27 tháng 1, 2015

Mua lúa xuất khẩu: Do Vinafood 2 đang mất thế độc quyền?

(Đất Việt-Thị trường) - Quyền xuất khẩu gạo được nới ra, Vinafood 2 đang mất dần thế độc quyền, nếu không mua lúa trực tiếp từ nông dân thì sẽ chẳng còn việc để làm.

Thay đổi lớn nhưng....
Tổng Công ty lương thực miền Nam (Vinafood 2) vừa cho biết , thay vì mùa gạo để xuất khẩu như cách làm truyền thống từ trước  tới nay, đơn vị này sẽ mua lúa trực tiếp từ nông dân để chế biến xuất khẩu. Hiện Vinafood 2 đã phát  triển cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long với mục tiêu đưa diện tích của mô hình đến năm 2020 chiếm 20%/tổng điện tích sản xuất lúa của khu vực này.
Trao đổi với Đất Việt, chuyên gia nông nghiệp, GS.TS Võ Tòng Xuân, đánh giá cao sự thay đổi tư duy trong kinh doanh lúa gạo của Vinafood 2 bởi đây là bước đi để phát triển mô hình người xuất khẩu là người trực tiếp thu mua lúa của nông dân và người nông dân không còn chịu cảnh bị thương lái ép giá nữa.
Tuy nhiên, GS.TS Võ Tòng Xuân cho rằng, Vinafood 2 sẽ mua lúa từ các hợp tác xã chứ khó có thể đến từng thửa ruộng để thu mua. Ông cũng nêu một điều kiện, đó là thay vì ép các công ty xuất khẩu, Vinafood 2 nên để họ tự do. Vinafood 2 mua lúa của nông dân, các công ty kia cũng vậy, do đó họ cũng phải có quyền xuất khẩu chứ không phải chỉ mình Vinafood 2. 
Vinafood 2 quyết định thay đổi tư duy trong kinh doanh lúa gạo
Vinafood 2 quyết định thay đổi tư duy trong kinh doanh lúa gạo
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Văn Nam đánh giá, quyết định nói trên của Vinafood 2 là sự thay đổi rất lớn bởi từ trước tới nay, Vinafood 2 chỉ là anh cai thầu xuất khẩu gạo, không trực tiếp mua lúa của nông dân mà phải qua cả chuỗi dây trung gian.
"Tôi không hiểu Vinafood 2 sẽ mua lúa của nông dân kiểu gì khi nông dân bán lúa tươi ngay tại ruộng. Chỉ cần gặt, tuốt xong là đám hàng xay, hàng xáo đã đưa thùng, đấu đến cân, đong ngay tại ruộng rồi đưa lên thuyền chở đi. Tôi đồ rằng Vinafood 2 sẽ phải có mạng lưới chân rết xuống từng xã, từng vùng lúa để đặt mua hàng hoặc mua lại từ những doanh nghiệp bám sát với nông dân hơn", ông Nam phán đoán.
Lý giải sự chuyển hướng của Vinafood 2, vị chuyên gia chia sẻ: "Vinafood 2 thay đổi như vậy là vì xưa họ độc quyền xuất khẩu, tất cả các đơn vị mua lúa ở các tỉnh muốn xuất khẩu đều phải Vinafood 2 nên Vinafood 2 ăn chặn được. Còn bây giờ, quyền xuất khẩu đã được nới ra nhiều, nhiều công ty ở địa phương, thậm chí cả công ty ở tuyến huyện, tư nhân cũng xuất hẩu được. Vinafood 2 mất dần thế độc quyền nên nếu họ không mua lúa của nông dân thì sẽ chẳng có việc mà làm".
Nhìn lại tất cả các công đoạn sản xuất, chế biến, xuất khẩu hạt lúa, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại cho rằng, Vinafood 2 không nên tổ chức lại toàn bộ bởi như vậy sẽ cực kỳ phức tạp.
"Tôi đã đến nhiều vùng trồng lúa và bắt gặp nhiều nông dân có vốn và biết làm ăn lớn. Họ tập trung được 50-70 ha đất, đầu tư được cả máy làm đất, gieo hạt, máy sấy, quạt làm sạch thóc... Không chỉ làm dịch vụ cho nông dân, họ còn thu mua thóc của nông dân, dồn lại không bán đúng vụ mà để 1, 2 tháng sau khi giá lên mới bán. Đó là những nông dân lớn, còn nông dân chỉ có vài ba công đất, gặt đâu bán đấy thì giá trị thu về rất thấp. Cũng có những công ty lương thực làm việc làm, nhất là các công ty của huyện. Họ cũng thua mua thóc, quạt, sấy, phân loại thóc chứ không bán lúa tươi.
Ở công đoạn chế biến, Việt Nam không tập trung vào một khâu mà chia thành 2 đoạn khác nhau: một là sơ chế thóc thành gạo thành phẩm, tức chỉ bóc vỏ trấu cho ra hạt gạo con nguyên vỏ lụa bên ngoài. Công đoạn này thường tập trung theo từng huyện, mỗi huyện có một chợ gạo (như Thốt Nốt, Sa Đéc...), ở đó có 3.000-4.000 máy bóc vỏ. Công đoạn hai là đưa gạo thành phẩm về các nhà máy hiện đại ở tỉnh, làm trắng gạo, phân loại theo độ màu, độ dài của hạt gạo.
Nếu Vinafood 2 đầu tư nhà máy bóc vỏ trấu, làm trắng, phân loại gạo cực tốn kém và lãng phí. Cách tốt nhất là doanh nghiệp này nên ký hợp đồng liên doanh, liên kết với những cơ sở có sẵn ở địa phương tạo thành một chuỗi", ông Nam phân  tích.
Bán gạo sang châu Phi: Tưởng dễ ăn nhưng không đơn giản
Một thông tin khác liên quan đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam: Bộ Công thương có kế hoạch đẩy mạnh xuất gạo sang châu Phi trong bối cảnh xuất khẩu gạo sang Trung Quốc gặp khó. Theo đánh giá,châu Phi là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, gạo Việt Nam lại có giá cạnh tranh hơn các nhà cung cấp khác. Bộ Công thương hiện có kế hoạch phối hợp với chính phủ các nước châu Phi để thành lập kho quan ngoại tại Angola, Cameroon và Mozambique giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam dễ dàng tiếp cận thị trường này.
Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, thay vì để thương lái quốc tế thu mua, Việt Nam xuất khẩu gạo trực tiếp sang châu Phi sẽ được lời rất lớn vì giá gạo ở châu Phi rất đắt. Điểm thuận lợi là châu Phi không cầu kỳ về chất lượng gạo.
Dù vậy, PGS.TS Nguyễn Văn Nam cảnh báo, việc xuất khẩu gạo vào châu Phi không hề đơn giản. Ông chỉ ra một vài đặc điểm của thị trường châu Phi: "Các nước châu Phi nghèo nên chính phủ của họ đứng ra nhập gạo, thậm chí còn cấm tư nhân nhập khẩu. Thường thì các tập đoàn lớn của Mỹ, châu Âu đã bao thầu, móc ngoặc với một số chính phủ ở châu Phi để chia chác nhau nên nhập gạo gì, giá nào là họ đã thống lĩnh hết. Thứ nữa, châu Phi đang thiếu gạo nên không đòi hỏi chất lượng gạo, còn giá thì do các tập đoàn đã móc ngoặc với chính phủ rồi nên gạo chất lượng kém có thể giá lại rất đắt, cái đắt này không phải để người nông dân bán lúa được hưởng mà là để chia chác với nhau".
Ông Nam cho biết, tại một số nước châu Phi, kinh tế tư nhân phát triển đã có xuất nhập khẩu thương mại. Do đó, Việt Nam muốn vào châu Phi phải tính hai con đường: một là hợp đồng xuất khẩu gạo qua kênh chính phủ, hai là hợp đồng xuất khẩu thương mại và tốt nhất là nên phát triển con đường tiếp cận thứ hai.
"Xuất khẩu gạo sang châu Phi là một cách mở rộng thị trường và có lợi trước mắt là tiêu thụ gạo có chất lượng trung bình trở xuống của Việt Nam. Còn gạo chất lượng cao, Việt Nam vẫn phải tìm đến các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản", ông nói.
Thành Luân

Nông dân nhiều đất nhất miền Tây: Huy mía, Huy ớt, Huy bò

Ông Út Huy (Võ Quan Huy) được coi là nông dân sử dụng nhiều đất nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thậm chí cả nước, khi đang canh tác trên 580 ha đất nông nghiệp.

Lần gặp đầu tiên ở quán cà phê, ông Út Huy (Võ Quan Huy) - nông dân ở ấp Thuận Hoà, xã Hiệp Hoà, Đức Hoà, Long An - làm chúng tôi bất ngờ bởi thân hình cao, to, đen… lừng lững như con bò mộng bước ra từ chiếc Mercedes S300 màu đen. Lần gặp sau còn "choáng" hơn khi ông ôm ra một chồng sổ đỏ. Ông được coi là nông dân sử dụng nhiều đất nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thậm chí cả nước.

“Huy Bò”

Thú vị là liên tưởng của chúng tôi về hình ảnh con bò mộng trong lần gặp đầu tiên chỉ là tình cờ, nhưng không ngờ lại “ứng” với một biệt danh mà “giang hồ” đặt cho ông: “Huy bò”! Nguyên do ông Út Huy là người đầu tiên ở ĐBSCL nhập khẩu bò từ Australia về bán cho các lò mổ trong vùng. Ông bảo: “Trước đây, mỗi ngày tôi bán khoảng 500 con, bây giờ thì chỉ còn 200”. Hỏi mỗi năm thu lãi bao nhiêu, ông cười, không trả lời thẳng mà nháy mắt, nói: “Năm ngoái, tôi nộp thuế nhập khẩu từ kinh doanh bò cho tỉnh Long An gần 300 tỷ đồng”. 
Khi chúng tôi nhắc đến biệt danh “Huy bò”, ông cười lớn, nói: “Tôi còn có nhiều biệt danh lắm, mỗi cái gắn liền với mỗi giai đoạn làm ăn, thành công nhiều nhưng thất bại, đắng cay cũng không ít. Có người thấy tôi làm ăn, nghĩ rằng tôi được thừa kế tài sản lớn từ cha mẹ. Thật ra tôi đi lên từ một anh cày thuê cuốc mướn đúng nghĩa”. 
Ông kể, cha mất năm 1957 trong chiến khu vì bệnh, mẹ ông thủ tiết thờ chồng nuôi con. “Năm 14 tuổi, tôi một buổi đi học, thời gian còn lại ôm vô lăng chiếc máy cày Massey Ferguson đời 69 đi cày thuê kiếm tiền phụ mẹ. Nhà đông miệng ăn, lại toàn là nữ (5 chị gái) nên dù còn tuổi ăn tuổi ngủ, tôi đã là trụ cột của gia đình. Nhiều bữa cày xong, nửa đêm tôi về tới nhà mệt đến mức không ngồi nổi, phải vừa nằm vừa ăn”.
Cho đến ngày đất nước thống nhất, tài sản lớn nhất của ông Út Huy vẫn là sức khoẻ và chiếc máy cày. Ông lăn lộn đủ nghề từ chạy máy cày, đốn mía thuê, làm lò đường, trồng mì, trồng đậu… nhưng vẫn không khá lên được vì 3 ha đất nhà bị chua phèn, trồng cây gì năng suất cũng thấp. 
Ông Út Huy (Võ Quan Huy).
Ông Út Huy (Võ Quan Huy).
Năm 1977, khi 22 tuổi, ông rủ một số thanh niên trong xóm ôm chiếc máy cày và chút vốn đi Tây Ninh “khẩn hoang” 70 ha đất trồng sắn (khoai mì). Nhưng trận lụt năm 1978 khiến toàn bộ sắn bị nước nhấn chìm, ông trắng tay, phải quay lại nghiệp làm thuê. 
Năm 1982, ông lại ôm máy cày sang tỉnh Sông Bé (cũ) tham gia xây dựng vùng nguyên liệu mía do nhà máy đường Bình Dương phát động. Được nhà máy đầu tư vốn, ỷ có sức khoẻ, máy khoẻ, ông nhận 80 ha đất ở Tân Uyên rồi cày vỡ đất trồng mía. Nào ngờ máy cày đất quá sâu, không giữ được nước, vụ đầu tiên ruộng mía chết hơn 80%. Nhiều người tham gia trồng mía cũng rơi vào tình trạng như ông, phải bỏ của chạy lấy người. Riêng ông quyết ở lại làm trả nợ. Không tiền mua gạo nuôi “quân”, ông thuyết phục hàng quán cho mua nợ. Nhiều anh em tay trắng chấp nhận theo ông làm không lương, chờ ngày thu hoạch. Làm theo kiểu ăn trước trả sau, mất 6 năm, ông mới trả xong nợ nhà máy.
Đầu những năm 1990, khi Đông Âu sụp đổ, các nông trường quốc doanh hợp tác trồng cao su bị bỏ hoang. Ông nhận 70 ha đất ở Bời Lời (Tây Ninh), khai hoang phục hoá trồng mía. Đất vùng này thiếu nước, vụ đầu tiên hệ thống tưới không đảm bảo nên ông lại thua lỗ, phải 3 năm sau mới trả hết nợ. Khi cả 2 vùng Tân Uyên và Bời Lời cây mía ổn định, mỗi năm sinh lợi trên 500 triệu đồng (thời điểm trước 1995), ông được mọi người gọi là “Huy mía”. 
Dành dụm được số vốn tương đối lớn, ông về “rốn phèn” Đồng Tháp Mười (Long An) khai hoang 240 ha đất trồng mía. Không may, trồng cây nào chết cây đó, vốn liếng trôi sạch bởi phèn quá nặng, không cây gì sống nổi. Ông định đầu hàng đất phèn thì ông Tạ Tuyết (Giám đốc công ty đường Hiệp Hoà, Long An thời điểm đó) động viên tiếp tục “chiến đấu”, hứa sẽ đầu tư và cho giãn nợ. 
Rút kinh nghiệm từ những thất bại xương máu trước đó, ông xây dựng hệ thống đê bao chống lũ, rửa phèn, cơ giới hoá... Trận lũ lịch sử năm 2000 cuốn trôi mọi thứ, duy 240 ha đất trồng mía của Út Huy nằm trong đê bao vẫn “vững như pháo đài”. Nhiều người xem đây là kỳ tích...

Nếu gọi Sáu Ngoãn là vua tôm, thì Út Huy là gì?

Ông Út Huy nói, muốn trồng cây gì, nuôi con gì cũng phải có dự báo chiến lược đối với từng loại cây trồng, vật nuôi ở ĐBSCL. Ông bảo: “Sau này đường ngoại nhập vào Việt Nam ồ ạt, rồi thêm đường lậu, cây mía mất dần thế đứng, tui biết thế nào mía đường cũng sẽ chết như bây giờ nên cần phải sớm thoát ra. Nhưng tôi hàm ơn cây mía vì nó đã giúp tôi gầy dựng cơ nghiệp và đã có đến mấy chục năm gắn bó nên tôi cứ đắn đo, lần lữa, mãi không chịu dứt tình...”. Nhưng rồi cuối cùng ông Út Huy cũng “ứa nước mắt dứt áo, vì biết trước sau gì cũng không trụ được với mía”.
Bỏ mía, ông Út Huy quyết định tái thiết cây trồng trên đất phèn. Và trước khi “tái thiết”, ông khăn gói tới Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam làm “học trò”. Sau thời gian thọ giáo các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu như GS Võ Tòng Xuân, tiến sĩ Nguyễn Minh Châu…, ông Út Huy quyết định đưa dưa hấu và ớt vào Đồng Tháp Mười “chiến đấu” với đất phèn. Và kết quả thành công ngoài mong đợi, với năng suất bình quân 25-30 tấn/ha, mỗi năm ông Út Huy cung cấp cho thị trường vài trăm tấn ớt (ông không trồng rặt ớt trên 240ha vì thu hoạch ớt tốn rất nhiều nhân công).
Đại gia nông dân út Huy.
Đại gia nông dân út Huy.
Cái tên “Huy mía” giờ đây được bà con đổi lại là “Huy ớt”. Tuy nhiên, 2 loại cây trồng này đòi hỏi chăm sóc tỉ mỉ, kỹ thuật cao và cần nhiều lao động có tay nghề; cây lại rất mẫn cảm với thời tiết, giá cả thị trường cũng chưa thật ổn định nên đến 2007, ông quyết định chuyển sang cây khác. “Tôi tập trung vào bưởi da xanh, xoài, mít và cây thanh long. Hiện nay toàn bộ diện tích đã bắt đầu cho trái, kết quả rất khả quan...”.
Trước đó, song song với trồng ớt và dưa hấu, khoảng năm 2000, ông Út Huy đưa mấy chiếc xe múc xuống xã Liêu Tú (huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng) đào ao thuê. Vừa làm công vừa học nghề, đến năm 2001, ông đầu tư nuôi 17 ao tôm, nhưng lại thất bại ê chề. “Năm đầu tiên tôi đi đứt mấy tỷ bạc. Hiểu ra là không thể nóng vội với con tôm, tôi dẹp mấy ao tôm qua một bên rồi lang thang khắp ĐBSCL tiếp tục tầm sư học đạo. Cũng may là thời điểm này 240 ha ớt ở Long An, 70 ha cao su ở Bình Dương và 80 ha sắn ở Tây Ninh… đều thu lãi, nên tôi không phải lăn tăn chuyện vốn liếng”, ông nói. 
Sau hơn một năm trang bị thêm kiến thức nuôi tôm theo công nghệ sinh học, ông quay lại Sóc Trăng và đầu tư lớn để nuôi tôm trên diện tích 100 ha. Lần này ông đã thành công. Sau đó ông sang Bạc Liêu gom tiếp 60 ha để mở rộng diện tích. Tới nay, diện tích nuôi tôm của ông ở 2 tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng là 160 ha.
Lâu nay ở ĐBSCL, người ta hay gọi ông Sáu Ngoãn (Võ Hồng Ngoãn) ở Bạc Liêu là “vua tôm”. Nhưng nhớ lại, ông Sáu Ngoãn cùng anh em chỉ nuôi tôm trên 50 ha, nên so sánh về diện tích và sản lượng đều thấp hơn ông Út Huy rất nhiều. 
Vậy nếu ông Sáu Ngoãn là vua thì ông Út Huy là gì? Hỏi ông Út Huy, ông trả lời: “Thì hơn cả vua tôm chứ gì nữa” rồi cười rung rinh. Sau trận cười, ông nghiêm giọng bảo: “Nói vui vậy thôi chứ anh Sáu Ngoãn có những việc mà tôi không bì kịp. Ảnh sống móc ruột ra với dân, với đồng nghiệp. Ai muốn học về kỹ thuật nuôi tôm, anh chỉ bày rất tận tình”. Nói vậy nghĩa là Út Huy khác Sáu Ngoãn ở chỗ Út Huy toàn giấu bí kíp để làm một mình? 
Ông cười: “Nói vậy cũng không đúng. Cách nuôi của anh Sáu Ngoãn nông dân ít vốn vẫn có thể học được, làm được. Còn tôi nuôi kiểu công nghiệp, nông dân mình ít đất, ít vốn thì không thể áp dụng. Ai hỏi chuyện làm ăn, tôi cũng bày cho người ta nhưng kèm theo dự báo. Ví dụ bây giờ ai hỏi tôi về kinh doanh bò Australia, tôi sẽ bày hết cho người ta, nhưng sau đó khuyên là không nên kinh doanh bò Australia, vì làm được như tui rất khó. Học cho đến khi làm được thì nhu cầu của thị trường đã khác. Bây giờ muốn có lãi thì nên kinh doanh bò sữa, bởi nếu tôi dự báo không sai thì khoảng 3 năm nữa, việc kinh doanh bò thịt như tôi sẽ chết, nhưng bò sữa thì còn sống rất lâu nữa…”.

23 tháng 1, 2015

Vẽ lại bản đồ tín dụng chính sách Tây Nam Bộ


Bài, ảnh: Trần Hữu Hiệp
Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Ban Kinh tế Trung ương vừa tổ chức Hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện đề án củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách (đề án TDCS) vùng TNB và triển khai Chỉ thị 40-CT/TW ngày 22-11-2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội, vào ngày 20-1-2015 tại Cần Thơ. Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ Nguyễn Phong Quang và Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương Lê Vĩnh Tân chủ trì hội nghị. Bức tranh thực trạng và “bản đồ” TDCS vùng Tây nam bộ đã được vẽ lại với nhiều mảng màu sáng hơn, nhiều chính sách an sinh xã hội (ASXH) đã được thực thi hiệu quả từ các gói TDCS 3 năm qua.
Nỗ lực “vượt trũng”, tiếp “năng lượng” thắp sáng ASXH
Thời điểm năm 2011, chất lượng tín dụng của vùng Tây Nam bộ được đánh giá là yếu, kém nhất so với các vùng, miền khác. Tăng trưởng dư nợ hàng năm thấp, bình quân thấp hơn nhiều so toàn quốc, tổng dư nợ cho vay chỉ chiếm 16,3% cả nước; trong khi tỷ lệ hộ nghèo và mặt bằng chung xã hội của vùng ĐBSCL được xem là “chỗ trũng”. Tỷ lệ nợ xấu trong TDCS của vùng chiếm 3,2%, cao gấp 2,1 lần bình quân chung cả nước (1,48%); lãi tồn đọng chiếm hơn 1/3; nợ không đối chiếu được chiếm 2/3 toàn quốc. Nợ xấu tiềm ẩn còn có khả năng cao hơn, đặc biệt có tỉnh lên đến 15%-20%. Theo báo cáo và kiểm tra thực tế của NHCSXH, thời điểm đó còn hơn 84.000 hộ nợ 324,7 tỉ đồng không đối chiếu được và không đủ điều kiện đổi sổ vay, chiếm 62,7% toàn quốc. Một bộ phận người dân trình độ quản lý và sử dụng vốn vay thấp, chưa nhận thức đầy đủ về việc có vay, có trả, ít tích lũy. Nhiều hộ vay đến hạn phải trả nợ NH, đi vay nóng với lãi suất cao, buộc phải dùng vốn TDCS để trả nợ vay nóng, tạo ra vòng luẩn quẩn: Mắc nợ ngân hàng, không có vốn sản xuất, nợ chồng nợ.
Vay vốn NHCS để mua bán nhỏ, một trong những giải pháp giúp nhiều người thoát nghèo. 
Qua 3 năm triển khai thực hiện đề án TDCS, đã có sự chuyển biến rõ nét, khu vực Tây Nam bộ đã vươn lên “thoát trũng” trên bản đồ TDCS cả nước, làm cuộc “đổi ngôi”, ngang bằng khu vực Đông Nam bộ. Tính đến 31-12-2014, tổng dư nợ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách trong vùng đạt 22.384 tỉ đồng, tăng 5.462 tỉ đồng so với thời điểm xây dựng Đề án. Tăng trưởng bình quân hàng năm 10,76% (cao hơn nhiều so bình quân chung cả nước là 7,76%). Ngoài nguồn TDCS Trung ương, các địa phương cũng đã nỗ lực bố trí nguồn thực hiện, như: An Giang 92 tỉ đồng, Long An 90 tỉ đồng, Đồng Tháp 50 tỉ đồng, Trà Vinh 41 tỉ đồng, Cần Thơ 40 tỉ đồng... Tổng nợ quá hạn giảm hơn 474,7 tỉ đồng, giảm 74,8% từ mức 3,4% 3 năm trước về hệ số an toàn 0,71%, một số tỉnh như Long An, Bến Tre không phát sinh nợ quá hạn. Chất lượng hoạt động của Tổ Tiết kiệm và Vay vốn tăng gần 16.000 tổ, (tăng hơn 99,5%), không có tổ yếu kém. Các chương trình TDCS của hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) ở ĐBSCL tập trung cho vay hộ nghèo thiếu vốn SXKD; cho vay hộ cận nghèo, học sinh - sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn; cho vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; hộ gia đình SXKD vùng khó khăn; giải quyết việc làm; mua nhà ở trả chậm ở vùng ngập lũ; hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở...
Thực tế đã chứng minh, TDCS là một giải pháp sáng tạo, có tính nhân văn sâu sắc. Mô hình hoạt động của NHCS mang tính đặc thù, vừa đáp ứng chuyên môn cao, vừa mang tính xã hội rộng rãi và đã trở thành công cụ hiệu quả để thực hiện ASXH trong vùng Tây Nam bộ. Ở nhiều địa phương đã xuất hiện những mô hình tốt, cách làm hay; sử dụng có hiệu quả vốn TDCS, vừa huy động được nhiều doanh nghiệp và tổ chức xã hội tham gia; trao “cần câu” là những phương tiện lao động thiết thực (xuồng câu, lưới, cấp vốn vay sản xuất...) tạo điều kiện cho người nghèo vươn lên thoát nghèo hơn là cấp phát TDCS. Qua đó góp phần đáng kể đưa tỷ lệ hộ nghèo vùng Tây Nam bộ thời kỳ 2011-2014 giảm từ 13,48% (năm 2011) xuống còn 5,7% (năm 2014).
“Cần câu” cho hộ nghèo
Chuyển biến TDCS không phải là việc làm một ngày, một bữa. Thành công của đề án là bước đầu đã “giải phóng” tâm lý và tư tưởng ỷ lại, không chịu khó làm ăn, thiếu ý thức vươn lên trong một bộ phận người nghèo ĐBSCL. Ý thức “có vay, có trả” đã lấn át những hộ “thích nghèo ... có sổ” để hưởng lợi bằng nhiều chính sách hỗ trợ nhà ở, nhận trợ cấp trực tiếp làm mất ý nghĩa của TDCS. Việc rà soát lại nợ của từng hộ vay quá hạn, làm rõ nguyên nhân và có biện pháp xử lý phù hợp là cũng là kết quả thành công của đề án. Xóa nghèo bền vững, không chỉ làm theo kiểu “thời vụ” mà là việc “tiếp sức” các hộ vừa thoát nghèo và hộ cận nghèo để đủ sức vươn lên khá, giàu, trao “cần câu” và hướng dẫn người nghèo “biết câu cá” để kiếm sống, thoát nghèo bền vững.
Theo Thống đốc NHNN, kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản trị NHCSXH Nguyễn Văn Bình, thì bản chất trong hoạt động của NHCSXH không phải là mang tiền cấp phát mà thông qua cơ chế tiền tệ ưu đãi để người nghèo có vốn làm ăn thoát nghèo. Kết quả hoạt động của “ngân hàng đặc biệt này” không chỉ là thành tích huy động, giải ngân, quản lý đồng vốn, mà là công cụ đắc lực để thực hiện các chính sách ASXH, đưa những chính sách này đến với người nghèo, hộ chính sách.
Tuy nhiên, so với tín dụng thương mại và đầu tư, nguồn vốn TDCS chưa thật sự ổn định, cơ cấu chưa hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu này thực tế, chất lượng tín dụng còn hạn chế, nỗ lực 3 năm qua cần phải được tiếp tục phát huy. Hội nghị cũng đã quán triệt 5 nội dung lớn của Chỉ thị 40-CT/TW ngày 22-11-2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội. Theo đó, NHNN, NHCSXH và Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ tiếp tục tăng cường phối hợp với các địa phương nâng cao trách nhiệm, năng lực, hiệu quả của hoạt động TDCS, đặc biệt là tập trung nguồn lực, tạo vốn, hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp thực thi với quyết tâm tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng. Trên cơ sở đó, đề xuất Chính phủ có cơ chế, chính sách phù hợp gắn với việc thực hiện các chính sách ASXH, xây dựng nông thôn mới, đào tạo nghề nông thôn, giải quyết việc làm; đáp ứng tốt hơn yêu cầu ASXH và thực tế phát triển của vùng ĐBSCL.


Lào xây thủy điện Don Shahong: Phải lên tiếng!

(Quan điểm) - Chúng tôi nhất quán quan điểm là phải lên tiếng trước việc Lào xây dựng thủy điện Don Shahong khi chưa có thông tin đầy đủ và rõ ràng.
Mô hình đạp thủy điện trên dòng Mekong

Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã cho Đất Việt biết như vậy.
Vừa hợp tác vừa đấu tranh trên cơ sở luật pháp
Theo ông Hiệp từ thực tiễn và các nghiên cứu khoa học đã chứng minh được rằng khi xây các đập thủy điện sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến hệ sinh thái, sẽ làm gia tăng sự xâm nhập mặn.
Nói như GS Nguyễn Ngọc Trân thì sẽ có hai gọng kìm đối với ĐBSCL, một là các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong và hai là xâm nhập mặn từ biển vào.
Để có tiếng nói gửi tới các cơ quan hữu quan, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ với chức năng nhiệm vụ ở vùng thời gian qua đã phối hợp với các nhà khoa học trong vùng và một số tổ chức Green ID, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, Trường ĐH Cần Thơ thực hiện các tham vấn cộng đồng.
Theo đó kết quả là gần 100% người dân tại 13 tỉnh ĐBSCL và các nhà khoa học ở Hà Nội đều phản đối việc xây dựng đập Don Sahong cũng như các đập khác trên dòng chính của sông Mekong.
Qua phản ánh, người dân ĐBSCL khẳng định họ không có lợi từ việc xây dựng đập Don Sahong và các con đập khác trên dòng chính của sông Mekong. Ngược lại họ chịu rất nhiều rủi ro như ít được phù sa bồi đắp, tăng nguy cơ sạt lở đất, giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn gia tăng…. Những điều này ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của người dân.
"Hiện chúng tôi đã có kết quả và gửi lên Thủ tướng, Phó Thủ tướng với những kiến nghị chỉ đạo các ngành tiếp tục đẩy mạnh việc trình báo cáo tham vấn có ý kiến người dân. Chúng tôi nhất quán quan điểm là phản đối việc xây dựng thủy điện này khi chưa có thông tin đầy đủ và rõ ràng", ông Hiệp cho biết.
Theo ông Hiệp, việc xây dựng các thủy điện trên dòng chính sông Mekong ảnh hưởng nghiêm trọng đến ĐBSCL, không chỉ về chất lượng nước mà còn đe dọa đến sự phát triển bền vững, đặc biệt là lượng thủy sản.
"Do vậy chúng tôi đã kiến nghị với Thủ tướng vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở những quy định của pháp luật quốc tế, đặc biệt là thông qua tổ chức Ủy hội sông Mekong mà 4 nước đã ký kết. Hiệp định sông Mekong ký năm 1995 cũng cần phải được tuân thủ. Bên cạnh các hợp tác thì cũng phải có đấu tranh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình", ông Hiệp nói.
Kiên trì lên tiếng
Bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc trung tâm phát triển sáng tạo xanh (GreenID) cho biết, trên thực tế Lào vẫn đang quyết tâm thực hiện việc xây dựng thủy điện Don Shahong. Tuy nhiên không phải vì thế mà các hoạt động tham vấn dừng lại.
"Hiện các kết quả tham vấn chúng tôi đã gửi đến các cơ quan có trách nhiệm và theo thông tin tôi được biết thì Ủy ban sông Mekong Việt Nam sẽ tổng hợp các ý kiến này vào báo cáo quốc gia để gửi đến Chính phủ Lào. Ở Việt Nam hiện các cơ quan thuộc Chính phủ đã nhận được các kết quả tham vấn và đang xem xét", bà Khanh cho biết.
Mặc dù vậy, các nhà vận động chính sách cũng tỏ ra lo ngại về việc Lào quyết tâm xây dựng thủy điện này bằng những động thái ‘phủ đầu’ từ phía truyền thông tới cộng đồng.
Nhưng bà Khanh cho biết: "Dù thế nào chúng tôi vẫn nỗ lực mọi việc để nói lên tiếng nói của cộng đồng. Trong tuần tới chúng tôi sẽ tổ chức họp báo và mời các chuyên gia đến để trao đổi thêm xung quanh việc này".
Nhìn theo hướng tích cực, ông Hiệp cho rằng từ câu chuyện Lào xây dựng thủy điện Xayabury trước đó hoàn toàn không có tham vấn các nước. Nhưng sau việc đấu tranh nay với Don Shahong Lào đã chấp nhận tổ chức tham vấn các nước trong đó có Việt Nam.
"Đây là một kết quả nhất định. Tất nhiên việc này vẫn phải tiếp tục trên cơ sở pháp luật quốc tế, thực tiễn và cả mối quan hệ đối ngoại song phương dù biết rằng không phải một lúc mà nói họ nghe ngay", ông Hiệp nói.
Ông Hiệp cũng đưa ra hình ảnh một anh hàng xóm xây nhà khi thấy họ chuẩn bị làm móng có thể đe dọa đến an toàn nhà mình thì buộc mình phải lên tiếng bảo vệ quyền lợi.
"Mình có quyền lên tiếng dù nhiều người cho rằng họ có quyền xây trên đất họ - điều đó đúng, song ngược lại nếu điều đó có ảnh hưởng đến mình thì phải lên tiếng. Tất nhiên sẽ còn nhiều việc phải làm nữa nhưng vẫn phải làm", ông Hiệp nhìn nhận.
Từ quan điểm này, ông Hiệp cho biết về phía Việt Nam cần tiếp tục tập hợp ý kiến cộng đồng, thu thập chứng cứ khoa học, có kết quả để chứng minh bằng nhiều kênh và trên con đường ngoại giao phải đấu tranh. để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng.
GreenID và đơn vị tổ chức hoạt động tham vấn kiến nghị
1.Ủy ban sông Mekong Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại Giao và các cơ quan chính phủ xem xét các ý kiến đóng góp và nguyện vọng của người dân để báo cáo Thủ tướng, Chính phủ và đưa vào ý kiến phản hồi chính thức của Việt Nam gửi tới Ủy hội sông Mekong quốc tế về kết quả tham vấn dự án thủy điện Donsahong tại Việt Nam.
2.Tài liệu phản hồi quốc gia của Việt Nam đối với dự án thủy điện Don sahong cần nhấn mạnh  yêu cầu: 1) kéo dài thời gian tham vấn để các bên liên quan có thêm các nghiên cứu bổ sung thêm thông tin, minh chứng và xem xét đánh giá tính khả thi của các giải pháp giảm thiểu đưa ra; 2) nhà đầu tư và chính phủ Lào nghiêm túc tuân thủ các cam kết theo Hiệp định Mekong và các cam kết cấp cao, không được tiến hành khởi công xây dựng đập nào cho đến khi hoàn thành các nghiên cứu bổ sung về tác động tích lũy, minh chứng cho tính khả thi của các giải pháp giảm thiểu.
3.Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) và các quốc gia thành viên của MRC đưa quy trình tham vấn với người dân bị ảnh hưởng tại cộng đồng trở thành một điều kiện tham vấn bắt buộc trong quá trình PNPCA theo Hiệp định Mekong 1995.
4.Chính phủ và cơ quan quản lý cần chú trọng và có chiến lược truyền thông phù hợp, sắc sảo và nhất quán về vấn đề thủy điện dòng chính sông Mekong tại Việt Nam sao cho đảm bảo cập nhật thông tin sát thực về vấn đề này cho công chúng đồng thời hỗ trợ cho các nỗ lực đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia và đồng bằng sông Cửu Long.
5.Nghiên cứu “Tác động của hệ thống thủy điện bậc thang dòng chính sông Mekong đối với đồng bằng sông Cửu Long” do Ủy ban sông Mekong Việt Nam chủ trì cần tham vấn rộng rãi tới nhà khoa học, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức quần chúng tại đồng bằng sông Cửu Long để thu nhận những ý kiến đóng góp thực tiễn phục vụ cho quyết sách của chính phủ liên quan tới sự phát triển bền vững của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
                     Trích báo cáo tham vấn cộng đồng
Bích Ngọc

Thư viện VideoClip: Tổng kết 3 năm thực hiện đề án TDCS TNB

21 tháng 1, 2015

Định danh gạo Việt

Trần Hữu Hiệp
Không ai có thể phủ nhận kỳ tích của hạt gạo Việt Nam qua 30 năm đổi mới. Từ một nước thiếu đói ở thập niên 80 thế kỷ trước, Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên vị trí cường quốc xuất khẩu gạo. Năng suất, sản lượng lúa gạo liên tục tăng trưởng nhanh. Những thành công đó không chỉ góp phần quan trọng ổn định xã hội, tạo nền tảng vững chắc phát triển nông thôn mà còn “cứu nguy” kinh tế đất nước ở những giai đoạn khó khăn.
Nhưng đó là kỳ tích đã qua. Thành tích trong quá khứ không phải là một đảm bảo chắc chắn cho thành công trong tương lai. Hạt gạo Việt với chính sách và đối sách xuất khẩu phập phù đang đứng trước nhiều thách thức mới. Thách thức không chỉ là mối đe dọa do biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mà trực tiếp là từ tư duy hoạch định chính sách, do kết nối cung - cầu yếu kém; người trồng lúa ngày càng nghèo đi, tạo ra bất công trong phân công lao động xã hội.

Việc nhiều người dân của “vựa lúa quốc gia” miền Tây Nam bộ thích ăn gạo sóc từ Campuchia, ngon cơm, giá cao hơn gạo Việt Nam là có thật. Gần đây, lại có thêm thông tin giá gạo 5% xuất của nước láng giềng này cao hơn gạo cùng loại của nước ta 75 USD/tấn.
Thực trạng đó đang đặt ra nhiều vấn đề về thiết kế “hệ điều hành mới”, “định vị, định danh gạo Việt” trước thách thức mới. 10 năm trước, ai cũng nghĩ, Campuchia chỉ đủ sức trồng lúa để ăn, nhưng trong 3 - 4 năm tham gia xuất khẩu gạo, nước này đã có hệ thống khách hàng ở 34 quốc gia từ Á sang Âu. Trong khi Việt Nam vướng “bẫy thu nhập trung bình”, thì “người bạn hàng mới” này, tuy xếp vào nhóm nước kém phát triển, nhưng được hưởng nhiều ưu đãi về thuế. Chỉ riêng khoản này, đã “tiết kiệm” cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của họ khoảng 195 USD/tấn.
Nhưng quan trọng hơn, trong khi Việt Nam loay hoay thì Campuchia và Myanmar đã “âm thầm tiến” với những bước đi vững chắc, có chiến lược và nhanh chóng thâm nhập các thị trường khó tính. Những “anh lính mới” này đang trở thành đối thủ rất đáng được kính trọng, ít nhất là ở phân khúc thị trường gạo ngon mà việc dân miền Tây thích ăn; gạo sóc và giá gạo xuất khẩu hơn hẳn gạo Việt là một thí dụ.
Có thể người ta cho rằng, việc giá gạo xuất khẩu của các quốc gia hơn thua nhau từng thời điểm là chuyện thường ngày của thị trường. Gạo Việt có lúc cũng bán giá cao hơn gạo Thái, nhưng đâu có qua được người Thái. Và, cho dù Campuchia và cả Myanmar có nổi lên như một hiện tượng, thì với vài trăm ngàn đến hơn một triệu tấn gạo xuất khẩu mỗi năm, khó sánh với cường quốc xuất khẩu gạo Việt Nam, luôn trong “tốp 3” suốt hơn một phần tư thế kỷ qua với 7 - 8 triệu tấn gạo xuất khẩu/năm, chiếm hơn 20% thị phần xuất khẩu gạo thế giới, nên so sánh là khập khiễng!
Thách thức ngay trong việc định danh hạt gạo Việt Nam trên thương trường quốc tế. Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một thương hiệu gạo mạnh. Nhiều mặt hàng gạo xuất khẩu chỉ mang tên gọi chung là gạo 5%, 25% tấm. Càng nghịch lý hơn, khi gạo Việt vẫn còn phải “mặc áo” các loại gạo nước ngoài.

Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) “gạo Việt Nam có số lượng nhiều, chất lượng thấp, giá thành cao, hình ảnh xuất khẩu thấp, chưa hấp dẫn các nhà nhập khẩu và thu hút đầu tư”. Có thể thấy rất rõ điều này khi hiện nay bà con nông dân do tập quán canh tác nên việc sử dụng giống xác nhận chỉ đạt 30%, phần còn lại đa số là giống của vụ mùa trước để lại; tổn thất sau thu hoạch là hơn 30%; 70% lượng gạo xuất khẩu là phẩm cấp thấp (25% tấm).
Những “hục hặc”, thậm chí “choảng nhau” giữa các thành viên giữ vai trò quyết định trong chuỗi sản xuất lúa gạo vừa qua đã làm cho hạt gạo xuất khẩu vừa chịu sự cạnh tranh sân nhà, vừa gồng mình trước sự lấn lướt của các đối thủ. Thương hiệu gạo của địa phương, vùng miền và quốc gia cần được định danh và phát triển, bắt đầu từ doanh nghiệp. Sự hợp tác của doanh nghiệp và nông dân cùng với nghiên cứu của các nhà khoa học sẽ tạo ra vùng sản xuất rộng lớn. Doanh nghiệp là mắt xích cuối cùng trong chuỗi đầu ra của xuất khẩu gạo, hơn ai hết, họ “biết mình, biết ta” trong cuộc cạnh tranh trên trường quốc tế.
Mới đây, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa có kết luận về đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam. Theo đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành liên quan và địa phương, Hiệp hội Lương thực Việt Nam và các doanh nghiệp liên quan tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện đề án theo hướng xây dựng và phát triển thương hiệu ở cả ba cấp độ: quốc gia, vùng và địa phương. Phát triển thương hiệu gạo Việt không chỉ là việc đăng ký nhãn hiệu hay thương hiệu, mà là một quá trình liên tục duy trì và phát triển những giá trị vật chất, phi vật chất gắn liền hạt gạo.
Vì vậy, rất cần sự vào cuộc và phối hợp của nhiều bộ ngành, địa phương liên quan, các giải pháp phải đồng bộ, từ khâu sản xuất, chế biến đến xuất khẩu để xây dựng và phát triển hình ảnh, tăng cường sự nhận biết về mặt hàng gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới, góp phần tăng giá trị và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo, thúc đẩy tái cơ cấu ngành lúa, gạo theo hướng hiệu quả, bền vững.
- See more at: http://www.sggp.org.vn/theodongthoisu/2015/1/373353/#sthash.QGei3sAU.dpuf

Phát triển kinh tế vùng, một nội hàm của tái cơ cấu kinh tế, một nội dung của đổi mới chính trị

Phát triển kinh tế vùng là nhằm thúc đẩy và bảo đảm sự phát triển cân đối, bền vững của đất nước, có tính đến các yếu tố đặc thù và cơ hội của toàn lãnh thổ và của các vùng, giảm bớt những khác biệt giữa các vùng, không phải bằng cào bằng, kìm hãm nhau, mà bằng bảo tồn và phát huy những đặc tính riêng về môi trường tự nhiên, văn hóa và tiềm năng phát triển của các vùng.
Những trở ngại để đi tới liên kết vùng đã được nhận diện trên những nét cơ bản. Nhất quyết chúng ta phải vượt qua chúng. Nếu được khởi đầu ngay trong năm 2015.
Một đề xuất cách đây 25 năm
Báo cáo tổng hợp của Chương trình khoa học cấp nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (Chương trình 60-B)(1), phát triển kiến nghị cần có một chính sách phát triển kinh tế vùng cho đồng bằng sông Cửu Long, mà Chương trình đã đưa ra năm 1986, đã đề ra tám quan điểm phát triển kinh tế vùng ĐBSCL(2), và một số gợi ý về biện pháp nhằm thực hiện Chiến lược phát triển vùng ĐBSCL cho đến đầu thế kỷ XXI(3).
Trong các biện pháp, Chương trình đã kiến nghị thành lập Ban chỉ đạo phát triển vùng và hình thành Quỹ Phát triển vùng với chức năng, nhiệm vụ, thành phần, bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động(4).
Ban chỉ đạo phát triển vùng mà Chương trình đã đề xuất không phải là một cấp trung gian giữa Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và các tỉnh mà là một ban công tác có chức năng phát triển kinh tế - xã hội bằng cách kết hợp, hướng dẫn, điều phối, yểm trợ, giám sát các công tác thực hiện quy hoạch và kế hoạch phát triển vùng dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Bộ trưởng.
Quỹ phát triển vùng là một định chế phát triển đầu tư tín dụng, có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, có sự thỏa thuận và giám sát về mặt chính sách, chế độ nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước, do Ban chỉ đạo vận động thành lập và tham gia Hội Đồng quản trị.
Đề xuất của Chương trình có thể là quá sớm vào thời điểm đó khi mà mô hình phát triển kinh tế theo tỉnh còn phát huy tác dụng, và đạt được những thành tựu to lớn trong giai đoạn đầu của đường lối Đổi Mới.
Yêu cầu khách quan và việc triển khai phát triển kinh tế vùng hiện nay
Trong những năm gần đây, trên nhiều diễn đàn, đặc biệt từ lúc triển khai tái cơ cấu nền kinh tế, vấn đề phát triển kinh tế vùng, liên kết giữa các tỉnh trong vùng đã được nói đến nhiều bởi lẽ tiếp tục cách phát triển theo tỉnh, đã bộc lộ những giới hạn và những điểm yếu cơ bản: các nền kinh tế của các tỉnh không phát huy nhau lên mà các sản phẩm còn cạnh tranh nhau trên thị trường trong và ngoài nước với nguy cơ nhãn tiền là làm suy yếu nhau, và nhất là hiệu quả đầu tư công thấp.
Việt Nam gia nhập WTO đã hơn bảy năm, thuận lợi và thời cơ rộng mở đồng thời với khó khăn và thách thức phải đối diện, không ít và gay gắt.
ĐBSCL là địa bàn cảm nhận cụ thể nhất các thách thức, mà cụ thể là sự cạnh tranh khắc nghiệt với thị trường bên ngoài, về nông, thủy sản. Thực tế ở đây cho thấy mỗi tỉnh đối phó chắc chắn không thể bằng toàn vùng đối phó. Tiềm lực của 13 tỉnh thành phố cộng lại với nhau không phải là tiềm lực kinh tế của cả vùng. Phát triển kinh tế theo tỉnh không phát huy hết thế mạnh của đồng bằng, không phát huy khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước, thậm chí còn gây trở ngại, làm thiệt hại nhau.
Trước triển vọng ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng trong thời gian tới và Hiệp ước hợp tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập, ngày càng sâu rộng với thế giới, phát triển kinh tế vùng càng trở nên bức xúc hơn bao giờ.
Còn một lý do nữa thôi thúc thêm nữa việc đổi mới quản lý và điều hành kinh tế trên quy mô vùng. Đó là ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Môi trường tự nhiên, nhất là thủy văn, không phụ thuộc vào ranh giới hành chính, mỗi tỉnh riêng lẻ không thể ứng phó hữu hiệu với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Rất tiếc quản lý nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu của tình hình.
Ban chỉ đạo Tây Nam bộ đã được thành lập, nhưng chức năng nhiệm vụ không phải là của Ban chỉ đạo đã được đề cập trên đây.
Trong Hội nghị tổng kết công tác xây dựng và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng phát triển giai đoạn 2011 - 2015, tổ chức ngày 7.4.2012 tại Cần Thơ, hầu hết các địa phương trong cả nước đã phản ánh tình trạng thiếu sự phối hợp, thiếu sự liên kết cần thiết giữa nội vùng, liên vùng. Ngay từ khâu quy hoạch cũng đang bộc lộ khá rõ những bất cập, thiếu tính kết nối trong bài toán phát triển nội vùng và liên vùng, nhất là trong phân bố xây dựng các dự án năng lượng, hạ tầng giao thông.
Những bất cập này được nêu lên từ rất nhiều năm nhưng vẫn cứ lặp lại.
Tại Hội nghị, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã   chỉ đạo:
“Giao nhiệm vụ ưu tiên cho các bộ, ngành, địa phương liên quan thực hiện công tác rà soát, điều chỉnh lại các quy hoạch phát triển, xây dựng cơ chế đặc thù để phù hợp với tình hình mới khi các điều kiện thị trường tài chính, đầu tư, vốn, công nghệ cũng như lao động… hiện nay đã có những thay đổi lớn;
(…) Các địa phương trong vùng cần thường xuyên ngồi lại với nhau, xem xét và nhận định lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh để định hướng cho riêng mình, tạo sự đồng bộ, tăng cường giao lưu về phát triển về đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực, xây dựng hạ tầng kết nối, phân bố, kết hợp kêu gọi đầu tư;
(…) Về tổng thể, các bộ, ngành liên quan sớm xem xét, tháo gỡ những vướng mắc đang gây cản trở đối với sự phát triển hoặc phối hợp đồng bộ trong và giữa các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ). Cụ thể như kế hoạch triển khai các chương trình ứng phó tình trạng biến đổi khí hậu, cơ chế liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản, kế hoạch xây dựng hệ thống thủy lợi, cấp và thoát nước toàn vùng, công tác thông tin, chỉ đạo điều hành từ các tổ điều phối các hoạt động chung của các vùng KTTĐ.”(5).
Ba năm sau hội nghị tổng kết tình hình cho thấy sự chỉ đạo trên đây chưa được thực hiện bao nhiêu. 
Những chỉ đạo của Phó thủ tướng chỉ là những lời kêu gọi chừng nào chưa giải quyết được sự vênh nhau, chồng chéo nhau giữa ba quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất,  quy hoạch xây dựng (bao gồm quy hoạch đô thị, quy hoạch giao thông vận tải, quy hoạch thủy lợi), và chưa có một luật Quy hoạch hữu hiệu cho phép giải quyết các tồn tại này.
Cần thiết phải liên kết vùng, cần phát triển kinh tế vùng! Nhưng nguyên tắc, nội dung vàphương thức liên kết như thế nào cần được làm rõ và được chế định bằng một khung pháp lý phù hợp, tương ứng.
Việt Nam có sáu vùng kinh tế. Liên kết để phát triển vùng không chỉ áp dụng cho riêng đồng bằng sông Cửu Long mà cho tất cả các vùng.
Mức độ sẵn sàng của Việt Nam cho vấn đề liên kết vùng ra sao?
Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội ngày 19.11.2014, Thủ tướng Chính phủ khẳng định(6):
“Trong những khu vực có điều kiện gần nhau thì liên kết để phát triển là tất yếu. Chính phủ nhận thức rõ sự cần thiết của liên kết vùng. Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng quy chế liên kết các vùng kinh tế của cả nước, và cũng dừng ở mức quy chế thí điểm hợp tác ở các vùng kinh tế, trong đó có vùng đồng bằng sông Cửu Long”.
“Sự cần thiết liên kết hợp tác đã rõ, nội dung cần hợp tác cũng đã rõ và lãnh đạo các tỉnh đều đồng tình với Chính phủ. Nhưng với thể chế chính trị của chúng ta hiện nay, phương thức lãnh đạo, quản lý điều hành hiện nay, theo Hiến pháp, theo luật pháp hiện hành thì dựa trên căn cứ luật pháp gì, cơ chế chính sách gì, tổ chức thế nào để liên kết hợp tác rất là khó khăn (…). Hợp tác là cần thiết, nhưng cơ chế tổ chức như thế nào để thực hiện được cần thảo luận thêm”.
Trả lời chất vấn trên đây cho thấy những khó khăn còn xuất phát từ những quy định về chính quyền trung ương và địa phương trong Hiến pháp, trong Luật Tổ chức Chính phủ, trong Luật Ngân sách và nhiều luật khác, và về phương thức điều hành và quản lý nhà nước trong thể chế chính trị hiện nay. 
Phát triển kinh tế vùng là nhằm thúc đẩy và bảo đảm sự phát triển cân đối, bền vững của đất nước, có tính đến các yếu tố đặc thù và cơ hội của toàn lãnh thổ và của các vùng, giảm bớt những khác biệt giữa các vùng, không phải bằng cào bằng, kìm hãm nhau, mà bằng bảo tồn và phát huy những đặc tính riêng về môi trường tự nhiên, văn hóa và tiềm năng phát triển của các vùng.
Những trở ngại để đi tới liên kết vùng đã được nhận diện trên những nét cơ bản. Nhất quyết chúng ta phải vượt qua chúng. Nếu được khởi đầu ngay trong năm 2015.
Đây là một yêu cầu khách quan trong bối cảnh hội nhập và các thách thức toàn cầu ngày nay. Đây cũng là một nội hàm của tái cơ cấu nền kinh tế, và là một nội dung của đổi mới chính trị(7).
____________
1) Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên - Môi trường - Phát triển, Báo cáo tổng hợp của Chương trình khoa học Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long, Gs.Ts. Nguyễn Ngọc Trân, Chủ nhiệm Chương trình chủ biên, Ủy ban Khoa học Nhà nước, Hà Nội, 3.1991.
2) Đó là: 1. Phát triển “Vì cả nước, cùng cả nước”; 2. Phát triển nền kinh tế hàng hóa; 3. Phát triển nền kinh tế mở, liên kết trên cơ sở phát huy cao nhất những yếu tố bên trong; 4. Phát triển đồng bộ, năng động và vững chắc; 5. Khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường đúng quy luật và phát triển bền vững; 6. Nhận thức đúng mức tầm quan trọng, khai thác vùng lãnh hải, các đảo và quần đảo; 7. Phát huy vị trí địa lý trung tâm khu vực Đông Nam châu Á của ĐBSCL và Nam bộ, nơi đã từng có thời kỳ cực thịnh trong giao lưu kinh tế với bên ngoài; 8. Ý chí phát triển. Tài liệu đã dẫn, trang 252 - 255.
3) Đó là: 1. Vấn đề vốn; 2. Các chính sách đòn bẩy; 3. Các Chương trình mục tiêu, các vấn đề then chốt cần triển khai; 4. Vấn đề khoa học, kỹ thuật và môi trường; 5. Năm đổi mới định chế và cơ chế quản lý kinh tế-xã hội (tiền tệ, ngân sách-thuế, ngân hàng-tín dụng, hành chính, luật pháp); 6. Về tổ chức thực hiện. Tài liệu đã dẫn, trang 267 - 282.
4) Tài liệu đã dẫn, trang 267-284.
5) Trích từ cổng thông tin Chính phủ, về hội nghị đã dẫn.
7) Diễn văn bế mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ban Chấp hành TW lần thứ Mười (Khóa XI).
Gs. Tskh Nguyễn Ngọc Trân
Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại,
Nguyên Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp nhà nước 60-B


9 tháng 1, 2015

Đồng bằng sông Cửu Long thiếu tính liên kết trong phát huy lợi thế vùng

Báo Tin tức, TTXVN, 
Thời gian qua, nhiều chính sách, chương trình phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được triển khai nhưng thu lại kết quả không cao. Nguyên nhân là do tính liên kết vùng chưa được thực hiện chặt chẽ, cụ thể thiếu liên kết giữa các địa phương trong việc thực hiện chính sách đầu tư kết cấu hạ tầng - kinh tế phục vụ sản xuất, chế biến các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu…
Yêu cầu liên kết vùngLiên kết vùng ĐBSCL được đề cập đến từ lâu, trong thực tế việc liên kết vùng đã thực hiện thông qua một số mô hình: mô hình cánh đồng liên kết của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang, Công ty Võ Thị Thu Hà; mô hình chuỗi sản xuất, thương mại, chế biến và phân phối sản phẩm khép kín của Công ty Thủy sản Hùng Vương, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang. Tuy nhiên, sự liên kết này chưa đạt yêu cầu, việc nhân rộng còn hạn chế do chưa có sự nhất quán, định hướng, quản lý và tạo điều kiện cơ sở hạ tầng cho các mô hình phát triển.
Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển ĐBSCL, việc liên kết vùng giữa các địa phương khu vực ĐBSCL hiện chưa chặt chẽ, nền kinh tế của mỗi tỉnh vẫn phát triển độc lập. Trong khi đó, kinh tế của vùng ĐBSCL không phải là cộng hợp kinh tế của 13 tỉnh và liên kết hiện nay thực chất là cộng những “chiếc đũa”, chưa phải là một chủ thể.
Cùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL cho biết, liên kết vùng là cơ hội phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội, phát triển nguồn nhân lực, tăng vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp… Vì thế, công việc này cần huy động sự tham gia của nhiều bên liên quan gồm nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học trong suốt quá trình phát triển chuỗi giá trị đối với tất cả các sản phẩm có lợi thế vùng và theo cách liên kết vùng.
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ kinh tế (Ban chỉ đạo Tây Nam bộ) cho rằng, qua hơn một năm thực hiện Quyết định 899 ngày 10/6/2013) của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, các tỉnh trong vùng ĐBSCL đã chủ động xây dựng đề án tái cơ cấu, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tăng giá trị, thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, yếu tố liên kết của các tỉnh còn mờ nhạt trong mỗi đề án. Trong khi đó, yếu tố này là một trong những cơ sở quan trọng để tiến hành quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nói chung và tái cơ cấu nông nghiệp vùng ĐBSCL nói riêng. Việc tạo sự liên kết vùng vững chắc sẽ tránh tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương, hướng đến mục tiêu hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái, giúp hàng triệu nông dân ĐBSCL vươn lên làm giàu bằng chính nghề nông.
Cần một “nhạc trưởng” điều phốiMặc dù đã được đề cập từ lâu, song liên kết vùng ĐBSCL chưa có cơ chế chính sách, quy định cụ thể. Theo ông Trần Hữu Hiệp, vùng ĐBSCL không phải là một đơn vị hành chính - kinh tế, việc phân bổ ngân sách, nguồn lực đầu tư vùng hoàn toàn do Trung ương đảm nhiệm. Theo đó, đầu tư phát triển vùng phụ thuộc vào sự đầu tư của Trung ương và các tỉnh, thành. Vì thế, ĐBSCL không thể thực thi một cách chủ động các chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển vùng. Không gian kinh tế vùng bị chia cắt, nhiều cụm ngành kinh tế và sản phẩm thế mạnh của chung nhiều tỉnh chưa được “liên kết”, thậm chí còn có hiện tượng cạnh tranh cục bộ lẫn nhau. Chuỗi giá trị ngành hàng bị cắt khúc, đầu tư trùng lắp, suất đầu tư cao do không tận dụng được “lợi thế dùng chung” trên cơ sở phân công trong nội bộ vùng và liên vùng
Theo ông Dương Quốc Xuân, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, liên kết hợp tác sản xuất không phải là ý muốn chủ quan của một ngành, hay tổ chức, cá nhân mà đây là một yêu cầu tất yếu, khách quan của phát triển kinh tế. Tùy theo điều kiện về đất đai, thổ nhưỡng, mức độ phát triển của từng địa phương mà có bước đi phù hợp, không phải 13 tỉnh cùng "dàn hàng ngang" phát triển. Trong điều kiện hiện nay, việc các tỉnh cùng phát triển các ngành, nghề lĩnh vực như nhau là không nên. Tuỳ theo thế mạnh, lợi thế so sánh có sự liên kết phù hợp giữa các tỉnh với từng lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, để thực hiện liên kết, quy chế phối hợp cũng như cơ quan điều phối phải được xây dựng để tổ chức thực hiện.
Hiện, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ được Trung ương giao nhiệm vụ kiểm tra đôn đốc các địa phương trong vùng tổ chức triển khai các chủ trương chính sách về kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng. Để cơ quan này điều phối được sự liên kết thì cần được phân thêm quyền hạn, trách nhiệm, nhân lực, đặc biệt là phương thức thực hiện việc điều phối, quy chế liên kết.
Ông Trần Thành Nghiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng cho rằng, thời gian qua do chưa có định hướng chung nên từng tỉnh có quy hoạch cụ thể theo mỗi địa phương, gây chồng chéo. Để giải quyết được vấn đề này, cần có một cơ quan chủ trì hoặc Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ được Chính phủ “giao quyền” để chủ trì quy hoạch phù hợp, tránh đầu tư lãng phí về nguồn lực cũng như chồng chéo trong các lĩnh vực thu hút đầu tư. Trước hết, quy hoạch tổng thể của vùng phải được xây dựng, trong đó có quy hoạch cơ sở hạ tầng dùng chung cho vùng như: sân bay, bến cảng, không nên để tình trạng địa phương nào xây trường đại học, cảng… bởi như vậy phân tán, manh mún và không đủ nguồn lực để đầu tư./.