30 tháng 3, 2015

Cánh diều tuổi thơ!

Mùa khô, sau những trưa ngập nắng là những chiều lộng gió là lúc được thỏa cái thú thả diều. Ngày nay, mình chỉ cần bỏ ra vài chục ngàn đồng là mua được con diều làm sẵn, đủ kiểu dáng, màu sắc, tha hồ chọn lựa.
Nhưng hồi xưa, làm gì có diều bán sẵn như bây giờ, nên người ta phải tự làm. Đó cũng là cái thú riêng khi tự tay làm ra con diều mình thích. Con nít xứ quê xưa thiếu thốn nhiều thứ, nhưng thừa nắng gió. Đồng trống mênh mông, sau mùa cắt lúa, đất khô, tha hồ thả diều thi.
                    Cánh diều từ xưa đến nay đã nâng đỡ ước mơ của biết bao cô bé, cậu bé quê. 
Có 3 bộ phận quan trọng của một con diều mà bất kỳ nhà “thiết kế và thi công” bình dân nào cũng phải có kỹ năng. Đó là làm khung diều, đuôi diều và dây lèo. Khung thì làm bằng thanh tre, thanh trúc trong vườn nhà, vừa chắc, nhưng không quá nặng để lên cao. Thân và đuôi diều dán bằng giấy kiếng, giấy tráng kẽm gói mâm lễ đám cưới, đám nói hoặc giấy tập học trò. Cuối cùng, dây lèo là phần quan trọng nhứt, phải biết cột dây sao cho diều gặp gió, lên cao mà giữ được thăng bằng.
Chơi diều cũng có lắm chiêu. Đó là trò câu diều, tinh ranh và điệu nghệ. Người chơi lợi dụng sức gió và cánh diều to, khỏe của mình để câu diều bạn yếu sức, đứt dây. Thú chơi khiêu khích này có khi làm mất toi những cánh diều mà nhiều người đã bỏ rất nhiều công lao làm lấy. Bọn trẻ chúng tôi lại thích trò “gửi thư diều” hơn. Người gửi thư viết “chữ ước” của mình vào miếng giấy nhỏ có khoét lỗ gắn vào dây diều, nhờ sức gió đưa lên cao để ước nguyện thành hiện thực.
Thả diều ngày nay không chỉ là trò chơi con trẻ mà còn là thú vui của người lớn; không chỉ là trò tiêu khiển mà còn là “sản phẩm du lịch đặc trưng” và được nâng tầm nghệ thuật. Cánh diều còn được Hội Điện ảnh chọn làm biểu trưng cho giải thưởng điện ảnh Việt Nam hàng năm. Nhưng những cánh diều tuổi thơ, những con diều giấy tự làm ngày xưa bay bổng chắc vẫn còn đọng lại trong ký ức bao người để nhớ, để thương về một thời gian khó.


28 tháng 3, 2015

Cư dân mạng "dậy sóng" vì quán bún bò gân

Báo Tuổi Trẻ, ngày 27/03/2015
  • TTO - Gần đây, cư dân mạng xã hội chia sẻ hàng loạt hình ảnh nội quy hài hước của một quán bún bò gân, sau đó họ “dậy sóng” khi biết các bảng này bị tịch thu.
Trong quán chỉ còn xót lại một bảng decal nhỏ - Ảnh : Đại Việt
Trong quán chỉ còn sót lại một bảng decal nhỏ - Ảnh: Đại Việt
Đó là quán bùn bò gân của anh Nguyễn Hoàng Anh Dũng (48 tuổi) ở vỉa hè chung cư Tôn Thất Thuyết, P.1, Q.4, TP.HCM.
Những nội quy hài hước đã làm nên "tên tuổi" quán ăn vỉa hè của anh Dũng như: không nhiều chuyện, không lên mạng nói xấu chủ quán; không phải là bún bò Huế, nếu ăn thấy dở ẹc thì ráng chịu không được chê, ăn không vô cũng phải trả đủ tiền hay quý khách ăn thiếu xin vui lòng thế chấp giấy tờ nhà, giấy hôn thú….
Tuy nhiên, khi tên tuổi quán ăn đang nổi như cồn vì tốc độ chia sẻ chóng mặt của giới trẻ thì đêm 26-3, theo anh Dũng, cơ quan chức năng địa phương đã đến quán ăn của anh Dũng gỡ những nội quy treo trong quán.
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin này từ mạng xã hội và hình ảnh trên YouTube, cộng đồng mạng đã “dậy sóng”. Phần lớn ý kiến bảo vệ những bảng nội quy của anh Dũng. Họ cho rằng các bảng nội quy chỉ mang tính chất vui vẻ, hài hước.
Cư dân mạng “dậy sóng” vì nội quy của quán bún bò gân đang được tạm giữ tại phường. Ảnh: Đại Việt 
Phường mời chủ quán bún bò gân đến làm việc
Chiều 27-3, chúng tôi đến quán bún bò gân của ông Nguyễn Hoàng Anh Dũng tại cổng sau chung cư Tôn Thất Thuyết, P.1, Q.4. 
Tại quán, ông Dũng và hai nhân viên đang hì hục công việc chuẩn bị đón khách. Trên bức tường chỉ còn một tấm bảng có ghi: Bún bò gân. Vỉa hè chung cư Tôn Thất Thuyết. 30 ngàn, mở cửa từ 15g30 đến 19g30. Ế bán tiếp”.
Theo ông Dũng, ông treo hai tấm bảng khoảng vài tháng nay. Nội dung trên tấm bảng là do ông nghĩ ra để tạo sự hài hước, vui vẻ cho khách tới ăn. 
Ông Dũng kể khi tịch thu, cán bộ chức năng giải thích treo những tấm biển đó gây phản cảm: “Tôi có đề nghị họ lập biên bản nhưng họ nói không cần thiết, cứ bán đi đã rồi mai lên phường làm việc”.
Chúng tôi liên hệ với công an phường, đại úy Lê Minh Tùng - công an P.1, Q.4 - cho biết công an phường không trả lời vấn đề này.
Chiều 27-3, Ủy ban nhân dân P.1, Q.4 đã làm việc với ông Nguyễn Hoàng Anh Dũng về việc treo bảng nội quy của quán với sự có mặt của ông Nguyễn Văn Đính - phó chủ tịch UBND P.1, cảnh sát khu vực, tổ dân phố... 
Theo biên bản làm việc, lý do quán bún bò gân của ông Dũng bị tịch thu hai bảng nội quy là do các bảng nội quy gây phản cảm, gây cản trở giao thông trước cửa chung cư (do người dân hiếu kỳ đến xem).
UBND P.1 yêu cầu ông Dũng không treo hai bảng nội quy này nữa và tạm giữ hai bảng nội quy. Khi ông Dũng có điểm kinh doanh cố định sẽ trả lại.
Trao đổi với chúng tôi, ông Dũng cho biết mọi chuyện đã tương đối ổn. Ông đồng ý các yêu cầu của phường, chỉ muốn yên ổn làm ăn, không muốn gây nhiều chú ý. 
Không đủ thẩm quyền, sai trình tự thủ tục?
Luật sư Nguyễn Văn Hậu - phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM - cho biết bảng nội quy chỉ đơn thuần hài hước, không có nội dung vi phạm những điều cấm theo quy định của pháp luật, không có yếu tố phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục .
Theo điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản.
Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính một bản. Vì vậy, việc cán bộ P.1, Q.4 đến tạm giữ bảng nội quy nhưng không lập biên bản ngay là không đúng trình tự xử lý vi phạm hành chính.
Cũng theo luật này, cán bộ dân phòng không có thẩm quyền xử lý tạm giữ tang vật vi phạm hành chính. Do đó việc cán bộ dân phòng tự tiện vào quán ăn tháo dỡ bảng nội quy là không đúng về mặt thẩm quyền.
Quán ông Dũng chuẩn bị đồ đạc để bán hàng - Ảnh: Đức Phú

Còn nhiều việc cần thiết hơn cần làm
Đó là quan điểm của luật sư Võ Xuân Trung, Đoàn luật sư TP.HCM. Theo luật sư Trung, việc chủ quán bún bò Huế tại khu chung cư Tôn Thất Thuyết, Q.4 treo bảng nội quy với nội dung như trên hoàn toàn không trái thuần phong mỹ tục, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của ai, cũng không xâm phạm trật tự an toàn xã hội hay an ninh quốc gia. Vì thế, việc công an địa phương tới tịch thu hoặc buộc tháo gỡ là một câu hỏi về mặt pháp lý cần được trả lời rõ ràng.
Về mặt pháp lý, người dân có quyền làm những gì pháp luật không cấm, tức là cái gì không có quy định cấm của cơ quan, người có thẩm quyền nhân danh Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục luật định thì người dân có quyền làm.
Ngược lại, nếu là cán bộ, công an nhân danh quyền lực nhà nước thì chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Trong vụ việc này, cần phải xét bảng thông báo của chủ quán bún bò có điểm nào vi phạm, vi phạm quy định nào, phải có văn bản pháp luật cụ thể, điều khoản để cơ quan có thẩm quyền dựa vào đó thực hiện việc lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định xử lý.
"Theo tôi, công an địa phương còn rất nhiều việc cần thiết phải làm hơn như phòng chống tội phạm, giải quyết các tụ điểm về trật tự xã hội, giải quyết các vấn đề hành chính cho dân" - luật sư Xuân Trung nói.
Nhiều người dân thường xuyên hỏi thăm anh Dũng khi anh đang dọn hàng chuẩn bị bán - Ảnh : Đại Việt
Người dân hỏi thăm anh Dũng khi anh đang dọn hàng chuẩn bị bán - Ảnh: Đại Việt
ĐẠI VIỆT - ĐỨC PHÚ - TUYẾT MAI - GIA MINH- MẠNH KHANG

BÌNH LUẬN (40)


24 tháng 3, 2015

Thiếu chiến lược xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam

(HQ Online)- Phóng viên Báo Hải quan có cuộc trao đổi với Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp– Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ về chiến lược nào để xây dựng thương hiệu nông sản, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.
Ông đánh giá như thế nào về thực trạng xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam hiện nay?
Luật Thương mại và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành chỉ định nghĩa về “nhãn hiệu” và “hoạt động thương mại”, không nêu rõ khái niệm “thương hiệu” là gì. Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25-11-2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia” cũng chỉ định ra một chương trình xúc tiến thương mại quốc gia dài hạn, nhằm xây dựng, quảng bá nhãn hiệu sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ), tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa, được mang biểu trưng của thương hiệu quốc gia trên thị trường trong và ngoài nước.
Thời gian qua, chúng ta quen tiếp cận và sử dụng thương hiệu chủ yếu dưới góc độ của doanh nghiệp (DN), cho dù thương hiệu đó được gắn với một địa danh cấp xã, huyện, tỉnh, cấp vùng (cà phê Trung Nguyên; trái cây, lúa gạo, thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long; trà Thái Nguyên…) hay cấp quốc gia (Hàng Việt Nam chất lượng cao, Thương hiệu Việt…). Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang ngày càng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới, yêu cầu đang đặt ra là cần tiếp cận, xây dựng và phát triển thương hiệu từ góc độ “tài sản công” của một địa phương, vùng miền và quốc gia. Gần đây, một số địa phương đã quan tâm xây dựng, đăng ký chứng nhận xuất xứ hàng hoá, bảo hộ thương hiệu như: Nước mắm Phú Quốc được đăng ký và bảo hộ tại 28 quốc gia châu Âu; khoai lang Bình Tân - Vĩnh Long được cấp chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá tập thể… Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có một chương trình thương hiệu vùng miền trong chiến lược thương hiệu quốc gia, khiến nhiều sản phẩm, lợi thế vẫn chỉ ở dạng “tiềm năng”.
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, thủy sản, trái cây của cả nước, theo ông có cần xây dựng thương hiệu cho vùng nông sản này?
Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản của cả nước mà còn là nơi bảo đảm “sức khỏe” cho nền nông nghiệp Việt Nam. Nhiều năm qua, các mặt hàng nông sản chủ lực của vùng như lúa gạo, trái cây, thuỷ sản luôn chiếm sản lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn của cả nước. Thế nhưng đến nay, hầu hết các mặt hàng này vẫn chưa có được thương hiệu mạnh. Yêu cầu xây dựng và phát triển các thương hiệu nông sản chủ lực của vùng, gắn với các DN thành đạt, uy tín, trên cơ sở liên kết vùng, liên kết “4 nhà”... đã được đặt ra nhưng đến nay vẫn chưa như mong muốn. Một chiến lược thương hiệu vùng, miền nói chung và thương hiệu cho các loại nông sản chủ lực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đang trở thành đòi hỏi cấp bách.
Ông đề xuất những giải pháp gì để xây dựng thương hiệu cho nông sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long?
Theo tôi, về cơ chế, chính sách và pháp lý, cần xây dựng và phát triển thương hiệu dưới 2 góc độ. Một là, “tài sản riêng của DN”. Hai là, “tài sản chung” của cộng đồng ở một địa phương, vùng miền và quốc gia. Trong cách tiếp cận “thương hiệu là tài sản riêng” cần bổ sung chính sách thương hiệu vùng, miền để khuyến khích  DN đầu tư, xây dựng và phát triển các sản phẩm chủ lực của vùng, miền. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo hộ thương hiệu.
Về quy hoạch và đầu tư, cần rà soát, bổ sung quy hoạch theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, dựa trên lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực, dịch vụ được lựa chọn xây dựng thương hiệu mạnh, tránh dàn trải để tập trung đầu tư chiều sâu. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cần tăng cường liên kết vùng phát triển sản xuất và tiêu thụ, xây dựng các “cụm ngành (cluster) lúa gạo, trái cây, thuỷ sản” của vùng có lợi thế cạnh tranh. Thực tế cho thấy, vấn đề quan trọng là thay đổi tư duy và phương pháp đầu tư, chuyển từ đầu tư theo “đoạn” sang đầu tư theo “chuỗi” sản xuất. 
Để khắc phục tình trạng sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, công nghệ lạc hậu, cần chú trọng áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến một cách đồng bộ tại các khâu giống, nuôi trồng và chế biến. Quy trình đó gồm: Phát triển công nghệ sinh học, áp dụng rộng rãi VietGAP, GlobalGAP trong sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch để giảm thất thoát, nâng cao chất lượng nông, lâm, thuỷ sản và gia tăng giá trị của sản phẩm… gắn với xây dựng và phát triển thương hiệu. Ngoài ra, cần tăng cường đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường; tổ chức hội chợ triển lãm trong nước và nước ngoài để các DN tham gia giới thiệu, quảng bá các hàng hóa chủ lực của địa phương.
Chợ nổi Cái Răng chuyên buôn bán các loại trái cây, nông sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: S.T
Hiện nay, phần lớn lao động của vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật tốt, đa số xuất thân từ nông thôn, hoạt động sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào khả năng và kinh nghiệm mang tính truyền thống. Từ thực trạng này, cần có quy hoạch, phân luồng đào tạo chuyên môn và dạy nghề, đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, cán bộ quản lý có năng lực để cung cấp cho các DN, nhà sản xuất hay khu công nghiệp sản xuất hàng hóa chủ lực của vùng gắn với vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu.
Xin cảm ơn ông!
Quang Duy  (thực hiện)

20 tháng 3, 2015

Nhớ sương sáo miền Tây

Mấy mươi năm xa quê lên thành phố, giữa ồn ào phố chợ, ký ức tuổi thơ tôi vẫn còn nghe vẳng xa tiếng rao trưa “ai sương sáo hơ …”

Dòng sông quê tôi con nước lớn, nước ròng mỗi bữa. Miệt Thới Thạnh, Ô Môn – vùng quê đặc trưng sông nước, miệt vườn, xứ ruộng miền Tây. Đường quê, nơi tôi hàng ngày đi học ngoài chợ huyện rợp bóng mát cây xanh, cắt khúc bởi những dòng sông, con kinh, con rạch nhỏ, được nối nhịp bằng những cây cầu dừa, cầu khỉ lắc lẻo bắc qua. Đó là không gian nô đùa, lặn hụp của bọn trẻ con xứ tôi những buổi trưa hè; cũng là “thị phần truyền thống” của những người bán sương sáo dạo quê tôi. Nơi đó, hàng ngày chiếc ghe tam bản bán sương sáo của bà Sáu Sa đi qua, ghé lại bến sông hay tấp vô cột cầu khỉ làm bằng mấy cây dừa gãy đọt để bán những chén sương sáo mát ngọt như đường phèn cho những đứa trẻ nhà quê chúng tôi.  
Sương sáo là thạch đen, một loài thực vật thuộc chi thủy cẩm, tên khoa học là Mesona chinensis Benth, có nhiều ở khu vực Đông Á. Chuyện bên Tàu, hay Triều Tiên, Nhật Bản, tôi không rõ, chỉ biết loài này có ở xứ tôi từ đời nào và là một phần ký ức tuổi thơ của người dân miền Tây.
Cây sương sáo cao ngang đầu gối người lớn, lá màu xanh, 2 mặt có lông, mép lá hình răng cưa. Để chế biến món sương sáo, người ta lấy lá vò nát ra nước hoặc dùng cả thân cây kèm lá xay thành bột, lọc lấy nước, thêm ít bột gạo, bột nếp vào rồi nấu chín, để nguội trong các diệm sành thành ra món keo mềm, đặc sệt màu đen... là món sương sáo. Ăn sương sáo phải kèm nước đường thắng, thêm chút hương dầu chuối thơm thanh, kèm ít nước đá lạnh. Nghe người lớn nói, ăn sương sáo không chỉ để giải khát, để thỏa thích mà còn có tác dụng hạ huyết áp, trị cảm mạo, đau khớp.
Trước đây, cây sương sáo chủ yếu mọc hoang. Nay có người trồng chuyên canh, bán nguyên liệu cho Đài Loan, Trung Quốc. Có hộ thoát nghèo nhờ cây sương sáo. Nhưng khi nhiều người bắt chước trồng theo, có năm bán không được, ứ đầu ra thì lỗ nặng. Thì ra, phận cây sương sáo mấy mươi năm vẫn còn long đong như tiếng rao người bán dạo năm xưa vẫn còn đong đưa trong trí nhớ tuổi thơ tôi một thời bảng lảng.

Hồi sức cho doanh nghiệp: Gỡ “nút thắt” về vốn

Tính riêng trong năm 2013 đã có tới 65% doanh nghiệp khu vực đồng bằng sông Cửu Long giảm doanh thu, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, lượng đơn đặt hàng ít, hàng tồn kho tăng cao… Giải pháp căn bản trước mắt là cần gỡ “nút thắt” về vốn cho doanh nghiệp để kinh tế đồng bằng sông Cửu Long có thể phục hồi.


Vốn có nhưng khó vay
Ông Võ Hùng Dũng - Giám đốc phòng thương mại Công nghiệp Việt Nam tại (VCCI) Cần Thơ cho biết, năm 2013, mặt bằng lãi suất cho vay đã hạ, nhưng doanh nghiệp vẫn rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Do vậy nhiều doanh nghiệp không thể mở rộng đầu tư, thị trường và giải quyết hàng tồn kho.

Số liệu của ngành ngân hàng cho thấy chỉ khoảng 27% số doanh nghiệp đang hoạt động, tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng.

Ông Nguyễn Văn Diệp, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long lý giải: khủng hoảng kinh tế kéo dài, lạm phát tăng cao khiến thị trường tiêu thụ sản phẩm khó khăn, quy mô hoạt động doanh nghiệp thu hẹp. Nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu là vay ngân hàng. Vì vậy khi chính sách về tiền tệ có biến động, đặc biệt là lạm phát và lãi suất tăng cao thì các doanh nghiệp hạn chế sử dụng vốn ngân hàng.

Mặt khác tình trạng thua lỗ kéo dài khiến doanh nghiệp không có phương án vay vốn khả thi bởi không còn tài sản thế chấp. Những doanh nghiệp đủ điều kiện vay thì không dám vay.
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp trước đây mở rộng quy mô sản xuất “vượt tầm” kiểm soát, sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn hoặc sử dụng vốn sai mục đích đã phải “trả giá” không thanh toán được nợ khi đến hạn, làm phát sinh nợ xấu và không đủ điều kiện vay tiếp.
Ông Lê Văn Hậu - GĐ công ty TNHH thương mại dịch vụ Phước Anh cho rằng, tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản, nợ xấu nhiều đã khiến các ngân hàng thận trọng, xem xét khách hàng kĩ lưỡng trong hoạt động tín dụng của mình. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, khi doanh nghiệp thiếu vốn sản xuất thì lợi nhuận doanh nghiệp giảm, lượng tiền huy động vốn của ngân hàng cũng giảm theo.
Thực ra, các doanh nghiệp vay vốn tín dụng, nếu sử dụng đúng mục đích thì cũng khó phát sinh nợ xấu. Vấn đề là ngân hàng, khi cho vay, cần tiếp cận với những phương án khả thi, đầu tư đúng mục đích, thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát để nguồn vốn được sử dụng hiệu quả. Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp vùng ĐBSCL đang rất cần vốn để ổn định sản xuất, kinh doanh.
Đồng bộ giải pháp
Ths. Nguyễn Thị Hiền - Viện chiến lược ngân hàng cho rằng: Trong thời gian qua ngân hàng đã có nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường, đặc biệt là lĩnh vực nông thôn, nông nghiệp nói chung. Ngân hàng liên tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động, từ đó giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động tại chỗ chỉ đáp ứng được khoảng hơn 77% nhu cầu vốn tín dụng tại khu vực.
Theo ông Võ Hùng Dũng: Các phân tích cho thấy ĐBSCL rất thiếu vốn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển, trong khi nguồn vốn đầu tư của Chính phủ còn hạn hẹp, vốn đầu tư trực tiếp vào vùng còn rất thấp thì nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vài trò quan trọng, quyết định sự phát triển của kinh tế vùng. Thực tế này đòi hỏi Nhà nước cũng như ngành ngân hàng cần có những chính sách đồng bộ.
PGS.TS Nguyễn Đắc Hưng - Ngân hàng Nhà nước cho rằng cần có cơ chế để khuyến khích các NHTM cạnh tranh mở rộng cho vay nông nghiệp - nông thôn nói chung, trong đó có vùng ĐBSCL như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cho vay tái cấp vốn, khuyến khích các tổ chức tín dụng cạnh tranh, mở rộng mạng lưới hoạt động ở nông thôn trong vùng ĐBSCL.
Mặt khác, các địa phương trong vùng ĐBSCL cần phát triển nông nghiệp chế biến bền vững theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, thâm canh dựa trên lợi thế tiểu vùng, nâng cao năng lực cả về năng lực chế biến lẫn chất lượng sản phẩm hàng nông, thủy sản xuất khẩu, phát triển mạnh công nghiệp cơ khí phục vụ nông - ngư nghiệp… ĐBSCL cần được đầu tư lớn cho đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới máy móc thiết bị, đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của từng địa phương để thu hút đầu tư nước ngoài.
Các địa phương cần hoàn thiện quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công bố quỹ đất có thể giao cho giao hoặc cho thuê, đất hoang hóa… có thể sử dụng để phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, giúp ngân hàng có điều kiện mở rộng đầu tư vào các vùng chuyển đổi.
Các địa phương cũng cần sớm tổng kết các mô hình liên kết 5 nhà, 3 nhà để xem xét những khó khăn, vướng mắc nhằm có hướng liên kết hiệu quả hơn. Các bộ, ngành trung ương cũng cần có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực chế biến sản phẩm, khả năng tiếp thị nông sản ra quốc tế, nâng cao uy tín một cách bền vững các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ở các thị trường trên thế giới, đảm bảo lợi ích từ các chính sách ưu đãi đến trực tiếp người sản xuất…
Giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay thực sự là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ, tuy nhiên trước mắt vẫn là sự nỗ lực của chính doanh nghiệp. Theo cách nói của ThS Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, trong khi chờ đợi các chính sách hỗ trợ DN phát huy tác dụng, việc tăng cường liên kết giữa các DN với nhau là nhu cầu tất yếu từ thực tiễn, các DN phải biết tận dụng thế mạnh của nhau để phát huy khả năng sản xuất kinh doanh.
 Từ đó tiến tới xây dựng và hoàn thiện các chuỗi giá trị, tập trung vào 3 cụm ngành lúa gạo, thủy sản và trái cây để có chiến lược quảng bá chung cho toàn vùng. Về lâu dài, Chính phủ cần ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào 3 cụm ngành trên. Lồng ghép các chương trình bình ổn giá, sự hỗ trợ, đóng góp của các địa phương, DN để hình thành nên Quỹ hỗ trợ DN Vùng ĐBSCL”, ThS Trần Hữu Hiệp đề xuất.

Lê Hiền


17 tháng 3, 2015

Vì sao nông dân ngóc đầu không nổi?: Luẩn quẩn “cây - con”, “trồng - chặt”

Người dân cứ trồng, cứ nuôi rồi không biết bán cho ai. Thế là chặt, bỏ và sau đó lại trồng, lại nuôi khi thấy được giá. Ít ai thoát được vòng luẩn quẩn ấy

Thiếu chiến lược
Việt Nam luôn tự hào vì có nền nông nghiệp lâu đời với những nông dân sản xuất giỏi. Bằng chứng là sản lượng cây trồng, vật nuôi không ngừng được tăng cao theo kiểu “năm sau luôn tăng cao hơn năm trước”. Thế nhưng, có một thực tế là chẳng nước nào dám học hỏi kinh nghiệm của nông dân nước mình vì sản phẩm làm ra nhiều nhưng lại rất khó tiêu thụ. Trong khi đó, nhiều nông dân dám mạnh dạn đầu tư vào cây - con mới và được thị trường ưa chuộng với giá cao gấp nhiều lần nhưng không được ngân hàng hỗ trợ vốn vì sợ rủi ro.
Vấn đề ở đây là ngành nông nghiệp chưa có chiến lược sản xuất và tiêu thụ nông sản đối với mặt hàng chủ lực của quốc gia. Vì thế mà nông dân cứ nuôi, cứ trồng mà không biết bán cho ai, giá cả như thế nào và sản lượng bao nhiêu cho vừa. Trong khi đó, các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu cũng còn loay hoay trong việc chờ đối tác đặt hàng rồi mới đi thu gom nguyên liệu trong dân nên rất khó bảo đảm về mặt chất lượng cũng như xây dựng thương hiệu. Mặc dù nhà nước có nhiều chủ trương như DN xuất khẩu phải đầu tư vùng nguyên liệu để vừa bao tiêu sản phẩm cho nông dân vừa có chất lượng đồng đều trên thị trường nhưng đến thời điểm hiện tại thì số lượng DN tham gia vào chuỗi liên kết này lại rất ít.
Ngay cả khi Chính phủ chỉ đạo thực hiện việc thu mua tạm trữ lúa gạo cũng gặp khó vì theo thông tin mới nhất mà tôi biết được thì hiện các DN chỉ thu mua được khoảng 8%-10% sản lượng trong lúc nông dân đang thu hoạch rộ lúa đông xuân. Lý do không thể chối cãi được là vì các DN thường xuyên bị bí đầu ra.
TS Lê Văn Bảnh (Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL)

“Doanh nhân hóa” nông dân
Làm sao để nông dân ĐBSCL không phải tiếp tục mù mờ trong sản xuất, thiếu thông tin thị trường, thoát vòng luẩn quẩn “trồng cây gì, nuôi con gì”? Theo tôi, doanh nhân hóa nông dân là tư duy mới và là cuộc chuyển đổi căn bản.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, nông dân không chỉ là những người lao động giỏi mà còn phải là người làm ăn giỏi; không chỉ biết làm ra nhiều nông sản mà còn phải biết làm ra nhiều lợi nhuận để làm giàu. Thực tế đòi hỏi cần có nhiều hơn nữa các cơ chế, chính sách hỗ trợ Tam nông và thực thi có hiệu quả. Nếu cứ lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ, một ít trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật... có tính đối phó, theo đuôi thiệt hại như vừa qua thì không ăn thua. Nông dân cần được giải phóng gánh nặng bằng kiến thức của người kinh doanh.
Nông dân ĐBSCL cần được giải phóng bằng kiến thức của nhà kinh doanh, cần được đào tạo nghề thực chất hơn là phong trào, tập trung vào việc nâng cao giá trị sản xuất các ngành hàng chủ lực, mở rộng các ngành nghề phi nông nghiệp. Đó là cách thức giúp nông dân không chỉ đứng vững trên đồng ruộng mà còn có thể làm giàu từ làng quê của mình và cạnh tranh nông nghiệp toàn cầu.
Ông Trần Hữu Hiệp (Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ)

Mô hình nhiều, hiệu quả ít
Tổng kết năm 2014, tổng diện tích cây ăn quả cả nước đạt 843.700 ha, trong đó ĐBSCL chiếm 288.500 ha. Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre và nhiều tỉnh khác có chủng loại cây ăn quả rất đa dạng, nổi tiếng cả trong và ngoài nước như xoài cát Hòa Lộc, bưởi da xanh, bưởi Năm Roi, sầu riêng Ri 6, vú sữa Lò Rèn… Tuy nhiên, công tác quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh, tập trung của khu vực mới chỉ giới hạn ở một vài cây và một vài địa phương chưa phát huy được sức mạnh thật sự của vùng chuyên canh và sự liên kết vùng sản xuất hàng hóa. Tỉ lệ nông dân áp dụng thành công tiêu chuẩn GAP trong sản xuất rau quả còn thấp, dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng đều. Sự liên kết sản xuất giữa nông dân và DN vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều dịch bệnh xảy ra do thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất, tăng diện tích ồ ạt…
Chúng ta có nhiều mô hình sản xuất đạt tiêu chuẩn GAP nhưng mô hình này quá nhỏ, rải rác, sản lượng ít, chỉ có trong một giai đoạn nhất định trong năm và chưa liên kết được với DN lớn nên việc buôn bán chưa tăng lợi nhuận và bền vững như mong muốn.
Ở nước ta đã và đang thực hiện bảo hộ giống mới mang lại hiệu quả thiết thực cho nhà chọn giống và cho đất nước qua việc tăng hiệu quả sản xuất, tăng tính cạnh tranh qua độc quyền sản xuất và cung ứng, giảm thiểu việc mất giống, ăn cắp bản quyền giống. Thế nhưng, việc này chủ yếu thực hiện trong nước và việc chế tài chưa đủ mạnh để phát huy tác dụng.
TS Nguyễn Văn Hòa (Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam)
PHẠM CÔNG - THỐT NỐT ghi