tụng, khi tranh luận, theo thói quen lại “thưa các đồng chí” với hội đồng xét xử.
Về phía những người tiến hành tố tụng như thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên thường gọi bị cáo là ông, bà, anh, chị thậm chí là em, là cháu. Bản cáo trạng và bản án khi đọc tại phiên tòa còn dùng nhiều từ không đúng quy định của pháp luật, có tính chất miệt thị, gọi bị cáo là y, thị, tên này, kẻ kia, ngựa quen đường cũ hoặc là một tên dã thú v.v...
Hiện chưa có một quy ước, chuẩn mực chung nào về ngôn ngữ được dùng tại phiên tòa. Việc xưng hô giữa những người tham gia tố tụng với người tiến hành tố tụng chủ yếu theo thói quen, tùy hứng. Trước năm 2002, khi Bộ Tư pháp còn quản lý các tòa án địa phương, đã có lần Bộ tổ chức hội thảo bàn về “văn hóa phiên tòa”; có nhiều bài tham luận đề cập đến cách xưng hô tại phiên tòa sao cho đúng luật và có văn hóa nhưng cũng chỉ dừng lại ở chỗ tham khảo, đề xuất, kiến nghị…
Xưng hô tại phiên tòa là một văn hóa tư pháp, là bộ phận không thể thiếu của văn hóa pháp luật Việt Nam. Đặc điểm của loại hình văn hóa này, vừa phải tuân thủ các quy định của pháp luật vừa phải bảo đảm nền văn hóa dân tộc. Đây là một dạng văn hóa đặc thù, góp phần tích cực trong việc tôn tạo di sản văn hóa Việt Nam. Hoạt động xét xử được xem là quá trình hình thành, phát triển và tích lũy văn hóa xét xử.
Quy định của pháp luật tố tụng, một công dân bị truy tố ra tòa được gọi là bị cáo, không phân biệt giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội. Vì vậy, khi hội đồng xét xử hỏi người tham gia phiên tòa chỉ nên gọi họ là bị cáo, nếu cần phân biệt bị cáo này với bị cáo khác thì thêm họ tên của người đó sau từ bị cáo. Ví dụ: Bị cáo Nguyễn Văn A trả lời cho hội đồng xét xử biết. Tuy nhiên, bị cáo thì lại có thể xưng tôi khi trả lời câu hỏi của hội đồng xét xử và những người khác chứ không cần phải xưng “bị cáo” như một số phiên tòa vừa qua. Đối với những người tham gia tố tụng khác như người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng... hội đồng xét xử và người tham gia phiên tòa nên xưng là ông, bà, anh, chị tùy theo độ tuổi của họ. Tại phiên tòa tuyệt đối không nên xưng hô “đồng chí” với nhau. Một số thuật ngữ đã được luật hóa thì khi nói và xưng hô phải đúng pháp luật như người làm chứng chứ không phải nhân chứng; người bị hại chứ không phải bị hại; người bào chữa chứ không phải luật sư, còn nếu muốn xưng đầy đủ thì phải nói: “Bào chữa cho bị cáo có luật sư...”.
Đã đến lúc việc xưng hô tại phiên tòa cần luật hóa và coi việc xưng hô tại phiên tòa là một nội dung quan trọng không thể thiếu trong tiến trình cải cách tư pháp. Tòa án nhân dân Tối cao phối hợp với Viện kiểm sát Tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng nên xây dựng đề án về “cách xưng hô tại phiên tòa” để tạo sự thống nhất.
ĐINH VĂN QUẾ
Sự khác biệt Việt - Tây - Mỹ

So sánh với Tây phương nói chung
Người Tây: - Ăn chậm, đi lẹ, hôn công khai, tè lén. Người Việt: - Ăn lẹ, đi chậm, hôn lén, tè công khai!
Người Tây: - Họp bàn thì tranh luận. Họp xong thì thống nhất ý kiến, triển khai thì nhất trí. Người Việt: - Họp bàn thì nhất trí. Họp xong mới bắt đầu tranh luận, lúc triển khai thì mỗi người mỗi ý !
Tây Phương : Tỉ lệ bầu bán được trên 50% phiếu bầu là thành công. VN: cần từ 80% mới là đẹp, có khi còn đạt 99,99%.
Tây: Thất nghiệp nhiều (chắc vì họ có trợ cấp thất nghiệp). VN: Không có thất nghiệp (Vì người thất nghiệp không được trợ cấp để sống?).

So sánh giữa VN và Mỹ
Ở Việt Nam: Người nghèo ăn rau, người giàu ăn thịt. Ở Mỹ : Ngược lại.
Ở Việt Nam: Người nghèo ở trên núi, vùng xa thành phố. Ở Mỹ : Ngược lại.
Ở Việt Nam: Người nghèo đeo nữ trang giả. người giàu đeo đồ thiệt. Ở Mỹ : Ngược lại.
Ở Việt Nam: (Phi châu, cùng các nước Á châu khác) nhiều người chết vì thiếu ăn. Ở Mỹ : Nhiều người chết vì ăn nhiều.
Ở Việt Nam: Khen đẹp, không chịu (nịnh hoặc vả lả, thấy ghét. Ở Mỹ : Khen đẹp, thank you!
-Mỹ: Phụ nữ độc thân, đến 99 tuổi vẫn phải gọi "Miss - Cô". VN: Phụ nữ lớn tuổi, độc thân, vẫn thành "Bà"
-Mỹ: khi đối thoại với trẻ con, người lớn vẫn lắng nghe. VN: trẻ nhỏ nói nhiều, đưa ý kiến này nọ dễ phiền lòng người lớn.
-Mỹ: Khi ly dị đàn ông rất "lỗ". VN: thường phụ nữ tổn hại nhiều hơn.
- Ở VN, sau lễ cưới cô dâu không bị mất Họ. Ở Mỹ, phải đổi theo Họ theo chồng, trừ khi cô dâu không muốn .
- Ở VN : Bệnh nhân sợ Bác sĩ. Ở Tây Phương : BS sợ bệnh nhân tố cáo vì không có lương tâm nghề nghiệp, có thể bị cấm hành nghề và tù tội.
- Ở VN, gặp con nít hàng xóm - có quyền ẳm bồng hôn nựng. Bên Mỹ , gặp trẻ con phải tránh, không nên đụng chạm . Quên, có thể bị đi tù như chơi !
Ở Việt Nam ăn thịt chó thì không sao, ở Mỹ mà nhậu thịt chó là ủ tờ .
Ở VN hỏi tuổi phụ nữ không sao. Ở Mỹ mà hỏi tuổi phụ nữ coi chừng bị xách guốc rượt chạy.
Ở VN có thể vừa ăn vừa nói, ở Mỹ thì không.

Ở VN đàn bà rửa chén, ở Mỹ thì ngược lại.

Sưu tầm

Mùa không trăng sao

Thứ Bảy, 20/07/2013 23:27

Hôm đi dự hội chợ nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long, tình cờ trông thấy mô hình mấy cây rơm trong hội chợ, anh bỗng thấy lòng xốn xang. Cái ngày xưa ấy đã qua lâu rồi mà sao anh vẫn nhớ đến quay quắt trong lòng.

Nhớ những buổi tối mùa hè, khi ngôi sao hôm bắt đầu nhú lên ở chân trời, anh lại thấy lòng nôn nao vì biết có người đang đợi mình ở gốc rơm sau hè. Mỗi năm chỉ có 3 tháng. Mỗi tháng chỉ có mấy ngày con trăng hoàn toàn bị che khuất. Đó là những ngày thầm kín nhất của đôi ta...
Đối với anh, những mùa hè khi còn thơ bé ở quê nhà là hạnh phúc nhất. Khi ấy, anh chẳng phải lo toan, chẳng phải học hành, chẳng phải thức khuya dậy sớm. Khi ấy anh chỉ có những thú vui bình dị mà bây giờ rất nhiều đứa trẻ không có được: thả diều, nơm cá, bẫy chim, mót khoai...
 
Những năm tháng tuổi thơ của anh còn lấp lánh niềm vui bởi bên anh có cô bé con bác Tư ở cạnh nhà. Cô bé ấy học hết lớp 9 trường làng thì ở nhà phụ mẹ làm ruộng hoặc theo ba đi buôn những khi giáp hạt. Nhưng dù có đến mùa gặt hay những ngày đốt đồng phơi đất thì những đêm hè con trăng đi vắng, em vẫn đợi anh ở gốc rơm sau hè.
Đến giờ anh vẫn không phân biệt được mùi rơm thơm, mùi tóc, hay mùi da thịt em. Tất cả hòa quyện vào nhau thành một thứ mùi hương mà bất cứ gã con trai mới lớn nào cũng ngây ngất... Đến giờ nhớ lại, anh vẫn ngạc nhiên tự hỏi, sao thuở ấy tình yêu thuần khiết thế? Chỉ ngồi gần nhau thôi mà đã thấy đất trời lung linh những sắc màu hạnh phúc.     
Rồi năm tháng qua đi, vật đổi sao dời. Ngày em theo gia đình về thành phố, anh đứng chôn chân sau nhà. Không khóc mà nước mắt cứ mằn mặn trên môi. Em đi rồi, những ngày hè bỗng trở nên vô nghĩa. Cây rơm sau hè từ ấy không còn in dấu hai đứa những đêm trời không trăng sao.
20 năm rồi, giờ em ra sao? Đôi lúc anh thầm ao ước được một lần bất ngờ gặp lại em giữa bộn bề cuộc sống. Có thể khi ấy, anh sẽ làm những điều khác với ngày xưa...

Minh Quân

21 tháng 7, 2013

Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam tổ chức góp ý Đề cương tổng kết giữa nhiệm kỳ Đại hội phục vụ Hội nghị TW8


Ảnh: hiepcantho

LÊ KIỀU NHƯ (TÁC GIẢ TIỂU THUYẾT SỢI XÍCH) KIỆN APPLE

Vài lời: Báo TT & VH đăng vậy, thì đọc vậy và lưu vào mục Case Study để làm điển cứu giảng dạy, nhưng vẫn phải tiếp tục theo dõi. Không biết đây có phải là "chiêu" PR nhằm hâm nóng sự chú ý của dư luận đối với "Sợi xích" vốn gây ồn ào một lúc, mấy năm qua nguội lạnh quá.

 VĂN BẢY thực hiện
Lê Kiều Như
Lê Kiều Như
Lê Kiều Như cho biết việc Apple công khai rao bán tác phẩm Sợi xích trên App Store với giá 29,99 USD từ năm 2010 là vi phạm quyền tác giả. Từ ngày 8/7/2013, Lê Kiều Như ủy thác cho luật sư Nguyễn Thành Công (Công ty Đông Phương Luật) đảm trách vụ kiện với con số đòi bồi thường lên đến 100 ngàn USD. Báo TT&VH có cuộc trò chuyện với luật sư Công (người đảm trách vụ việc Lê Kiều Như kiện Apple) về số tiền và vụ kiện.
Về vụ kiện này, luật sư Nguyễn Thành Công cho biết đã gởi đơn thẳng đến tòa án nơi Apple đặt trụ sở (California, Mỹ), vì nó phù hợp với các điều ước song phương và đa phương mà Việt Nam và Mỹ đã ký kết. Cũng theo luật sư này, Apple đã vi phạm Điều 106 của Luật Quyền tác giả của Hoa Kỳ; Điều 9 của Công ước Berne; Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam; và Điều 5 Hiệp ước Việt Nam – Hoa Kỳ về việc thiết lập quan hệ quyền tác giả năm 1997.
100 ngàn USD là bình thường
* Xin anh cho biết vì sao có con số 100 ngàn USD tròn trĩnh, mà không phải thấp hơn, hoặc cao hơn? 
- Căn cứ theo Luật Sở hữu trí tuệ (Đ.204, 205), Nghị định 105/2006 (Đ.16, 17, 18) về nguyên tắc xác định thiệt hại là tổn thất thực tế về tinh thần và vật chất do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra đối với chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Các khoản này gồm tổn thất về tinh thần do danh dự, uy tín bị xâm phạm; tài sản ở đây là giá trị chuyển nhượng quyền sở hữu về quyền tác giả của cuốn sách; tổn thất về cơ hội kinh doanh; chi phí để ngăn chặn (chi phí thuê luật sư). Cụ thể, vì việc xâm phạm quyền tác giả này mà Lê Kiều Như đã mất đi cơ hội kinh doanh là chuyển giao quyền xuất bản đối với cuốn sách (20 ngàn USD); tổn thất tinh thần (30 ngàn USD); phí luật sư (50 ngàn USD).
Luật sư Nguyễn Thành Công
Theo quy định của Đ.205 Luật Sở hữu trí tuệ, mức bồi thường thiệt hại về vật chất cao nhất là 500 triệu đồng, tức khoảng 25 ngàn USD. Ở đây xác định bồi thường vật chất chỉ là 20 ngàn USD là hợp lý. Ngoài ra, vụ việc này với đối tượng là hãng Apple có trụ sở chính tại Mỹ nên nếu phải giải quyết bằng con đường tố tụng thì phải áp dụng luật Mỹ và giải quyết tại Mỹ nên các con số này rất thông thường.
* Con số 100 ngàn USD này có phụ thuộc vào nhãn hiệu vi phạm không? 
- Con số 100 ngàn USD được đưa ra trong đơn kiện đã được ghi rõ là dựa trên sự tổn thất  như đã nói trên. Không phải vì phía bên vi phạm là Apple mà bất cứ công ty nào khác, dù là ở Trung Quốc hay Việt Nam, thì những tổn thất do việc vi phạm bản quyền đối với tác phẩm Sợi xích của thân chủ tôi – Lê Kiều Như – là hiện hữu, không thay đổi.
* Nếu Apple chính thức xin lỗi và đưa ra một con số thấp hơn 100 ngàn USD, với cách tính theo lập luận của họ, bên anh có đồng ý không?
- Apple có cách tính và lập luận của họ, chúng tôi có cách tính và lập luận theo cách của mình. Nếu phía Apple nhận rõ được sai phạm và có những hành động khắc phục: công khai xin lỗi thân chủ tôi; đền bù hợp tình, hợp lý, chúng tôi sẽ cân nhắc lời đề nghị đó. Ngoài ra, chúng tôi cũng hiểu “vô phúc đáo tụng đình”, trăm nghìn sự nhiêu khê, phức tạp và tốn kém khi phải giải quyết vụ việc này bằng kiện tụng.
Mở thêm một tiền lệ tốt
* Lâu nay nhiều người hay định kiến: chỉ có Việt Nam mới thường vi phạm quyền tác giả. Từ vụ kiện này, bên anh muốn cảnh báo điều gì?
- Gióng lên tiếng chuông cảnh báo sự vi phạm quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung đang diễn ra tràn lan, từ những tổ chức nhỏ hoặc cá nhân trong nước, cho đến các tổ chức lớn của nước ngoài, mà đích nhắm đến là người Việt Nam. Tức sự vi phạm này không chỉ ở những nước chưa phát triển mà còn khởi nguồn từ chính các nước phát triển, văn minh, nơi vấn đề sở hữu trí tuệ – quyền bậc cao của con người – luôn được bảo vệ mạnh mẽ với hệ thống pháp luật chặt chẽ, chi tiết.
* Theo Lê Kiều Như, bước kế tiếp chị sẽ vận động nhiều tác giả đang bị xâm phạm quyền tác giả giống như mình lên tiếng. Theo anh, tại sao họ chưa lên tiếng? Có phải vì người Việt cũng hay vi phạm quyền tác giả nên mặc kệ? 
- Tôi không đồng ý với vế cuối của câu hỏi này. Theo tôi, nhiều tác giả, nghệ sĩ bị vi phạm quyền tác giả mà vẫn im tiếng, chưa lên tiếng, có thể, họ chưa nhận thức được tầm quan trọng và thiệt hại phát sinh từ những vi phạm đó; hoặc họ nhận thấy không đủ căn cứ để kiện đòi.
Hơn nữa tâm lý người Việt Nam từ xưa đến giờ đó là rất ngại va chạm trong cuộc sống, với những “va chạm” lớn, mang tính quốc tế như vậy, họ “không quen”, nên cứ “mặc kệ”. Ngoài ra, đó là bởi từ trước đến giờ, chưa có một tiền lệ nào về việc kiện đòi quyền sở hữu trí tuệ từ phía Việt Nam đối với các nước khác, mà cụ thể là một cường quốc như Mỹ. Do đó, từ phía thân chủ tôi cũng như tôi,  vụ việc lần này, nhằm tạo lập một tiền lệ tốt, để các tác giả, nghệ sĩ khác đứng lên kiện đòi lại công bằng cho bản thân, nếu bị xâm hại.
* Bên anh nghĩ cơ hội thắng kiện của mình là bao nhiêu %?
- Tôi hoàn toàn đặt trọn niềm tin vào sự công tâm của pháp luật. Bởi lẽ, mọi chứng cứ từ phía thân chủ tôi đưa ra đều xác thực. Bên cạnh đó là các chứng cứ mà chúng tôi đang tiếp tục thu thập là rất thuyết phục và có sơ sở. Thân chủ tôi có đầy đủ quyền tác giả đối với tác phẩm Sợi xích - cả về quyền nhân thân lẫn quyền tài sản, quyền sở hữu ấy được pháp luật nước CHXHCN Việt Nam cũng như thế giới bảo hộ. Về phía Apple, sai phạm của họ đã rõ: phát hành ấn bản điện tử dưới dạng E-book có thu phí của tác phẩm Sợi xích khi chưa được sự cho phép của thân chủ tôi. Hơn nữa còn mạo nhận “nội dung và hình ảnh được cung cấp bởi chính tác giả”. Chúng tôi tự tin về cơ hội thắng kiện của mình.
Nguồn: Thể thao & Văn hóa

20 tháng 7, 2013

Kho chứa lương thực ĐBSCL: tăng thêm 1 triệu tấn

SGTT.VN - Theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến cuối năm nay, tổng năng lực kho chứa lương thực tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ đạt gần 6,4 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn so với cuối năm 2012, trong đó kho chứa gạo chiếm gần 4,8 triệu tấn.
Theo ông Trương Thanh Phong, chủ tịch hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), sẽ không cần thiết phải xây thêm kho chứa lương thực khi năng lực dự trữ đã đạt tới mức này. Cũng theo ông Phong, trong tổ chức sản xuất ở vùng ĐBSCL, cần hạn chế sản xuất lúa vụ hè thu, đặc biệt đối với những vùng có thời vụ thu hoạch trùng với những đợt mưa dầm khiến tỷ lệ lúa bị thất thoát cao, lại còn làm giảm chất lượng lúa hàng hoá. Đối với vụ thu đông (lúa vụ 3), cần phải duy trì sản xuất lúa đối với những vùng đảm bảo an toàn trong mùa nước nổi.
NGỌC TÙNG (SGTT)

Liên kết vùng để thoát tư duy nhỏ lẻ

 05:05 PM, 17/07/2013
(Chinhphu.vn) - Lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương và 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã thống nhất nhiều nội dung nhằm hình thành bộ quy chế liên kết vùng.
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh yêu cầu nâng tầm liên kết vùng ĐBSCL để phát huy mạnh mẽ những tiềm năng hiện có. Ảnh: VGP/Xuân Tuyến
Tại hội nghị thảo luận về cơ chế liên kết vùng ĐBSCL, ngày 17/7, lãnh đạo một số địa phương như An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang… cho rằng liên kết vùng ĐBSCL chính là  chìa khóa để thoát khỏi tư duy nhỏ lẻ, manh mún, là cú hích để đánh thức du lịch vùng ĐBSCL vốn đang được ví như “nàng công chúa ngủ trong rừng”. 
Nguyên tắc được các tỉnh ĐBSCL thống nhất cao trong cơ chế liên kết vùng là lợi ích của từng địa phương phải đặt sau lợi ích toàn vùng.
Đối với những lĩnh vực liên kết không bắt buộc (liên kết tự nguyện) thì dựa trên cơ sở các bên tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi để cùng phát huy lợi thế, hướng đến tối đa hóa lợi ích của địa phương và toàn vùng.
Bảo đảm sự quản lý thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc đầu tư, khai thác, phát triển kinh tế-xã hội toàn vùng.   
Các tỉnh ĐBSCL đã thống nhất nội dung liên kết, lập danh mục đề xuất các dự án, đề án ưu tiên phát triển tại địa phương trong từng giai đoạn, đảm bảo tính khả thi, đồng bộ về phát triển kết cấu hạ tầng với phát triển kinh tế - xã hội.
Các ý kiến cũng thống nhất cao về việc lập Ban Chỉ đạo liên kết vùng ĐBSCL, sẽ hình thành các liên kết theo chuỗi giá trị, theo ngành hàng, xác định rõ nội dung liên kết “bắt buộc” đối với những lĩnh vực, những dự án, đề án có tác động đến lợi ích chung toàn vùng, tiểu vùng hoặc liên tỉnh.
Ảnh: VGP/Xuân Tuyến
Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cho rằng quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ĐBSCL thời gian qua, việc liên kết vùng đã được thực hiện, được quan tâm tổ chức, chỉ đạo, triển khai.
Tuy nhiên, hiệu quả mang lại chưa thực sự cao. Vẫn còn những trường hợp cạnh tranh chưa lành mạnh, làm triệt tiêu lợi thế, tiềm năng của từng địa phương, của toàn vùng. Liên kết chưa được đặt ở một “tầm cao” mới để phát huy mạnh mẽ những tiềm năng hiện có, do vậy việc tiếp tục nghiên cứu về liên kết vùng trong bối cảnh mới là rất cần thiết.
Từ quan điểm nêu trên, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tái khẳng định quan điểm đã được đồng thuận tuyệt đối của các đại biểu tham dự hội nghị, đó là sự cần thiết phải có liên kết, cần thiết phải đặt liên kết vùng trong một quy chế rõ ràng để triển khai thực hiện.
Về các hình thức liên kết, bên cạnh hướng quy định hình thức liên kết mang tính “bắt buộc” và “tự nguyện” như trong dự thảo, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh gợi ý thêm cách tiếp cận mới, đó là chỉ quy định cụ thể những nội dung liên kết mang tính “bắt buộc”. Những nội dung khác sẽ do các đơn vị tham gia liên kết tự đề ra quy chế để cùng nhau thực hiện.
Về sự cần thiết thành lập Ban Chỉ đạo Liên kết vùng Phó Thủ tướng đề nghị lấy Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ làm đầu mối, tận dụng chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hiện có.
Trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng những nhiệm vụ cụ thể của từng Bộ, ngành, địa phương cũng như các cơ chế tổ chức thực hiện; là đầu mối hoàn thiện dự thảo, gửi các Bộ, ngành địa phương xin ý kiến trước khi trình Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu đặt ra là ban hành được Bộ Quy chế Liên kết vùng ĐBSCL vào tháng 9/2013.
Xuân Tuyến

Số liệu kinh tế Việt Nam: Ông nói gà, bà nói vịt

Số liệu ở VN vênh nhau là chuyện thường vì mỗi cơ quan có cách tính khác nhau; bản thân từng cơ quan cũng có nhiều mức số liệu khác nhau để sử dụng theo từng mục đích, hơn nữa cùng 1 vấn đề, nhưng còn có số sơ bộ, số ước tính, số cuối cùng... Người sử dụng số liệu thống kế nên hiểu chuyện này để dùng cho đúng. Tôi có bài giải thích chi tiết vấn đề này để Bộ trưởng trả lời chất vấn của ĐBQH, tiếc là không còn bản lưu, nhưng tôi nhớ là trang www.na.gov.vn có công bố trong mục danh sách trả lời bằng thư của Bộ trưởng đối với các câu hỏi chất vấn của ĐBQH trước mỗi kỳ họp QH.
Số liệu thống kê về kinh tế Việt Nam: Ông nói gà, bà nói vịt
Thực tế đang có tình trạng số liệu thống kê vênh nhau giữa các cơ quan, giữa trong nước và quốc tế, giữa số liệu và thực tế... dẫn đến bức tranh kinh tế bị méo mó.
Cần thiết phải có hệ thống thống kê chính xác vì nó giúp mọi người vẽ ra được một bức tranh thật của nền kinh tế
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Ông nói gà, bà nói vịt
Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), 5 tháng đầu năm xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kể cả dầu thô, đạt 32,7 tỉ USD; nhưng cùng thời điểm, số liệu của Tổng cục Hải quan (TCHQ) đưa ra cho thấy kim ngạch xuất khẩu của khu vực này chỉ đạt gần 30,52 tỉ USD. Sự chênh lệch đáng kinh ngạc là ở số liệu nhập siêu. TCHQ cho biết thâm hụt thương mại 5 tháng qua là 1,2 tỉ USD nhưng theo TCTK thì nhập siêu của riêng tháng 5 cũng là 1,2 tỉ USD, nên nhập siêu 5 tháng, theo cơ quan này, lên tới 1,9 tỉ USD.

Hai cơ quan này liên tục mâu thuẫn về số xuất siêu. Theo TCTK, quý 1/2013 xuất siêu 481 triệu USD; trong đó khu vực FDI xuất siêu 3,1 tỉ USD, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,6 tỉ USD. Tuy nhiên, TCHQ lại cập nhật xuất siêu quý 1 là 278 triệu USD, chênh 194 triệu USD với TCTK. Riêng khu vực FDI xuất siêu chưa bằng phân nửa số liệu của TCTK (1,19 tỉ USD) và khu vực trong nước nhập siêu rất nhỏ - 900 triệu USD mà thôi.
Chưa hết, TCTK cho hay, 2 tháng đầu năm xuất siêu 1,68 tỉ USD, bằng 8,8% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Còn TCHQ có con số khác, xuất siêu 782 triệu USD. Vào tháng 1.2013, TCTK nói xuất siêu 200 triệu USD; nhưng theo hải quan thì tới 776 triệu USD. Chưa kể số liệu thống kê xuất nhập khẩu của từng ngành, từng thị trường giữa hai cơ quan này cũng chênh lệch nhau rất lớn.

Tại kỳ họp Quốc hội diễn ra vào tháng 5 vừa qua, nhiều đại biểu đặt câu hỏi, trong bối cảnh kinh tế khó khăn mà tỷ lệ thất nghiệp chỉ 2% thì có đáng tin cậy? Cũng với vấn đề này, trong một kỳ họp Quốc hội năm 2012, tiến sĩ Trần Du Lịch từng phát biểu: Trong khi doanh nghiệp đóng cửa, phá sản hàng loạt mà con số tạo việc làm mới vẫn thống kê lên tới hơn 1,5 triệu người trong năm nay thì không thể hình dung được.
Ai đúng - ai sai ?
Trong lĩnh vực thu hút vốn FDI, tình trạng tương tự cũng diễn ra. Theo TCTK, nửa đầu năm 2013 cả nước có 44 tỉnh, thành phố có dự án FDI được cấp phép mới. Nhưng Cục Đầu tư nước ngoài (FIA) nói con số này là 46. TCTK tuyên bố tỉnh Thái Nguyên có số vốn đăng ký lớn nhất với 2,141 tỉ USD; còn theo FIA đó là tỉnh Thanh Hóa. Chưa hết, trong khi TCTK nói con số 41, thì FIA khẳng định có 45 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại VN và không phải Singapore như TCTK đưa ra mà là Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư.
Trao đổi với PV Thanh Niên, tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản quốc gia thuộc Cục Thống kê của Liên Hiệp Quốc, cho biết thống kê về FDI của VN không theo chuẩn mực quốc tế. “FDI VN tính bao gồm cả phần vay mượn, dù trong nước hay nước ngoài. VN có lúc còn tính giá trị FDI bao gồm cả phần góp vốn bằng đất đai của VN. Nguyên tắc là chỉ tính trong vốn tự có phần của nước ngoài bỏ ra (sở hữu) là bao nhiêu. Các tổ chức quốc tế như ADB (Ngân hàng Phát triển châu Á) và IMF (Tổ chức tài chính quốc tế) cho biết số vốn FDI đầu tư thấp hơn con số VN đưa ra”, tiến sĩ Việt phát biểu.
Tiến sĩ Việt lấy ví dụ, năm 2011, VN công bố vốn FDI đăng ký đạt 15,5 tỉ USD, thực hiện được 11 tỉ USD; nhưng ADB cho biết vốn thực hiện chỉ khoảng 6,48 tỉ USD, còn theo IFM là 7,43 tỉ USD. Hay như thời đỉnh cao của FDI vào VN là năm 2008 với công bố thực hiện 11,5 tỉ USD, ADB đưa ra con số 9,279 tỉ USD và IMF là 9,579 tỉ USD.
Bên cạnh đó, các nhận định về tình hình kinh tế vĩ mô của các tổ chức tài chính độc lập quốc tế cũng khác với cơ quan trong nước. Theo một báo cáo của Ngân hàng HSBC thực hiện tại Hồng Kông, trong tháng 6, lĩnh vực sản xuất của VN suy giảm đáng kể. Số lượng đơn đặt hàng mới cũng giảm khiến các công ty phải cắt giảm việc làm và đơn mua hàng. Tuy nhiên, TCTK lạc quan cho rằng sức mua của thị trường có xu hướng ấm dần lên, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,9% so cùng kỳ; chỉ số sản xuất cũng tăng và chỉ số hàng tồn kho tương đối tốt; chỉ số sử dụng lao động tăng…
Số liệu thống kê về kinh tế Việt Nam: Ông nói gà, bà nói vịt
Thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu đang không thống nhất - Ảnh: D.Đ.M
Hậu quả khôn lường
Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế trung ương, số liệu của VN rất khó kiểm chứng. Chẳng hạn, số liệu thất nghiệp trong thời gian qua cũng thiếu căn cứ, vì VN không có hệ thống thống kê các trường hợp mất việc làm. Hay GDP tăng nhưng tiêu dùng điện lại không tăng. Thậm chí, quý 3 và 4 năm ngoái, tiêu dùng xăng giảm thì không hiểu GDP tăng như thế nào?
Ông Doanh cho rằng, nếu doanh nghiệp phải sử dụng số liệu hàng tồn kho, xuất nhập khẩu vào các thị trường, tăng trưởng hàng hóa xuất khẩu… không chính xác sẽ dẫn đến kết luận kinh doanh sai lầm và phải trả giá. Còn đối với quản lý nhà nước, hậu quả khó lường vì sẽ cho ra những chính sách không phù hợp thực tế. “Cần thiết phải có hệ thống thống kê chính xác vì nó giúp mọi người vẽ ra được một bức tranh thật của nền kinh tế", ông Doanh nói.
Tiến sĩ Hoàng Thọ Xuân, Viện Nghiên cứu thương mại, cho rằng tác động lớn nhất của việc nhiễu loạn số liệu chính là mất lòng tin về các con số thống kê của người dân, doanh nghiệp. Con số hiện nay chưa thực sự thuyết phục được mọi người, và họ còn nghi ngờ vào số liệu. Đây là vấn đề nguy hiểm nhất. Nguyên nhân, theo tiến sĩ Xuân, hiện việc thống kê chủ yếu là liên hệ ngang, mà không phải dọc. Cụ thể, các bộ lấy số liệu thống kê của các sở ngành địa phương mà không thông qua cơ quan thống kê của địa phương. Trong khi Cục Thống kê địa phương lại thu thập số liệu rồi chuyển về TCTK. Cho nên, bộ có số liệu khác TCTK. “Phải có cách tính thống nhất và phải thống nhất việc thống kê ở cơ sở. Cuối cùng, số liệu của TCTK phải là số liệu đáng tin cậy nhất. Đừng để con số ước tính hay tạm tính mà không có con số chốt cuối cùng”, TS Xuân kết luận.
Với TS Vũ Quang Việt, số liệu vênh nhau có ba nguyên nhân: kỹ thuật; không muốn theo chuẩn quốc tế và giả dối. Chẳng hạn, số liệu xuất nhập khẩu của TCHQ chỉ có phần về hàng hóa, chứ không có phần dịch vụ. Thống kê về nợ công không tính phần nợ của doanh nghiệp quốc doanh.

Nợ xấu có tới 3 kết quả
Ngày 13.7.2012, trước sức ép của dư luận, ông Nguyễn Hữu Nghĩa, quyền Chánh thanh tra NHNN, họp báo công bố tỷ lệ nợ xấu theo kết quả giám sát của cơ quan này tính đến thời điểm tháng 3.2012 là 8,6% tổng dư nợ, tương đương 202.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, báo cáo của các TCTD cho thấy nợ xấu chỉ hơn 117.000 tỉ đồng, chiếm 4,47% tổng dư nợ. Còn trước đó, tại diễn đàn QH, Thống đốc báo cáo nợ xấu toàn ngành khoảng 10% tổng dư nợ.
Cho đến thời điểm hiện tại, NHNN báo cáo, tính đến hết tháng 5.2013, nợ xấu 4,65% tổng dư nợ toàn hệ thống. Nhưng nhiều ý kiến chưa thực sự tin nợ xấu được xử lý và giảm nhanh đến mức như vậy.
Anh Vũ

Thâm hụt ngân sách cũng khác nhau
Tại báo cáo đánh giá về nợ công của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Chiến lược và chính sách tài chính và Ủy ban Kinh tế vừa công bố, con số thâm hụt ngân sách của Việt Nam theo báo cáo của các tổ chức quốc tế khác xa với báo cáo của Bộ Tài chính. Cụ thể 2009, thâm hụt ngân sách theo số liệu của Bộ Tài chính là 3,7% GDP, trong khi đó ADB và IMF dự báo 3,9% và 7,2% GDP.
Năm 2012, nợ công của VN theo Bộ Tài chính khoảng 55,4% GDP.  Tuy nhiên, báo cáo của nhóm nghiên cứu trên đã chỉ ra, nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của khu vực DNNN khoảng 16,5% GDP, cộng với các khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác của DNNN, nợ công Việt Nam sẽ lên tới xấp xỉ 95% GDP.
Anh Vũ
N.Trần Tâm (Báo Thanh Niên)