30 tháng 4, 2014

Bắt Cá Đồng: Ký Ức Miền Tây

Cần xây dựng chính quyền vùng kinh tế

Lâu nay vùng kinh tế chỉ là một phép cộng cơ học. Nếu có chính quyền vùng quản lý, hiệu quả vùng kinh tế mới được phát huy.

Trong ngày làm việc thứ hai của hội thảo Kinh tế mùa xuân 2014 do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức tại Quảng Ninh ngày 29-4, các chuyên gia kinh tế tiếp tục thảo luận về cải cách thể chế.
Phân quyền phải rõ ràng, cụ thể
TS Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), cho rằng khi nói đến thể chế gồm có bốn bộ phận bao gồm người chơi (Nhà nước, tổ chức sự nghiệp, dân sự...); cơ chế chơi hay cách thức chơi; luật chơi; và sân chơi (thị trường). Đổi mới thể chế chính là đổi mới cả bốn bộ phận đó trên tinh thần: Cái gì có lợi cho đất nước, dân tộc này thì làm; cái gì không lợi thì bỏ.


TS Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM). Ảnh: TP
Trong bốn yếu tố đổi mới thể chế thì vai trò Nhà nước trong nền kinh tế được tập trung hơn cả. Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước thì phải phân định một cách rạch ròi công việc của các cơ quan, từng bộ phận và xem bộ phận nào là quan trọng. Bên cạnh đó, các cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước cần phải đưa ra ngoài Quốc hội, Chính phủ và chỉ căn cứ vào luật pháp để làm việc.
Ông Bá ví dụ trong 10 việc của nền kinh tế thì Đảng làm bao nhiêu việc, Nhà nước làm bao nhiêu việc, rồi tiếp đến Quốc hội, Chính phủ, tư pháp làm bao nhiêu việc. Quan trọng nhất là sự phân công này cần quy định thành luật. “Quan điểm phải làm rõ trách nhiệm và phải có chế tài khi cơ quan công quyền không thực hiện được nhiệm vụ. Kể cả Chính phủ, Quốc hội và tòa án làm sai cũng phải chịu phạt như người dân” - ông Bá nêu ý kiến.
Bỏ cấp huyện, thành lập cấp vùng
Cùng song hành với phân rõ trách nhiệm của cấp trung ương thì trong quá trình cải cách thể chế phải tìm lại cách tổ chức chính quyền nhà nước tại địa phương. Ông Bá đề xuất nghiên cứu thành lập chính quyền cấp vùng, bởi lâu nay chúng ta vẫn chia ra các vùng kinh tế trọng điểm nhưng thực chất đó chưa phải là vùng kinh tế mà chỉ là phép cộng cơ học của các tỉnh.
Để thực hiện điều này, tổ chức bộ máy nếu muốn giữ bốn cấp thì bỏ cấp huyện, thành lập chính quyền cấp vùng. Với thay đổi này chính quyền địa phương không làm kinh tế mà chỉ có trung ương cùng với các vùng đệm làm kinh tế. Nếu trong trường hợp chúng ta không thành lập kinh tế vùng thì có thể thực hiện chế độ Quốc hội hai đầu. “Thực hiện theo cách này mới ra được chiến lược cụ thể, mang nhiều giá trị chứ giờ tỉnh nào cũng muốn làm công-nông nghiệp, dịch vụ thì dư thừa quá!” - ông Bá phân tích.
Xã hội dân sự giám sát Nhà nước và thị trường
Theo TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM, điểm nghẽn của thể chế đang nằm ở vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Vai trò này hiện nay không còn phù hợp và cần phải đổi mới thể chế toàn diện. Tuy nhiên, nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng thị trường vẫn có thất bại vì luôn mang tính tự phát, bất đối xứng thông tin. Vì vậy vẫn cần chú trọng tới vai trò Nhà nước trong định hướng nguồn lực. Nhà nước sẽ thực hiện chức năng kiến tạo phát triển cho thị trường. Cùng với đó, để đảm bảo cho Nhà nước và thị trường song song tồn tại, phát triển, cần hình thành xã hội dân sự để giám sát hai trụ cột này. Đó là hình mẫu của thể chế xã hội hiện đại.
TRÀ PHƯƠNG

Cần có luật trưng cầu ý dân
Trong thời gian tới cần tính đến phương án soạn thảo luật trưng cầu ý dân. Muốn có được việc vĩ đại phải có cải cách vĩ đại. Việt Nam muốn đột phá phải có những bước đột phá, nếu chúng ta vẫn làm từ từ như thời gian qua thì kết quả vẫn cứ từ từ, sẽ không có đột phá.
TS LÊ XUÂN BÁ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM)

KÝ ỨC MIỀN TÂY: LẶNG LẼ GHE HÀNG

Ký ức miền Tây: Nhớ tiếng đờn kìm

Ký ức miền Tây: Thương lắm Ghe chèo

29 tháng 4, 2014

Cây lúa, con cá tra và người nông dân


Quốc Trung
Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa, vựa trái cây, vựa cá... nhưng sao người dân chưa giàu? Đã đến lúc phải tìm cho ra câu trả lời cho thực tế ấy để người dân miền Tây được mát mày mát mặt.
Chạy theo giá lúa, bơi theo con cá

Tái cơ cấu ngành trồng lúa bắt đầu từ đâu? Câu trả lời chắc chắn không phải là bỏ cây lúa, chọn con cá, con tôm hay cây trồng, vật nuôi nào khác theo suy nghĩ kiểu cũ dựa vào "nguồn cung”, quên đi "hướng cầu”  mà phải bắt đầu từ "đổi mới tư duy làm nông nghiệp”. Như vậy mới giúp hàng chục triệu nông dân ĐBSCL vượt qua thách thức, trở thành "doanh nhân nông nghiệp”, làm giàu được bằng nghề nông.
Cho tới nay ĐBSCL, lúa vẫn là cây trồng chính, truyền thống. Chỉ hơn 2 thập niên gần đây, sản lượng lúa của vùng này đã được nhân lên hơn gấp đôi, từ hơn 9 triệu tấn (năm 1990) lên gần 25 triệu tấn (năm 2013), kim ngạch xuất khẩu gạo luôn chiếm khoảng 90% cả nước. Nhiều năm qua, ĐBSCL luôn là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả nước.

Tuy nhiên những năm gần đây, lĩnh vực hàng đầu này đang gặp phải nhiều khó khăn. Điệp khúc được mùa rớt giá cứ đeo đẳng người nông dân mãi không thôi, diện tích lúa theo đó cũng đang bị thu hẹp dần. Những bức xúc từ lúa gạo và nông dân đang đòi hỏi sự tiếp cận, sử dụng linh hoạt hơn đối với quy hoạch sử dụng đất. Nhiều ý kiến của các chuyên gia cho rằng, cần áp dụng chính sách trong việc phân vùng giữa các khu vực trồng lúa, phân rõ mục tiêu sản xuất lúa để đảm bảo an ninh lương thực hay lúa hàng hóa, tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược xuất khẩu gạo mang "tính chính trị - xã hội” với tính thương mại, để có chính sách rõ ràng. 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng chia sẻ: "Sản xuất nông nghiệp là nền tảng, một trục phát triển, là trụ đỡ của nền kinh tế; cải thiện đời sống người dân, giảm nghèo. Nông nghiệp tăng trưởng liên tục và toàn diện nhưng nhìn lại, tốc độ đang chậm lại, thu nhập người dân ngày càng giảm. Người lao động trong nông nghiệp còn nhiều khó khăn…”. Và Thủ tướng cũng đã chỉ nguyên nhân: do chi phí sản xuất tăng, trong khi giá bán lại thấp, kéo theo thu nhập của người dân thấp, năng suất lao động trong nông nghiệp chậm được cải thiện. Theo Bộ NN&PTNT, chỉ có 25% nông dân tiếp cận được với các thông tin thị trường, hiện có tới 90% sản phẩm nông nghiệp được bán ra ở dạng thô và 60% sản phẩm bị ép bán với giá thấp.

Con cá tra cũng vậy, sau khi khẳng định được vị trí trong nước, vươn ra thế giới đem lại nhiều ngoại tệ cho đất nước, đem lại sự giàu có cho nhiều nông dân trong những năm 2000, thì những năm sau đó lại rơi vào khủng hoảng. Cụ thể, tình trạng giá cá tra nguyên liệu giảm mạnh thời gian qua là hậu quả của sự phát triển quá nhanh cả trong khâu nuôi và chế biến. Thể hiện rõ trước năm 2008, toàn vùng ÐBSCL chỉ có trên dưới 30 nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu, nhưng sau đó các địa phương ùn ùn xây nhà máy, mở rộng diện tích nuôi...vượt tầm quản lý của các ngành chức năng. Mặc dù cá tra xuất khẩu kim ngạch một năm đạt 1,8 tỷ USD nhưng hầu hết vẫn là phi lê đông lạnh, sản phẩm giá trị gia tăng chỉ chừng 1%. 

Cũng như trong một cuộc chiến đấu trường kỳ, cây lúa – hạt gạo, con cá tra, người nông dân ĐBSCL đã vấp phải những khó khăn, thậm chí là thất bại. GS.TS Võ Tòng Xuân day dứt: Nông dân trồng lúa, thành phần đông đảo nhất của nước ta tuy sản xuất khối lượng lúa để chế biến ra gạo xuất khẩu đưa Việt Nam đứng vào hàng thứ nhất, nhì trên thế giới, lại là tầng lớp nghèo nhất. Hầu hết nông dân phải lo bán đổ bán tháo lúa mới vừa gặt, thậm chí bán cả lúa non để trang trải nợ nần… 

Còn TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho biết: Mang tiếng là xuất khẩu sản lượng hàng đầu thế giới nhưng thời gian qua ta không làm chủ được thị trường. Cũng như con cá tra, nhiều năm qua Việt Nam "một mình một chợ” nhưng chưa bao giờ làm chủ được giá cả để rồi tự bơi theo nó...  Xuất khẩu số lượng lớn mà sản phẩm không có thương hiệu thì ngang bằng làm thuê cho thiên hạ. Đấy cũng là kết quả của quá trình đầu tư thiên về chiều rộng, thiếu chiều sâu đa dạng sản phẩm, tăng hàm lượng công nghệ…

Đã đến lúc phải làm một cuộc cách mạng

Trong các cuộc kháng chiến, nông dân là lực lượng hùng hậu quyết định mọi thắng lợi. Sau khi hòa bình, nông dân được giao trọng trách "đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” qua nghề trồng lúa. Họ không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ nuôi sống cả dân tộc mà còn biến Việt Nam từ nước thiếu đói trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo, giữ vững sự ổn định kinh tế - chính trị của đất nước, ngay cả trong thời kỳ bị tác động nặng nề của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. 

Trên thực tế Chính phủ đã tính toán tới chuyện này. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh, cần phải nhanh chóng "tái cơ cấu lại nông nghiệp, hay nói cách khác là tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả cao hơn và bền vững hơn gắn với xây dựng nông thôn mới là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển…”. Đồng thời xem đây là vấn đề mấu chốt mà các bộ ngành cần phải tính toán và sớm đưa ra những quyết sách, điều chỉnh hợp lý nhằm vực dậy và đưa ngành nông nghiệp của cả nước nói chung và của ĐBSCL nói riêng. 

Tuy nhiên làm gì đi nữa thì việc đầu tiên vẫn không thể tách rời, xem nhẹ vai trò tham mưu, đề xuất của các địa phương mà trong đó cụ thể là người nông dân, phải tìm và hiểu rõ người dân bây giờ muốn gì, cần gì để đưa ra quyết sách cho đúng, hợp lý... mới tạo được sức mạnh tổng hợp làm nên "cuộc cách mạng xanh”...  

Trong kháng chiến, có lúc phong trào bị đàn áp, thoái trào, cán bộ bị bắt, bị tù đày, người dân khốn khó, lầm than, thế cách mạng "ngàn cân treo sợi tóc”... Nhưng cuối cùng ta vẫn làm nên chiến thắng. Sở dĩ như vậy là do quần chúng nhân dân luôn tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng. Bên cạnh đó, Đảng luôn tin dân, biết dựa vào dân để phát động những cuộc đấu tranh, tiến công chiến lược để giành thắng lợi cuối cùng. Có những chủ trương, quyết sách đúng, kịp thời để xoay chuyển tình thế. Biết phát huy sức mạnh tổng hợp: 3 mũi giáp công, 3 thứ quân, 3 vùng chiến lược...

Ngoài ra, để người nông dân tin vào Đảng thì Đảng, Nhà nước phải cùng lo và giúp cho nông dân, thông qua việc làm cụ thể: tạo điều kiện vay vốn thuận lợi, dễ dàng; đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông thôn; chú trọng đầu tư giáo dục, nâng cao dân trí; quan tâm tạo điều kiện nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất - chế biến - bảo quản những nông sản chủ lực của vùng (trong đó có lúa - gạo, cá tra). Điều cốt yếu là Đảng và Nhà nước phải có những quyết sách hợp lý, kịp thời, không thể để nông dân tự bơi trong sân chơi toàn cầu, không thể để chuỗi giá trị trong nông nghiệp tiếp tục bị cắt vụn: nông dân chỉ biết nuôi trồng, không biết gì về nhu cầu thị trường, không tự quyết về giá bán; chuyện mua bán do thương lái làm chủ, tùy tiện ép giá; doanh nghiệp thì khư khư thủ lợi, chỉ hợp tác với nông dân khi thấy dễ kiếm lời, không có quan hệ hợp tác căn cơ, lâu dài, vì lợi ích hài hòa của cả 2 bên.

Chia sẻ với Đại Đoàn Kết, ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ cho rằng, việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. "Tái cơ cấu ngành trồng lúa” bắt đầu từ đâu? Câu trả lời chắc chắn không phải là bỏ cây lúa, chọn con cá, con tôm hay cây trồng, vật nuôi nào khác theo suy nghĩ kiểu cũ - dựa vào "nguồn cung”, quên đi "hướng cầu”,  mà phải bắt đầu từ "đổi mới tư duy làm nông nghiệp”. Tái cơ cấu ở vùng trọng điểm lúa số 1 của cả nước cần được bắt đầu từ chính những yếu kém nội tại và tận dụng lợi thế của vùng này trước thách thức cạnh tranh nông nghiệp ngày càng gay gắt, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Hơn cả tái cơ cấu, phải là cuộc lột xác thật sự. Nó phải được tiến hành bằng tư duy, chính sách dài hạn hơn là những đối phó ngắn hạn. Nó phải là quá trình hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo và xây dựng nông thôn mới, giúp hàng chục triệu nông dân ĐBSCL vượt qua thách thức, trở thành "doanh nhân nông nghiệp”, làm giàu được bằng nghề nông.

Khai quật mộ cổ hiếm thấy ở ĐBSCL

Ngày 26.4, Khoa Lịch sử Trường ĐH KHXH-NV TP.HCM phối hợp với Bảo tàng tỉnh Bến Tre khai quật ngôi mộ cổ tọa lạc tại khu phố 2, thị trấn Chợ Lách, H.Chợ Lách, Bến Tre (ảnh).

 
PGS-TS Phạm Đức Mạnh, Trưởng bộ môn Khảo cổ học - Trường ĐH KHXH-NV TP.HCM, người chủ trì khai quật, cho biết đây là ngôi mộ được hình thành trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, thuộc dạng mộ hợp chất với các thành phần như vôi, cát, nhựa ô dước kết hợp với nhau.
Mộ hiếm thấy ở ĐBSCL và có quy mô không thua kém mộ Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu (1752 - 1827) ở Q.Phú Nhuận (TP.HCM), song mộ Trương Tấn Bửu chỉ là mộ đơn còn đây là mộ song táng. Dự kiến đợt khai quật diễn ra trong 10 ngày trên diện tích 100 m2. Các hiện vật thu được qua khai quật sẽ do Bảo tàng tỉnh Bến Tre bảo quản, gìn giữ.
Tin, ảnh: Khoa Chiến

28 tháng 4, 2014

1% sẽ ăn hết của 99%


Nguyễn Vạn Phú
Thứ Năm,  24/4/2014, 09:32 (GMT+7)
Phóng to

Thu nhỏ

Add to Favorites

In bài

Gửi cho bạn bè
“Tôi tin vào sở hữu tư nhân. Nhưng chủ nghĩa tư bản và thị trường phải là nô lệ cho nền dân chủ chứ không phải ngược lại”.
Thomas Piketty
(TBKTSG) - Nếu trong giới kinh tế học mà cũng có ngôi sao như trong giới điện ảnh, ca hát thì Thomas Piketty ắt sẽ là ngôi sao mới nổi, đang được đón chào chẳng kém diễn viên Brad Pitt. Cuốn sách vừa xuất bản bằng tiếng Anh của ông, “Capital in the Twenty-First Century - Tư bản trong thế kỷ 21” tuần trước lọt vào danh sách sách bán chạy nhất của tờ New York Times.
Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman cho rằng cuốn sách của Piketty sẽ “thay đổi cả cách chúng ta suy nghĩ về xã hội và cách chúng ta nghiên cứu kinh tế học”.
Chủ đề cuốn sách đang gây xôn xao dư luận này là bất bình đẳng trong thu nhập, một chủ đề quen thuộc, từng được đề cập trong hàng ngàn cuốn sách hay hàng ngàn bài viết trước đây. Thế nhưng vì sao sách của Thomas Piketty lại trở thành hiện tượng?
Trước tiên phải nói ngay sự bất bình đẳng trong thu nhập mà tác giả đề cập chủ yếu không xoay quanh chuyện lương các CEO cao gấp mấy trăm lần lương công nhân (có nhưng không phải là điểm chính). Sự bất bình đẳng này thể hiện giữa hai xu hướng: thu nhập từ tư bản, có tốc độ tăng cao hơn nhiều so với thu nhập từ sức lao động, thường thấp hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Lương của Bill Gates nay có thể không là bao nhiêu cả khi không còn làm cho Microsoft nhưng so với năm ngoái, tài sản của ông năm nay đã tăng thêm 9 tỉ đô la, lên 76 tỉ đô la Mỹ. Mức tăng ấy đến từ lợi tức tư bản mà dân gian chúng ta thường nói “tiền đẻ ra tiền”. Tốc độ tăng này cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP của nước Mỹ - điều đó có nghĩa, dù không muốn nhưng Bill Gates sẽ tiếp tục ngày càng giàu, trong khi đại đa số dân Mỹ thấy thu nhập hầu như không tăng. Vì vậy khoảng cách giàu nghèo giữa Bill Gates và những người có thu nhập từ tư bản như ông và những người làm công ăn lương sẽ ngày càng giãn ra, giãn dần ra đến một tỷ lệ không tưởng nổi.
Đó chính là lập luận chính của cuốn sách “Tư bản trong thế kỷ 21”. Tư bản, theo định nghĩa của Piketty gồm tất cả những tài sản mà người ta có thể sở hữu và mua bán trên thị trường, như bất động sản, vốn trong doanh nghiệp, máy móc, nhà xưởng, kể cả tài sản sở hữu trí tuệ. Tư bản tạo ra thu nhập và theo Piketty, hiện nay ở các nước phát triển, thu nhập từ tư bản vào khoảng 4-5%/năm.
Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân của các nước này chỉ vào khoảng 1-2%/năm.
Điều gì sẽ xảy ra nếu hai tốc độ chênh lệch nhau này cứ thế tiếp diễn trong suốt thế kỷ 21 này? Chắc chắn sẽ đến lúc những người nắm tư bản trong tay sẽ chiếm gần hết thu nhập của một nước trong khi những người còn lại, tức chỉ biết dùng sức lao động để tạo ra thu nhập, sẽ phải chia miếng bánh ngày càng nhỏ đi. Cuối cùng thế giới sẽ quay trở lại hình ảnh của châu Âu vào thế kỷ 19 khi giới thượng lưu không làm gì cả, chỉ biết hưởng lợi tức trên điền trang như trong các cuốn tiểu thuyết cổ điển và giới lao động bình dân luôn sống trong chật vật nghèo khó.
Lập luận này đi ngược lại những gì kinh tế học lâu nay thường giả định, rằng kinh tế thị trường sẽ làm cho bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng nhỏ lại nhưng Piketty thuyết phục được nhiều người nhờ khối lượng dữ liệu khổng lồ trải dài suốt mấy trăm năm mà ông từng thu thập, phân tích để viết cuốn sách. Ví dụ ông cho rằng giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20, sự bất bình đẳng không rõ nét lắm là bởi tư bản hay sản nghiệp của nhiều người đã bị hủy diệt qua hai cuộc đại thế chiến, qua những cơn khủng hoảng và chỉ mới tích lũy lên lại mức xưa vào nửa cuối thế kỷ 20.
Điều gây ấn tượng trong lập luận của tác giả là: nền kinh tế càng rơi vào trì trệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng giảm thì sự bất bình đẳng trong thu nhập càng cao (vì chênh lệch giữa thu nhập từ tư bản và thu nhập từ lao động càng cách biệt).
Thomas Piketty năm nay mới 42 tuổi, sinh trưởng ở Pháp. Năm 22 tuổi ông đã lấy xong bằng tiến sĩ kinh tế và được ba trường danh tiếng của Mỹ gồm MIT, Harvard và Đại học Chicago mời sang dạy. Ông chọn MIT nhưng chỉ dạy ở đây hai năm rồi quay về Pháp và bỏ hết thời gian để nghiên cứu dữ liệu liên quan đến bất bình đẳng trong thu nhập của hàng chục nước trên thế giới.
Đương nhiên khi vẽ nên bức tranh của kinh tế thế giới đang đi vào chỗ bế tắc như thế, tác giả đưa ra những đề nghị táo bạo: đánh thuế lên tư bản để giảm bất bình đẳng. Đây là điểm yếu của cuốn sách vì đa phần đều cho là tác giả “ngây thơ về chính trị” - không ai dại gì đánh thuế lên tư bản vì nó sẽ chạy sang nước khác; một sắc thuế toàn cầu lại càng bất khả thi hơn.
Hiện nay đa phần lời bình khi điểm cuốn này là sự khen ngợi. Tuy nhiên, phải nói ngay cuốn sách được viết theo dạng nhắm đến độc giả không chuyên về kinh tế nên khá dài dòng, lặp đi lặp lại một cách không cần thiết. Bức tranh toàn cảnh mà tác giả đưa ra trải dài qua nhiều thế kỷ, qua nhiều nước nên giúp độc giả có được cái nhìn rất toàn diện, tỉnh táo, không bị tác động bởi các yếu tố chính trị, chiến tranh hay xung đột “nóng lạnh”.
Nhưng cũng chính vì phải phân tích những chuỗi dữ liệu lớn như thế nên sách đôi lúc mang tính kỹ thuật, khá khô khan. Tác giả đã cố gắng cân bằng trở lại bằng cách dùng các cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Jane Austen, Balzac hay Henry James làm dữ liệu sống để minh họa cho số liệu thời đó.
Điều chắc chắn là cuốn sách của Thomas Piketty sẽ còn được bàn tán nhiều trong năm nay; các nhà làm chính sách ắt sẽ đọc kỹ và rất có thể những phân tích trong cuốn sách sẽ tác động đến một số chính sách trong tương lai. Biết đâu một số nước phương Tây sẽ nới lỏng thêm chuyện nhập cư vì Piketty cho rằng gia tăng dân số cũng là một trong những phương cách giảm bất bình đẳng trong thu nhập.
Trong cuốn Tư bản trong thế kỷ 21, Thomas Piketty đưa ra hai “quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản”. Thứ nhất, ở các nước phát triển tổng giá trị tư bản của nền kinh tế so với tổng thu nhập quốc dân hàng năm thường ở mức 5-6 lần. Ví dụ ở các nước như Pháp, Anh, Đức, Ý, Mỹ, Nhật Bản, thu nhập quốc dân đầu người chừng 30.000-35.000 euro/năm, còn tổng sản nghiệp đầu người (tức tư bản) chừng 150.000-200.000 euro.
Từ đó, Piketty đưa ra quy luật đầu tiên, nếu tổng tư bản bằng sáu năm tổng thu nhập quốc dân và nếu tỷ lệ thu nhập từ tư bản là 5% thì phần chia cho tư bản từ thu nhập quốc dân là 30%.
Quy luật thứ hai, chỉ đúng trong dài hạn, cho rằng tỷ lệ tiết kiệm càng cao và tốc độ tăng trưởng càng thấp thì tỷ lệ tư bản trên thu nhập quốc dân càng cao. Nói cách khác giả thử một nước tiết kiệm 8% thu nhập và GDP hàng năm tăng 2% thì về lâu về dài nước này sẽ tích lũy một khoản tư bản bằng bốn năm tổng thu nhập quốc dân hàng năm. Nhưng nếu GDP chỉ tăng 1%/năm thì sau một thời gian, tỷ lệ tư bản trên thu nhập quốc dân này sẽ là 8 lần chứ không còn là 4 lần nữa.

Việt Nam thiếu doanh nghiệp cỡ ‘vừa’

Báo Thanh Niên, ngày 28-4-2014

Đó là nhận định của ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trước thềm Hội nghị Thủ tướng gặp gỡ doanh nghiệp diễn ra hôm nay (28.4).

Việt Nam thiếu doanh nghiệp cỡ ‘vừa’
Doanh nghiệp tư nhân cần một luồng sinh khí mới từ đột phá chính sách - Ảnh: Ngọc Thắng
“Đội thuyền thúng” bơi ra biển lớn
Sau nhiều năm phát triển nhưng chúng ta vẫn chưa có được những doanh nghiệp (DN) có tên tuổi, thương hiệu lớn mang tầm khu vực, ông nghĩ gì về việc này?
Đúng là chúng ta vẫn chưa tạo ra được một thế hệ các “nhà công nghiệp” gắn liền tên tuổi với sự hình thành và phát triển của các thương hiệu lớn; gắn các cụm ngành công nghiệp quốc gia vươn ra được thế giới, cạnh tranh ngang ngửa với các đối tác quốc tế. Không chỉ thiếu DN dẫn đầu, mà VN còn thiếu cả một khu vực đủ lớn các DN cỡ vừa, đủ sức tiếp cận với công nghệ mới, trở thành đối tác của các tập đoàn xuyên quốc gia, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Trong hơn 500.000 DN thì các DN cỡ lớn chỉ chiếm 2%, DN cỡ vừa 2%, còn lại 96% là các DN nhỏ và siêu nhỏ. Riêng DN siêu nhỏ (với tiêu chí dưới 10 lao động) đã chiếm tới 66 - 67%. Nếu tính cả các hộ cá thể đang hoạt động trong nền kinh tế thì tỷ lệ DN siêu nhỏ có thể chiếm tới 99,9%. Nói một cách hình ảnh, DN VN được ví như “đội thuyền thúng” đứng trước thách thức phải ra biển lớn khi hội nhập.
Việt Nam thiếu doanh nghiệp cỡ ‘vừa’
Ông Vũ Tiến Lộc
Lâu nay, các DN tư nhân vẫn bị lép vế, yếu thế hơn bởi sự độc quyền của DN nhà nước (DNNN) và sự ưu ái của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cho DN FDI. Ông nhìn nhận việc này như thế nào?
Tất cả các quốc gia đều khẳng định rằng, khu vực DN dân doanh trong nước mới là xương sống và động lực chính của nền kinh tế. Ở nước ta khu vực DN tư nhân, đặc biệt DN vừa và nhỏ sẽ là động lực chính cho tăng trưởng và phát triển về mặt dài hạn. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn thừa nhận vừa qua chúng ta mới chỉ quan tâm tập trung để giúp DNNN lớn lên, khu vực FDI bản thân họ có sức mạnh kết nối trong chuỗi năng lực toàn cầu, hoạt động vẫn rất tốt. Còn khu vực tư nhân thiếu bẵng đi các biện pháp như vậy nên họ không lớn được nhanh. Vì vậy, đất nước không có thế hệ DN vừa - tức các DN đủ lớn hoạt động hiệu quả và đủ nhỏ để linh hoạt.
Cần niềm tin và luồng sinh khí mới
Vậy theo ông, Chính phủ cần làm gì để hỗ trợ họ?
Hiện khu vực DN cỡ vừa này rất ít, chỉ chiếm có 2%, “đội thuyền thúng” này đang đứng trước yêu cầu ra khơi, biển lớn. Do đó phải làm sao cùng lúc đạt được 2 mục tiêu. Thứ nhất, làm thế nào để trong 10 năm tới phải có được khoảng 1 triệu DN. Thứ hai, phải tạo dựng được các DN lớn, đặc biệt cỡ vừa. Vừa qua, Chính phủ quyết tâm cổ phần hóa DNNN, đây là cơ hội để DN tư nhân lớn lên. Nhiều ý kiến cho rằng, khi cổ phần phải đặt mục tiêu tìm đối tác chiến lược nước ngoài, nhưng theo tôi quan trọng hơn phải chọn DN tư nhân trước. Làm sao để DN tư nhân tham gia quá trình cổ phần hóa DNNN như vậy họ có thể lớn lên. Bắt đầu từ việc mua cổ phần của DNNN, liên kết tăng lên quy mô. Thứ hai, có chính sách trợ giúp DN tư nhân trở thành DN vừa và lớn. Phải lựa các DN tiềm năng, chọn được trong lĩnh vực VN có lợi thế. Từ đó, Chính phủ có chính sách hỗ trợ họ tiếp cận nguồn lực... giúp họ có thể lớn lên trở thành DN cỡ vừa, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Quy mô DN tư nhân ngày càng nhỏ
Viện Kinh tế Việt Nam phối hợp với Trung tâm nghiên cứu năng lực cạnh tranh vừa công bố báo cáo "Hoạt động của doanh nghiệp tư nhân: Thực trạng, vấn đề và hàm ý chính sách”. Theo đó, tỷ trọng DN nhỏ và siêu nhỏ ở Việt Nam ngày càng nhiều. Cụ thể, năm 2000, số DN này chiếm 85% trên tổng số DN, sau 11 năm, năm 2012, đã tăng lên 95%. Tương ứng với điều này là sự suy giảm của DN lớn từ 9,5% năm 2000 xuống 2,5% năm 2011; DN vừa từ 5,1% vào năm 2000 xuống 2,1% năm 2011.
Báo cáo nhận định, các DN tư nhân, vốn dĩ nhỏ bé nên khi có cú sốc tiêu cực ập đến, khu vực này không có sức đề kháng. Ngược lại, các DN FDI và DNNN không chịu tác động này bởi thị trường của DN FDI từ nước ngoài, còn khối DNNN nhận được ưu đãi từ NN.
Ng.Nga
Anh Vũ

Phát huy vai trò “đầu tàu” trong sản xuất, kinh doanh lúa gạo


Báo Cần Thơ, Chủ nhật, 27/04/2014 21 giờ 29 GMT+0
Trong liên kết “4 nhà” (nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân), Nhà nước đóng vai trò cầu nối gắn kết nông dân-doanh nghiệp (DN) và “đặt hàng” cho nhà khoa học nghiên cứu, sáng chế các tiến bộ kỹ thuật, giống lúa mới đáp ứng yêu cầu sản xuất. Đồng thời, đề ra những chủ trương, chính sách định hướng giúp ngành lúa gạo phát triển theo hướng hiện đại, bền vững. Để phát huy vai trò “đầu tàu” trong liên kết cần sự thống nhất về chủ trương và quyết sách kịp thời của nhà nước.
Định hướng sản xuất
Những năm qua, mặc dù sản lượng lúa gia tăng hằng năm nhưng ảnh hưởng từ thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam thường thấp hơn gạo cùng nhóm của Thái Lan. Điều này làm giá lúa trong nước thường xuyên biến động theo chiều hướng giảm, nhất là vào những lúc nông dân thu hoạch rộ. Cùng với đó là tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp, biến đổi khí hậu, giá thành sản xuất liên tục tăng… Để từng bước khắc phục tình trạng này, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách kịp thời giải quyết khó khăn và đưa nền sản xuất lúa gạo của cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng phát triển theo hướng bền vững. Cụ thể như: Thông tư số 36/2010/TT-BNNPTNT về việc ban hành quy định sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón; Chỉ thị số 1965/CT-BNN-TT về đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”; Quyết định số 2998/QĐ-BNN-TT ban hành Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho lúa; Quyết định số 532/QĐ-TTg công nhận ứng dụng và phát triển biện pháp kỹ thuật tổng hợp “1 phải, 5 giảm” trong thâm canh cây lúa ở ĐBSCL là tiến bộ khoa học kỹ thuật…
Đồng chí Trần Thanh Mẫn (bên phải), Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ kiểm tra tình hình sản xuất lúa tại huyện Vĩnh Thạnh. 
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, các chủ trương, chính sách đề ra từ các bộ, ngành Trung ương trong thời kỳ hội nhập đã góp phần thúc đẩy “4 nhà” gần nhau hơn. Mô hình tham gia “4 nhà” từng bước mở rộng, phát triển dưới nhiều hình thức. Chẳng hạn, về kỹ thuật sản xuất có sự tham gia của “4 nhà” trong chương trình “3 giảm, 3 tăng”, xã hội hóa công tác giống, thực hiện cơ giới hóa; phòng chống rầy nâu và bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá... Ngoài ra, các địa phương còn hình thành các mô hình sản xuất mới (tổ hợp tác, câu lạc bộ khuyến nông, hợp tác xã…); phối hợp với các viện, trường triển khai nhiều chương trình, đề án có hệ thống và nhất quán nhằm định hướng giúp nông dân sản xuất nông sản theo hướng bền vững, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng, cải thiện thu nhập nông dân.
Thực tế sản xuất cho thấy, vai trò của Nhà nước là mắt xích quan trọng trong mối liên kết “4 nhà”, đặc biệt là vai trò cầu nối liên kết giữa nông dân và DN. Đơn cử là những thành công trong phong trào xây dựng và nhân rộng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” ở các tỉnh, thành vùng ĐBSCL thời gian qua. Ông Phạm Văn Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết: “Ở TP Cần Thơ, các “Cánh đồng mẫu lớn” hình t2hành nhờ sự nỗ lực, quyết tâm của chính quyền địa phương. Các quận, huyện nắm chắc yêu cầu, nguyện vọng từ nông dân và DN để làm trung gian kết nối đi đến sự đồng thuận từ cả 2 phía. Mối liên kết được thực hiện linh hoạt theo từng cánh đồng và từng DN từ cung ứng vật tư đầu vào (phân thuốc, giống…) đến khâu tiêu thụ nông sản (bao tiêu, lưu kho chờ giá bán…)”. Một số tỉnh ĐBSCL, mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” được ngành nông nghiệp tổ chức với nhiều hình thức khác nhau như: mô hình “Cánh đồng liên kết” (tỉnh Đồng Tháp); mô hình chuỗi liên kết cung ứng sản xuất, tiêu thụ lúa của Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (tỉnh An Giang); mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” thực hiện với các giống lúa chủ lực tại địa phương và các giống triển vọng, năng suất, chất lượng cao và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (tỉnh Kiên Giang)…
Ngành sản xuất kinh doanh lúa gạo ĐBSCL liên tục lập được những kỳ tích trong những năm qua không thể phủ nhận vai trò quản lý Nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương. Song, bên cạnh kết quả đạt được, ngành hàng chủ lực này đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn như: tình trạng được mùa mất giá liên tục xảy ra, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, đặc biệt là đời sống của nhiều nông hộ vẫn khó khăn.
Cần đánh giá đúng thực chất
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, nhấn mạnh: “Những tổng kết thành tích về năng suất, tổng sản lượng, lượng gạo xuất khẩu năm sau luôn cao hơn năm trước là rất cần thiết cho sự chỉ đạo trong sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, nông dân chỉ thực sự phấn khởi khi thu nhập thuần của họ được cải thiện. Nhà nước có những chủ trương, chính sách hướng vào lợi ích của nông dân. Nhưng nhìn chung, nông dân thụ hưởng ưu đãi từ những chính sách chưa được bao nhiêu, mà thường “đọng” lại ở DN, thương lái”. Nhiều chuyên gia cho rằng, hằng năm Nhà nước bỏ ra hàng trăm tỉ đồng để hỗ trợ lãi suất cho DN tạm trữ lúa gạo, trong khi DN được vay vốn không phải trả lãi để mua lúa lúc giá rẻ và chờ đến khi giá cao thì bán, người nông dân vẫn chưa được hưởng lợi tương xứng từ chính sách này.
Thạc sĩ Lê Thanh Tùng, Phó Trưởng phòng Cây lương thực-Cây thực phẩm, Cục Trồng trọt cho rằng, nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong chuỗi sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, trước hết cần thay đổi tư duy về lập kế hoạch và chỉ đạo sản xuất. Không chỉ chú trọng diện tích, năng suất và sản lượng mà phải bổ sung thêm việc cải thiện các yếu tố trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ lúa gạo để gia tăng chất lượng lúa gạo và lợi nhuận cho nông dân. “Sản xuất lúa theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tạo sự chuyển biến trong việc giảm bớt các chi phú trung gian. Những cải thiện này là cần thiết nhưng cũng cần chú ý đến việc giảm giá thành sản xuất lúa. Muốn vậy, Nhà nước phải điều tra, đánh giá, phân tích hiệu quả sản xuất lúa từ góc nhìn thời vụ và cơ cấu giống lúa; đánh giá việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tỷ lệ áp dụng và hiệu quả của việc sử dụng giống lúa xác nhận…”- Thạc sĩ Lê Thanh Tùng đề xuất. Đối với công tác quản lý nhà nước về phân bón, chính quyền địa phương cần thống nhất đầu mối quản lý; bổ sung cán bộ chuyên trách; đầu tư trang thiết bị, kinh phí cho việc quản lý. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý chất lượng phân bón theo hướng dẫn của Thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT Quy định việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản để nhanh chóng phát hiện, xử lý kịp thời các cơ sở sản xuất, kinh doanh phân bón kém chất lượng.
Nhận diện được những khó khăn, thách thức, các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL đang nỗ lực tổ chức lại sản xuất ngành lúa gạo theo hướng hiện đại, chất lượng cao, tính cạnh tranh cao và bền vững là yêu cầu bức bách hiện nay. Ông Phạm Văn Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết: “Để phát huy lợi thế tự nhiên cho sản xuất đạt hiệu quả cao nhất, ngành nông nghiệp thành phố chỉ đạo tổ chức sản xuất tốt thông qua việc xây dựng và thực hiện các quy hoạch vùng hàng hóa cho các sản phẩm chủ lực (lúa, thủy sản…). Bên cạnh đó, chuyển dịch cơ cấu từ sản xuất lúa sang màu tại những vùng sản xuất lúa xuân hè kém hiệu quả, từ lúa sang lúa-cá tại vùng sản xuất lúa thu đông để giảm áp lực nguồn cung và gia tăng hiệu quả sử dụng đất. Tổ chức lại sản xuất theo vùng với các hình thức tổ chức phù hợp như: hợp tác xã, tổ hợp tác, câu lạc bộ, “Cánh đồng mẫu lớn”... nhằm thuận tiện cho việc quản lý, làm cơ sở phát huy liên kết với DN”. Một số địa phương vùng ĐBSCL còn vận dụng linh hoạt các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất như: hỗ trợ giống, phục hồi sản xuất sau thiên tai, dịch hại; đẩy mạnh cơ giới hóa, khuyến nông... Đặc biệt, phong trào ứng dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật theo quy trình tiên tiến, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành tối đa. Đây được xem là giải pháp tối ưu giúp nông dân chịu đựng trước áp lực do biến động thị trường.
Bài, ảnh: MỸ THANH

Hiểu đúng đờn ca tài tử để bảo tồn và phát huy có hiệu quả


Báo Cần Thơ, Thứ hai, 28/04/2014 08 giờ 45 GMT+0

Trong khuôn khổ Festival Đờn ca tài tử (ĐCTT) quốc gia lần thứ I – Bạc Liêu 2014, ngày 27-4, Viện Âm nhạc quốc gia và UBND tỉnh Bạc Liêu đã tổ chức Hội thảo Bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT. Hơn 200 đại biểu là các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nghệ nhân khu vực Nam bộ đã trình bày những hiểu biết, suy nghĩ về ĐCTT và thống nhất quan điểm cần phải hiểu đúng và yêu mến thì mới có cách bảo tồn và phát huy có hiệu quả Di sản của nhân loại.
Báo Cần Thơ xin lược ghi ý kiến của một số đại biểu tại hội thảo.
Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê:
Thuở nay, chưa có loại hình âm nhạc nào gọi là “chơi” như ĐCTT
Nếu như những loại hình âm nhạc khác người ta gọi là trình diễn, biểu diễn thì ĐCTT được gọi là “chơi ĐCTT”. Điều này thể hiện tính ngẫu hứng, tâm tấu, đồng điệu giữa người đờn ca và người nghe. ĐCTT có 20 bài bản Tổ và một số bài nhỏ, người ta gọi là lòng bản. Nhưng khi chơi, người đờn không cần rập khuôn theo lòng bản mà thêm thắt hoa lá sao cho tiếng đờn du dương, mùi mẫn, miễn sao đừng lạc điệu, sai lệch lòng bản là được. Trong ĐCTT có một nguyên tắc thẩm mỹ “học chân phương – đờn hoa lá” là vậy.
Phần đông, khi nhắc đến ĐCTT, người ta cho rằng lối nhạc đó không sâu sắc, chuyên nghiệp mà mang tính cách giản dị, dân gian, nghiệp dư. Thực ra, “tài tử” có nghĩa là người có tài. Người đờn tài tử không dùng tài nghệ của mình làm kế sinh nhai. Khi nào thích đờn thì họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng nhau đờn chơi, ai biết ca cũng có thể tham gia được, đờn ca suốt đêm không chán. Nhưng khi không thích đờn thì dù cho có đem “tiền muôn bạc vạn” đến thưởng thì các tài tử cũng nhứt định không đờn. Tài tử đờn ca thường tập luyện rất công phu, phải theo thầy học chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng.
Trước khi vào bản thuộc hơi nào, tài tử đờn luôn có câu rao theo hơi đó. Câu rao miền Nam khác với bản dạo của miền Trung. Bản dạo có bài bản nhứt định còn câu rao phóng túng, ngẫu hứng. Mỗi người có cách rao riêng, không ai giống ai. Rao vừa dẫn người nghe đi dần vào điệu, hơi để nghe bản đờn, vừa là lúc thử xem có phím đờn nào chênh lệch hay không. Giống như người kỵ mã trước khi cỡi ngựa cần phải biết chứng con ngựa mình đang cỡi.
Nhạc sư Nguyễn Tấn Nhì:
20 bài bản Tổ trong nghệ thuật ĐCTT
Đầu thế kỷ 20, bài bản ĐCTT Nam bộ đã lưu hành trong dân gian có gần 100 bài. Tuy nhiên, sự trùng lặp về hơi điệu và câu cú thì rất nhiều, trong khi phong cách trình tấu ở mỗi địa phương khác nhau. Để thống nhất cách chơi trong các cuộc giao lưu ĐCTT, các tài tử miền Đông và miền Tây Nam bộ họp nhau ở Nhà Dài (Cần Đước, Long An) dưới sự chỉ huy của thầy đờn Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi), lựa chọn và thống nhất đưa ra 20 bài bản Tổ. Đây là những bài có tính tiêu biểu, đại diện cho 4 hơi điệu căn bản: Bắc, Hạ, Nam, Oán mang đậm bản sắc dân tộc. Hơn một thế kỷ qua, 20 bài bản Tổ này vẫn là chuẩn mực, được giới chơi ĐCTT tuân thủ trong các cuộc so đờn, đấu đờn.
Giáo sư Tô Ngọc Thanh, Giáo sư Trần Văn Khê, Phó Giáo sư Lê Văn Toàn và Giám đốc Sở VHTT&DL Bạc Liêu Nguyễn Chí Thiện (từ phải qua) đồng chủ trì Hội thảo.
 
6 bản Bắc: Lưu Thủy trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Cổ bản vắn, Xuân tình, Tây thi có cấu trúc âm thanh được xây dựng trên 5 cung chánh: hò, xự, xang, xê, cống, không nhấn, không rung, có âm chủ đạo là Xàng Liu. Bản Bắc có nét nhạc vui tươi, hùng tráng. Bảy bài Lễ gồm: Xàng xê, Ngũ Đối thượng, Ngũ Đối hạ, Vạn giá, Long ngâm, Long đăng, Tiểu khúc, có âm chủ đạo là Xế Ú, nên lên dây đờn cho các nhạc cụ thường khi buông dây phải rơi đúng chữ Ú, Xừ thì mới chuẩn xác, mang màu sắc tôn nghiêm, thành kính. Ba bài Nam: Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung có âm chủ đạo là Xàng Xang, nghe buồn thương, tỉ tê. Ngược lại, 4 bài hơi Oán: Phụng hoàng cầu, Tứ đại oán, Giang Nam cửu khúc và Phụng cầu hoàng duyên dù phảng phất chất buồn nhưng buồn bi hùng, bi hận.
Ngày nay, dù người chơi tài tử tài nghệ đến mấy cũng phải tuân thủ lòng bản của 20 bài bản Tổ. Hiểu và nắm vững 20 bài này để không sai lệch, bất đồng trong cách chơi và nhất là không làm mất bản sắc của ĐCTT.
Nhà nghiên cứu Võ Trường Kỳ:
Sự đồng nhất và dị biệt giữa ĐCTT và cải lương
Trước hết, có thể khẳng định rằng: cải lương là “hậu duệ” của ĐCTT. Vì vậy, cả hai loại hình khi sử dụng bài bản cổ nhạc đều phải tuân theo nhịp điệu, tiết tấu của lòng bản. Tuy nhiên, lịch sử hình thành và phát triển của cải lương đã cho thấy những nét khác với ĐCTT.
Sân khấu cải lương mang tính tổng hợp, ngoài âm nhạc còn có đạo diễn, diễn viên, mỹ thuật, đạo cụ, phông trí… và rất cần có khán giả, càng đông càng tốt. Trong khi ĐCTT chỉ là loại hình “âm nhạc thính phòng”, chỉ cần không gian hẹp, đơn giản ở vườn cây, trên ghe xuồng…, không gian yên tĩnh. Số lượng người tham gia không quá đông, cốt chỉ là để đờn cho tri kỷ, ca cho tri âm. Với ĐCTT, trước khi vào bài bản phải rao, rồi gài nhịp vô trước để ca bắt nhịp ca theo. Đờn giữ vai trò rất quan trọng, từ ngang đến hơn cả người ca. Cải lương thì lại quan trọng nghệ sĩ ca diễn, đờn chỉ là yếu tố phụ. Ca nói lối, nói dậm hoặc ngâm thơ xong, gài nhịp vô trước rồi đờn mới bắt nhịp ca theo. ĐCTT chơi ngẫu hứng, còn cải lương nặng về biểu diễn của diễn viên nhằm thể hiện một nội dung nhất định. Bên cạnh đó, tài tử mang tính phóng túng của cá nhân nhiều hơn sân khấu cải lương. Bởi cải lương biểu diễn có sự chỉ đạo của đạo diễn và sáng tạo trong khuôn phép khuôn khổ, còn ĐCTT có khuôn phép riêng nhưng thể hiện rất rõ khả năng chẻ nhịp, nhả chữ của người ca.
Tuy nhiên, từ khi cải lương phát triển cực thịnh, âm nhạc trong sân khấu cải lương đã tác động ngược trở lại đối với nghệ thuật ĐCTT. Từ đó, làm nảy sinh sự lược giảm, rút gọn bài bản. Hiện nay, ĐCTT đã không còn câu nệ về niêm luật chặt chẽ, mà thường trình bày theo kiểu “trích đoạn” , rút gọn để đáp ứng nhu cầu “nhanh – gọn” của một bộ phận đối tượng khán giả.
Thạc sĩ Huỳnh Khải, Quyền Trưởng khoa Âm nhạc dân tộc – Nhạc viện TP Hồ Chí Minh:
Trực truyền vẫn là cách tốt nhất để lưu giữ ĐCTT
Âm nhạc tài tử bao gồm khí nhạc tài tử (tức nhạc không lời ca) và thanh nhạc tài tử (tức biểu diễn có đờn có ca) – dân gian gọi là ĐCTT. Việc truyền nghề trong nghệ thuật ĐCTT hiện nay thuộc về các nghệ nhân, nhạc sĩ. Người truyền nghề không đơn giản chỉ biết đờn ca mà phải giỏi, điêu luyện. Để việc truyền nghề có hiệu quả, người trao truyền cần nắm rõ nguyện vọng, năng khiếu, năng lực của người học để có cách dạy sát hợp.
Cách truyền nghề mà các nghệ nhân ĐCTT vận dụng hàng trăm năm qua là truyền khẩu, truyền ngón trên nền tảng lòng bản, gọi là phương pháp trực truyền. Đến nay, đây vẫn là phương pháp dạy hiệu quả cao, tạo mối dây gắn kết và đồng điệu giữa thầy – trò.
Về nhạc khí, người thầy dạy trò cách đọc và xướng âm bản đờn. Sau khi đã hiểu và xướng âm chữ nhạc tốt, thầy sẽ dạy trò cách đờn. Người thầy luôn theo sát và uốn nắn chữ nhạc, cao độ, rung nhấn và các kỹ thuật mà lòng bản yêu cầu. Phần hòa đờn hết sức quan trọng với người học nhạc khí. Vì mỗi lần như vậy, học trò được dịp thể hiện, sáng tạo những gì đã học. Đờn theo khuôn mẫu là điều tối kỵ. Người đờn phải luôn đổi mới chữ đờn, tạo nét giai điệu mới trong suốt cuộc đời tài tử của mình.
Về thanh nhạc, trước hết, người thầy cũng dạy học trò lòng bản qua cách xướng âm. Phần quan trọng của ca tài tử là phát âm đúng “chính tả tài tử” – nghĩa là “tròn từ, rõ ngữ”. Ngoài ra, thầy ca còn truyền cho trò cách ngắt câu văn rõ ngữ, giữ hơi đầy đặn, âm lượng vừa vặn theo ngữ cảnh…
Kinh nghiệm truyền nghề trực truyền trong ĐCTT của nhiều thế hệ nghệ nhân để lại là rất quý báu. Ngành văn hóa, hội VHNT, trường dạy âm nhạc chuyên nghiệp… cần quan tâm học hỏi, tập hợp các nghệ nhân kinh nghiệm kết hợp với các phương tiện nghe nhìn hiện đại trong truyền dạy ĐCTT. Có như vậy, ĐCTT mới “bén rễ, xanh cây” trong lòng người Nam bộ, xứng danh là di sản của nhân loại.
ĐĂNG HUỲNH (lược ghi)

27 tháng 4, 2014

Ngọt ngào giai điệu phương Nam

TRẦN HIỆP THỦYSGGP Chủ nhật, 27/04/2014, 00:30 (GMT+7)
Festival đờn ca tài tử quốc gia đang diễn ra từ ngày 24 đến 29-4 trên đất Bạc Liêu - quê hương bài Dạ cổ hoài lang. Lịch sử ghi lại rằng, từ những thập niên giữa và cuối thế kỷ thứ 17, những đoàn người hướng về phương Nam, trong hành trang mang theo có cả những âm điệu quê nhà. Sự thay đổi của phong thổ, đất đai cùng sự hào phóng của thiên nhiên nơi vùng đất mới đã làm thay đổi tính cách những lưu dân, họ trở nên rộng mở hơn, thoải mái hơn… Lần hồi đã hình thành nên tính cách phóng khoáng, hào hiệp, nghĩa tình của những người dân phương Nam; hình thành nên văn hóa sông nước, văn minh miệt vườn và hòa quyện trong giao thoa của nền văn hóa cộng cư Kinh, Khmer, Hoa… 


Cùng với đó, một loại hình nghệ thuật mới ra đời trên nền tảng âm nhạc cung đình Huế, nhạc lễ Nam bộ, cùng những điệu dân ca ngọt ngào, sâu lắng, đó là đờn ca tài tử Nam bộ. Để vơi đi nỗi nhớ cố hương, bớt đi sự vất vả cực nhọc, hiểm nguy, những lưu dân vùng đất mới khao khát một loại hình nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu tinh thần. Chính vì vậy mà đờn ca tài tử được đông đảo người dân hấp thụ và sáng tác, sáng tạo.
Thuở ấy, “cọp rầm, sấu quậy”, “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh”, vùng đất phương Nam đã thành một dải đồng bằng hơn 18 triệu dân, nối sông liền biển, là tâm điểm của 500 triệu dân ASEAN. Bây giờ, vẫn tiếng đờn, lời ca ấy, nhưng đã khác xưa khi cái bình dị thường ngày trong xóm, ấp được nâng tầm di sản nhân loại.

Nam bộ không chỉ có gạo trắng, nước trong, hoa thơm, trái ngọt, áo bà ba, khăn rằn quấn cổ của những cô gái miệt vườn, miệt ruộng tròn lẳng đẩy đà mà còn có đặc sản “phi vật thể” - đờn ca tài tử. Dạ cổ hoài lang, bài ca vọng cổ - cái nền, phần hồn của đờn ca tài tử - đã sản sinh ra sinh hoạt văn hóa đậm tính cách Nam bộ: cởi mở, hào sảng, phóng khoáng, ngang tàng; sản sinh ra lối ca à ơi, nói lối, bản vắn (xuân tình, lưu thủy hành vân, kim tiền bản...) xen với làn điệu dân ca (lý con cá, lý cây bông...), hò vè (hò chèo ghe, hò đi cấy...) và sản sinh ra nền cải lương Nam bộ vang bóng một thời, không chỉ tung hoành trong đời sống văn hóa sông nước đồng bằng mà đã lên ngôi ngay ở đất Sài Gòn hoa lệ. 

Nghệ thuật đờn ca tài tử mang đậm hồn tính phương Nam là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Nam bộ không thể trộn lẫn. Bản sắc văn hóa ấy đã tắm tưới làm tươi mát tâm hồn bao thế hệ người dân Nam bộ và bồi đắp cho mối cố kết cộng đồng ngày một bền chặt.

Nhớ xưa quê nghèo, không dễ gì có máy hát đĩa, thâu băng. Nhớ những đêm bơi xuồng đi ruộng, ngang nhà ai có máy thâu băng, nghe Minh Cảnh, Mỹ Châu, Út Trà Ôn hát vọng cổ của Viễn Châu. Tiếng đờn Văn Vĩ mà không dám khua dầm để xuồng đi chầm chậm, chờ xuống hết câu vọng cổ. Thời khó khăn, ít được nghe cải lương, vọng cổ, tài tử trên truyền hình, trong máy thâu băng thì nghe ca ngoài đời. Bác Ba, thím Tám, thằng Năm trong xóm cũng thành danh với ngón đờn, chất giọng chẳng thua kém gì dân chuyên nghiệp. Chất hào sảng, phóng khoáng của những con người phương Nam như đọng lại, rồi bật ra từ tiếng đờn, lời ca vọng cổ.

Tôi đọc ở đâu đó phân tích của một nhà phê bình âm nhạc, khi chơi một bản nhạc của Mozart, Beethoven hay Chopin thì người ta phải đánh ra bấy nhiêu nốt, ngừng lại bấy nhiêu lâu, không sai một ly, chỉ có khác ở lối diễn tả bằng cảm xúc. Còn đờn ca tài tử Nam bộ thì lại trao cho người chơi cái quyền “sáng tạo” ngẫu hứng rất cao. Từ căn bản, nhịp nhàng của bài tổ thì cùng một bài, người đờn, người hát khác nhau. Cùng một người đờn, người hát, nhưng khi này khi khác biểu diễn khác nhau. Đó chính là chất tài tử mà vẫn tạo ra cái thần của môn nghệ thuật dân gian này.

Ai đang về dự Festival đờn ca tài tử quốc gia, xin cho tôi gửi lời tri ân bác gác cửa gánh hát cải lương “bù tèo” xưa đã cho “xả giàn” sớm để bọn trẻ con không tiền chúng tôi thời đó được vào xem. Xin cảm ơn bà hàng xóm quê tôi xưa cho “nghe ké” máy hát dĩa cũ mèm giọng ca Minh Cảnh lanh lảnh đêm khuya... Nhớ tiếng đờn, lời ca vọng cổ xưa như nhớ lời cha ông, bao thế hệ phải giữ gìn, phát huy tài sản vô giá của nhân loại.

Ký ức miền Tây - Mùa cá linh

26 tháng 4, 2014

Cấp bách cải thiện năng lực cạnh tranh

                                                                                                                                  Trần Hữu Hiệp
Sau khi chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2013 được công bố, lãnh đạo nhiều địa phương trong vùng ĐBSCL đã tổ chức họp đánh giá, phân tích nghiêm túc kết quả PCI, "đặt hàng” bộ máy tham mưu phải có giải pháp và quyết tâm cải thiện thứ hạng. Các cuộc hội thảo diễn ra liên tiếp tại các tỉnh...

ĐBSCL - “vùng sáng” trong bản đồ PCI cả nước
Mặc dù có sự trồi sụt về thứ hạng, nhưng nhìn tổng thể, ĐBSCL tiếp tục là “vùng sáng” trong bản đồ PCI cả nước. Mảng sáng chung của các địa phương dưới góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp chính là tính năng động của chính quyền, chi phí thời gian, chi phí không chính thức thấp, gia nhập thị trường – các chỉ số thành phần cấu thành kết quả PCI của các tỉnh, thành trong vùng liên tục đạt điểm số khá tốt nhiều năm liền. Đó chính là “phần mềm bù lỗ” cho những hạn chế về cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực mà nhiều địa phương đang nỗ lực khắc phục.
Kết quả PCI năm 2013 cho thấy, ĐBSCL có 3/7 địa phương đứng đầu cả nước trong nhóm “rất tốt”, gồm Kiên Giang, Đồng Tháp và Bến Tre; 2/6 địa phương thuộc nhóm “tốt” là TP. Cần Thơ và Trà Vinh. Trong đó, ấn tượng nhất là Kiên Giang, đã vươn từ hạng 6 năm 2012 lên hạng 3 bảng tổng sắp. Đồng Tháp tuy bị “soán ngôi” đầu bảng, nhưng vẫn thể hiện phong độ ổn định khi giữ vị trí thứ 5. Bến Tre tăng tốc 20 bậc, lên vị trí 6. Cũng đáng ghi nhận là trường hợp của Sóc Trăng, tuy còn nằm trong nhóm “khá”, nhưng đã “vượt lên chính mình” bằng việc cải thiện thứ hạng, tăng nhanh 21 bậc, từ hạng 45 lên vị trí 24/63 tỉnh, thành cả nước. Các trường hợp có lên, có xuống qua các năm như Bạc Liêu, Hậu Giang, Long An, Tiền Giang đều cho thấy, PCI là một quá trình nỗ lực liên tục không ngừng. 
PCI năm 2013 cũng ghi nhận trường hợp của Cà Mau vẫn còn “lẹt đẹt” ở nhóm cuối, lại rớt từ hạng 49 ở nhóm khá, xuống hạng 56 thuộc nhóm “tương đối thấp”. Một số tỉnh đã “rơi tự do” mà nguyên nhân chính là do lơ là sau những nỗ lực bứt phá. Đó là An Giang, từ vị trí thứ 2, rớt 21 bậc, xuống thứ 23; Vĩnh Long từ hạng 5 xuống hạng 16. 
Nhưng nhìn ở cấp độ vùng, đáng quan tâm hơn là việc trong nhiều năm liền, các địa phương đều có điểm số thấp ở 2 chỉ số thành phần là “đào tạo lao động” và “dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp”. Kết quả đó cũng phản ánh bức tranh thực, trùng khớp với các số liệu thống kê của các cơ quan chức năng về tỷ lệ lao động được đào tạo nghề rất thấp của vùng nông nghiệp trọng điểm này. Ngoại trừ TP.Cần Thơ và Long An – 2 địa phương công nghiệp và dịch vụ hàng đầu, thì điểm số “đào tạo lao động” của các tỉnh trong vùng đều đạt dưới 6.0. Vùng này vẫn còn thiếu vắng nhiều dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp cần thiết và có chất lượng về thông tin dự báo thị trường, lao động, việc làm…

Điều cốt lõi - liên kết vùng 
Chính quyền địa phương cần "nắm tay nhau” cùng tiến bộ hơn là "cạnh tranh nhau” để có thứ hạng cao. Thông điệp từ PCI không chỉ nằm trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh!
Giá trị thực của PCI không chỉ nằm ở bảng xếp hạng, mà chính ở động lực mà bảng xếp hạng tạo ra cho những nỗ lực cải cách, những sáng kiến đối thoại công tư thiết thực để tạo ra sự thay đổi có ý nghĩa, như cải thiện thủ tục đăng ký, quản lý, hỗ trợ hiệu quả nhà đầu tư và doanh nghiệp. Việc quan tâm kết quả PCI, tổ chức phân tích, đánh giá nghiêm túc chỉ số PCI của các địa phương là cần thiết. Đặc biệt, lần đầu tiên Chính phủ ban hành Nghị quyết 19 quy định rõ về các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, yêu cầu cải thiện chỉ số PCI của các địa phương và đưa định lượng cụ thể. 
PCI không phải là một loại "bằng khen” kết thúc một năm thi đua, mà chính là một công cụ đo lường điều hành kinh tế của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Thứ hạng cao hơn so với năm trước cũng chẳng mang lại nhiều ý nghĩa nếu như mức độ hài lòng của doanh nghiệp không tốt hơn. 

Vì vậy, "vấn đề cốt lõi” là chính quyền địa phương cần nhìn môi trường đầu tư, chất lượng quản lý điều hành ở không gian rộng lớn hơn là "tư duy hành chính tỉnh”. Đó là sự liên kết vùng để tạo ra môi trường đầu tư tốt hơn. Xét ở góc độ này, thì các chỉ số thành phần của PCI trong 9 năm qua chưa được các nhà hoạch định, đo lường PCI tính đến– chỉ số về nỗ lực liên kết vùng.

MÓN NGON TỪ CHUỘT ĐỒNG

Ký ức miền Tây - Ốc đồng

Mùa Ấu quê hương

25 tháng 4, 2014

Tái cơ cấu đầu tư công: Vẫn cát cứ phân vùng

Báo Đại Đoàn Kết (25/04/2014)
"Đầu tư công gắn với đầu tư liên ngành, đầu tư vùng chưa đạt kết quả, do vẫn còn tình trạng phân vùng cát cứ” - Chuyên gia kinh tế, GS Nguyễn Quang Thái, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam trao đổi với Đại Đoàn Kết về  những tồn tại sau 3 năm thực hiện quá trình tái cơ cấu đầu tư công.

PV: GS đánh giá thế nào về quá trình tái cơ cấu đầu tư công trong 2 năm vừa qua?

Ông Nguyễn Quang Thái: Nếu so với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, kết quả của tái cơ cấu đầu tư công khá rõ nét. Tỷ trọng đầu tư công năm sau giảm khá mạnh so với năm trước. Tỷ trọng đầu tư công năm 2012 chiếm khoảng 39,5 - 40,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội,  còn giai đoạn hiện nay là 30%.  

Quá trình đầu tư công đã thực sự được điều chỉnh mạnh sau khi Chỉ thị 1792 của Thủ tướng được ban hành. Theo chỉ thị này, chỉ được đầu tư những công trình cân đối được vốn. Điều này khiến cho các tỉnh phải cân nhắc rất nhiều trong việc lựa chọn công trình đầu tư. 

Ông có thể nói cụ thể hơn?

Do các địa phương phân vùng cát cứ lớn nên không có quỹ vùng để phát triển kinh tế. Từng tỉnh, mạnh ai nấy xin, mạnh ai nấy chi nên các cảng biển, sân bay đua nhau mọc lên. Các tỉnh tự chi ngân sách mà không chịu liên kết lại nên trong 1 vùng kinh tế, có tỉnh rất mạnh, có tỉnh lại rất yếu. Đáng lẽ muốn phát triển vùng kinh tế thì phải có quỹ vùng, quỹ ngành. Thành phố Hồ Chí Minh muốn "thở bằng mũi” của thành phố Hồ Chí Minh chứ không muốn "thở bằng mũi” của Bà Rịa – Vũng Tàu. Thế là mỗi địa phương xin đầu tư, xin mở rộng 1 cảng riêng. Đầu tư công vì vậy vẫn dàn trải.

Khi tiếp nhận thông tin các công trình giao thông, mà cụ thể là tuyến đường sắt đô thị Cát Linh – Hà đông bị đội vốn đến 399 triệu USD, ông có suy nghĩ gì?

Thực ra, việc bị đội vốn vẫn có từ xưa đến nay. Nhưng giờ đây, thông tin minh bạch hơn nên nhiều người có thể tiếp cận được. 

Tôi vẫn luôn khẳng định rằng, thất thoát trong xây dựng cơ bản đầu tư công vẫn là vấn đề lớn. Việc chống thất thoát không chỉ là hô hào mà cả hệ thống chính trị phải cùng vào cuộc.

Nhưng thưa ông, các địa phương cũng đua nhau phát hành trái phiếu địa phương?

Tự phát hành trái phiếu rất nguy hiểm. Nếu cho địa phương phát hành thì 5 năm sau người trả nợ là chúng ta chứ không phải ai khác. 

Thưa ông, vấn đề thất thoát, hay sử dụng vốn vay không hiệu quả là nguyên nhân dẫn đến những báo động đỏ trong nợ công?

Con số nợ công dù có nhiều số liệu nhưng ai cũng biết nợ công Việt Nam đang ở con số lớn. Theo khẳng định của Bộ Tài chính vẫn nằm trong ngưỡng an toàn (thấp hơn 65% GDP). Các quan điểm cũng đưa ra rằng, ở Nhật Bản nợ công còn vượt trần GDP đến 200%. Nhưng tôi khẳng định rằng nợ công của họ an toàn vì còn nợ công của mình tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

Trước hết, hiện trạng nợ công tại Việt Nam tăng nhanh. Xu thế 5 năm gần đây nợ  công tăng mạnh. Trước đây 50 tỷ USD thì giờ 100 tỷ USD. Để trả nợ nợ công Chính phủ phải phát hành trái phiếu, vay nợ trong nước. 

Nhưng lãi suất trái phiếu trong nước cũng 8% - 9%/ năm. Chúng ra cũng đi vay nợ nước ngoài để trả nợ nữa, lãi suất các khoản vay này tính trung bình khoảng 2,5%. Như vậy, với khoản nợ 50 tỷ USD tiền trả nợ thực với người nước ngoài chỉ 1 tỷ USD/năm thì tiền trả nợ trong nước 4 tỷ/ năm. 

Nhật Bản người ta cũng huy động vay nợ người dân, nhưng lãi suất của họ là 0%. Chính vì vậy mà tôi nói, nợ công của Nhật Bản an toàn hơn. 

Trong thời gian gần đây liên tiếp các thông tin vay nợ để trả nợ được đưa ra. Nhận định của ông?

Kế hoạch vay của Chính phủ năm 2014 bao gồm: kế hoạch vay trong nước 367.000 tỷ đồng, trong đó, vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước là 197.000 tỷ đồng; phát hành trái phiếu cho đầu tư là 100.000 tỷ đồng và đảo nợ khoảng 70.000 tỷ đồng.

Cùng với kế hoạch vay, Thủ tướng cũng quyết định kế hoạch trả nợ của Chính phủ năm 2014 là 208.883 tỷ đồng, bao gồm trả nợ trong nước là 159.683 tỷ đồng, trong đó, phần chi trả nợ trực tiếp từ nguồn ngân sách nhà nước là 92.323 tỷ đồng và thực hiện vay mới để đảo một phần nghĩa vụ nợ đến hạn. Trả nợ nước ngoài là 49.200 tỷ đồng, trong đó, nghĩa vụ trả nợ của các chương trình, dự án được cấp phát từ ngân sách nhà nước là 26.427 tỷ đồng và chi trả nợ của các khoản vay về cho vay lại là 22.773 tỷ đồng. 

Nhìn vào kế hoạch trên thì chúng ta toàn thấy vay nợ để trả nợ, vay nợ để đảo nợ chứ không thấy đưa tiền vào sản xuất, cũng nguy hiểm.

Trân trọng cảm ơn ông!

Thúy Hằng (thực hiện)

Xăng tăng ằng ắng ăng

“Hệ điều hành mới” cho ngành lúa gạo

TRẦN HỮU HIỆP
Câu chuyện lúa gạo ở ĐBSCL tiếp tục nóng sau khi giá nhích lên đôi chút từ chủ trương thu mua tạm trữ của Chính phủ, nay lại đang giảm giá. Một lần nữa “hệ điều hành” lúa gạo cần được xem xét lại với yêu cầu hoạch định chính sách dài hạn.

Trong điều kiện hiện nay và chắc chắn sẽ còn rất lâu, an ninh lương thực vẫn là vấn đề mang tính toàn cầu và Việt Nam vẫn là quốc gia đóng góp có trách nhiệm cho thế giới. Chúng ta xác định lúa gạo là vấn đề chiến lược và đã có nhiều chính sách tốt; song, khi mà nhiều quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu đã đưa ra những điều chỉnh quan trọng về chính sách, Việt Nam cũng phải nghĩ đến một “hệ điều hành” mới, sao cho vẫn giữ vững nguyên tắc “2 bảo đảm” - an ninh lương thực quốc gia và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa - đồng thời bổ sung tính linh hoạt. Theo đó, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp gắn với mô hình sản xuất mới, được hỗ trợ bằng tư duy đổi mới, những đột phá về cải cách thể chế chính là yêu cầu cấp bách hiện nay.
Ý kiến của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu và thương gia cũng đề cập đến yêu cầu thay đổi chiến lược xuất khẩu gạo, xây dựng thương hiệu, tập trung vào phân khúc chất lượng cao để nâng cao và hoàn thiện chuỗi giá trị giúp tăng lợi nhuận cho người trồng lúa. Trước yêu cầu này, thiết nghĩ những nhà hoạch định chính sách lúa gạo Việt Nam quan tâm mấy việc:
Một là, cần tiếp cận linh hoạt hơn đối với quy hoạch sử dụng đất trong việc thực hiện chủ trương giữ 3,81 triệu ha đất trồng lúa đã được Đảng và Nhà nước khẳng định. Trong đó, phân biệt khu vực trồng lúa “trọng yếu” và “không trọng yếu” dựa trên sự phù hợp về sinh thái nông nghiệp, năng suất, tác động của biến đổi khí hậu.
Hai là, áp dụng phân vùng theo không gian, có chính sách hỗ trợ khác nhau ở “vùng lõi”, “vành đai” và các khu vực trồng lúa bình thường khác, có xem xét mục tiêu sản xuất lúa cho an ninh lương thực hay lúa hàng hóa. Tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược xuất khẩu gạo mang tính xã hội và tính thương mại để có chính sách rõ ràng, phân biệt giữa 2 mục tiêu, để tăng cường hỗ trợ nhóm thực hiện mục tiêu chính trị - xã hội, giải phóng một phần gánh nặng để tăng lợi nhuận, đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm cho nhóm thương mại. Định hướng lại trọng tâm, chuyển từ các chức năng thương mại sang tập trung vào các mục tiêu xã hội, “hàng hóa công” và quản trị rủi ro.
Ba là, tiếp tục tăng cường chiến lược đa ngành, lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu như xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, chống suy dinh dưỡng trẻ em... để cùng đảm đương nhiệm vụ an ninh lương thực và chống suy dinh dưỡng chứ không đặt hết gánh nặng lên vai người trồng lúa. Tầm nhìn dài hạn và bức xúc trước mắt cho một ĐBSCL phát triển an toàn, trù phú và bền vững trước tác động xấu của thiên tai và nhân tai đang đòi hỏi phải “chọn lựa ưu tiên” và phải đảm bảo nguyên tắc “không hối tiếc”. Một “hệ điều hành mới” cho ngành lúa gạo Việt Nam đang rất cần.


24 tháng 4, 2014

Thư viện VideoClip: Bến Tre khát nước sạch




Phóng sự của Hải Hân phát sóng ngày 23/4 trên VTC16

Nông dân mua cổ phiếu và đại gia “chăn bò”

TRẦN HỮU HIỆP
TT - Chuyện nông dân miền Tây mua cổ phiếu và đại gia đi “chăn bò” đang là tín hiệu đáng mừng cho giới kinh doanh và ngành nông nghiệp VN.

1.724 nông dân miền Tây đã mua hơn 1,8 triệu cổ phiếu với số tiền hơn 56 tỉ đồng của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang là sự kiện chưa từng diễn ra, mở ra kỳ vọng về hướng đi mới của ngành nông nghiệp, hiện thực hóa ước mơ “doanh nhân hóa nông dân”. Từ nay nông dân được làm chủ, quyết định đầu vào (giá mua vật tư, nguyên liệu) và đầu ra (giá bán lúa gạo) - sản phẩm mình làm ra với tư cách những người chủ doanh nghiệp.
Trong khi đó, các đại gia bất động sản, ngân hàng đang đi “chăn bò”, trồng bắp, trồng mía qua việc dồn sức, đổ cả tỉ USD cho các dự án nông nghiệp. Thông tin từ các tập đoàn này cho biết, nông nghiệp sẽ thành ngành đóng góp chính trong cơ cấu doanh thu của Hoàng Anh Gia Lai với tỉ trọng 50%. Tập đoàn này đã dịch chuyển trọng tâm kinh doanh từ bất động sản sang nông nghiệp nhiều năm qua với hàng chục nghìn hecta đất trồng cao su, mía đường, cọ dầu. Còn True Milk của bà Thái Hương với dự án tỉ USD, đàn bò hàng chục nghìn con, vùng trồng thức ăn gần 10.000ha đang hướng tới mục tiêu trở thành một trong những nhà cung cấp sữa tươi sạch hàng đầu VN. Công ty mía đường Thành Thành Công của đại gia ngân hàng một thời Đặng Văn Thành trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm của các nhà máy đường liên doanh hay có nguồn gốc quốc doanh.
Có người cho rằng các đại gia này “đang diễn” trong các kịch bản PR của họ để tăng tính cạnh tranh ở một lĩnh vực đầu tư mà lâu nay nhiều người còn ngần ngại bởi những rủi ro do thiên tai lẫn nhân tai. Nhưng thật khó nghi ngờ khi những tập đoàn này đổ hàng tỉ USD cho các chương trình, dự án đầu tư của mình vào ngành nông nghiệp ở Campuchia, Lào, Myanmar và nay là “một chiến dịch lớn” ở VN. Đã đến lúc cần phải nhìn nhận lại việc trồng bắp, nuôi bò, trồng mía... là xóa đói giảm nghèo. Khi kinh doanh đi vào nông nghiệp, khi doanh nhân hóa thân vào nông dân và nông dân chuyển hóa thành doanh nhân, khi mà yêu cầu sản xuất lớn hơn, phương thức và trình độ quản lý hiện đại hơn được đưa vào tam nông và bài toán kinh tế được giải nghiêm túc đã tạo dựng được niềm tin về lợi nhuận thật sự từ ngành kinh tế này hơn là khẩu hiệu “30% lợi nhuận cho nông dân”.
Tất nhiên, nông nghiệp không phải là một ngành “dễ ăn”, không thể kiếm tiền được từ lĩnh vực này nếu làm ăn không chuyên nghiệp và không đầu tư lớn. Nhìn vào các dự án hàng tỉ USD và cách thức đầu tư vào nông nghiệp của bầu Đức, ông Thành hay bà Thái Hương... có thể thấy chỉ có “làm thật mới được ăn thật”. Tương tự, những cổ đông nông dân của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang cũng đang đứng trước nhiều thách thức hơn là mức ưu đãi ban đầu về giá mua cổ phiếu mà công ty đã dành cho họ. Những “doanh nhân nông dân” này phải có kiến thức và nắm rõ “luật chơi thương trường” như mình thuộc từng mảnh ruộng, con nước lớn nước ròng để làm chủ thật sự.
Nông dân mua cổ phiếu và “đại gia chăn bò” dù là tín hiệu đáng mừng, nhưng cũng chỉ mới là tín hiệu về một bước “lột xác” đầu tư. Khi đã có những thành công nhất định, không phải là vài nhà đầu tư mà sẽ có nhiều nhà đầu tư đổ xô vào nông nghiệp theo kiểu bầy đàn, chắc chắn sẽ là thách thức mới, đặt ra bài toán mới cần được giải.
TIN BÀI LIÊN QUAN
CHIA SẺ
TỪ KHÓA
TIN BÀI KHÁC