29 tháng 5, 2017

Truy xuất nguồn gốc cát

Trần Hữu Hiệp
TTO - Tại sao hàng gian, thực phẩm bẩn truy xuất được nơi sản xuất để xử lý, còn cát thì không? Có hay không “khoảng trống trách nhiệm” khi có sự chồng chéo giữa các bên quản lý khai thác cát để cát tặc lợi dụng?
Các vụ sạt lở bờ sông Tiền, sông Hậu nghiêm trọng xảy ra liên tục gần đây đã được nhận diện bởi thủ phạm chính là cát tặc.
Đó cũng chính là “nhân tai” bị các nhà khoa học vạch mặt trong việc làm hỏng “chiếc áo giáp phù sa” bồi lắng từ hệ thống sông chảy ra biển, vốn là vũ khí lợi hại bảo vệ vùng bờ, nay phải gánh hệ lụy 600km bờ biển ở ĐBSCL bị xói mòn.
Cát tặc không chỉ xảy ra ở vùng sông nước Cửu Long, mà đã trở nên phổ biến ở khắp các nơi trên cả nước, có lúc hoạt động ngang nhiên.

Những con số thống kê sơ bộ không khỏi làm nhiều người giật mình. Mặc dù từ cuối năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã cấm xuất khẩu cát, nhưng nhiều phi vụ lại nghiễm nhiên khoác lên mình “chiếc áo” cát nhiễm mặn từ việc tận thu do nạo vét luồng lạch, chỉ trong các năm 2013-2016 đã có khoảng 43 triệu khối cát xuất sang Singapore. Nhu cầu cát xây dựng trong nước cũng tăng nhanh, làm nóng thị trường. Nếu như thống kê nhu cầu sử dụng cát trong nước năm 2015 chỉ vào khoảng 92 triệu m3, thì ước đến năm 2020 sẽ tăng lên 130 triệu m3.
Với tốc độ khai thác và “xuất khẩu tài nguyên” như vừa qua, các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng 15 năm sau nguồn tài nguyên cát sẽ cạn kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái dưới nước vùng sông và bờ biển.
Mấy ngày nghỉ lễ vừa qua, chỉ riêng TP Cần Thơ cơ quan công an đã kiểm tra, bắt giữ 30 tàu chở cát trên sông không xuất trình được hóa đơn, chứng từ. Chắc chắn đó chỉ là một vài vụ lẻ bị phát hiện trên đường đi bằng các “tàu ngầm” nửa chìm, nửa nổi vận chuyển “cát đen” từ các điểm khai thác, mua bán trái phép đến nơi tiêu thụ.
Thủ tướng đã ban hành nhiều văn bản, chỉ đạo chấn chỉnh tình trạng khai thác cát trái phép. Nhưng vấn đề tại sao cho đến nay vấn nạn này chưa được ngăn chặn hiệu quả?

Rõ ràng đang có những “lỗ hổng” quản lý lớn cần khắc phục. Theo Luật khoáng sản, việc cấp phép thuộc chính quyền địa phương và quản lý của ngành tài nguyên - môi trường, nhưng ngành giao thông lại có quyền cho nạo vét luồng lạch.
Các nhà quản lý cũng đã nhận diện được “khoảng trống trách nhiệm” khi có sự chồng chéo giữa các bên quản lý khai thác cát nên dễ bị cát tặc lợi dụng. Vấn đề đặt ra là tại sao hàng gian, thực phẩm bẩn truy xuất được nơi sản xuất để xử lý, còn đối với cát thì không?
Câu chuyện cát tặc không chỉ đòi hỏi phải siết chặt quản lý, các biện pháp hành chính như xử phạt nghiêm, thậm chí xử lý hình sự mà cần các giải pháp đồng bộ. Khai thác cát hợp lý và khoa học sẽ góp phần khơi thông dòng chảy, hạn chế tình trạng sạt lở đất bờ sông và đáp ứng nhu cầu xây dựng.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, sản xuất vật liệu thay thế cát và áp dụng tiêu chuẩn “trách nhiệm xã hội, môi trường”, cụ thể hóa thành quy chuẩn ngành xây dựng. Quan trọng hơn, phải áp dụng tiêu chí “truy xuất nguồn gốc cát” đối với tất cả các công trình xây dựng có sử dụng vật liệu cát tự nhiên.

Yêu cầu này là bắt buộc trong đấu thầu và với các nhà thầu xây dựng. Truy xuất nguồn gốc cát sẽ tạo ra công cụ theo dõi, nhận diện và truy nguyên nguồn gốc để loại trừ, góp phần quan trọng chống cát tặc.

27 tháng 5, 2017

Xuất khẩu gạo cần “hệ điều hành” mới


Trần Hữu Hiệp
Báo Công Thương, ngày 20/05/2017
Bộ Công Thương đang chủ trì phối hợp các bộ, ngành, địa phương tổ chức tổng kết, đánh giá thực tiễn 7 năm thi hành Nghị định 109/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo để lấy ý kiến, trình ban hành Nghị định mới. Thay thế Nghị định 109 là cần thiết, nhưng vấn đề đặt ra là chỉ “chỉnh sửa” hay phải “làm mới” cho phù hợp yêu cầu, tình hình thực tế?

Một số quy định về kho chứa gạo không phù hợp cần được bãi bỏ
Điều kiện xuất khẩu gạo -“chiếc áo chật”!
Các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo cần được nhìn nhận dưới góc độ: Tại sao cần? Quá trình thực hiện đã bộc lộ những bất cập gì cần thiết phải thay đổi? Bởi, nếu thiếu công cụ quản lý hiệu quả thì ngành kinh doanh nhạy cảm như xuất khẩu gạo dễ trở nên bát nháo, nhưng “bó” quá thì gây khó khăn cho doanh nghiệp, thương nhân, tác động tiêu cực trở lại.
Không thể phủ nhận, Nghị định 109 đã có những đóng góp tích cực, góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động xuất khẩu gạo và công tác điều hành xuất khẩu có trật tự, nâng cao năng lực thương nhân khi tham gia vào ngành kinh doanh quan trọng này của đất nước.
Một thời gian dài xuất khẩu gạo lộn xộn. Nghị định đã có tác dụng sàng lọc, loại bỏ các thương nhân không có thực lực, số lượng đầu mối xuất khẩu gạo ổn định khoảng 140-150 doanh nghiệp. Qua đó, định hướng thương nhân đầu tư lâu dài phục vụ xuất khẩu gạo. Theo số liệu thống kê, đến đầu năm 2016, tổng lượng kho chứa thóc, gạo của 143 thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo đạt trên 5,34 triệu tấn, tổng công suất bóc vỏ đạt 20.731 tấn thóc/giờ, năng lực xát trắng, đánh bóng đạt 25.360 tấn gạo/giờ; năng lực sấy đạt gần 10.915 tấn thóc/giờ; giải quyết cơ bản những bất cập tồn tại nhiều năm trong việc thu mua, tiêu thụ thóc gạo, sơ chế, chế biến kịp thời sản phẩm thóc, gạo cho người nông dân, giảm tổn thất sau thu hoạch, nhất là vào thời điểm thu hoạch rộ, nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo ràng buộc có tác dụng thúc đẩy các các thương nhân thực hiện trách nhiệm liên kết sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, tiêu thụ lúa gạo.
Thế nhưng, các điều kiện về kho bãi, vùng nguyên liệu, điều kiện hợp đồng… đã trở nên hình thức hoặc trở thành rào cản đối với thương nhân. Có điều kiện được xác lập, các hợp đồng được ký kết chỉ để thỏa điều kiện theo quy định; trong khi quy định về điều kiện bộc lộ nhiều bất cập.
Thứ nhất, cách tiếp cận để định ra các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo bị “chặt khúc” theo từng tác nhân là thương nhân chứ chưa dựa trên nền tảng mối quan hệ của chuỗi giá trị lúa gạo, mà xuất khẩu chỉ là đầu ra. Buộc doanh nghiệp phải gồng mình, đầu tư từ vùng nguyên liệu, năng lực chế biến, kho chứa đến xuất khẩu, không phát huy tính chuyên môn hóa theo thế mạnh của từng doanh nghiệp rồi liên kết lại.
Thực tế, có doanh nghiệp mạnh về tổ chức sản xuất, chế biến. Có doanh nghiệp mạnh về năng lực dịch vụ xuất khẩu, kinh doanh logistics. Họ có thể tập trung đầu tư theo từng công đoạn và hợp lực theo chuỗi liên kết. Một số doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gạo đặc sản, hữu cơ với số lượng nhỏ, nhu cầu và khả năng đầu tư xây dựng kho chứa, cơ sở xay, xát thóc gạo còn hạn chế nên không đáp ứng điều kiện theo quy định như trường hợp Doanh nghiệp tư nhân Cỏ May (Đồng Tháp), Công ty CP Thương mại và Sản xuất Viễn Phú (Cà Mau). Một số thương nhân chuyên kinh doanh thương mại, mặc dù có khách hàng, thị trường; nhưng không có năng lực tài chính, vốn hoặc đất đai và nguồn nhân lực cần thiết để đầu tư vận hành kho chứa, cơ sở xay xát thóc gạo theo quy định; do đó không đáp ứng đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận.
Thứ hai, các quy định về điều kiện dựa trên quy mô số lượng, chưa coi trọng giá trị và chất lượng. Nghị định số 109 buộc thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc và có ít nhất 1 cơ sở xay, xát thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ. Trong khi doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng dịch vụ này thông qua hợp đồng mà không nhất thiết bỏ vốn đầu tư tốn kém và không hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp có thế mạnh chuyên ngành. Vị trí đặt các kho chứa hay cơ sở xay xát cũng bị “gò” theo ranh giới hành chính. Trong khi doanh nghiệp hoàn toàn có thể chọn lựa vị trí sinh lợi tốt nhất để đầu tư.
Ngoài ra, nhiều ý kiến đề nghị xem xét bãi bỏ các quy định như: Bắt buộc thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 10% số lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong 6 tháng trước đó; về đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo...
Rõ ràng, mặc dù có những đóng góp quan trọng, nhưng Nghị định 109 đang là “chiếc áo chật”, cần thay đổi.
Cần “hệ điều hành” mới
Khi những bất cập của chuỗi giá trị lúa gạo đã bộc lộ mang tính hệ thống, thì giải pháp phải được hoạch định trên cơ sở tư duy hệ thống, cách tiếp cận theo chuỗi và giải quyết tổng thể.
Cần cân đối hài hòa giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu lương thực, thực phẩm. Xây dựng cơ chế điều hành xuất khẩu gạo linh hoạt, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước là yêu cầu đặt ra từ nhiều năm nay nhưng vẫn chưa làm được. Nhà nước tham gia chuỗi giá trị lúa gạo với vai trò của một tác nhân quan trọng, hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chỉ đạo sản xuất lúa, điều tiết thị trường, xuất khẩu gạo gắn với chiến lược an ninh lương thực quốc gia.
Điều kiện mới về kinh doanh xuất khẩu gạo cần bỏ các quy định bất cập như đã nêu trên. Các điều kiện “thô” về quy mô kho chứa, cơ sở xay, xát thóc gạo, không khống chế địa bàn đầu tư xây dựng, mà cần tập trung các tiêu chí “mềm” như: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, điều kiện về an toàn thực phẩm, ưu tiên đầu tư theo hướng gạo sạch, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao... Thương nhân được xuất khẩu gạo không hạn chế về số lượng. Khi xuất khẩu chỉ cần thực hiện thông báo, thủ tục xuất khẩu thực hiện tại cơ quan hải quan để kiểm soát tối thiểu đầu ra. Cần bổ sung thêm các quy định cần thiết về liên kết xây dựng vùng nguyên liệu được tiếp cận theo chuỗi giá trị chứ không phải bằng các thủ tục hành chính, bảo đảm chất lượng gạo xuất khẩu, công tác phát triển thị trường xuất khẩu, việc ký kết các thỏa thuận về thương mại gạo với các nước.
Đã đến lúc cần hành động cho việc nhận thức lại về ngôi vị “cường quốc xuất khẩu gạo”. Xuất gạo thô vốn có giá trị gia tăng rất thấp, trong khi nhiều quốc gia kém lợi thế hơn đang chọn con đường “sáng tạo” hơn là phát triển các ngành công nghiệp sau gạo. Cách thức lập trình “hệ điều hành mới” chắc chắn quan trọng hơn nhiều những điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo được siết chặt hay nới lỏng hơn đối với thương nhân thời gian tới.
Trần Hữu Hiệp


4 tháng 5, 2017

Chạy lở, “nước đói” và sự biến dạng đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Mấy năm nay, ĐBSCL vắng bóng mùa nước nổi, thưa dần hoặc không còn cảnh chạy lũ. Nhưng nhiều người dân vùng này hiện đang rơi vào tình thế khắc nghiệt hơn, nguy hiểm hơn. Đó là cảnh nhốn nháo, bất an lo chạy lở.
Sông Tiền, sông Hậu vốn hiền hòa, bao đời mang phù sa kiến tạo đồng bằng. Nay sông mẹ như trong cơn đói nước, thiếu thức ăn phù sa, tính khí hung dữ, thất thường, tạo ra cơn cuồng phong bằng các trận sạt lở bờ sông nghiêm trọng.

Mới đây, một góc thị tứ sung túc bên bờ sông Vàm Nao, huyện Chợ Mới (An Giang) bỗng chốc biến mất trước sức mạnh thủy thần, góp thêm nỗi lo cho việc phải di dời khoảng 20.000 hộ dân sống ven sông của tỉnh An Giang.
Các vụ sạt lở xảy ra khá phổ biến, không chỉ ở tỉnh đầu nguồn sông Hậu, mà còn xuất hiện thường xuyên ở nhiều địa phương như Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp... và dọc bờ biển.
Khi sạt lở diễn ra trên diện rộng thì rõ ràng là đã có sự mất cân bằng trên toàn hệ thống. Vấn đề sạt lở ở ĐBSCL cần được tiếp cận hệ thống và nhận diện thủ phạm chính.
Nguyên nhân sạt lở được nhận diện từ những bất cập nội tại của vùng, tình trạng cát tặc lộng hành, việc khai thác, sử dụng bất hợp lý nguồn tài nguyên nước cùng các tác động tiêu cực xuyên biên giới làm thay đổi sự ổn định theo quy luật tự nhiên ngàn đời nay của sông Mekong.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, các vụ sạt lở ở vùng này đã cuốn trôi khoảng 500ha đất mỗi năm. Tình trạng sạt lở đang diễn biến phức tạp, thất thường, không theo quy luật. ĐBSCL hiện có 265 điểm sạt lở, với tổng chiều dài lên đến 450km.
Những vụ sạt lở bờ sông thường diễn ra vào mùa mưa. Tuy nhiên, những năm gần đây thì xuất hiện ngày càng nhiều và ngay giữa mùa khô mà điển hình là vụ sạt lở nghiêm trọng xảy ra ở tỉnh An Giang ngày 22-4 vừa qua.
Trong cơn đói phù sa do các quốc gia đầu nguồn Mekong chặn dòng, xây đập thủy điện, hay chuyển nước trên dòng chính như kiểu “trích máu dòng sông” mà nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy không chỉ làm mất đa dạng sinh học, giảm lượng thủy sản, mà nghiêm trọng hơn là sự sụt giảm khoảng một nửa lượng phù sa sông Mekong vốn là nguồn trầm tích kiến tạo nên và nuôi 
sống đồng bằng.
Sông Tiền, sông Hậu còn bị thêm “cú đấm hội đồng” của tội đồ “cát tặc” lộng hành và hệ thống đê bao cục bộ “mạnh ai nấy làm”. Tình trạng sử dụng nước ngầm quá mức gây lún đất và tạo ra các vết nứt bị khoét rỗng thành hố, từ đó bị tác động bởi thủy triều.
Khi mất lượng phù sa, tài nguyên cát bị vơ vét cạn kiệt, sông Tiền, sông Hậu bị bào mòn nghiêm trọng, làm thay đổi dòng chảy, lòng sông sâu hơn, tạo ra hiện tượng “nước đói”, xâm thực bờ sông.
Thiếu lượng phù sa sông Mekong còn tạo ra hiện tượng “nước biển đói” ở các cửa sông vùng ĐBSCL. Theo các chuyên gia, hiện có hơn 300km bờ biển, tức hơn phân nửa chiều dài bờ biển ĐBSCL đang sạt lở trầm trọng, mỗi năm mất khoảng 5km2 đất.
Bên cạnh việc ứng phó khẩn cấp tạm thời tình huống thiên tai do sạt lở, phải di dời, đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản người dân, đã đến lúc cần có các giải pháp căn cơ trong thế chủ động, khắc phục nguyên nhân trước nguy cơ của thiên tai và thiên tai làm biến dạng đồng bằng.
Cần vẽ bản đồ sạt lở cho đồng bằng kèm theo các giải pháp ứng phó trước mắt 
và lâu dài, mạnh tay dẹp loạn cát tặc.
Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, bố trí dân cư, tổ chức sản xuất đều phải đặt trong bối cảnh tổng thể, phải tính đến những mục tiêu ứng phó dài hạn, nhưng cũng không quên những mục tiêu trước mắt là người dân phải sống, con em phải đi học, tạo sinh kế cho người dân trong an toàn.
Tình trạng sạt lở nghiêm trọng ở ĐBSCL cần được giải quyết ngay từ các vấn đề nội tại của vùng, nhưng cũng rất cần được trợ lực bằng các định chế quốc tế như nâng cao vai trò thực chất và hiệu quả hoạt động của Ủy hội sông Mekong, kèm theo các giải pháp tăng cường ngoại giao, hợp tác song phương và đa phương để giảm thiểu các tác động tiêu cực liên quan 
đến tài nguyên nước sông Mekong.

TRẦN HỮU HIỆP