31 tháng 7, 2012

“Chiếc áo pháp lý” nào cho đảo ngọc Phú Quốc?

Trần Hiệp Thủy
Từ năm 2004, Thủ tướng đã ký Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg phê duyệt đề án quy hoạch tổng thể đảo Phú Quốc; năm 2010 ban hành Quyết định số 633/2010/QĐ-TTg điều chỉnh quy hoạch chung đảo Phú Quốc đến năm 2030 và hàng loạt văn bản khác đã hình thành các cơ chế chính sách đặc thù cho huyện đảo này.
Để thực thi, nhiều chuyên gia tư vấn quốc tế đã được mời lập quy hoạch, hàng ngàn tỉ đồng đã được ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng tạo ra diện mạo mới hấp dẫn hơn của đảo ngọc. Có người cho rằng, khó có cơ chế, chính sách nào tốt hơn nữa. Nhưng thực sự có phải vậy?
Thực tế cho thấy, các qui định pháp luật thiếu đồng bộ, văn bản này “đá” văn bản nọ. “Cái cần thì chưa có, cái có cũng như không, cái trông mong chưa được cụ thể hóa” nên một số “cơ chế, chính sách đặc thù” chưa đi vào cuộc sống. Có 3 việc cần quan tâm rà soát và đề xuất mới cho phù hợp. Một là, qui định mới được ban hành, nhưng chưa được thực thi. Theo BQL đầu tư phát triển đảo Phú Quốc, thì thời gian qua huyện đảo này chưa được “hưởng các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất mà Nhà nước ta ban hành” như Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg do vướng các qui định pháp luật khác có liên quan.
Tương tự, qui định “cơ chế thông thoáng về xuất nhập cảnh cho các nhà đầu tư, khách du lịch” đến Phú Quốc cũng chưa thực hiện được vì Phú Quốc chưa có cửa khẩu quốc tế, trong khi không hề có một qui định “liên thông” nào cho du khách qua cửa khẩu Tân Sơn Nhất, TPHCM. Hai là, có những qui định chung, chưa được cụ thể hóa. Thí dụ như từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã giao “Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp UBND tỉnh Kiên Giang nghiên cứu tăng quyền hạn, tổ chức, biên  chế phù hợp cho huyện đảo Phú Quốc”, nhưng mãi đến ngày 26.6.2012, bộ này mới thành lập “Tổ Biên tập đề án nghiên cứu”.
Tương tự, mặc dù Phú Quốc được hưởng cơ chế, chính sách tương tự như khu kinh tế, nhưng cho đến nay chưa có một quyết định thành lập Khu kinh tế Phú Quốc nên đã tạo ra “độ vênh” khi thực thi cụ thể. Ba là, thực tiễn đang cần tiếp tục xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù cho Phú Quốc.
Mới đây, trong chuyến làm việc tại Kiên Giang, đồng chí Lê Hồng Anh - Thường trực Ban Bí thư cho biết - sẽ đề nghị Bộ Chính trị có nghị quyết chuyên đề về Phú Quốc để tạo chuyển biến mạnh mẽ, phát triển toàn diện hơn cho huyện đảo này.
Trước đó, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng giao BCĐ Tây Nam Bộ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành trung ương đề xuất thành lập tổ công tác liên bộ để nghiên cứu cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển Phú Quốc, tham mưu xây dựng lộ trình phát triển đảo và thường xuyên phối hợp với tỉnh chỉ đạo thực hiện. Một chiếc áo pháp lý cho đảo ngọc Phú Quốc rất cần được may đo phù hợp. 

Những mái tóc lạ kỳ ở Giồng Trôm

Thứ ba 31/07/2012 11:45

Tại huyện Giồng Trôm (tỉnh Bến Tre), quê hương của Nữ tướng Nguyễn Thị Định, nơi xuất phát “Đội quân tóc dài” lừng danh trong chiến tranh chống Mỹ, đang có một chuyện lạ là nhiều người phụ nữ có mái tóc dài khác thường.
Những mái  tóc  lạ kỳ ở Giồng Trôm
Hai cụ tóc dài luôn ôm mái tóc quanh người. Ảnh: N.TR
Trùng tên với cô Ba Định 

Theo thống kê chưa đầy đủ, huyện Giồng Trôm hiện có khoảng 10 phụ nữ có mái tóc dài khác thường. Người có mái tóc dài nhất tên là Nguyễn Thị Định (76 tuổi), trùng tên với Nữ tướng Nguyễn Thị Định. Bà Định đang ở trong chùa Huệ Phước, ấp 4, xã Bình Thành, có mái tóc dài 5,3 mét. Bà Định cho biết, lúc mới 19 tuổi bà đã phát hiện mái tóc của mình dài ra bất thường.
Mỗi khi gội đầu hay cắt tỉa bớt tóc, bà đều bị bệnh nặng. Do đó, càng ngày mái tóc bà càng dài ra. Mái tóc không bình thường như bao phụ nữ tóc dài của xứ dừa Bến Tre, sợi tóc có màu ngà và xoắn cuộn lại với nhau giống như bó rơm người nông dân kết lại để đốt đồng. Từ khi mái tóc biến dạng bà cảm thấy nếp sinh hoạt ăn uống của mình cũng chuyển biến lạ. Bà không còn thích ăn thịt, cá..., mà chỉ muốn ăn rau, củ, quả và chỉ ăn “ngọ” tức là một ngày ăn một lần lúc 12 giờ trưa.

Với mái tóc quá dài, bà Định đã đặt may một cái túi vải dài để bao bọc lại và quấn quanh mình. Theo bà Định, lúc đầu mái tóc quá khổ có gây khó khăn cho sinh hoạt, đi lại, nhưng dần dần cũng quen. Tối đến, bà cuộn mái tóc lại làm gối kê đầu để ngủ. Rất lạ là gần 60 năm năm qua, mái tóc này được giữ kín trong túi vải quấn theo người. Mỗi khi tắm gội, bà phải treo tóc lên sàng. Bà cho biết, tóc chạm nước thì bà sẽ bị bệnh ngay. Tuy vậy mái tóc này vẫn óng mượt, không có mùi hôi hay chí, rận đeo bám. Hiện tại, bà  Định chỉ nặng khoảng 30kg, trong đó mái tóc nặng hơn 10kg.

90 năm không gội đầu

Bà Phạm Thị Tưởng (99 tuổi, ấp 1, xã Hưng Nhượng) có mái tóc dài 3,5 mét. Bà Tưởng hiện sống cùng một người em dâu tuổi đã lục tuần trong một cái miếu do bà con địa phương góp kính phí xây dựng. Dù đã 99 tuổi nhưng hiện nay bà vẫn đi lại bình thường, tinh thần minh mẫn. Bà nhớ  hết mọi chuyện từ thời thơ ấu đến ngày nay. Khi lên 10 tuổi, mái tóc bà dài ra và xoắn lọn lại. Bà nghĩ mái tóc là “trời cho” nên dù có gây “rắc rối” trong sinh hoạt vẫn cố chịu. Thời con gái bà lao động giỏi, hát hò hay nên được nhiều thanh niên yêu thích. Rất lạ là mỗi lần ra đường bị đàn ông “trêu chọc” là về nhà bà bị bệnh nằm liệt giường, nên không thể lập gia đình. 

Gần 90 năm qua, người phụ nữ này không thể tắm gội vì khi tắm gội tóc ướt sẽ bị bệnh. Tuy vậy sức khỏe bà rất tốt, chưa hề bị bệnh gì. Theo bà, “bí quyết” để sống thọ là ăn nhiều thực vật, nhất là các loại rau quả tự nhiên và vui vẻ với mọi người. Ông Phạm Văn Lâm, cháu kêu bà Tưởng bằng cô ruột “bật mí”: “Cô Tư tôi thời con gái rất đẹp, nết na. Cuộc đời của cô có nhiều giai thoại rất lạ. Khi cha tôi còn sống kể rằng, lúc lên 9 tuổi có một lần cô bị bệnh hôn mê, cô trăn trối với ông bà nội là giấc ngủ này con sẽ đi lên trời. Nếu qua 7 ngày mà con không tỉnh dậy thì coi như con không trở lại, nên an táng xác con.  Sau đó cô nhắm mắt thiếp đi và quả tim ngừng đập. Lạ kỳ đến ngày thứ 7 thì cô mở mắt ra, cơ thể  từ từ cử động. Gia đình rất mừng và cho uống nước đường... rồi từ từ cô tỉnh lại. Mấy chục năm qua, tuổi cao sức khỏe có suy yếu, bà lão này không ăn được cơm mà chỉ ăn rau, củ quả, mì gói... Sống trong ngôi miễu khá khang trang, bà Tưởng hằng ngày lo tu niệm và luôn khuyên dạy con cháu nên “ăn hiền ở lành” làm việc thiện để giúp người.

Còn tại  ấp 3, xã Bình Thành có bà Năm Cẩn, ấp 5 có bà Sáu Ngói cũng là những phụ nữ có mái tóc dài  trên 3 mét. Hai người phụ nữ này đều có gia đình, có con cái. Tuy nhiên hai vị này cũng chỉ có thể ăn “chay trường” (ăn rau, củ, quả) để sống. Riêng bà Sáu Ngói thì đang  sống một mình trong một tịnh xá. Mái tóc của họ cũng phải giấu kín trong bao vải và không được tắm gội. Tuy vậy sức khỏe các bà vẫn tốt, sống trường thọ.
Nhật Trường (Báo Lao Động)

26 tháng 7, 2012

Đầu tư hạ tầng giao thông ĐBSCL: Giải bài toán kinh phí như thế nào?

Bài trên báo LAO ĐỘNG ngày 26-7-2012
Hữu Hiệp
Hạ tầng giao thông là 1 trong 3 khâu đột phá của vùng ĐBSCL, thời gian qua luôn được quan tâm đầu tư “đi trước một bước”.
Nhu cầu đầu tư lớn
Sân bay quốc tế Phú Quốc đang gấp rút thi công để khánh thành cuối năm 2012
Hệ thống giao thông huyết mạch, nhiều cầu vượt sông lớn giảm ách tắc giao thông liên vùng, liên tỉnh; nhiều công trình trọng điểm của vùng đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng như: Dự án nâng cấp, mở rộng QL1 từ TPHCM - Năm Căn, đường cao tốc TPHCM - Trung Lương, tuyến Nam Sông Hậu, Quản Lộ - Phụng Hiệp, đường nối Cần Thơ - Vị Thanh, QL 61, 91B và nhiều tuyến quốc lộ; cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu, cầu Đầm Cùng... Một số công trình được triển khai sớm hơn so với kế hoạch đề ra như cầu Cổ Chiên, cầu Hàm Luông đã phát huy tác dụng. Các công trình quan trọng như đường Hồ Chí Minh giai đoạn II, đường hành lang ven biển phía Tây Nam cũng được khởi công. Về hàng không, đã hoàn thành xây dựng sân bay quốc tế Cần Thơ, nâng cấp 2 sân bay Rạch Giá, Cà Mau; cuối năm 2012 đưa vào sử dụng sân bay quốc tế Phú Quốc mới. Về đường thủy, đã hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thủy TP HCM - Kiên Lương và TPHCM - Cà Mau; đã khởi công nâng cấp tuyến vận tải thủy từ TPHCM qua Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đến Hà Tiên và TPHCM - kênh Chợ Gạo - Chợ Lách - Mang Thít - Đại Ngãi - Bạc Liêu. Hoàn thành cảng An Thới, cảng Cái Cui; ... 
Tuy nhiên, hạ tầng giao thông (HTGT), nhất là GT liên vùng, GT kinh tế vẫn là “điểm yếu” của ĐBSCL. Nhiều công trình quan trọng tạo động lực phát triển vùng như tuyến cao tốc Trung Lương - Cần Thơ, cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống, tuyến nối 2 cầu Cao Lãnh và Vàm Cống, đường Hồ Chí Minh...  tiến độ thực hiện chậm so với dự kiến. Vấn đề khó hiện nay là giải bài toán kinh phí như thế nào trước nhu cầu đầu tư lớn, bức xúc?
Quyết định 638/QĐ-TTg về phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kết cấu HTGTVT vùng ĐBSCL đã xác định giai đoạn 2012-2015, toàn vùng có 56 dự án cần ưu tiên đầu tư với tổng nhu cầu vốn là 144.954 tỉ đồng. Ngành chức năng mới cân đối bố trí được 23.360 tỉ đồng, xác định được nguồn 27.226 tỉ đồng, còn đến 94.368 tỉ đồng chưa có nguồn, chiếm hơn 65% tổng nhu cầu vốn đầu tư. Trong khi đó, theo Bộ GTVT, thực hiện Nghị quyết 11, thắt chặt đầu tư công, nguồn vốn ngân sách bố trí cho GTVT ngày càng hạn hẹp, nên nhiều công trình phải giãn tiến độ đến sau 2015.
Ưu tiên liên kết vùng, khơi thông các kênh vốn
Trước tình hình đó, Bộ GTVT kiến nghị xác định danh mục theo thứ tự ưu tiên công trình trọng điểm liên kết vùng để tập trung nguồn lực đầu tư. Việc triển khai  các dự án phải sát với tình hình thực tế, gắn với ưu tiên thực hiện các dự án liên kết vùng, đồng thời phải huy động tối đa các nguồn lực. Nguồn nguồn ngân sách, cần phát hành trái phiếu Chính phủ, tạo cơ chế thông thoáng để thu hút đầu tư từ nguồn ngoài ngân sách, mở rộng nguồn vay thương mại, nhượng bán quyền thu phí...
Tại Hội nghị triển khai Quyết định 638/QĐ-TTg mới đây, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và các tỉnh, thành trong vùng đã thống nhất đề xuất của Bộ GTVT, giai đoạn 2012 - 2015 cần tập trung đầu tư cho 34 dự án trọng điểm, cấp bách với tổng nhu cầu vốn là 111.672 tỉ đồng. Trong đó, đã bố trí và xác định được nguồn vốn 47.972 tỉ đồng, chiếm 43% tổng nhu cầu và tập trung tìm nguồn 63.700 tỉ đồng để thực hiện các công trình bức xúc còn lại. Các dự án ưu tiên được xác định gồm các cầu: Cổ Chiên, Năm Căn, Cao Lãnh, Vàm Cống, Mỹ Lợi; các tuyến: Cao tốc Trung Lương - Cần Thơ; hành lang ven biển phía Nam (giai đoạn 1); QL91 đoạn Cần Thơ - Cái Sắn, Tịnh Biên - Châu Đốc; kênh Chợ Gạo; dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ĐBSCL, luồng cho tàu biển lớn vào sông Hậu; ...
Phát triển HTGT luôn là nhu cầu bức xúc của nhiều địa phương. Song, để đảm bảo tính khả thi và phát huy tác dụng các công trình, các nhà hoạch định chủ trương đầu tư cần vượt lên “tư duy hành chính tỉnh”, ưu tiên kết nối vùng, liên vùng để giải bài toán kinh phí ngành giao thông ĐBSCL.

25 tháng 7, 2012

Cơ chế đặc thù cho vùng sản xuất đặc thù


SGGP, Thứ tư, 25/07/2012, 01:40 (GMT+7)
Ai cũng biết, ĐBSCL là vựa lúa, cá tôm, trái cây của cả nước. Mức đóng góp từ các sản phẩm chủ lực này cho nền kinh tế rất lớn (chiếm gần 20% GDP quốc gia). Những năm vừa qua, khi kinh tế nước ta gặp khó khăn, chính nông sản là nguồn quan trọng, góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Thế nhưng, một điều ít ai biết là đến thời điểm này, cây lúa, con tôm, con cá, trái bưởi, trái xoài… vẫn chưa có một “chiếc áo” chính sách vừa vặn để phát triển.
Thời gian qua, nhất là từ cuối năm 2011 đến nay, các mặt hàng nông thủy sản trọng điểm tại ĐBSCL đều có những biến động thất thường về đầu ra, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu, tác động lớn đến đời sống kinh tế đất nước. Nông dân gặp không ít khó khăn, doanh nghiệp lao đao và chính quyền các địa phương trăn trở tìm giải pháp. Chính “sản xuất theo phong trào”, “mạnh ai nấy làm”, đầu tư trùng lắp, dàn trải, nhỏ lẻ, chậm phát huy hiệu quả đã dẫn đến thế mạnh các sản phẩm chủ lực của vùng là lúa gạo, trái cây, thủy sản chưa được phát huy đúng mức.
A lô, dừa khô rớt giá!

Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng này, song, theo các chuyên gia, lý do chủ yếu là việc tổ chức sản xuất nối kết với thị trường đang “có vấn đề”. Hiện trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, bình quân 1 hộ chỉ có 0,57ha đất sản xuất đã gây cản trở đầu tư lớn vào nông nghiệp. Sự manh mún còn thể hiện thông qua các quy hoạch, chủ trương đầu tư đã chia cắt chuỗi giá trị ngành hàng, không gian kinh tế vùng bị vụn ra theo từng tỉnh, thành, hay nói ví von là tư duy kinh tế tỉnh hiện nay giống kiểu kinh tế “vỏ mít” - quá nhiều mũi nhọn. Do vậy, việc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù cho vùng sản xuất đặc thù là mệnh lệnh phát triển. Hội nghị về chính sách, mô hình phát triển các sản phẩm trọng điểm vùng ĐBSCL tổ chức tại An Giang không nằm ngoài yêu cầu đó.
Tuy thế, việc lựa chọn và tính toán đối với từng sản phẩm xem ra không hề đơn giản nếu lời giải của bài toán bỏ qua liên kết vùng và vai trò điều phối chung. Do đó, cơ chế liên kết vùng ĐBSCL cần được “may đo” từ tư duy về quy hoạch phát triển. Đó là phát triển nền nông nghiệp ĐBSCL trong điều kiện cạnh tranh giành ưu thế trên thị trường nông sản thế giới; không phải là “khoanh vùng” dựa vào lợi thế tự nhiên, mà phải gắn kết lợi thế tự nhiên với chế biến và thương mại để nâng cao giá trị gia tăng, mang lại sự giàu có.
Đã có nhiều ý kiến chuyên gia về việc xây dựng các “cluster” - cụm ngành kinh tế liên hoàn trong lĩnh vực nông nghiệp mà vùng ĐBSCL có thế mạnh. Đây cũng là mô thức của các nền nông nghiệp phát triển trên thế giới nhằm gắn kết sản xuất với chế biến và tiêu thụ.
Như vậy, quy hoạch phải dựa theo sản phẩm thế mạnh của vùng, của từng tỉnh, thành với mối quan hệ gắn bó chặt chẽ ngành hàng. Những điều này đòi hỏi tổ chức lại quy trình sản xuất lúa gạo, trái cây, thủy sản của vùng theo chuỗi giá trị, từ quy trình sản xuất giống chất lượng cao cho đến khâu thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Cụ thể, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã xây dựng đề án tổng thể với 5 dự án nhằm phát triển sản xuất lúa - gạo, cây ăn trái, cá da trơn, tôm nước mặn và nâng cao thu nhập nông dân qua đào tạo nghề và cơ chế tổ chức và chính sách hợp lý thực hiện đề án. Sắp tới đây, khi có chính sách đặc thù cho lúa gạo và thủy sản, nông nghiệp ĐBSCL chắc chắn sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Về mặt cơ chế, Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt quy hoạch kinh tế - xã hội ĐBSCL đến năm 2020, xác định ĐBSCL là vùng trọng điểm về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; sản phẩm xuất khẩu chính của cả nước với hai mặt hàng chiến lược là lúa gạo và thủy sản.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng vừa có quyết định về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ĐBSCL, đồng thời nâng cao vai trò tham mưu, điều phối của Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ.
Đây chính là những điều kiện cơ bản để ĐBSCL tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế, khai thông các kênh tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực để phát triển các loại sản phẩm chủ lực, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu: “Cơ chế mới phải hạn chế tối đa bất lợi, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của cả vùng ĐBSCL”.

Trần Minh Trường

24 tháng 7, 2012

Đầu vào lên, đầu ra xuống...

Trần Hiệp Thủy
Nông sản ĐBSCL
Tuần qua, giá lúa gạo, cá tra có nhích lên, song nhìn chung từ đầu năm đến nay, nông dân (ND) ĐBSCL vẫn tiếp tục chịu cảnh “trúng mùa, mất giá”. “Đầu vào”: Vật tư, phân bón, nhiên liệu, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi thủy sản; kể cả nhân công, dịch vụ nông nghiệp đều tăng giá. Trong khi “đầu ra” nông sản (lúa, mía, trái cây, cá tra) ứ đọng, giá xuống thấp, tiêu thụ khó khăn. ND chịu chung nỗi khổ: “Đầu vào lên, đầu ra xuống”. Bị “đòn đau” nhất là dân nuôi thủy sản. Trong khi giá nguyên liệu “đầu vào” ước tăng khoảng 40% so năm trước, thì “đầu ra” con cá tra có lúc rớt xuống đáy ở mức 18.000đ/kg, nông dân “tính rợ” cũng gánh lỗ mỗi ký cá 5.000 - 7.000 đồng. Con tôm cũng chịu chung số phận, dịch bệnh gây thiệt hại, toàn vùng có hơn 37.200ha tôm nuôi chết, chiếm 98% diện tích tôm bị thiệt hại cả nước.   
Hình ảnh ví von chỉ thực trạng sản xuất nông nghiệp của ND miền Tây như “Cây đòn gánh” rất đáng suy ngẫm. Một bên đòn gánh là “nguyên liệu đầu vào”, bên kia là “đầu ra nông sản”. Cả 2 đều đang “gặp vấn đề” nên “rung, lắc” người ND trong thế bị động.
Trong các tháng đầu năm, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 2 quyết định về việc mua tạm trữ 1,5 triệu tấn gạo, tương đương khoảng 3 triệu tấn lúa vụ đông xuân và hè thu. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ NNPTNT đã công bố giá thành sản xuất lúa để làm cơ sở định giá thu mua đảm bảo “ND lãi 30%”. Không thể phủ nhận những những tác động tích cực của những giải pháp “đầu ra” đó. Nhưng, rõ ràng để tháo gỡ khó khăn cho ND, không chỉ là “đầu ra” mà phải giải quyết đồng bộ từ sản xuất đến tiêu thụ mang lại lợi nhuận bền vững. Việc tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị; các cơ chế, chính sách đồng bộ từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản chính là cách “giữ thăng bằng” để ND đi tiếp trên chặng đường phát triển.
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã giao Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp với Bộ NNPTNT, các bộ, ngành trung ương và địa phương nghiên cứu đề xuất các cơ chế chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa; hoàn thiện đề án liên kết vùng ĐBSCL. Thực tế đang cần một hệ thống các cơ chế, chính sách đồng bộ cho “tam nông”, mà trước mắt là các chính sách hỗ trợ về tín dụng, tài chính, thị trường (kéo dài thời gian cho vay, điều chỉnh điều kiện vay, cho vay thêm; miễn, giảm thuế, phí...) cho nông sản, giúp giải tỏa gánh nặng nỗi khổ “tăng đầu vào, giảm đầu ra” của ND.

19 tháng 7, 2012

Chính quyền đô thị của đồng bằng

Hữu Hiệp
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa giao 8 tỉnh, thành phố báo cáo chuyên đề nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức chính quyền đô thị (CQĐT), trình BCĐ Trung ương chậm nhất vào ngày 30.7.2012. Cần Thơ là địa phương duy nhất của ĐBSCL được chọn báo cáo và thực hiện thí điểm theo kế hoạch.

Một góc Cần Thơ
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương (CQĐP) đặt ra yêu cầu phải làm rõ sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn. Cần Thơ tuy là 1 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương, đảm nhận vai trò “trung tâm vùng”, nhưng về cơ bản “không có gì khác” so với CQĐP cấp tỉnh. Từ năm 2006, Hội thảo "Xây dựng CQĐT TPHCM - Một yêu cầu cấp thiết của cuộc sống" đã đặt vấn đề xây dựng đề án thí điểm tổ chức CQĐT. Đến năm 2011, đề án "CQĐT Đà Nẵng” cũng được hoàn tất. Tuy nhiên, xây dựng CQĐT là vấn đề khó, phức tạp và nhạy cảm, gắn với tổ chức của bộ máy nhà nước và các thiết chế trong hệ thống chính trị. Khó khăn đầu tiên là cơ sở lý luận, nền tảng pháp lý; đặc biệt là thực tiễn về chính quyền đô thị, chưa từng có tiền lệ ở nước ta. Hiến pháp năm 1992 hiện nay không có điều khoản nào phân biệt giữa “CQĐT” với chính quyền nông thôn nói riêng và CQĐP nói chung.
Theo kế hoạch, 8 địa phương sẽ nghiên cứu đề xuất 3 phương án về mô hình tổ chức CQĐT. Một là, xây dựng mô hình CQĐT theo 3 cấp hành chính như hiện nay, xác định rõ mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động mới đối với CQĐT theo hướng phân biệt với chính quyền nông thôn. Hai là, xây dựng mô hình CQĐT theo 3 cấp hành chính như hiện nay, nhưng có sự đổi mới về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động phù hợp với xu hướng tổ chức CQĐT hiện đại của các nước trên thế giới. Ba là, cải cách mạnh CQĐP, xây dựng mô hình CQĐT theo mô hình mới là chính quyền một cấp đại diện, hai cấp hành chính.
UBND TP.Cần Thơ được giao nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức CQĐT và quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của chính quyền đô thị (HĐND và UBND thành phố trực thuộc Trung ương, quận, phường và thị trấn) và chính quyền nông thôn trong CQĐT.
Một CQĐT hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của một trung tâm vùng, đô thị cửa ngõ hạ lưu sông Mêkông ra biển Đông đang là đòi hỏi cấp bách không chỉ cho Cần Thơ mà nó còn có tác động chi phối, lan tỏa cho sự phát triển của vùng ĐBSCL.

17 tháng 7, 2012

Xây cảng trung chuyển than cho đồng bằng sông Cửu Long ở đâu?


Hữu Hiệp
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa yêu cầu Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) khẩn trương chỉ đạo đơn vị tư vấn hoàn thành lựa chọn địa điểm Dự án cảng trung chuyển than khu vực ĐBSCL trong tháng 8-2012 (trước đó yêu cầu hoàn thành trong tháng 4-2012), gửi Bộ Công Thương thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 9/2012. Đây là lần thứ 2 trong vòng 3 tháng qua, lãnh đạo Chính phủ hối thúc TKV thực hiện nhiệm vụ cấp bách này.
Theo Quy hoạch điện VII, trong 20 - 30 năm tới, Việt Nam sẽ xây dựng mới nhiều nhà máy nhiệt điện sử dụng than trong nước và nhập khẩu. Tại ĐBSCL, các nhà máy nhiệt điện lớn sử dụng nhiên liệu than đã được qui hoạch, chuẩn bị đầu tư và khởi công xây dựng như Trung tâm điện lực Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), ... để đi vào hoạt động từ năm 2015 trở đi. Theo Bộ Công Thương, đến thời điểm này, nước ta sẽ phải nhập khẩu khoảng 46-77 triệu tấn than/năm và đến 2020 là 140-196 triệu tấn/năm. Chỉ riêng các trung tâm nhiệt điện ĐBSCL đã cần khoảng 13-15 triệu tấn vào năm 2015. Trong khi đó, Nhóm cảng số 6 hiện đang trong tình trạng quá tải, thiếu cảng chuyên dùng để tiếp nhận than. Theo tính toán của Bộ GTVT, việc xây dựng cảng cho tàu có trọng tải trên 10 vạn DWT tại khu vực ĐBSCL rất khó khăn. Vì vậy, việc xây dựng cảng trung chuyển than cho các trung tâm nhiệt điện là yêu cầu bức thiết đảm bảo cho các nhà máy vận hành trong tương lai.
Xây cảng trung chuyển than ở đâu là mối quan tâm của nhiều người. Nhiều vị trí đã được đề xuất như: Năm Căn (Cà Mau), Gành Hào (Bạc Liêu), Trần Đề (Sóc Trăng), Hòn Chông (Kiên Giang) … Mỗi vị trí có điểm mạnh và hạn chế nhất định. Vấn đề là cần chọn lựa phương án tối ưu dựa trên lợi ích chung mang tính “liên kết vùng”. Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, việc chọn địa điểm xây dựng cảng trung chuyển than phải được xem xét toàn diện, có cân nhắc giới thiệu của các tỉnh để nghiên cứu, so sánh. Cần thực hiện trên cơ sở tính toán đủ các chi phí liên quan đến đầu tư, vận hành của tất cả các hạng mục công trình, các quá trình vận chuyển (nội địa, quốc tế,...) để lựa chọn phương án tối ưu; đồng thời đề xuất phương thức đầu tư, các cơ chế, chính sách hỗ trợ cần thiết của Nhà nước ...
Một cảng trung chuyển than là nhu cầu cấp bách, cần được khởi động và đảm bảo vận hành cùng với tiến độ và nhu cầu sử dụng than của các nhà máy nhiệt điện than trong vùng ĐBSCL. Hy vọng một địa điểm và phương án tối ưu sẽ được đệ trình không trễ hạn sau tháng 9 năm nay.

16 tháng 7, 2012

Sùng Hưng cổ tự - Ngôi chùa lâu đời nhất trên đảo Phú Quốc

Vài lời: Lần đầu tiên đến Phú Quốc vào mùa hè năm 2004, đến nay đã 5 lần ra đảo, đủ các phương tiện: máy bay, tàu cánh ngầm và tàu chợ để có thể ngắm đảo ngọc qua nhiều góc nhìn. Phú Quốc vẫn đẹp và đầy hấp dẫn với biển trời bao la, màu xanh ngút ngàn của rừng và nhiều loại đặc sản ... Lần này, dừng lại một góc Sùng Hưng cổ tự - Ngôi chùa được xếp loại cổ nhất trên đảo này.
Sùng Hưng cổ tự nằm trên đường Trần Hưng Đạo (đối diện với trung tâm Viễn Thông, gần chợ đêm Dinh Cậu Phú Quốc). Khuôn viên chùa khá rộng, gồm các công trình kiến trúc, nhà thờ tổ, tòa chính điện… Các công trình Phật sự trong chùa được làm với mái lợp ngói âm dương và tường gạch từ năm 1924.
Sùng Hưng cổ tự được xây dựng theo phong cách dân gian “trước miếu, sau chùa”. Ngay chính diện là khoảng sân rộng và vườn tỳ ni với sự góp mặt của nhiều loại cây cảnh cùng những pho tượng đắp nổi theo phong cách kiến trúc quen thuộc của Phật giáo. Trong sân chùa có tượng Quan Âm Nam Hải, kế sau là cột cờ. Bên trái nền và miếu cũ có miếu thờ bà Chúa Xứ Nương Nương, bên phải thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Hai bên chánh điện có thờ Thập Điện Diêm Vương và Ngũ Điện Diêm Vương, còn các tượng khác trên bàn thờ chính. Sau chánh điện là khu Hậu tổ và Hậu liêu. Bên hông chùa có đường lên viếng đài Phật tổ A Di Đà. Phía sau là đài Thích Ca Niết Bàn được xây dựng vào năm 1960 cùng các ngôi miếu và những hàng cây cổ thụ tỏa bóng mát sum suê…Với quy mô và kiến trúc độc đáo, từ lâu chùa Sùng Hưng cùng với đình thần Dương Đông, Dinh bà Thủy Long Thánh mẫu và Dinh Cậu đã trở thành cụm văn hóa tâm linh liên hoàn nơi đảo ngọc.

Hiện mỗi ngày có khoảng trăm khách thập phương đến Sùng Hưng cổ tự tham quan, vãn cảnh. Nhiều người dân thị trấn Dương Đông cũng thường đến đây dâng hương  trong các dịp lễ tết và thư giãn tĩnh tâm sau những giờ phút lao động căng thẳng.

theo Giang Sơn (Thanh Niên Online)

Đêm Gành Hào nhớ điệu Hoài lang

Nguyễn Đình Hòe
“Dưới trăng dòng sông trôi rất dịu dàng, như dải lụa vàng xuôi về phương đông”. Không chỉ là một dòng sông năng động trong hoạt động kinh tế xã hội, Gành Hào còn là tâm hồn của người dân vùng cực Nam Tổ quốc. Nguyễn Đình Hòe - VACNE Một khúc Gành Hào 1.Gành Hào là một dòng sông chảy qua hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu nhờ hội lưu từ các kênh Phụng Hiệp Cần Thơ, kênh xáng Cà Mau-Bạc Liêu và sông Giống Kè. Tại thành phố Cà Mau, sông sâu chừng 4m-5m, rộng chừng 100m. đến cửa Gành Hào sông rộng chừng 300m và sâu khoảng 19m. Trên toàn bộ chiều dài 55kmGành Hào là một thủy lộ năng động trong hoạt động kinh tế vùng đất cực Nam Tổ quốc, với chợ nổi, với ghe thuyền ngược xuôi, với những xóm làng trù phú hai bên sông, với cá tôm, với gạo, với trái cây,… 2. Về đêm, khi hoạt động kinh tế dần lắng dịu, Gành Hào lại như rõ nét hơn, lắng đọng sâu sắc hơn của văn hóa sông nước miền Tây. Dưới trăng, dòng sông như dải lụa vàng, trăng nghiêng xuống vạt rừng tràm, có ai đó cất lên câu “Dạ cổ hoài lang”. Làn điệu ca khúc như tiếng rì rào của dòng sông đang êm đềm chảy xuôi, như anh nhớ về em, như vợ mong nhớ chồng. Chưa ai lý giải mạch lạc là tại sao trong dân ca miền Tây thường có cái nhớ, cái thương, có cái đượm buồn man mác. Cái sâu lắng ấy khác hẳn cái rộn rã cởi mở của người miền Tây ban ngày. Thật vui và thật buồn, thật sôi nổi và thật lắng đọng, thật cởi mở và cũng thật kín đáo,…hình như đó là hai mặt tính cách không dễ nhận diện ở con người miền Tây. Hai mà một, tuy một nhưng hai. 3. Nếu như việc tìm cách lý giải cái “Hai trong Một” ấy không dễ dàng gì với người miền khác của đất nước, nhất là với người xứ Bắc, thì bạn hãy dành chút thời gian lắng nghe ca khúc “Qua gành Hào nhớ điệu Hoài lang” của Vũ Đức Sao Biển. Những gì bạn chưa hiểu về thiên nhiên và con người miền Tây, bạn có thể cảm nhận được qua ca khúc này. Lần đầu tôi nbiết đến ca khúc này qua giọng hát mộc mạc không nhạc đệm của một cô giáo trẻ khoa Du lịch của Trường Cao Đẳng kinh tế Kỹ thuật tỉnh Kiên Giang có cái tên sâu lắng như cảnh đêm trên Gành Hào: Dạ Lý. Người ca thì như lên đồng. Người nghe thì nước mắt cứ chảy hoài vào trong, làm ướt cả nụ cười. Bạc Liêu ơi... có nhớ chăng ai. thuở ấy thanh xuân trăng Gành Hào tròn như chiếc gương Giờ tóc pha sương qua Gành Hào tiễn một vầng trăng. Mời bạn đọc nhấn đúp trái chuột vào nốt nhạc xanh dưới đây để nghe ca khúc “Đêm Gành Hào nhớ điệu Hoài Lang” sáng tác của Vũ Đức Sao Biển, Ca sỹ Cẩm Ly thể hiện:


15 tháng 7, 2012

Vàm Cỏ - Sự tích anh hùng



Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm

NNVN   -Thứ Sáu, 06/07/2012, 9:37 (GMT+7)
Ông Huỳnh Thế Năng
An Giang là tỉnh có sản lượng lúa gần 3,9 triệu tấn/năm, đứng thứ nhì sau Kiên Giang và luôn có những sáng kiến mới lạ trong sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL, như: liên kết 4 nhà, cánh đồng mẫu lớn, làm giao thông nông thôn, và gần đây nhất là những khác biệt trong bộ tiêu chí xây dựng NTM. 
Ông Huỳnh Thế Năng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh An Giang trả lời phỏng vấn NNVN về những vấn đề nêu trên.
Xin ông cho biết xuất phát từ đâu An Giang luôn đưa ra được những sáng kiến hay và áp dụng khá thành công như việc liên kết 4 nhà hiện nay?
Tôi nói câu này, bạn đừng cười, vì câu trả lời rất đơn giản và có vẻ nghe rất quen thuộc nữa, đó là xuất phát từ tấm lòng đối với nông dân, nông thôn, cùng sự kiên trì và tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, hay có thể nói, đó là dám chấp nhận rủi ro của nhiều thế hệ lãnh đạo tỉnh từ trước đổi mới đến nay; và xuất phát từ những trằn trọc về trách nhiệm và mang tính kế thừa sâu sắc, tính truyền thống giữa các thế hệ nối tiếp nhau cùng chí hướng.
Nếu chúng ta nhớ lại, trong giai đoạn đổi mới, An Giang đã đóng góp những sáng kiến và thực tiễn sáng tạo nối tiếp và làm tiền đề cho nhau như chỉ thị củng cố lại tập đoàn, liên tập đoàn, HTX nông nghiệp, giao đất và tập đoàn máy về cho đơn vị kinh tế tự chủ là nông hộ; cấp giấy quyền sử dụng đất, trước Luật Đất đai 1987, loại giấy trắng có giá trị làm thế chấp để được vay tín dụng phục vụ sản xuất, rồi hình thành Ngân hàng nông nghiệp thí điểm đầu tiên cho vay nông dân, rồi triển khai hệ thống khuyến nông toàn tỉnh đầu tiên trên cả nước, thí điểm Kho bạc Nhà nước đầu tiên,…và sau đó là hệ thống toàn quốc từ mô hình của An Giang.
Lịch sử là vậy, còn hiện tại thì sao thưa ông?
Theo khung chính sách của chương trình liên kết 4 nhà, trăn trở liên tục xung quanh câu chuyện tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, một thời gian khoảng 10 năm kể từ sau Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ 2002, xung quanh việc làm sao phải trả lời câu hỏi thường trực của nông dân, làm sao Nhà nước giúp nông dân được cung ứng vật tư nông nghiệp đầu vào đầy đủ với giá cả tương đối ổn định, và chất lượng đảm bảo, và cùng với việc này là tiêu thụ sản phẩm với quyền định đoạt bán sản phẩm của nông dân ngày càng nâng cao?
Chấp nhận khẩu hiệu sáo rỗng nông dân là đồng minh chiến lược của giai cấp công nhân, lực lượng nòng cốt của Đảng, của cách mạng đến lúc nào đây, nếu không có cơ hội nào trả lời câu hỏi nêu trên một cách xác đáng?
Và vụ ĐX 2009-2010, cánh đồng mẫu lớn đầu tiên, diện tích hơn 1.000 ha ở xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang được thực hiện bởi Cty CP BVTV An Giang. Tới vụ thứ 5, HT 2012 thì Cty BVTV An Giang đã có thêm tại huyện Thoại Sơn 1 mô hình; và các mô hình tương tự của Cty CP XNK An Giang tổng diện tích đã lên đến gần 10.000 ha.
Bây giờ từ thực tế tổ chức lại sản xuất lúa theo chuỗi giá trị theo mô hình ban đầu là cánh đồng mẫu lớn, đến nay thật sự là những cánh đồng lớn, không còn lý do để tồn tại chữ "mẫu" trong nó nữa. Có thể nói mô hình bắt đầu hình thành là cả quá trình nỗ lực của lòng tin, trên cơ sở hài hoà lợi ích và chia sẻ rủi ro của những người tham gia.
Bộ mặt nông thôn An Giang đang đổi mới từng ngày
Trong thời gian tới An Giang sẽ tiếp tục đột phá vào những khâu then chốt nào nữa để giải quyết tốt hơn việc chế biến, tiêu thụ hàng hóa cho nông dân?
An Giang xác định tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp trên các sản phẩm hàng hoá chính theo chuỗi giá trị như lúa, cá tra- basa, rau màu, gọi tắt là Mô hình cánh đồng lớn là hướng đột phá chủ đạo, nhằm đáp ứng 2 điều kiện kiên quyết của Mô hình: Một là, trả lời nghiêm túc câu hỏi của bà con nông dân, làm sao Nhà nước giúp nông dân có cung ứng vật tư nông nghiệp đầu vào đầy đủ với giá cả tương đối ổn định, và chất lượng đảm bảo, và cùng với việc này là tiêu thụ sản phẩm với quyền định đoạt bán của nông dân ngày càng nâng cao? Bằng chứng là một hợp đồng cung ứng và tiêu thụ sản phẩm từ đầu vụ giữa nông dân và doanh nghiệp, nó thật sự là hợp đồng lòng tin trên cơ sở đảm bảo của điều kiện thứ hai.
Hai là, thiết lập trên thực địa cụm dịch vụ lúa gạo đồng bộ nằm gần hoặc nằm trong cánh đồng lớn hay còn gọi là vùng nguyên liệu của cụm dịch vụ lúa gạo này đủ điều kiện trả lời câu hỏi trên. Điều này còn có một ý nghĩa khác, phân biệt sự khác biệt tổ chức mô hình theo chuỗi hoặc mô hình cánh đồng lớn khác với mô hình cánh đồng lớn chung chung thiếu các điều kiện tiên quyết chỉ có thể dẫn tới sự thất tín với nông dân trong tiêu thụ sản phẩm vì không có cơ sở đảm bảo cho lòng tin và cam kết tiêu thụ sản phẩm mà gần đây báo chí thường đưa tin.
Trên cơ sở sơ kết 5 vụ tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị lúa gạo theo mô hình cánh đồng lớn của Cty CP BVTV An Giang, Cty XNK An Giang tại đồng đất An Giang,… hay có thể nói rộng ra cho những doanh nghiệp kinh doanh lương thực thực hiện nghiêm các điều kiện của Nghị định 109-CP và Quyết định 63, 65 về đầu tư 4,0 triệu tấn kho tham gia xây dựng mô hình Cánh đồng lớn, và kiên trì vận động mở rộng xu thế phát triển đúng đắn này, song song với việc kêu gọi Chính phủ và Bộ ngành liên quan có chính sách thích đáng cho các doanh nghiệp và địa phương chủ trì xây dựng và phát triển, liên tục mở rộng chuỗi giá trị đã thành công.
Song song đó, tỉnh đang tiếp tục củng cố, điều chỉnh mô hình chuỗi giá trị cá tra Tafishco, của Cty Chế biến Thủy sản Thuận An; đã sơ kết Mô hình chuỗi rau màu xã Bình Thuỷ, Khánh Hoà, huyện Châu Phú của Cty Phát triển kinh tế Duyên hải thuộc Tập đoàn Satra,…Tất cả những theo đuổi trên đây bằng lòng tin và nghị lực phi thường của Đảng bộ và chính quyền An Giang theo khung chính sách liên kết 4 nhà, bằng mô hình chuỗi giá trị là khâu đột phá hướng đến sự phát triển nông nghiệp bền vững, tạo tiền đề cho cơ hội vượt lên của ngành nông nghiệp toàn tỉnh phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao theo tinh thần Nghị quyết Tỉnh uỷ số 09-NQ/TU, ngày 27/6/2012.
Theo ông, An Giang cần có những bứt phá gì để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp?
Tôi thích câu hỏi này, nhưng nếu đặt ngược lại một chút thì hay hơn, An Giang đã nhìn thấy lợi thế của An Giang là gần như lợi thế của ĐBSCL, do vậy để bứt phá cho An Giang về thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp hay theo nghĩa rộng hơn phải tạo ra sự đồng thuận mang tính bứt phá của ĐBSCL, vấn đề này phải nên được nhìn nhận như sự bứt phá của bứt phá.
Sự thật là mấy năm gần đây lãnh đạo các tỉnh ĐBSCL qua nhiều kỳ MDEC (Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL) đã nhận ra mình là những người cùng hoàn cảnh và đang có những động lực mới trong thu hút đầu tư. Tập trung trên những mục tiêu chung để tạo ra sự bứt phá đó là: Liên kết vùng ĐBSCL để phát triển cơ sở hạ tầng chung làm động lực tháo gỡ nút thắt cho tăng trưởng nói chung, trong đó đặc biệt là thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông; và liên kết vùng tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị trên các sản phẩm hàng hoá chính cùng lợi thế, như lúa, cá tra-basa, tôm, rau màu và trái cây, từng bước ứng dụng công nghệ cao, trong đó có công nghệ quản lý chất lượng theo nhu cầu thị trường gắn với truy xuất nguồn gốc.
Cơ sở hạ tầng giao thông quan trọng là đường cho tàu lớn ra biển Đông, nghĩa là sớm thi công hoàn thành kênh Quan Chánh Bố và yêu cầu cơ bản trước mắt và lâu dài là khai thông cửa Định An cho tàu 20.000 tấn có thể qua lại trong mùa khô; cũng như xây dựng và đưa nhanh vào sử dụng cầu Cao Lãnh, Vàm Cống và tuyến cao tốc Trung Lương - Cần Thơ; sớm khởi công tuyến cao tốc Sóc Trăng - Cần Thơ - An Giang - Phnom Penh. Hoàn toàn là những đòi hỏi chung, không mang hoặc chứa đựng sự riêng tư nào cho từng tỉnh, dù trên thực tế các công trình đề xuất có đi qua tỉnh này, tỉnh nọ.
Các công trình cơ bản trên hình thành sẽ có tác động kép cho tăng trưởng ĐBSCL, giảm giá thành sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông sản hàng hoá chính và là cơ sở cho thu hút đầu tư nói chung, trong đó có thu hút đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp để tiếp tục phát huy lợi thế của ĐBSCL.
Xin cám ơn ông!

Xây dựng tiêu chí mới cho các khu kinh tế ven biển


10:03 | 06/07/2012

Kinh tế biển được xem là "trục chính" trong định hướng của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và là một trong những giải pháp cốt lõi để đưa nước ta trở thành một quốc gia giàu mạnh từ biển. Tuy nhiên, để mục tiêu trên trở thành hiện thực, trước tiên Việt Nam cần quy hoạch lại các khu kinh tế (KKT) ven biển với những tiêu chí phù hợp hơn, nhằm tạo động lực cho các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước phát triển.
IMG
                                                                                                      Ảnh: LTT
Chưa phát huy hết hiệu quả đầu tư 

Từ năm 2002, Chính phủ đã thí điểm xây dựng và hình thành hệ thống các KKT ven biển để tận dụng những lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của đất nước cũng như áp dụng thể chế và chính sách kinh tế mới nhằm huy động tối đa nguồn nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững an ninh, quốc phòng. 

Đến nay, cả nước đã có 15 KKT ven biển được thành lập, gồm 2 KKT ở vùng Đồng bằng sông Hồng; 10 KKT ở vùng Duyên hải miền Trung và 3 KKT ở Đồng bằng sông Cửu Long. Một số KKT đã cơ bản hoàn thiện kết cấu hạ tầng như Chu Lai, Dung Quất, Nghi Sơn. Lũy kế đến nay, các KKT ven biển đã thu hút được hơn 31 tỷ USD vốn FDI và gần 564 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Tổng diện tích đất đã cho thuê để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất trong KKT ven biển khoảng trên 20.000 ha, chiếm gần 40% tổng diện tích đất dành cho sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ trong KKT ven biển; trong đó có khoảng 7.000 ha đã triển khai các dự án thứ cấp.

Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển, các KKT ven biển còn tồn tại một số vấn đề bất cập như chất lượng quy hoạch chưa tốt, phát triển quá nhanh về số lượng, đầu tư phát triển còn dàn trải; cơ cấu đầu tư chưa hợp lý... Trong đó, vấn đề bất cập lớn nhất là các KKT hiện vẫn dựa chủ yếu vào ngân sách Trung ương, chưa huy động được các nguồn lực xã hội khác để đầu tư, trong khi nguồn lực của Nhà nước có hạn và phải phân bổ cho nhiều KKT. 

Về hiệu quả, hầu hết các KKT ven biển vẫn trong giai đoạn mới hình thành. Khác với KCN, KKT ven biển có diện tích lớn hơn rất nhiều lần, bao gồm cả núi, đồi, sông biển và các hoạt động xã hội, dân sinh, mặt khác các KKT ven biển được hình thành chủ yếu ở vùng duyên hải, khó khăn, xuất phát điểm thấp hơn so với nơi có các KCN rất nhiều. Ngoài ra, các KKT hình thành trên cơ sở xác định các dự án công nghiệp động lực, chủ yếu là những lĩnh vực như hoá dầu, luyện thép, điện năng, cảng biển... Đây là những dự án khổng lồ, thời gian thực hiện rất lâu, quy mô vốn lớn. Do đó, để các dự án động lực này đi vào hoạt động cần thời gian dài hơi hơn. Vì vậy, chưa có một quá trình đủ điều kiện để có thể đánh giá hiệu quả các KKT ven biển. 

Xây dựng bộ tiêu chí mới

Theo TS. Hoàng Ngọc Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), phát triển vùng ven biển nhằm tạo động lực lan tỏa, hỗ trợ phát triển vùng trung du miền núi, đồng thời tạo cơ sở cho phát triển một nền kinh tế biển vững chắc và lâu dài chính là tiền đề quan trọng cho chiến lược kinh tế biển, phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển. Từ đó đưa các vùng ven biển làm căn cứ tiến ra biển, là hậu phương hỗ trợ các hoạt động trên biển thông qua các trung tâm kinh tế hải đảo. Bởi vậy, dọc ven biển phải kiến tạo các cực phát triển mạnh (trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội...) tức là các đô thị lớn ven biển có bán kính ảnh hưởng rộng, có khả năng đối trọng với các cực phát triển lớn trong khu vực biển Đông; các hành lang kinh tế ven biển, lôi kéo không chỉ nội vùng và lân cận mà còn vào sâu nội địa và lan ra xa ngoài biển.

Theo đó, chúng ta cần lựa chọn và xác định một số KKT ven biển trong 15 KKT đã được thành lập để tập trung trong giai đoạn 2012 - 2015 gồm 5 tiêu chí cụ thể như: Có cảng biển đầu mối vận chuyển hàng hóa với quy mô, trọng tải, công suất cảng lớn, đáp ứng được nhu cầu phát triển; Cảng hàng không thuận lợi cho KKT với vị trí, khoảng cách, quy mô, mức độ thuận lợi đối với hoạt động của KKT; Dự án động lực của KKT có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực phát triển kinh tế vùng, thu hút các dự án đầu tư; Thu hút đầu tư, triển khai các dự án đầu tư vào các KKT ven biển và đóng góp của các dự án vào phát triển kinh tế địa phương. Cuối cùng là vị trí chiến lược KKT đối với phát triển vùng, có sự đóng góp của địa phương trong phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng. 

Bước đi tiếp theo, nhiều chuyên gia cho rằng, nên tổ chức lại không gian biển để chuẩn bị cho việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, theo hướng tập trung rà soát và phân loại các dự án hạ tầng phục vụ kinh tế biển, bao gồm cảng biển, KKT biển và hạ tầng kết nối. Trong đó, cần xác định rõ các dự án có tính thương mại cao nhằm thu hút đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài, các dự án có tính thương mại hạn chế để thu hút đầu tư tư nhân theo các mô hình BOT, BTO, BT, thí điểm áp dụng đầu tư theo mô hình PPP và các dự án không có tính thương mại được đầu tư từ Chính phủ. 
Nguyên Minh

Ưu tiên phát triển 5 khu kinh tế ven biển

Hà Nguyễn
(baodautu.vn) Các khu kinh tế (KKT) Chu Lai - Dung Quất (Quảng Nam, Quảng Ngãi); Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng); Nghi Sơn (Thanh Hóa); Vũng Áng (Hà Tĩnh); KKT đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới (Kiên Giang) có thể sẽ được lựa chọn là các KKT ven biển để tập trung đầu tư phát triển trong giai đoạn 2013.
Đề xuất mới nhất này, theo ông Vũ Đại Thắng, Vụ trưởng Vụ Quản lý KKT (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), được đưa ra dựa trên các tiêu chí đánh giá, lựa chọn rất cụ thể. Đó là cảng biển đầu mối vận chuyển hàng hóa; cảng hàng không thuận lợi cho các KKT; dự án động lực của KKT; thu hút đầu tư và vị trí chiến lược của KKT đối với phát triển vùng.

Mỗi KKT đều có những điều kiện, lợi thế riêng. Vì vậy, để tìm ra một bộ tiêu chí phản ánh chính xác, đầy đủ mức độ thuận lợi của từng KKT để so sánh, lựa chọn là khá khả thi. Tuy nhiên, chúng tôi đã tiến hành rà soát, đánh giá các điều kiện, lợi thế về vị trí, quy hoạch, hoạt động, cơ sở hạ tầng; các yếu tố tác động tới sự phát triển của từng KKT trong 15 KKT ven biển đã được thành lập để xây dựng bộ tiêu chí, chấm điểm một cách rất khoa học từng KKT và lựa chọn 5 (thực chất là 6, vì Chu Lai - Dung Quất là hai KKT khác nhau, nhưng đứng chung một nhóm - PV) KKT để đề xuất ưu tiên tập trung đầu tư phát triển”, ông Thắng nói.
Thực tế, chính ông Nguyễn Văn Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cũng phải thừa nhận, lựa chọn KKT nào để ưu tiên phát triển là không dễ dàng, nhưng trong điều kiện nguồn lực có hạn, thì buộc phải đưa ra các quyết định cần thiết để tránh câu chuyện đầu tư dàn trải. “Điều này sẽ tạo động lực thực sự cho các KKT trọng điểm phát triển, tạo sức lan tỏa cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của cả nước”, ông Trung nhấn mạnh.
Hiện nay, cả nước có 15 KKT ven biển. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư cho các KKT này có hạn. Từ năm 2004 đến nay, ngân sách nhà nước mới dành khoảng 4.000 tỷ đồng để phát triển các KKT này. Còn năm 2012, tổng vốn đầu tư từ ngân sách cho các KKT khoảng 2.300 tỷ đồng. “Thực tế, chúng tôi đã lựa chọn 6 KKT để ưu tiên phân bổ 65% nguồn vốn đầu tư của năm nay, 9 khu còn lại chỉ còn được sử dụng 35%”, ông Thắng nói và cho biết, từ năm 2013, ngân sách sẽ chỉ tập trung đầu tư cho những KKT được ưu tiên lựa chọn.
Điều này, tất nhiên sẽ đồng nghĩa với việc, các KKT còn lại như Đông Nam Nghệ An, Vân Phong, Vân Đồn, Nam Phú Yên… sẽ không còn được nhận vốn đầu tư từ ngân sách. Vì thế, dễ hiểu vì sao, ngay khi có thông tin này, không ít địa phương đã có những kiến nghị về việc xem xét, chấm điểm lại, cũng như bày tỏ, KKT của địa phương mình mang tính chất động lực, lan tỏa đối với kinh tế - xã hội, địa phương, cũng như toàn vùng.
Tuy nhiên, đồng tình với cách làm khoa học, với các tiêu chí cụ thể, cách chấm điểm rõ ràng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông Đan Đức Hiệp, Phó chủ tịch UBND TP. Hải Phòng cho rằng, vấn đề hiện nay không phải nằm ở chỗ KKT nào được phát triển, mà là lựa chọn KKT nào được ưu tiên để tập trung đầu tư trước.
Hiện chúng ta đang tái cơ cấu đầu tư công, nên phải sắp xếp lại, làm sao để đầu tư hiệu quả nhất”, ông Hiệp nói và cũng bày tỏ quan điểm rằng, trong cách tính điểm, cần tập trung nhiều hơn tới tác động kinh tế vùng của các KKT.
Trong khi đó, một cách thẳng thắn, chuyên gia kinh tế Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, người lâu nay có quan điểm rất quyết liệt về chuyện Việt Nam có quá nhiều KKT, cũng đã bày tỏ sự đồng tình với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong lựa chọn các KKT để tập trung đầu tư.
Con số thậm chí có thể thấp hơn, nhưng quan trọng là, phải lựa chọn cho đúng. Hơn nữa, nếu đã lựa chọn 5 KKT để ưu tiên, thì cũng phải có chiến lược riêng, có thể chế, chính sách để các KKT còn lại có thể tiếp tục kêu gọi đầu tư dựa trên tiềm năng phát triển của thị trường”, ông Thiên nói.

Khu kinh tế: Bắt đầu phân loại để đầu tư

ANH MINH

11/07/2012 09:06 (GMT+7)
Thông điệp mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra tại hội thảo lấy ý kiến cho dự thảo đề án “Rà soát, xây dựng tiêu chí lựa chọn một số khu kinh tế ven biển để tập trung đầu tư phát triển trong giai đoạn từ 2013” là việc phân loại khu kinh tế để tập trung đầu tư.


Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng bộ tiêu chí lựa chọn khu kinh tế tạm thời áp dụng trong kế hoạch năm 2012 và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.



Tiếp đó, đề án “Rà soát, xây dựng tiêu chí lựa chọn một số khu kinh tế ven biển để tập trung đầu tư phát triển trong giai đoạn từ 2013” đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo nhằm rà soát, đánh giá thực trạng các khu kinh tế ven biển, điều kiện, tiềm năng lợi thế của các khu kinh tế ven biển, từ đó đề xuất định hướng, giải pháp, tổ chức thực hiện để tập trung nguồn lực cũng như cơ chế chính sách phát triển, làm tiền đề và động lực thúc đẩy các khu kinh tế còn lại phát triển trong giai đoạn sau.
Theo ông Vũ Đại Thắng, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế thuộc bộ này, hiện nay cả nước đã có 15 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích 662.249 ha. 



Đến nay, mới chỉ có một số khu kinh tế đã hoàn thiện kết cấu hạ tầng như Chu Lai, Dung Quất, Nghi Sơn. Các khu kinh tế ven biển đã thu hút được hơn 31 tỷ USD vốn FDI và gần 564 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. 



Tổng diện tích đất đã cho thuê để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất trong khu kinh tế ven biển khoảng trên 20.000 ha, chiếm gần 40% tổng diện tích đất dành cho sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ trong khu kinh tế ven biển, trong đó có khoảng 7.000 ha đã triển khai các dự án thứ cấp.



Tuy nhiên, nhiều địa phương “trót” xin Trung ương làm khu kinh tế hiện lại không có đủ nguồn lực để đầu tư, trong khi nguồn ngân sách Trung ương lại không đủ để chi cho công tác xây dựng hạ tầng vốn đòi hỏi nguồn vốn rất lớn.



Theo bộ chỉ tiêu đã được công bố, các khu kinh tế được tập trung đầu tư trong giai đoạn 2012 – 2015 phải có vị trí chiến lược đối với phát triển vùng; có cảng biển đầu mối vận chuyển hàng hóa; cảng hàng không thuận lợi; có dự án quan trọng đóng vai trò tạo động lực phát triển kinh tế vùng.



Ngoài ra, một tiêu chí quan trọng khác chính là kết quả thu hút đầu tư, triển khai các dự án đầu tư và đóng góp của các dự án vào phát triển kinh tế địa phương.



Với các tiêu chí như vậy, trước mắt các khu kinh tế được lựa chọn tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước sẽ bao gồm khu kinh tế Chu Lai (Quảng Nam), khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi), khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng), khu kinh tế đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới (Kiên Giang), khu kinh tế Nghi Sơn (Thanh Hóa) và khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh).



Hiện đề án vẫn chỉ đang là dự thảo và Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiếp tục ghi nhận ý kiến của các tỉnh thành xung quanh vấn đề này.

VÙNG KINH TẾ TRỌNG ÐIỂM ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: Những nút thắt cần tháo gỡ


Cập nhật lúc 09:00, Thứ sáu, 13/07/2012 (GMT+7)

Cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa nhằm giảm chi phí đầu tư trong sản xuất ở ÐBSCL.  
 
Vùng kinh tế trọng điểm Ðồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) gồm bốn tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và TP Cần Thơ được thành lập với mục tiêu nhằm khai thác tối đa lợi thế của từng địa phương và toàn vùng. So với tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước, tăng trưởng GDP giai đoạn 2009-2010 của khu vực này gấp khoảng 1,2 lần; riêng thời kỳ 2011 - 2020 sẽ gấp khoảng 1,25 lần. Tuy nhiên, đã qua hơn ba năm triển khai thực hiện, vùng "tứ giác động lực" này vẫn còn những "điểm nghẽn" cần tháo gỡ.
Làm đầy cho vùng trũng
"Tứ giác động lực" Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau có tổng diện tích tự nhiên hơn 16.600 km2, chiếm 44% diện tích và hơn 36% dân số ÐBSCL. Thời gian qua, có thể thấy vùng kinh tế trọng điểm này thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trên các lĩnh vực như có hệ thống đô thị và cơ sở hạ tầng tốt nhất trong vùng; là nơi tập trung các ngành công nghiệp lớn và tiêu biểu, mang tầm quốc gia, gồm công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp khí-điện-đạm, sản xuất đường, xi-măng; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật... Tính đến đầu tháng tư năm nay, các địa phương này có 108 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 4 tỷ 780 triệu USD, chiếm hơn 45% tổng vốn đầu tư toàn vùng ÐBSCL.
Cùng với những kết quả đáng ghi nhận trên đây, cần thấy rõ một trong những điểm yếu "chí tử" là khu vực này chưa tạo ra sự tăng tốc, nâng cao năng lực cạnh tranh, chưa có nhiều sản phẩm hàm lượng chất xám cao; sử dụng tài nguyên đất đai và lao động chưa tương xứng tiềm năng, lợi thế. Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ cho rằng: Ngoài nguyên nhân điểm xuất phát thấp, hạ tầng yếu kém, việc đầu tư hỗ trợ của Trung ương (T.Ư) cho thành phố vẫn còn hạn chế và cần sự ủng hộ nhiều hơn từ các bộ, ngành. Về chủ quan, trong thời gian qua, Cần Thơ chưa khai thác được hết các tiềm năng, thế mạnh, chưa đề ra được chiến lược phát triển thật sự phù hợp...
Ngoài ra, do tập quán canh tác của nhân dân, cùng những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu ngày một rõ nét hơn, thời gian qua nền nông nghiệp của vùng phát triển còn hạn chế. Các địa phương trong vùng đều đề ra mục tiêu phát triển theo xu hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng công nghiệp, dịch vụ. Thế nhưng, hơn 20 năm qua, khu vực quan trọng này vẫn phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Sự thiếu liên kết của các địa phương trong quản lý, quy hoạch, xây dựng thương hiệu... khiến sản phẩm nông nghiệp của vùng chỉ mới dừng lại ở xuất khẩu thô, tinh chế không nhiều và tác động trực tiếp đến nông hộ sản xuất nông nghiệp.
Mặc dù có sự phát triển ở một số lĩnh vực, nhưng riêng về hạ tầng giao thông, nhiều địa phương đã ví von, ÐBSCL có hai "vùng trũng" là hạ tầng giao thông và giáo dục. Trong chỉ đạo và thực tế thời gian qua, Chính phủ dành ưu tiên đầu tư cho mạng lưới giao thông để kết nối vùng kinh tế trọng điểm ÐBSCL với vùng Ðông Nam Bộ, các vùng khác của cả nước và khu vực cũng như kết nối các đô thị lớn trong vùng. Theo ông Ngô Thịnh Ðức, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ đã xây dựng một quy hoạch, chiến lược phát triển giao thông cho vùng này. Tuy nhiên, nếu chỉ huy động nguồn vốn ngân sách thì cơ sở hạ tầng giao thông vùng kinh tế trọng điểm sẽ khó phát triển. "Khi thống nhất về quy hoạch và chiến lược cho vùng kinh tế trọng điểm, sẽ phối hợp giữa địa phương và T.Ư, vấn đề nào Chính phủ làm, Chính phủ sẽ đầu tư. Về nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn của T.Ư làm vốn mồi, thí dụ chúng ta đầu tư PPP, BOT, nhà nước sẽ tham gia vào một số lĩnh vực, còn lại sẽ huy động nguồn lực của các doanh nghiệp ở trong vùng...". Ông Ngô Thịnh Ðức nhấn mạnh.
Tận dụng lợi thế, tăng tốc cho đầu tàu kinh tế
"Tứ giác động lực" vùng ÐBSCL bước đầu đã phát huy vai trò đầu tàu kinh tế. Thế nhưng, để tạo động lực, "lôi kéo" sự phát triển nhanh hơn theo hướng bền vững cho cả vùng, đầu tàu này phải cần tăng tốc. Trong đó, cần xây dựng vùng ÐBSCL tiếp tục là vùng trọng điểm nông nghiệp, thủy sản; là một trong những trung tâm năng lượng cả nước. Trên cơ sở đó, tập trung xây dựng ÐBSCL trở thành vùng phát triển năng động về kinh tế, các mặt văn hóa, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế đất nước. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nguy cơ nước biển dâng; tập trung xây dựng xã nông thôn mới. Ðiều quan trọng nhất là các bộ, ngành và địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm cần phối hợp chặt chẽ để bảo đảm các hoạt động mang tính kết nối cao; nghiên cứu đề xuất các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi phù hợp, xây dựng các dự án có tính liên kết vùng tạo sự đột phá trong phát triển, hướng sản xuất các sản phẩm mà từng vùng có thế mạnh theo hướng tinh chế, giá trị gia tăng cao.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Ðức Phát, nhận định: Hướng mà chúng ta cần phát triển đó là phát huy lợi thế, thế mạnh của từng địa phương. Do vậy, trước hết chúng ta nên tập trung phát huy những lợi thế này như lúa, thủy sản. Mặt khác, mỗi địa phương vùng kinh tế trọng điểm cũng có lợi thế riêng cũng cần phải tập trung phát huy.
Cũng nhấn mạnh thêm rằng, điều kiện hàng đầu để phát triển nhanh là cần có một chính sách để thu hút mọi nguồn lực đầu tư cho khu vực. Nếu chỉ dựa vào nguồn ngân sách T.Ư thì ÐBSCL khó có thể tạo sự đột phá. Bởi vậy, Chính phủ cần ban hành cơ chế chính sách đặc thù riêng cho vùng kinh tế trọng điểm này. 
Song trước hết, bốn địa phương là Cần Thơ, An Giang, Cà Mau, Kiên Giang cần chủ động tăng cường hơn nữa sự liên kết, hỗ trợ, bổ sung cho nhau; đầu tư phát triển công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Ngoài ra, tiếp tục tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Trong giai đoạn hiện nay, các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm cần duy trì có hiệu quả hơn năm giải pháp của Chính phủ nhằm vượt qua khó khăn, ngăn chặn suy giảm kinh tế.
Ông Vương Bình Thạnh, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang: Trong thời gian tới, Chính phủ cần ban hành cơ chế đặc thù riêng cho vùng kinh tế trọng điểm ÐBSCL như sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách, tăng cường xây dựng một số dự án liên kết vùng, tranh thủ sự ủng hộ của bộ, ngành Trung ương trong việc kêu gọi nguồn vốn ODA... Có như vậy, việc huy động nguồn lực đầu tư cho vùng kinh tế trọng điểm mới khả thi, từ đó tạo sự phát triển cho toàn vùng.
THANH TÙNG (theo báo Nhân Dân)

Một cổ ba tròng, cá tra bế tắc

 - Cụm từ "nợ xấu" xuất hiện thời gian qua đã thách thức rất nhiều chuyên gia kinh tế. Chưa có một giải pháp khả thi nào được đưa vào áp dụng thì gần đây, Việt Nam càng đau đầu hơn khi một khía cạnh khác của "nợ xấu" đi vào báo động đỏ - "nợ xấu cá tra".


Nuôi cá tra, một cổ ba tròng
Số lượng doanh nghiệp và hộ nuôi trồng thuỷ sản tăng vọt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thị trường tiêu thụ được mở rộng cùng các ưu đãi mà cơ chế hội nhập mang lại, đặc biệt là cá tra. Giai đoạn 2007-2010, số lượng doanh nghiệp thủy sản tại ĐBSCL tăng gấp đôi so với năm 2003. Bên cạnh đó, tính riêng cá tra, tổng diện tích nuôi cá năm 2011 tăng 30ha so với năm 2010, đạt 5.430 ha.
Tuy nhiên, ước mơ kiếm được bạc, vàng từ con cá tra dường như ngày càng xa vời. Trái lại, họ còn rơi vào cảnh khó khăn chồng chất.
Đầu tiên là giá cả, chi phí đầu vào tăng vọt. Hiện chi phí thức ăn (chiếm 70% tổng chi phí nuôi cá) cho mỗi kilogram cá thu hoạch khoảng 25.000-28.000 đồng, tăng hơn 7.500 đồng so với mức giá năm 2007. Hơn thế, chất lượng thức ăn giảm đi đáng kể do quá trình DN sản xuất thức ăn chăn nuôi bớt xén. Vì lẽ đó, người dân phải bỏ ra thêm 0,15-0,3 kg thức ăn để đảm bảo chất lượng cá không thay đổi. Tính luôn các yếu tố khác như cá giống, hóa chất, thuốc và kỹ thuật chăm sóc, với mức giá tại thời điểm tháng 3/2012 thì người dân phải tốn 23.123 đồng để có một kilogram cá tra thu hoạch. Trong khi đó, giá bán cá trên thị trường đang lao dốc thê thảm. Người dân chấp nhận thua lỗ từ 5.000-7.000 đồng/kg bán ra.
Cả DN chế biến và người nuôi cá tra giờ như ngồi trên đống lửa (ảnh minh họa)

Thứ hai, hiện trạng "nợ xấu cá tra" xuất hiện và gián tiếp "dìm" người nuôi cá vốn khổ càng khổ. "Giấc mơ cá tra" đã thôi thúc các doanh nghiệp không ngại vay 80% đến 100% vốn ngân hàng để đầu tư nhằm kiếm lợi. Tuy nhiên, tình trạng nợ xấu nói chung trong nền kinh tế hiện nay buộc các ngân hàng phải thắt chặt tín dụng, nâng cao yêu cầu cho vay, khiến các doanh nghiệp cá tra "dính đòn". Nhiều DN cá tra lâm vào cảnh nợ khó trả. Chỉ riêng tại Cần Thơ, tính đến cuối 2011, dư nợ của lĩnh vực thủy sản là 6.841 tỷ đồng; đến tháng 2/2012, số dư nợ giảm nhưng vẫn ở mức 6.283 tỷ đồng. Đã có 40% doanh nghiệp cá tra đã phá sản do thiếu vốn hoạt động, số còn lại đang cố gắng thu hẹp sản xuất và hoạt động cầm chừng.
Đau đầu vẫn là người nông dân. Cá đến lứa thu hoạch giờ không biết "bơi" về đâu? Dự báo cuối năm nay, các tỉnh ĐBSCL sẽ thu hoạch 700.000 tấn cá tra. Thay vì vui mùa bội thu, họ phải lao đao tìm nơi có khả năng "ăn" hết cá.
Và cái tròng thứ ba chính là cái khó trên thị trường xuất khẩu. Thu nhập cá tra cao nhờ xuất khẩu sang 135 thị trường. Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế từ năm 2008 kéo dài, cùng với "bão" nợ công tại thị trường châu Âu khiến các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU (thị phần chiếm 47%) trở nên thận trọng và tung chiêu bài rào cản kỹ thuật. Tính pháp lý được công nhận từ chiêu trò này trở thành bài toán nan giải đối với các DN xuất khẩu cá tra Việt Nam.
Tiến thoái lưỡng nan
Dù thời gian qua, cơ quan Nhà nước đã cảnh báo và kêu gọi các đơn vị tập trung cứu doanh nghiệp, hộ gia đình nuôi và sản xuất cá tra, nhưng mọi chuyện vẫn trong vòng lẫn quẫn. Người nông dân điêu đứng trước cảnh "giữ cá không được, bán cá chẳng xong". Trước thực trạng nợ xấu, Nhà nước nghĩ tới các gói cứu trợ nhằm giúp các hộ gia đình nuôi cá tra cầm cự trong khi chờ đợi đầu ra. Tuy nhiên, khác với việc lưu trữ gạo, tiêu, điều, cà phê... , cá để quá lứa thì không bán được. Thậm chí, giá cá quá lứa dù thấp hơn bình thường 2.000-4.000 đồng/kg nhưng cũng khó bán.
Bên cạnh đó, việc giữ cá tra trong tình hình chi phí đầu vào tăng nhanh là một sự mạo hiểm "mười phần thua". Điều này càng linh nghiệm khi lãi suất cho các hộ nuôi cá tra vay đầu tư tăng chóng mặt. Nói một cách định lượng, cứ một kilogram cá tra thì người nông dân phải trả 1.880 đồng tiền lãi suất (tính đến đầu năm 2012). Trái lại, nếu chấp nhận bán cá, người nông dân gần như... mất trắng. Một phần vì thị trường nước ngoài khó xâm nhập, thị trường trong nước bế tắc đầu ra; phần khác vì các doanh nghiệp "bắt thóp" ép giá người dân, thậm chí là... quỵt nợ do làm ăn thua lỗ.
Với tình trạng hỗn độn và xô bồ hiện nay, người nuôi cá tra không chỉ trông đợi những gói cứu trợ từ... Chính phủ, mà xét về lâu dài, họ cần một lối ra. Khi cá tiêu thụ được thì đồng vốn mới xoay chuyển nhanh, cải thiện đời sống. Muốn thế, cần giải quyết yếu tố đầu vào như giảm chi phí thức ăn bằng cách liên kết với nhà máy sản xuất thức ăn... Đồng thời, nhanh chóng xử lí "nợ xấu cá tra" cũng như tăng chất lượng kỹ thuật nuôi cá. Tất cả yêu cầu một sự đồng bộ kịp thời, nhanh chóng hiệu quả trước khi "giấc mơ cá tra" thành ác mộng.
Đỗ Thiện - Đoàn Anh Thư