29 tháng 1, 2013

Kỳ tích hạt gạo đồng bằng


Trần Hiệp Thuỷ

"Những ngày đầu năm 2013, đi dọc dòng kênh xáng, tôi suy nghĩ miên man về con đường lúa gạo miền Hậu Giang và kỳ tích hạt gạo đồng bằng.
Dòng Xà No
Kinh xáng Xà No nối liền Cần Thơ – Vị Thanh qua Kiên Giang đã trải qua lịch sử hình thành 110 năm, từng được chính quyền thực dân Pháp xác định là “quả đấm chiến lược”, mở ra triển vọng mới trong công cuộc hình thành vựa lúa miền Hậu Giang.
Qua nhiều biến cố thăng trầm lịch sử, dòng Xà No đảm nhiệm chức năng của con đường lúa gạo Miền Hậu Giang, khởi phát những giá trị của văn minh kinh xáng, hình thành các cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và chợ dọc bở kinh … Ngày nay, bờ kè kinh xáng Xà No dài 25 km như một nét vẽ đẹp chạy qua các huyện Châu Thành A, Vị Thủy, TP. Vị Thanh, tạo dáng độc đáo cho đô thị trung tâm tiểu vùng Tây Sông Hậu, là một trong những công trình bờ kè sông đẹp nhất Việt Nam, trở thành một mẩu mực xây dựng công trình giao thông, chống sạt lở, kết hợp tạo cảnh quan, phát triển đô thị.
Những ngày đầu năm 2013, đi dọc dòng kênh xáng, tôi suy nghĩ miên man về con đường lúa gạo miền Hậu Giang và kỳ tích hạt gạo đồng bằng. Nếu như “Vựa lúa gạo”, “Chén cơm châu Á” Nam Kỳ đã xuất khẩu hơn 1,1 tấn gạo vào năm 1910, trong 15 năm, đến năm 1925 tăng lên 1,370 triệu tấn; thì năm 2012, vùng ĐBSCL đã đạt con số kỷ lục chưa từng có: 8 triệu tấn gạo xuất khẩu với sản lượng lúa đạt hơn 24,3 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn so năm 2011.   
Đột phá về năng suất, sản lượng và xuất khẩu
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã đề ra 2 Chương trình lớn thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước là “Chương trình lương thực” và “Chương trình xuất khẩu” mà kết quả của nó đều ghi đậm sự đóng góp to lớn của ngành sản xuất lúa gạo ĐBSCL. Từ một quốc gia nhiều năm thiếu lương thực, chỉ sau 3 năm đổi mới, năm 1989, nước ta đã đảm bảo được an ninh lương thực trong nước và bắt đầu trở lại tham gia thị trường gạo quốc tế để giữ vững vị trí cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới, chiếm hơn 20% lượng gạo thương mại toàn cầu. Tổng sản lượng lúa của cả nước tăng từ 19,2 triệu tấn năm 1990 lên 41,6 triệu tấn năm 2010 và 43,6 triệu tấn trong năm 2012. Đất nước đã chuyển từ thiếu gạo trong thập kỷ 80 sang dư thừa lần lượt 3 triệu tấn, 5 triệu tấn và 8 triệu tấn gạo vào các năm 1990, 2000 và 2012.
Trong kỳ tích đó, vùng đất Chín Rồng nổi lên, giữ vai trò quyết định. Chỉ sau 2 thập niên, sản lượng lúa vùng châu thổ này đã được nhân lên hơn gấp đôi, từ 9,48 triệu năm 1990 lên 21,6 triệu tấn năm 2010, rồi hơn 24,1 triệu tấn năm 2012, chiếm hơn 55% sản lượng và hơn 92% kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm của cả nước; năng suất tăng từ 3,3 tấn/ha năm 1990 lên khoảng 5,58 tấn/ha hiện nay, riêng vụ đông xuân, nhiều nơi trong vùng đạt 7 tấn/ha. “Câu chuyện thành công” của ngành lúa gạo Việt Nam mà “Vựa lúa” Miền Tây là chỗ dựa đã góp phần rất quan trọng trong thế chuyển từ một quốc gia thu nhập thấp sang một quốc gia có thu nhập trung bình của nước ta hiện nay.
Từ gạo ăn đến gạo chợ
Thành tựu của công nghệ sinh học sản xuất giống lúa mới thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh; trình độ ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong canh tác của nông dân được nâng lên với hiệu quả đáng kể của “4 đúng”, “3 giảm, 3 tăng”, “5 giảm, 1 phải”. Cơ giới hóa trong sản xuất, thu hoạch – sau thu hoạch, tồn trữ, chế biến, tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa như những thành công bước đầu của “Cánh đồng mẫu lớn” và nhiều chính sách tác động của Nhà nước, kết quả đầu tư hạ tầng thủy lợi, kho chứa, cộng với sự nỗ lực và sức sáng tạo của nông dân ... đã nâng cao vị thế hạt gạo đồng bằng, đưa nó đi nhanh hơn trên con đường ngày càng tiệm cận với thị trường, làm thay đổi đáng kể phương thức sản xuất lúa, nâng cao giá trị hạt gạo ĐBSCL từ “để ăn” (an ninh lương thực) là chủ yếu sang “để bán” (xuất khẩu và tiêu thụ nội địa); từ tư duy sản xuất được nhiều lúa gạo của người nông dân sang làm ra nhiều giá trị-lợi nhuận từ lúa gạo của những “doanh nhân nông nghiệp”.
Khi sản xuất gạo liên tục tăng, vượt xa nhu cầu tiêu dùng trong nước, phần lớn sản lượng gia tăng trong 2 thập kỷ qua đã được xuất ra nước ngoài theo hai kênh: thương mại và giao dịch chính phủ (G2G). Trong đó, khoảng 1/3 sản lượng quốc gia và 70% sản lượng của ĐBSCL đã được xuất khẩu. Ở ĐBSCL đã hình thành những vùng nguyên liệu chuyên canh lúa cho xuất khẩu mà một số nghiên cứu gọi là “vành đai lúa” hay “Vùng lõi” sản xuất lúa hàng hóa, tập trung ở khoảng 30 huyện thuộc 3 tỉnh trọng điểm là An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và một phần ở các tỉnh còn lại. Theo nghiên cứu của Nhóm chuyên gia thuộc Ngân hàng Thế giới nêu trên, thì chỉ khoảng 20% người trồng lúa ở ĐBSCL đã tạo ra 63%  thặng dư sản lượng trên thị trường. Trong những năm đầu thập kỷ 2000, khoảng 40% sản lượng lúa của ĐBSCL đã được xuất khẩu. Hai năm gần đây, tỷ trọng này chiếm khoảng 65-70%. Đây quả là một thay đổi mạnh mẽ từ xu hướng “gạo ăn” sang “gạo chợ”. Xu hướng này cần được sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa, sự tiếp cận đa ngành, mà trước tiên là hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL gắn với thực hiện Tam Nông và xây dựng nông thôn mới.
Từ Con đường lúa gạo đến làm giàu
Lúa gạo, trái cây, thủy sản đồng bằng tuy đã làm nên kỳ tích, nhưng vẫn mang sức ì “4 không” (không đúng chất, không đủ lượng, không đúng thời điểm và không đạt giá cao). Nông dân cần được giải phóng bằng kiến thức của nhà kinh doanh. Họ phải được đào tạo nghề nông nghiệp, tập trung vào việc nâng cao giá trị sản xuất các ngành hàng chủ lực của vùng; đào tạo nghề phi nông nghiệp để tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn. Đó là cách thức giúp nông dân không chỉ đứng vững trên đồng ruộng mà còn có thể làm giàu từ nông nghiệp, nông thôn.
Quá trình doanh nhân hóa nông dân phải diễn ra trong không gian nông thôn đồng bằng với những đặc thù riêng. Đòi hỏi khắc nghiệt của thương trường buộc những người nông dân này chuyển đổi từ tư duy “làm ra nhiều nông sản” sang tư duy “làm ra nhiều giá trị từ nông sản”. Những người từng làm ra “chém cơm đầy” để chống đói hôm qua, nay phải biết làm ra “chén cơm ngon” để bán được giá. Thương trường là cạnh tranh, muốn cạnh tranh phải có nguồn lực và kiến thức, không chỉ kiến thức về canh tác, nuôi trồng mà còn kiến thức quản lý đồng vốn, quản trị doanh nghiệp.
Từ “Con đường lúa gạo miền Hậu Giang” trong lịch sử, từ ánh hào quang của kỳ tích hạt gạo đồng bằng trong hiện tại đến tương lai của những nông dân ĐBSCL phấn đấu làm giàu đang mở ra phía trước, nhưng không phải dễ dàng.  

Mỗi năm, 2 tỉ USD theo chân bệnh nhân xuất ngoại


TT - Mỗi năm tại VN có khoảng 40.000 bệnh nhân ra nước ngoài khám chữa bệnh. Theo chân họ có khoảng 2 tỉ USD chảy vào túi các bệnh viện nước ngoài.

Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) quy tụ đội ngũ bác sĩ có tiếng trong và ngoài nước, song chất lượng dịch vụ còn nhiều vấn đề phải bàn - Ảnh: Nam Khánh
Vì sao người bệnh có điều kiện kinh tế lại quay lưng với các bệnh viện và bác sĩ giỏi của VN để ra nước ngoài chữa bệnh? Làm sao giữ họ ở lại VN điều trị?... Đây là vấn đề đặt ra tại hội thảo "Thành tựu y học VN thời kỳ đổi mới. Người VN ưu tiên khám chữa bệnh tại VN" do Vụ Các vấn đề xã hội Ban Tuyên giáo trung ương và báo Lao Động VN phối hợp tổ chức tại TP.HCM sáng 26-1.
Chưa an tâm, tin tưởng
Nhiều ý kiến tại hội thảo cho thấy xu hướng số người dân VN có điều kiện kinh tế tìm ra nước ngoài khám chữa bệnh ngày càng nhiều vì họ chưa có hoặc mất niềm tin với dịch vụ của các cơ sở y tế trong nước. Trong khi nhiều loại bệnh các bác sĩ trong nước điều trị rất tốt, thậm chí nhiều kỹ thuật mới ở VN đã phát triển tương đương khu vực và các nước phát triển như ghép tạng, tim mạch, mắt, thẩm mỹ, nha khoa, thụ tinh ống nghiệm và một số kỹ thuật nội soi..., nhưng các bệnh nhân cũng chấp nhận khăn gói đi nước ngoài chữa bệnh.
Mở đầu hội thảo, ông Trương Quang Định - phó giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng 2 - cho rằng bệnh viện công có rất nhiều bác sĩ giỏi, còn bệnh viện tư thì có hệ thống dịch vụ rất tốt nhưng "chúng ta chưa có sự cân bằng giữa hai đơn vị này và giữa các chuyên khoa cũng phát triển chưa đồng bộ. Khi có vấn đề về sức khỏe lại phải chuyển bệnh viện khác. Sự không đồng bộ này đã làm cho bệnh nhân không an tâm khi điều trị". Trong khi đó, ông Nguyễn Thi Hùng - giám đốc Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - kể có bệnh nhân được hội chẩn, chuẩn bị mọi thứ xong xuôi để mổ, nhưng "sáng hôm sau họ đã đi Singapore mất".
PGS.TS Võ Văn Thành - chủ tịch Hội Cột sống TP.HCM - nói mỗi ngày tại VN có hàng trăm bệnh nhân đi Singapore, Thái Lan và các nước khác khám chữa bệnh. Những người đi nước ngoài hầu hết là các "đại gia", VIP. Các bệnh nhân này muốn được tiếp đãi ân cần, chỗ điều trị lịch sự, kín đáo để xứng đáng với đẳng cấp và đồng tiền họ bỏ ra, chứ không chỉ cần chuyên môn giỏi.
PGS Thành kể có bệnh nhân khi đến Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP.HCM gặp ông để điều trị nhưng khi thấy bệnh viện quá tải nặng nề đã phải "tháo chạy". Họ bỏ đi và còn nói với ông rằng dù chuyên môn của các bác sĩ có giỏi cách mấy nhưng bệnh viện quá tải, xô bồ, bát nháo, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, xuống cấp thì họ phải đi nước ngoài, mà gần nhất là Singapore.
Ông Nguyễn Đình Phú - phó giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115 - cho hay bệnh viện đã thực hiện được 21 kỹ thuật cao, phẫu thuật được nhiều bệnh lý khó nhưng chưa thu hút được người có điều kiện kinh tế đến điều trị. Ông Phú khẳng định không chỉ trình độ của các bác sĩ VN rất giỏi mà chi phí điều trị, phẫu thuật cũng rất rẻ.
Ông Phú cũng chứng minh và so sánh giá của 19 loại kỹ thuật chuyên khoa của Bệnh viện Nhân dân 115 rẻ hơn so với bệnh viện ở Singapore. Đơn cử như ghép thận, bệnh viện VN thực hiện chỉ khoảng 186-200 triệu đồng, nhưng ở Singapore từ 765 triệu đến 1,6 tỉ đồng; phẫu thuật đóng lỗ liên thất bằng DSA ở bệnh viện khoảng 45-60 triệu đồng nhưng ở Singapore là 320 triệu đồng... Thế nhưng nhiều bệnh nhân cũng khăn gói đi nước ngoài.
Người nghèo cũng ráng gom tiền đi
Ở lĩnh vực thẩm mỹ, ông Lê Hành, chủ tịch Hội Phẫu thuật tạo hình - thẩm mỹ, nói VN đang cạnh tranh khốc liệt với Thái Lan, Hàn Quốc và Singapore. Người dân ra nước ngoài làm đẹp không phải chỉ toàn người giàu mà cả người trung bình, người nghèo cũng ráng gom tiền để đi. "Điều đáng nói là giá phẫu thuật thẩm mỹ ở Thái Lan chỉ bằng hoặc thấp hơn VN nhưng dịch vụ họ lại hơn hẳn. Chúng tôi thật sự khắc khoải vì chúng ta thất thoát số ngoại tệ quá lớn trong khi không phải cứ đi nước ngoài là có lợi. Có những bệnh nhân khi có biến chứng thì không có tiền trở lại nước ngoài điều trị" - ông Lê Hành cho biết.
Ở góc nhìn khác, ông Phan Thanh Hải - giám đốc Trung tâm chẩn đoán y khoa Medic - cho rằng vấn đề cốt lõi của việc người bệnh VN đổ ra nước ngoài chữa bệnh là hệ quả chính sách y tế chưa hợp lý của VN. Cụ thể là Nhà nước có nhiều ưu đãi cho các bệnh viện công, còn y tế tư nhân bị xem nhẹ. Theo ông Hải, không thể dùng chính sách để cấm người có tiền đi ra nước ngoài điều trị, cũng không thể giới hạn số ngoại tệ đem đi nước ngoài để giữ chân người bệnh ở lại VN.
Thực tế, khi Thái Lan, Singapore bỏ visa thì "người bệnh VN tràn về Thái Lan, Singapore". Ông Hải còn kể: "Tôi hỏi một bệnh nhân sao họ đi Singapore thì họ nói ở VN chụp CT động mạch vành chỉ có 64 lớp cắt, còn ở Singapore máy của họ tới 640 lớp cắt". Nghe vậy ông đã quyết đầu tư máy CT 640 lớp cắt để hi vọng những bệnh nhân khác sẽ không bỏ đi nước ngoài và nộp đơn xin giảm 50% thuế nhập khẩu nhưng ba tháng không ai trả lời. "Không có chính sách giúp đỡ để chúng ta có sức mạnh giữ bệnh nhân ở lại thì chúng ta phải thua thôi", ông Hải chua xót nói.
Đại diện Bệnh viện FV cho rằng sở dĩ nhiều bệnh nhân quay lưng với bệnh viện trong nước vì "chính chúng ta đang làm mất niềm tin với bệnh nhân về sự an toàn cho họ". Ngoài ra, nhiều bệnh viện còn chưa quan tâm đến kỹ năng mềm, chưa quan tâm phát triển hệ thống dịch vụ đi kèm như phiên dịch, vận chuyển bệnh nhân, nơi ăn chốn ở. Các bệnh viện còn hoạt động độc lập, chưa gắn kết với các công ty vận chuyển, tổ chức dịch vụ khác.
Giải pháp "cốt lõi"
Giải pháp được ông Nguyễn Thi Hùng đề xuất là ngành y tế phải có thống kê cho biết bệnh viện nào làm được gì. Trong 40.000 bệnh nhân đi nước ngoài khám chữa bệnh mỗi năm thì tỉ lệ bệnh nhân bị bệnh gì đi nhiều nhất cần phải có thống kê, thông tin rõ ràng. Khi có thống kê rồi mới có giải pháp "giữ bệnh nhân không chạy đi nữa". Về phía các bệnh viện cũng phải đăng ký cam kết những dịch vụ đã làm được để tạo niềm tin cho người bệnh.
Ông Phan Thanh Hải khẳng định chỉ khi chính sách y tế có thay đổi thì mới có tham vọng ngăn được xu hướng ra nước ngoài điều trị của bệnh nhân. "Hệ thống y tế tư nhân VN không có khả năng làm được điều này (giữ bệnh nhân ở lại) vì manh mún nhỏ xíu, không vốn, không nhân lực, làm sao mà làm. Bệnh viện công quá tải như vậy thì làm sao bệnh nhân có tiền đến đó được. Cốt lõi để giải quyết là chủ trương, chính sách từ Chính phủ..." - ông Hải khẳng định. Còn ông Nguyễn Đình Phú đề nghị cần có cơ chế và chính sách thoáng, tạo niềm tin và mở rộng các mô hình dịch vụ cao tại các bệnh viện công lập để thu hút khách nước ngoài và các đối tượng có nhu cầu phục vụ cao.
Ông Nguyễn Tấn Bỉnh - giám đốc Sở Y tế TP.HCM - nói rằng người VN đi nước ngoài khám chữa bệnh vì họ muốn khả năng những tai biến, rủi ro xảy ra với họ thấp nhất. "Phải nhìn nhận là bác sĩ VN tay nghề rất tốt, nhưng điều kiện bệnh viện hiện nay vẫn có những rủi ro nhiễm trùng bệnh viện. Tỉ lệ nhiễm trùng bệnh viện còn cao..." - ông Bỉnh nói. Kết thúc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho biết sắp tới Bộ Y tế sẽ có chủ trương, quyết sách để tận dụng được khả năng, thế mạnh của từng cơ sở y tế. Cố gắng tạo được niềm tin với người bệnh, xây dựng được hình ảnh ngành y tế VN đúng với bản chất của nó.
Ra nước ngoài chưa chắc gặp được bác sĩ giỏi
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến chia sẻ: "Ra nước ngoài tìm được bác sĩ giỏi như VN cũng không phải là dễ đâu. Cũng không thiếu những bệnh ở VN điều trị tốt nhưng ra nước ngoài lại bị tai biến, phải trở về VN chữa lại". Ông Tiến kể một bệnh nhân bị nhau tiền đạo điều trị tại Bệnh viện Phụ sản trung ương đã đi Singapore để mổ nhưng bị biến chứng rò niệu quản.
Trong khi bệnh này bác sĩ VN mổ hằng ngày. Khi bệnh nhân quay lại Singapore chữa bệnh thì bác sĩ nói sẵn sàng tiếp nhận, nhưng giá lần này đắt hơn vì kỹ thuật mổ khó hơn lần trước. Bệnh nhân này đành phải trở về VN điều trị.
LÊ THANH HÀ (báo Tuổi Trẻ)

Án lệ ở các nước - Bài 1: Cơ chế xét xử linh hoạt


Ở các nước theo truyền thống “common law” (thông luật), phán quyết của tòa thường viện dẫn các bản án tương tự trước đó để áp dụng, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào quy định sẵn có của pháp luật.

Đó là đặc trưng cơ bả của ncơ chế xét xử theo án lệ mà Việt Nam đang xem xét áp dụng.
Biểu tình chống phân biệt chủng tộc trong giáo dục ở Mỹ. Ảnh: INTERNET
LTS: TAND Tối cao vừa có quyết định ban hành đề án phát triển án lệ để chuẩn bị cho việc hình thành án lệ trong hoạt động xét xử. Đây là bước đi cụ thể đầu tiên sau bảy năm kể từ khi Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp giao nhiệm vụ cho TAND Tối cao nghiên cứu chế định này.
Pháp Luật TP.HCM xin giới thiệu một số kinh nghiệm về việc hình thành và áp dụng án lệ ở các nước.
Các luật sư ở Mỹ thường có rất nhiều việc để làm, bởi ngoài “rừng luật” mà cơ quan lập pháp ban hành ra, họ còn phải tra cứu hàng trăm ngàn án lệ được công bố từ hàng trăm năm trước để làm cơ sở bảo vệ cho thân chủ trước tòa. Tuy vậy, năm 1997, họ đã thất bại trong việc bảo vệ bà May Jones ở tòa án bang California, khi các công tố viên viện dẫn một án lệ để buộc tội bà đã làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng.
Đó có thể là một phán quyết kỳ quặc với bà Jones, bởi mọi việc bà làm chỉ đơn giản là báo cảnh sát về chuyện bà bị mất ví khi đi mua sắm ở siêu thị và mô tả nhân dạng của người đàn ông mà bà cho là thủ phạm. Điều oái oăm là chiếc ví đã được nhân viên siêu thị tìm thấy sau đó và thực tế đã không có vụ trộm cắp nào xảy ra. Bà Jones không thể nào ngờ được rằng một người phụ nữ tên Elizabeth Manley, trước đó 64 năm, cũng dính vào một vụ án tương tự và vụ án đó trở thành án lệ để xét xử những người như bà. Cả hai người đều bị cho là làm tốn kém nguồn lực của cảnh sát một cách vô ích và đẩy những người vô tội vào rủi ro pháp lý.
Án lệ ra đời như thế nào?
Mặc dù được biết đến nhiều như một đặc trưng của hệ thống pháp luật Mỹ, án lệ lại có một lịch sử dài gấp nhiều lần lịch sử nước Mỹ. Hầu hết các sử gia đều nhất trí rằng truyền thống xét xử theo án lệ đã ra đời từ những cuộc tranh luận của các thẩm phán Anh từ thế kỷ XII. Đây là những thẩm phán của tòa án Hoàng gia, đại diện cho nhà vua để đi xét xử tại các địa phương trên khắp nước Anh.


Ban đầu, các thẩm phán lưu động này xét xử theo luật pháp và tập quán riêng của địa phương nơi xảy ra vụ án, thay vì theo pháp luật của Hoàng gia. Đây là một nỗ lực của một Hoàng gia được cai trị bởi những người Norman (gốc Pháp), đã xâm lược nước Anh từ thế kỷ XI nhưng vẫn tôn trọng các truyền thống đang hiện hữu tại đây.
Vào mùa đông, các thẩm phán tạm ngừng công việc xét xử và trở về London. Tại các cung điện của thành phố này, họ thảo luận với nhau về các vụ án đã và đang được xét xử. Một điểm bất hợp lý nhanh chóng được phát hiện: Do xét xử theo luật pháp và tập quán địa phương, các vụ án như nhau tại các địa phương khác nhau cho ra đời các phán quyết khác nhau. Vô hình trung, điều này tạo ra sự bất bình đẳng giữa người dân ở các địa phương.
Hiểu được sự bất hợp lý này, các thẩm phán dần dần phân tích và chọn lọc ra các vụ án được xét xử dựa trên những lập luận hợp lý để làm khuôn mẫu xét xử cho các vụ án tương tự về sau này, không phân biệt địa phương. Điều này được duy trì trong một thời gian dài, đến mức trở thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của các thẩm phán Anh. Các án lệ dần trở thành “luật chung” được thừa nhận và áp dụng trên toàn Vương quốc Anh. Cho đến khi nước Anh trở nên hùng mạnh và thống trị thế giới trong suốt hai thế kỷ XVII-XIX, truyền thống pháp luật này cũng được “xuất khẩu” theo các chiến thuyền và thương thuyền Anh đi khắp nơi trên thế giới như Mỹ, Canada, Úc, Hong Kong, Ấn Độ... Nước Mỹ cũng thành công trong việc áp đặt truyền thống pháp luật đó ở Philippines.
Ngày nay, dưới áp lực của quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia theo truyền thống luật dân sự cũng đang tìm cách thích nghi với cơ chế xét xử theo án lệ này. Nhìn một cách tổng thể, án lệ là đặc trưng của các quốc gia theo truyền thống pháp luật “common law” (thông luật), bên cạnh một truyền thống pháp luật lớn khác là “civil law” (luật dân sự), với các nước như Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Việt Nam... Truyền thống pháp luật “civil law” hầu như không chấp nhận án lệ như một nguồn luật dùng làm căn cứ xét xử, mà dựa chủ yếu trên các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành.
Linh hoạt và thực tiễn
Trên thực tế, án lệ được coi là cách thức kịp thời và linh hoạt nhất để khắc phục các lỗ hổng của hệ thống pháp luật. Nước nào cũng có một cơ quan lập pháp làm nhiệm vụ ban hành các đạo luật, tuy nhiên dù ưu tú đến mấy, các nhà làm luật cũng không thể dự trù được hết các tình huống phát sinh trong xã hội. Sự kín kẽ của hệ thống pháp luật ở các nước theo truyền thống “civil law” phụ thuộc hoàn toàn vào các văn bản pháp luật và công dân có thể “lách” qua các lỗ hổng mà không có chế tài nào trừng phạt được.
Ở các nước theo truyền thống án lệ, việc lách luật khó khăn hơn nhiều, bởi các thẩm phán được quyền sáng tạo và giải thích pháp luật trong quá trình xét xử. Nghĩa là khi gặp phải một vụ án mà quy định của pháp luật chưa điều chỉnh đầy đủ, thường được gọi là các vấn đề giải quyết lần đầu, thẩm phán sẽ tìm cách trám lỗ hổng hoặc các điểm bất hợp lý của pháp luật bằng những phán quyết riêng của mình. Vụ án của bà Elizabeth Manley được đề cập ở đầu bài là một ví dụ.
Ở một án lệ khác, tòa án lại làm nhiệm vụ giải thích pháp luật để bảo vệ các quyền của công dân trước các cáo buộc vi phạm. Năm 1984, Gregory Lee Johnson, một người biểu tình chống chính quyền Ronald Reagan, đã đốt quốc kỳ Mỹ tại hội nghị quốc gia của Đảng Cộng hòa và bị một tòa án ở bang Texas kết án về tội xúc phạm các vật linh thiêng của nước Mỹ. Tuy vậy, đến năm 1989, Tòa án Tối cao Liên bang kết luận rằng hành vi đốt cờ của Johnson là một phần mở rộng của Tu chính án số 1 của Hiến pháp Mỹ và được cho là hợp hiến. Vụ án này trở thành án lệ và đã làm thay đổi đường lối xét xử cũng như pháp luật của các bang.
Tuy nhiên, không phải khi nào một án lệ cũng được áp dụng cho các vụ án tương tự về sau, khi các thẩm phán có cơ sở để lập luận rằng chúng đã lỗi thời và không còn hợp lý. Vụ án Brown kiện Hội đồng Giáo dục là một ví dụ điển hình.
Oliver Brown là cha của cô gái Linda Brown, một nữ sinh da đen ở bang Kansas (Mỹ). Vào thời điểm năm 1951, các trường công ở Mỹ vẫn còn phân biệt chủng tộc và buộc người da màu phải học trong những trường tách biệt với học sinh da trắng. Cô bé Linda Brown phải đi bộ gần 3 km mỗi ngày để đến trường dành cho học sinh da màu, thay vì học ở một trường tiểu học gần nhà vốn chỉ dành cho học sinh da trắng. Cha của Linda đã nhiều lần nộp đơn xin học cho con vào các trường gần nhà nhưng đều bị từ chối. Ông kiện Hội đồng Giáo dục thành phố ra tòa án bang nhưng thất bại, bởi tòa án bị buộc phải tuân theo một án lệ có từ năm 1896 (Plessy kiện Ferguson), vốn cho phép các công ty xe lửa thiết kế các toa dành riêng cho người da trắng.
Vụ án được đưa ra Tòa án Tối cao Liên bang và đến năm 1954, các thẩm phán tuyên bố sự phân biệt này vi phạm quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật theo Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp Mỹ. Điều này cũng có nghĩa là án lệ Plessy kiện Ferguson cũng bị bãi bỏ cùng với cơ chế phân biệt chủng tộc trong hệ thống giáo dục Mỹ.
HOÀNG THƯ
Kỳ tới: Trí tuệ của thẩm phán thành pháp luật
Ở các nước theo truyền thống án lệ, mỗi ngày có hàng ngàn vụ án được xét xử nhưng chỉ có rất ít vụ án trở thành án lệ và được coi là khuôn mẫu cho các vụ án tương tự về sau. Vậy một bản án như thế nào mới được công nhận là án lệ? Cách thức và thẩm quyền công nhận ấy ra sao?

Vụ kiện 55,5 triệu USD: Tòa xử sai thẩm quyền?



Tin liên quan
Có thẩm phán cho rằng việc TAND quận 1 (TP.HCM) xử sơ thẩm vụ kiện đình đám này là sai hướng dẫn của TAND Tối cao nên có khả năng bản án sẽ bị hủy...
Như Pháp Luật TP.HCM đã thông tin, vụ kiện này gây xôn xao dư luận vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng Việt Nam có vụ tranh chấp tiền thắng cược lên tới cả hơn nghìn tỉ đồng.
Tòa quận xử sơ thẩm là sai?
Một vấn đề mà nhiều bạn đọc thắc mắc là trong vụ kiện, nguyên đơn - ông Ly Sam là Việt kiều Mỹ. Mặt khác, số tiền tranh chấp quá lớn. Như vậy, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ kiện này thuộc về TAND quận 1 (tòa cấp huyện) hay TAND TP.HCM (tòa cấp tỉnh)?
Theo Chánh án TAND quận 1 Mai Xuân Bình (người giải quyết vụ án), trước đây TAND quận 1 từng đề nghị TAND TP.HCM rút hồ sơ lên giải quyết. Tuy nhiên, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của TAND quận 1 nên TAND TP.HCM đã giao tòa này tiếp tục giải quyết.
Ông Bình giải thích: Theo Điều 33 BLTTDS, tòa cấp huyện được thụ lý các tranh chấp dân sự mà không giới hạn con số tranh chấp là bao nhiêu. Đồng thời, ông Ly Sam có quốc tịch Mỹ nhưng về Việt Nam kinh doanh, được phép cư trú tại Việt Nam. Khi nộp đơn khởi kiện và trong quá trình tòa thụ lý, ông Ly Sam vẫn tạm trú tại Việt Nam. Phía bị đơn cũng được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, có trụ sở tại quận 1 nên việc tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa cấp huyện, ở đây là TAND quận 1.
Tuy nhiên, một thẩm phán Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM khẳng định việc TAND quận 1 xử sơ thẩm vụ án này là sai. Theo vị này, khoản 3 Điều 33 BLTTDS quy định tranh chấp dân sự mà “có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài” thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa cấp huyện. Nghị quyết 01/2005 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn rằng “đương sự ở nước ngoài” là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, ông Ly Sam là “đương sự ở nước ngoài” nên vụ án phải thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP.HCM.
Ông Ly Sam đang nghe phía bị đơn trình bày tại phiên tòa sơ thẩm. Ảnh: H.YẾN
Hướng dẫn khó hiểu
Từ lấn cấn trên, chúng tôi đã tìm hiểu và được biết các thẩm phán đang có những cách hiểu khác nhau về tình tiết “đương sự ở nước ngoài” để xác định thẩm quyền giải quyết án bởi hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao chưa rõ ràng.
Cụ thể, Nghị quyết 01/2005 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn “đương sự ở nước ngoài” như sau: “Đương sự là cá nhân không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam mà không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm tòa án thụ lý vụ việc dân sự; đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại tòa án”.
Như vậy, nếu theo vế thứ nhất của hướng dẫn thì chỉ cần xác định vào thời điểm tòa thụ lý vụ kiện mà đương sự (bất kể quốc tịch gì) không có mặt tại Việt Nam đều là “đương sự ở nước ngoài”. Theo phương pháp loại trừ thì ông Ly Sam tuy có thêm quốc tịch Mỹ nhưng tại thời điểm tòa thụ lý vụ kiện lại có mặt tại Việt Nam nên không phải là “đương sự ở nước ngoài”. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận 1.
Tuy nhiên, nếu theo vế thứ hai của hướng dẫn thì thẩm quyền giải quyết vụ kiện này phải thuộc về TAND TP.HCM. Bởi lẽ ông Ly Sam có hai quốc tịch (Việt Nam và Mỹ), định cư tại Mỹ, chỉ về Việt Nam kinh doanh. Mặt khác, ông có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện.
Nên để tòa TP thụ lý?
Trao đổi, nhiều chuyên gia nhận xét vụ án này rất phức tạp. Dù TAND quận 1 đã xử sơ thẩm nhưng có những tình tiết pháp lý quan trọng chưa được làm rõ. Chẳng hạn, Công ty liên doanh Đại Dương thuê một công ty tư vấn để quản lý kinh doanh máy đánh bạc tại CLB Palazzo. TAND quận 1 đưa công ty tư vấn này vào tham gia tố tụng với tư cách là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, công ty này là công ty trong nước hay nước ngoài để xác định vụ án có yếu tố nước ngoài hay không vẫn chưa rõ...
Bên cạnh vấn đề phức tạp, một số chuyên gia còn cho rằng với tính chất tranh chấp mới mẻ, số tiền tranh chấp quá lớn thì vụ kiện này nên để TAND TP.HCM xét xử sơ thẩm sẽ đảm bảo hơn.
Theo kiểm sát viên cao cấp Võ Văn Thêm (Viện Phúc thẩm III VKSND Tối cao), vụ án có những nhân chứng người nước ngoài, thời gian lưu trú tại Việt Nam có hạn. Khi họ đã rời Việt Nam, liệu tòa có thể triệu tập họ lại được không? Đồng thời, với các chứng cứ để làm rõ về máy đánh bạc, TAND quận 1 không có thẩm quyền để ủy thác tư pháp, đề nghị nhà sản xuất máy đánh bạc hay tổ chức giám định ở nước ngoài giải thích. Như vậy, xét về mặt tố tụng, nếu để TAND quận 1 xét xử sơ thẩm sẽ vướng về thẩm quyền ủy thác tư pháp. Còn xét về nội dung, TAND quận 1 cũng không thể xác minh, thu thập được chứng cứ từ nước ngoài.

Chính quyền sai hay pháp luật chưa theo kịp đời sống?




UBND tỉnh Bình Phước đang chỉ đạo UBND huyện Chơn Thành phải giải trình xung quanh 2 quyết định cho phép một công dân chuyển đổi giới tính và thay đổi hộ tịch, vì việc làm này chưa đúng trình tự luật pháp và đang gây xôn xao công luận, với những phiền toái không thể lường hết...
Chính quyền sai hay pháp luật chưa theo kịp đời sống?
Quyết định năm 2009 của UBND huyện Chơn Thành (Bình Phước) công nhận việc chuyển đổi giới tính cho Phạm Văn Hiệp thành Phạm Lê Quỳnh Trâm. Ảnh: T.L
 
Gần 39 năm khát khao thành… nữ

Hiện nay, Phạm Văn Hiệp (SN 1974) tròn 39 tuổi, thì cũng chừng đó năm, Hiệp sống khắc khoải trong trạng thái không rõ giới tính. Sinh ra ở TPHCM, nhưng gia đình Hiệp đi kinh tế mới, sinh sống ở huyện Chơn Thành, tỉnh Sông Bé (cũ), nay là tỉnh Bình Phước.
 
Mặc dù được xác định là nam giới, nhưng Hiệp lại luôn thấy mình, từ thể xác, tính cách, cho đến tâm hồn là... con gái. Giấu kín nỗi niềm, suốt nhiều năm liền, song, trong thâm tâm, Hiệp vẫn khát khao có một ngày để trở về con người thật của mình là nữ giới...

Sau khi học hết lớp 12, Hiệp thi đậu 2 trường đại học Kinh tế và Ngân hàng ở TPHCM. Qua tìm hiểu trên mạng xung quanh việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính, Hiệp quyết định sẽ thay đổi con người mình... Hiệp nỗ lực dạy thêm tại các trung tâm luyện thi ở TPHCM để kiếm tiền. Sau khi có được 25.000USD, Hiệp khăn gói sang Thái Lan...

Từ cuối năm 2006 - 2008, sau nhiều lần lên bàn mổ, trải qua nhiều công đoạn, Phạm Văn Hiệp đã hoàn toàn lột xác thành một người con gái thật sự, nếu không nói quá là... rất đẹp. Phạm Văn Hiệp chính thức đổi sang tên con gái - Phạm Lê Quỳnh Trâm - vào năm 2008. Trong thời gian này, sắc đẹp của Quỳnh Trâm đã giúp cô đạt giải tại cuộc thi dành cho những người chuyển giới ở Thái Lan - cuộc thi Tiffany Show.

Vô cùng mừng rỡ, Quỳnh Trâm trở về Việt Nam. Trớ trêu, ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất, phiền toái đầu tiên mà Quỳnh Trâm gặp là lúc làm thủ tục nhập cảnh. Hộ chiếu ghi rõ tên tuổi, hình ảnh là ... nam giới, nhưng giờ đây, hoàn toàn là nữ...

Lại phải trưng ra đủ thứ hồ sơ phẫu thuật chuyển giới, phân bua với cán bộ, bộ phận an ninh mới cho Quỳnh Trâm nhập cảnh. Chưa hết, về TPHCM, khi đi trên đường, bị cảnh sát giao thông “hỏi thăm”, yêu cầu xuất trình giấy tờ tùy thân... Quỳnh Trâm lại khốn khổ giải thích v.v... Từ những trục trặc trên, cô quyết định về địa phương - nơi cô thường trú, xin chính quyền và cơ quan chức năng cho phép được chuyển đổi giới tính, cải chính hộ tịch, họ tên...

Ngày 5/11/2009, UBND huyện Chơn Thành đã ra Quyết định số 5876/QĐ-UBND, với nội dung “cho phép Phạm Văn Hiệp được xác định lại giới tính từ nam sang nữ và đổi tên thành Phạm Lê Quỳnh Trâm”. Đây là sự thay đổi hết sức quan trọng trong cuộc đời Quỳnh Trâm. Và, Quỳnh Trâm trở thành trường hợp đầu tiên ở Việt Nam được công nhận cho chuyển đổi giới tính, sau phẫu thuật...

Suốt 3 năm qua, Quỳnh Trâm luôn trong trạng thái hạnh phúc, vì cô đã trở về con người thật của mình theo đúng nghĩa là nữ giới. Quỳnh Trâm đang nỗ lực thực hiện ước mơ trở thành một ca sĩ tại TPHCM, thì mới đây, sự cố mới xung quanh việc chuyển đổi giới tính đã làm cho Quỳnh Trâm rơi vào tình thế... tréo ngoe, không giống ai.

Bộ Tư pháp yêu cầu giải trình

Ngày 22/1/2013, Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước cho biết: Việc UBND huyện Chơn Thành ra hai Quyết định số 5876/QĐ-UBND ngày 5/9/2011 và Quyết định 5877/QĐ-UBND ngày 6/11/2009, về việc xác định lại giới tính, thay đổi hộ tịch của anh Phạm Văn Hiệp từ nam sang nữ và đổi tên là Phạm Lê Quỳnh Trâm, là trái quy định của pháp luật. UBND huyện Chơn Thành có thẩm quyền quyết định các trường hợp về giới tính; tuy nhiên, trường hợp giải quyết thay đổi giới tính đối với trường hợp của anh Phạm Văn Hiệp là sai đối tượng, không đúng với trình tự thủ tục.

Cụ thể, Nghị định 88/2008/NĐ-CP của Chính phủ nêu rõ, những đối tượng được áp dụng xác định lại giới tính là người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Nhưng trường hợp của anh Hiệp lại là một thanh niên, giới tính nam khỏe mạnh bình thường từ lúc nhỏ cho tới lớn nên không thuộc đối tượng được điều chỉnh.

Bên cạnh đó, về trình tự, thủ tục giải quyết cũng không hợp lý. Việc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Phước xác nhận hồ sơ chuyển đổi giới tính cho anh Hiệp cũng không đúng. Vì Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Phước không phải là đơn vị thực hiện chức năng thực hiện can thiệp y học (Bệnh viện Đa khoa Bình Phước không có chức năng xác định lại giới tính)...

Cũng theo Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước, hiện đơn vị này cũng đã nhận được chỉ đạo của UBND tỉnh Bình Phước về việc nhanh chóng tham mưu UBND tỉnh thu hồi và hủy bỏ hai Quyết định số 6876/QĐ-UBND ngày 5/9/2011, Quyết định 5877/QĐ-UBND ngày 6/11/2009 UBND huyện Chơn Thành về việc xác định lại giới tính, thay đổi hộ tịch của anh Phạm Văn Hiệp từ nam sang nữ và đổi tên là Phạm Lê Quỳnh Trâm. Đồng thời xử lý theo quy định những cán bộ, công chức đã trực tiếp tham mưu và giải quyết vụ việc trên.

Trong khi đó, phát biểu với PV Lao Động vào chiều 22/1, ông Võ Sá - Chủ tịch UBND huyện Chơn Thành - nói: “Do anh em ở dưới sai sót, nên mới tham mưu cho chính quyền ra quyết định công nhận chuyển đổi giới tính, thay đổi tên cho anh Hiệp. Việc làm này là không đúng quy định luật pháp. Bộ Tư pháp đã chỉ đạo tỉnh Bình Phước phải giải trình, tỉnh cũng chỉ đạo tôi làm tờ trình xung quanh trường hợp này. Tôi đã giải trình và đang chờ tỉnh chỉ đạo xử lý, thu hồi 2 quyết định trên, vì không đúng quy định của luật pháp”.

Luật sư Hồ Nguyên Lễ - Đoàn luật sư TPHCM: Luật chưa theo kịp thực tế cuộc sống

NĐ88/2008 của Chính phủ đã quy định: Người cần xác định lại giới tính phải nộp đơn đề nghị xác định lại giới tính (theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế) đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính. Trường hợp xác định lại giới tính cho người chưa đủ 16 tuổi thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải có đơn đề nghị; trường hợp xác định lại giới tính cho người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì trong đơn đề nghị phải có chữ ký của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính phải cấp giấy chứng nhận y tế sau khi đã xác định lại giới tính cho người đã được can thiệp y tế. Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào giấy chứng nhận y tế sau khi đã xác định lại giới tính sẽ có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

Như vậy, pháp luật đã quy định rõ ràng về việc xác định lại giới tính và trách nhiệm giải quyết đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính. Do đó người có khuyết tật về giới tính có quyền xác định lại giới tính và đăng ký hộ tịch theo đúng quy định pháp luật đó là nhu cầu chính đáng của họ. Trong xã hội hiện nay có không ít người như Phạm Văn Hiệp - Phạm Lê Quỳnh Trâm... Nhu cầu xin được chuyển giới là chính đáng, cần thiết... Song, vấn đề cần đặt ra ở đây là luật chưa theo kịp thực tế cuộc sống, nên không thể... Muốn vậy, chúng ta phải thay đổi luật...

Theo Đông Anh Lao Động

Chậm giao mặt bằng, bị đòi 200 tỉ đồng

TT - Thông tin về việc Bộ Giao thông vận tải (GTVT) bị nhà thầu Tokyu (Nhật Bn) đòi hỗ trợ 200 tỉ đồng liên quan tới việc chậm tiến độ tại dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) vừa được Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hồng Trường cho biết khiến nhiều người bất ngờ.
  • Thi công cầu Nhật Tân kéo dài do chậm giải phóng mặt bằng -  Ảnh: Nguyễn Khánh
  • Các trụ tháp của cầu dây văng Nhật Tân - Ảnh: T.PHÙNG
Vì sao nhà thầu đòi hỗ trợ và ai sẽ phải trả số tiền này?
Phạt vì chậm giải phóng mặt bằng
Dự án lớn
Dự án cầu Nhật Tân và đường dẫn hai đầu cầu bắc qua sông Hồng thuộc tuyến đường vành đai 2 Hà Nội nối trung tâm thành phố với sân bay Nội Bài. Đây là cây cầu điểm nhấn của tuyến đường được Chính phủ xem là con đường đối ngoại của thủ đô nên cầu Nhật Tân được thiết kế là cầu dây văng năm trụ tháp và sáu mặt phẳng, là cầu dây văng có số nhịp nhiều thứ hai thế giới chỉ sau cầu Milau ở Pháp. Dự án có tổng mức đầu tư hơn 13.626 tỉ đồng từ nguồn vốn vay ODA
của Nhật Bản (10.117 tỉ đồng), vốn đối ứng hơn 2.442 tỉ đồng và ngân sách UBND TP Hà Nội cho công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư hơn 1.066 tỉ đồng.
Gói thầu 3 xây dựng đường dẫn phía bắc của dự án xây dựng cầu Nhật Tân và đường hai đầu cầu có tổng chiều dài 4,6km được khởi công ngày 7-3-2009. Nhà thầu thi công gói thầu là Công ty Tokyu với giá trị hợp đồng (không bao gồm thuế VAT và thuế nhập khẩu) 1.838 tỉ đồng. Theo hợp đồng, việc thi công gói thầu sẽ hoàn thành sau 34 tháng kể từ ngày khởi công.
Thế nhưng đến cuối tháng 8-2011, sau hơn hai năm thi công gói thầu mới hoàn thành 36% khối lượng và sau năm lần bàn giao mặt bằng vẫn chỉ đạt 60% diện tích. Thời điểm này, ngoài 30ha đất nông nghiệp chưa bàn giao, đường điện cao thế 110kV trong phạm vi nút giao Vĩnh Ngọc vẫn chưa được di chuyển nên nhà thầu không thể tiếp tục thi công nút giao Vĩnh Ngọc, đặc biệt là phần cầu vượt Vĩnh Ngọc.
Đến tháng 3-2012, đường dây điện cao thế trên mới được gỡ khỏi công trường. Trong khi đó, hợp đồng của gói thầu 3 kết thúc tháng 2-2012. Do quá hạn hợp đồng mới giải phóng xong mặt bằng, khối lượng thi công còn nhiều nên Chính phủ đã chấp thuận đề nghị của Bộ GTVT cho gói thầu 3 được giãn tiến độ, lùi thời hạn hoàn thành vào tháng 5-2014 (chậm 27 tháng).
Bài học đắt giá
Lãnh đạo PMU 85 cho biết hợp đồng ký kết với nhà thầu Tokyu có quy định nếu bàn giao mặt bằng chậm thì nhà thầu có quyền yêu cầu bổ sung chi phí phát sinh từ phía nhà thầu do kéo dài thời gian thực hiện dự án. Vì vậy, khi gói thầu giãn tiến độ vì chậm bàn giao mặt bằng, nhà thầu Tokyu đã có văn bản yêu cầu chủ đầu tư hỗ trợ thêm 200 tỉ đồng ngoài hợp đồng cho những chi phí phát sinh do phải chờ đợi mặt bằng. Cụ thể, những chi phí phát sinh do kéo dài hợp đồng thêm 27 tháng gồm: tiền thuê văn phòng, phương tiện, chi phí kéo dài thời gian tập kết trạm biến thế, trạm trộn, tiền lương của kỹ sư...
Theo một chuyên gia trong lĩnh vực giao thông, việc nhà thầu đòi bồi hoàn thiệt hại do dự án chậm bàn giao mặt bằng hay những nguyên nhân từ chủ đầu tư là có cơ sở. Việc này cũng là bài học để cảnh tỉnh những dự án chậm trễ trong giải phóng mặt bằng. Theo vị này, các nhà thầu trong nước nhiều khi vì quan hệ, quyền lợi riêng với chủ đầu tư nên không dám đòi bồi thường khi dự án chậm do lỗi của chủ đầu tư. Nhưng với các nhà thầu nước ngoài, họ luôn căn cứ theo hợp đồng và thông lệ quốc tế để được bồi thường.
Dự án cầu Nhật Tân và đường dẫn hai đầu cầu được Chính phủ giao Bộ GTVT làm chủ đầu tư, còn UBND TP Hà Nội chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng. Nếu quy trách nhiệm bên nào bỏ tiền bồi thường cho nhà thầu vì lý do chậm bàn giao mặt bằng thì cũng đều là tiền của Nhà nước thu từ thuế của dân.

26 tháng 1, 2013

Xuất siêu “có tiếng không miếng”


Vụ thắng kiện hơn 55 triệu USD: Luật sư bên thua nói “tòa không có kinh nghiệm”

Sau khi TAND Q.1, TP.HCM tuyên án buộc Công ty liên doanh Đại Dương trả cho ông Ly Sam (60 tuổi, quốc tịch Mỹ) số tiền hơn 55 triệu USD, chiều hôm qua luật sư bào chữa cho bên bị đơn đã có cuộc tiếp xúc với báo chí.



Vụ thắng kiện hơn 55 triệu USD: Luật sư bên thua nói “tòa không có kinh nghiệm”
Luật sư của Công ty liên doanh Đại Dương tiếp xúc với báo chí chiều 8.1 - Ảnh: Lê Quang
Với tư cách bảo vệ quyền lợi cho bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty luật TNHH quốc tế Việt Nam cử 2 luật sư (LS) Ngô Thanh Tùng và Võ Hà Duyên trình bày với báo chí. Hai vị LS cho rằng “rất ngạc nhiên với quyết định của tòa” và “bản án sơ thẩm là hoàn toàn cảm tính vì tòa tự quyết định tuyên nguyên đơn thắng kiện mà không hề tham khảo ý kiến của nhà sản xuất hay các cơ quan độc lập xem trường hợp nào là trúng thưởng”. “Trong khi đây là số tiền không nhỏ mà tòa không có kinh nghiệm và không biết về lĩnh vực này, vì vậy chắc chắn chúng tôi sẽ kháng cáo”, LS Tùng nói.
Trước câu hỏi của PV Thanh Niên: “Công ty liên doanh Đại Dương sẽ thi hành án như thế nào nếu cấp phúc thẩm y án?”. Cả hai LS không trả lời thẳng, mà nói: “Chuyện đó còn quá sớm để đề cập. Nếu cấp phúc thẩm tuyên chúng tôi thua kiện thì sẽ đẩy doanh nghiệp lớn vào ngõ cụt và có thể đóng cửa ngành trò chơi có thưởng này tại Việt Nam trong thời gian tới vì đây là ngành kinh doanh đầy rủi ro, lỗi sự cố là không biết trước được”.
Ông Sam thực nhận bao nhiêu ?
Bàn về vụ kiện, LS Nguyễn Thành Công (Công ty Đông Phương Luật), cho rằng trong trường hợp án có hiệu lực pháp luật thì chưa chắc ông Ly Sam nhận được đủ số tiền hơn 55 triệu USD (gần 1.155 tỉ đồng). Để có được khoản tiền này, ông Ly Sam phải đóng 10% thuế thu nhập cá nhân và có thể tốn 3% (tối đa là 200 triệu đồng) lệ phí thi hành án trong trường hợp yêu cầu cơ quan thi hành án vào cuộc cưỡng chế bị đơn. Ngoài khoản phí này thì phí LS cũng không phải là con số nhỏ, thấp nhất cũng là 3 - 5% cộng với số tiền tạm ứng ban đầu (từ 50 - 100 triệu đồng), cao nhất cũng khoảng 20 - 30% số tiền thắng kiện.
Đặc biệt, bị đơn là một công ty liên doanh tức là loại hình trách nhiệm hữu hạn, chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn góp. Nếu vốn góp theo điều lệ công ty ít hơn số tiền ông Ly Sam thắng thì ông chỉ hưởng được nhiều lắm là bằng với số vốn góp. Nếu bị đơn không có khả năng thi hành án sẽ bị cưỡng chế phát mãi tài sản để thi hành hoặc doanh nghiệp này buộc phải tuyên bố phá sản. Trong trường hợp phá sản, các bên sẽ phải tuân thủ theo luật phá sản, việc trả nợ sẽ theo thứ tự ưu tiên.
Trong khi đó, LS Hà Hải lại cho rằng bàn về chuyện ông Ly Sam “được bao nhiêu” vào lúc này là còn quá sớm. Vì đây mới là phiên xử sơ thẩm, sẽ còn phiên xử phúc thẩm. Sau đó, còn khiếu nại giám đốc thẩm và có khi sẽ hủy án, xử lại sơ thẩm từ đầu. Như vậy, chưa biết điều gì sẽ xảy ra ở những phiên tòa kế tiếp.

Chậm thi hành án sẽ bị tính lãi 9%/năm
Trao đổi với Thanh Niên sáng cùng ngày, LS Trần Xoa (bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là ông Ly Sam) nói sẽ tiếp tục thu thập thêm chứng cứ để chuẩn bị cho phiên xử phúc thẩm vì bị đơn đã có thông tin sẽ kháng cáo.
Đối với yêu cầu tính lãi suất chậm trả cho số tiền chậm thanh toán là hơn 3,5 triệu USD bị tòa bác với lý do vượt yêu cầu khởi kiện ban đầu, LS Xoa cho rằng ngay từ đầu ông Ly Sam đã có yêu cầu này nhưng khi đó chưa đưa ra con số cụ thể vì chưa ấn định được thời hạn tòa đưa vụ án ra xét xử. “Vì vậy yêu cầu tính lãi không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Chúng tôi tính lãi suất thấp nhất 2%/năm là đã có lợi cho bị đơn. Còn trong phán quyết của tòa từ ngày án có hiệu lực, bị đơn chậm thi hành án sẽ bị tính lãi đến 9%/năm”, LS Xoa nói.