14 tháng 8, 2016

Hậu Giang: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chủ lực từ góc nhìn so sánh và tiếp cận theo vùng

Trần Hữu Hiệp
TCCSĐT - Tình trạng sản xuất thiếu liên kết, quy mô nhỏ lẻ, đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, mỗi tỉnh, thành phát triển sản phẩm chủ lực theo kiểu “mạnh ai nấy làm” hoặc mô phỏng lẫn nhau thường dẫn đến cạnh tranh cục bộ, triệt tiêu nguồn lực. Trong bối cảnh đó, việc tỉnh Hậu Giang xác định các mặt hàng nông sản chủ lực để tập trung đầu tư phát triển sản xuất và tiêu thụ là hướng đi đúng, căn cơ. Vấn đề đang đặt ra là cần đặt những nỗ lực mang tính đột phá của Hậu Giang trong mối liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long và lợi thế so sánh để phát triển bền vững.
Con đường lúa gạo miền Hậu Giang

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sản phẩm chủ lực

Sản phẩm chủ lực là khái niệm để chỉ những sản phẩm có ưu thế cạnh tranh vượt trội, quy mô lớn, tính đồng nhất cao, có sức lan tỏa và chi phối, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế của một địa phương, một vùng lãnh thổ, một quốc gia. Một số quốc gia còn xác định những sản phẩm chủ lực nhằm hoạch định các cơ chế, chính sách và tổ chức sử dụng hợp lý tài nguyên, nguồn lực trong nền kinh tế cạnh tranh.

Thực tế cho thấy, có những sản phẩm nhờ lợi thế đặc thù của vùng, địa phương và tính vượt trội của nó đã trở thành sản phẩm chủ lực một cách tự nhiên, được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến như là một sản phẩm đặc trưng của vùng và địa phương đó. Một cách khái quát, sản phẩm chủ lực được thừa nhận với 5 đặc tính căn bản là: (1) Có quy mô lớn và tính đồng nhất cao, (2) Có năng lực cạnh tranh quốc gia hoặc tầm quốc tế, (3) Có sức lan tỏa mạnh, (4) Mang tính độc đáo của địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia (5), Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản mà còn là nơi bảo đảm “sức khỏe”cho nền nông nghiệp cả nước. Thực tế cho thấy, các sản phẩm chủ lực của đồng bằng sông Cửu Long như lúa gạo, tôm, cá tra và trái cây đã có nhiều đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội vùng và cả nước. Thời gian qua, một số tỉnh, thành trong vùng dựa vào lợi thế, tiềm năng và yêu cầu phát triển đã xác định một số sản phẩm chủ lực của mình. Tỉnh Tiền Giang phát triển các sản phẩm chủ lực như: vú sữa Vĩnh Kim, thanh long Chợ Gạo, sầu riêng Ngũ Hiệp, sơ ri Gò Công, khóm Tân Lập, bưởi lông Cổ Cò, xoài cát Hoà Lộc, nếp bè Chợ Gạo, lúa chất lượng cao, rau an toàn, các sản phẩm nuôi trồng thủy sản (cá tra, tôm, nghêu), giống thuỷ sản, giống lúa và các giống cây khác,... Tỉnh Vĩnh Long chọn các sản phẩm lúa gạo, trái cây, thủy sản, gốm mỹ nghệ, du lịch sinh thái miệt vườn,... Tỉnh Bến Tre ưu tiên “công nghiệp mũi nhọn” dệt may, da giày, chế biến nông, lâm, thủy hải sản, các sản phẩm từ dừa,… Thành phố Cần Thơ chọn các sản phẩm thuộc 3 lĩnh vực nông nghiệp - thủy sản, công nghiệp chế biến và thương mại - dịch vụ như: lúa gạo, trái cây, cá nuôi nước ngọt, thực phẩm đồ uống, hóa chất, dược phẩm, thương mại, nhà hàng - khách sạn, du lịch, vận tải, dịch vụ tài chính, y tế, đào tạo, logistics ...

Ở cấp độ vùng, Thủ tướng Chính phủ đã giao Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ cùng với Trường Đại học Cần Thơ, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam phối hợp với các bộ, ngành liên quan và 13 tỉnh, thành trong vùng đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù cho các sản phẩm chủ lực của vùng. Theo đó, Đề án liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được xây dựng với 5 dự án sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của vùng là: lúa gạo, cây ăn trái, thủy sản (tôm, cá tra). Thực tế nhiều năm qua cho thấy, các mặt hàng lúa gạo, cây ăn trái, thủy sản với những ưu thế cạnh tranh vượt trội, sản lượng lớn, giá trị kim ngạch xuất khẩu và tiêu dùng nội địa cao, có sức lan tỏa và chi phối đã trở thành các sản phẩm chủ lực của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, lúa gạo, tôm, cá tra còn là sản phẩm chủ lực quốc gia với sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng đầu trong nhóm hàng nông sản của Việt Nam. Ngày 06-4-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 593/QĐ-TTg “Về việc thực hiện cơ chế thí điểm liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long” mà nội dung trọng tâm là liên kết phát triển chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực vùng là lúa gạo, thủy sản và trái cây. Như vậy, các sản phẩm chủ lực ở nước ta đang được nhìn nhận theo 3 cấp độ: địa phương, cấp vùng và quốc gia.

Thực trạng và định hướng phát triển các nông sản chủ lực Hậu Giang từ góc nhìn lợi thế so sánh vùng

Hậu Giang là tỉnh được thành lập sau cùng trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (năm 2004) với xuất phát điểm thấp của nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Theo Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang, sau 10 năm thành lập tỉnh, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp đạt 7,79%/năm. Đây là mức tăng trưởng khá cao. Tỉnh đã xây dựng được các vùng nguyên liệu nông sản chuyên canh với quy mô khá lớn, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nội địa và chế biến xuất khẩu như: vùng lúa chất lượng cao 32.000 ha, vùng nguyên liệu mía 10.300 ha, vùng khóm 1.500 ha, vùng cây ăn trái đặc sản 2.500 ha, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung 1.500 ha. Nông sản hàng hóa của tỉnh ngày càng đa dạng và đi vào chất lượng, hiệu quả. Một số mặt hàng nông sản bước đầu hình thành mối liên kết “bốn nhà”, hoạt động ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất ngày càng phát huy hiệu quả, tăng tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản.

Qua 12 năm xây dựng và phát triển, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, một trong những vấn đề có tính cấp thiết đã và đang đặt ra là Hậu Giang cần tiếp tục gắn kết chặt chẽ với mối quan hệ nội vùng, đồng thời phải tìm ra những lợi thế so sánh để tăng cường năng lực cạnh tranh của tỉnh từ những sản phẩm chủ lực.

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 nêu rõ: Nông - lâm - ngư nghiệp có vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển. Từ định hướng đó, tỉnh đã có chủ trương chọn sản phẩm chủ lực là “5 cây”: lúa, mía, cây ăn trái, khóm, rau màu và “5 con”: trâu, bò, heo, gia cầm, thủy sản để phát triển theo chiều sâu và tập trung, nhằm tạo bước đột phá mới cho ngành nông nghiệp. Trong đó, một số loại đặc sản nông nghiệp của tỉnh đã được xây dựng thương hiệu, được thị trường cả nước biết đến như: bưởi Năm Roi Phú Hữu, khóm Cầu Đúc, cá thát lát, lúa Hậu Giang 1(HG1), lúa Hậu Giang 2 (HG2),…

Việc Hậu Giang xác định “5 cây, 5 con” chủ lực của tỉnh, trong đó có một số sản phẩm chủ lực của vùng và quốc gia là định hướng đúng. Tuy nhiên, để những sản phẩm được lựa chọn thực sự là chủ lực, có sức cạnh tranh cao trên thị trường, một yêu cầu lớn đang đặt ra là tỉnh cần phải có một “chiến lược sản phẩm” với hệ thống giải pháp đồng bộ từ qui hoạch, đầu tư, tổ chức sản xuất - liên kết, thị trường, nguồn nhân lực trên cơ sở phát huy tối đa những lợi thế so sánh và phải gắn với liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Điều đáng quan tâm là trong các sản phẩm chủ lực của Hậu Giang có nhiều sản phẩm mà các địa phương khác cũng chọn làm sản phẩm chủ lực; trong đó, lúa gạo, thủy sản, trái cây còn là sản phẩm chủ lực của vùng và của quốc gia. Thực tiễn cho thấy, một số sản phẩm mà Hậu Giang chọn làm sản phẩm chủ lực chưa thực sự có “lợi thế cạnh tranh” mạnh về quy mô, sản lượng, nếu xét dưới góc nhìn so sánh vùng. Vấn đề cần lưu ý là hiện nay vùng nguyên liệu không đóng khung trong ranh giới hành chính tỉnh. Nhiều doanh nghiệp (lúa gạo, thủy sản, mía đường, trái cây) tuy đặt trụ sở tại một tỉnh nhưng luôn quan tâm xây dựng vùng nguyên liệu hoặc tổ chức thu mua nguyên liệu ở nhiều tỉnh khác. Thực tế đó đòi hỏi phải tăng cường phối hợp liên tỉnh, liên kết vùng.

Những lợi thế, tiềm năng sẵn có của Hậu Giang muốn phát huy tốt đòi hỏi và phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả đầu tư phát triển sắp tới. Để đi từ lợi thế so sánh đến lợi thế cạnh tranh là một quá trình, phụ thuộc nhiều vào hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Điều đó đặt ra yêu cầu cho Hậu Giang là phải vừa nâng cao năng lực cạnh tranh từ “thế yếu” (nhỏ về quy mô, sản lượng) sang đầu tư chiều sâu để nâng cao chất lượng bằng hàm lượng chất xám, quy hoạch kết nối sản xuất - thị trường, tổ chức sản xuất, cải cách thể chế; đồng thời phải tăng cường liên kết với các tỉnh, thành khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tạo ra thế “cạnh tranh trong liên kết” chứ không phải “cạnh tranh đối đầu”. Đặc biệt, Hậu Giang cần nhanh chóng xây dựng, phát huy vai trò của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; hình thành Trung tâm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với nòng cốt là các doanh nghiệp tham gia đầu tư. Đây là những hạt nhân để tạo ra công nghệ cao phục vụ nông nghiệp hoặc ứng dụng công nghệ cao sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, chuyển giao công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp cho Hậu Giang và các địa phương khác trong vùng.

Đề xuất một số nhóm giải pháp

Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn phát triển các sản phẩm chủ lực của tỉnh Hậu Giang, cũng như định hướng trong thời gian tới, xét trong góc nhìn liên kết vùng và lợi thế so sánh của tỉnh, để nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực này trên thị trường, trong thời gian tới tỉnh Hậu Giang cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

Nhóm giải pháp về quy hoạch - đầu tư

Rà soát, hoàn chỉnh quy hoạch theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, dựa trên lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực được lựa chọn, tránh dàn trải để tập trung đầu tư chiều sâu. Khẩn trương triển khai Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tăng cường liên kết vùng phát triển sản xuất và tiêu thụ, xây dựng các “Cluster (cụm ngành) lúa gạo, trái cây, thuỷ sản” của vùng. Trong đó, nên lựa chọn lợi thế cạnh tranh từ những sản phẩm chủ lực như lợi thế về chế biến, xuất khẩu tôm đã được đầu tư từ Công ty Minh Phú - Hậu Giang, Công ty Cafatex,…

Đổi mới tư duy về phương pháp đầu tư, chuyển từ đầu tư theo “đoạn” sang đầu tư theo “chuỗi” sản xuất. Đầu tư theo chuỗi sẽ giúp tỉnh tránh trường hợp tập trung đầu tư không cân đối trong chuỗi, có đoạn phình to nhưng có đoạn lại teo tóp, gây ra tình trạng mất ổn định trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Muốn vậy, trước tiên cần xác định sản phẩm phải trải qua những công đoạn nào trong chuỗi sản xuất để quy hoạch và xây dựng chính sách thu hút đầu tư phù hợp.

Nhóm giải pháp về khoa học và công nghệ

Để khắc phục tình trạng sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, công nghệ lạc hậu, dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, không đồng bộ cần áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến một cách đồng bộ tại các khâu giống, nuôi trồng và chế biến như: phát triển công nghệ sinh học, áp dụng rộng rãi VietGap, GlobalGap trong sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch để giảm thất thoát, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị của sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản …

Nhóm giải pháp về thị trường và liên kết

Tỉnh cần tăng cường đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường; tổ chức hội chợ triển lãm trong nước và nước ngoài để các doanh nghiệp tham gia giới thiệu, quảng bá các sản phẩm chủ lực của địa phương. Tăng cường liên kết vùng chuyên canh và tập trung sản xuất, liên kết chuỗi sản xuất, liên kết thị trường - doanh nghiệp và liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long; tiếp tục tổ chức mạng lưới liên kết theo mô hình các “Cluster cây ăn trái” làm hạt nhân liên kết chặt chẽ hơn so với các hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản lỏng lẻo, thường bị phá vỡ hợp đồng do những biến động về giá cả như thời gian qua.

Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực

Hiện nay, phần lớn lao động của tỉnh Hậu Giang chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật một cách căn bản vì đa số xuất thân từ nông thôn, hoạt động sản xuất - kinh doanh chủ yếu bằng khả năng và kinh nghiệm mang tính truyền thống. Vì thế, việc chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ mới gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu kiến thức và kỹ năng, dẫn đến quản lý điều hành mang tính tự phát, cảm tính và thiếu tầm nhìn. Vì vậy, tỉnh cần có quy hoạch, phân luồng đào tạo chuyên môn và dạy nghề, đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, phù hợp, cán bộ quản lý có năng lực để cung cấp cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất hay khu công nghiệp sản xuất hàng hóa chủ lực của tỉnh và của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Phát triển sản phẩm chủ lực là một yêu cầu tất yếu, khách quan nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của hàng hóa và khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế vượt trội của từng tỉnh, thành và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vì thế, cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, bảo đảm cho sản phẩm chủ lực phát triển một cách ổn định và bền vững.

Song song với việc khẩn trương triển khai xây dựng Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang lồng ghép với phát triển các sản phẩm chủ lực của tỉnh và của vùng, Hậu Giang cần có cơ chế, chính sách tốt nhằm phát huy mạnh mẽ các nguồn vốn sáng tạo thúc đẩy khởi nghiệp, khoa học - công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp - nông thôn, khuyến khích nông dân khởi nghiệp, khuyến khích các mô hình nông nghiệp sáng tạo.

Đề nghị Chính phủ xem xét, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào các sản phẩm chủ lực của vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có một số sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đồng thời, tập trung hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế, khai thông các kênh tín dụng (vốn ngân sách, vốn ODA, vốn FDI, vốn doanh nghiệp tham gia, vốn tín dụng ngân hàng).

Từ các hình thức “liên kết nhà nước” giữa các chính quyền các tỉnh, thành trong vùng với nhau và với thành phố Hồ Chí Minh, với các bộ, ngành trung ương như thời gian qua, cần mở rộng và tăng cường liên kết với doanh nghiệp, liên kết thị trường dựa trên nền tảng lợi ích. Trên cơ sở đó tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, tập huấn, chuyển giao khoa học - công nghệ gắn với từng Cluster chuyên ngành để tạo ra các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao trên thị trường./.


Đề nghị không làm sân bay An Giang 3.400 tỉ đồng

TTO - Đó là kiến nghị của ông Trần Hữu Hiệp, vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, tại buổi họp lấy ý kiến về báo cáo kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng và hệ thống logistics vùng Tây Nam bộ được Bộ GTVT và Ban chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức chiều 10-8. 

Ông Trần Hữu Hiệp phát biểu quan điểm về việc đầu tư sân bay An Giang tại cuộc họp chiều 10-8 - Ảnh: CHÍ QUỐC
Buổi họp nhằm chuẩn bị cho hội nghị chuyên đề về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và hệ thống logistics vùng đồng bằng sông Cửu Long dự kiến sẽ được Bộ GTVT và Ban chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức vào ngày 22-8.
Ông Hiệp nêu ba lý do của kiến nghị trên:
Thứ nhất vốn đầu tư dự án sân bay quá lớn, thứ hai khoảng cách địa lý với sân bay quốc tế Cần Thơ, sân bay Rạch Giá và sân bay Phú Quốc (Kiên Giang) là quá gần và thứ ba là nơi đây cũng gần biên giới Campuchia nên cần cân nhắc.
Góp ý về đầu tư vốn cho thời gian 5 năm tới, ông Hiệp cho rằng nên tập trung ưu tiên cho các dự án giao thông đang đầu tư dở dang.
Cũng tại hội nghị, đại diện Sở GTVT tỉnh An Giang cũng cho rằng sân bay An Giang có suất đầu tư lớn, ảnh hưởng đất nông nghiệp, vì vậy nên nghiên cứu đầu tư sau năm 2030. Còn hiện tại nên tập trung nâng cấp, mở rộng quốc lộ 91 để đoạn đường từ An Giang đến sân bay quốc tế Cần Thơ được thuận tiện hơn.
Theo danh mục các dự án ưu tiên đầu tư hàng không giai đoạn 2016-2020 được Bộ GTVT lấy ý kiến các tỉnh, thành ĐBSCL chiều 10-8, dự án sân bay An Giang có tổng vốn đầu tư 3.417 tỉ đồng, được đầu tư theo hình thức PPP (đối tác công - tư), cổ phần.
CHÍ QUỐC


3.400 tỷ xây sân bay An Giang: Vẫn chưa cần thiết

Thay vì xây sân bay An Giang, nên tập trung ưu tiên cho các dự án giao thông đang đầu tư dở dang.
Đó là nhận định của ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, tại buổi họp nhằm chuẩn bị cho hội nghị chuyên đề về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và hệ thống logistics vùng ĐBSCL dự kiến sẽ được Bộ GTVT và Ban chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức vào ngày 22/8.
Bên cạnh đó, ông Hiệp đưa ra 3 kiến nghị:
"Thứ nhất, vốn đầu tư dự án sân bay quá lớn, trong khi điều kiện của chúng ta rất là khó khăn, mà lĩnh vực bức xúc hiện nay cũng không phải ở lĩnh vực đó, vì vậy, nên cân nhắc kỹ.
Thứ hai, khoảng cách địa lý với sân bay quốc tế Cần Thơ, sân bay Rạch Giá và sân bay Phú Quốc (Kiên Giang) là quá gần. Ở ĐBSCL đã có sân bay Cần Thơ, Rạch Giá, Phú Quốc…, thì liệu xây sân bay An Giang có hiệu quả hay không, trong khi các dự án hiện hữu ở khu vực này phát triển cũng khó khăn.
Ông Trần Hữu Hiệp góp ý tại cuộc họp chiều 10/8
Thứ ba, là nơi đây cũng gần biên giới Campuchia nên cần cân nhắc, có thông tin cho biết việc cất/hạ cánh máy bay có thể lấn qua biên giới và về mặt chuyên môn cần có nghiên cứu sâu.
“Nói tóm lại, việc đưa sân bay An Giang vào kế hoạch xây dựng 5 năm tới là cần cân nhắc và thời gian qua đã có nhiều ý kiến lo ngại về vấn đề này rồi”, ông Hiệp lưu ý.
Bên cạnh đó, ông Hiệp cũng góp ý, trong kế hoạch đã đưa ra các danh mục dự án về đường bộ ưu tiên đầu tư trong năm năm tới. Tuy nhiên, trong những vấn đề ưu tiên đó thì “tôi cho rằng bức xúc nhất là ưu tiên cho những dự án đang đầu tư dở dang, chưa hoàn thành.
Cùng với đó, 60 xã trong 9/13 tỉnh, thành chưa có đường ô tô vào đến nơi. Vậy năm năm tới cần đầu tư dứt điểm cái này hay không?. Hơn nữa, cần có danh mục dự án giao thông liên kết vùng”.
Trong khi đó, đại diện Sở GTVT tỉnh An Giang cũng cho rằng sân bay An Giang có suất đầu tư lớn, ảnh hưởng đất nông nghiệp, vì vậy nên nghiên cứu đầu tư sau năm 2030.
Còn hiện tại nên tập trung nâng cấp, mở rộng quốc lộ 91 để đoạn đường từ An Giang đến sân bay quốc tế Cần Thơ được thuận tiện hơn. Sau năm 2030 mới tính đến việc đầu tư xây dựng sân bay An Giang.
Theo danh mục các dự án ưu tiên đầu tư hàng không giai đoạn 2016-2020 được Bộ GTVT lấy ý kiến các tỉnh, thành ĐBSCL, ngày 10/8, dự án sân bay An Giang có tổng vốn đầu tư 3.417 tỉ đồng, được đầu tư theo hình thức PPP (đối tác công - tư), cổ phần.
Trước đó, ngày 2/6/2011, Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng lúc bấy giờ đã ký Quyết định số 1166/QĐ - BGTVT về việc Phê duyệt Quy hoạch Sân bay An Giang giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, tại xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang với tổng kinh phí hơn 3.400 tỉ đồng.
Theo quyết định được phê duyệt, tổng diện tích toàn sân bay là 235 héc ta, trong đó, đất sử dụng chung là 169,59 héc ta, đất khu hàng không dân dụng 34,2 héc ta và đất khu quân sự là 31,25 héc ta.
Dự án được chia làm hai giai đoạn: từ nay đến năm 2020 và từ 2020 đến 2030; tổng diện tích xây dựng hơn 235 ha.
Đến năm 2020, sân bay An Giang có một đường hạ cất cánh dài 1.850m, rộng 45m, có khả năng tiếp nhận máy bay ATR72 và tương đương. Sau năm 2020, sân bay được năng cấp có khả năng tiếp nhận máy bay Airbus A321 và các loại tương đương.
Ngày 3/10/2013, UBND tỉnh An Giang cũng đã kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia thực hiện dự án sân bay theo hình thức đầu tư hợp tác công - tư (PPP).
·                  Sơn Ca (Tổng hợp)

8 tháng 8, 2016

Bàn tròn: Điểm cốt lõi là hài hòa lợi ích


Làm thế nào để kích hoạt được Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 6-4-2016 về Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 - 2020 của Thủ tướng Chính phủ? Chủ đề nóng này sẽ được các ông Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang, ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên Chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo (BCĐ) Tây Nam Bộ, và ông Nguyễn Phương Lam, Phó Giám đốc VCCI Cần Thơ, bàn thảo cùng Báo Nhân Dân cuối tuần.
Phóng viên (PV): Thưa các ông, muốn phá thế cạnh tranh lẫn nhau giữa 13 tỉnh ĐBSCL thì liên kết vùng (LKV) sẽ phải tập trung vào điểm nào? Làm sao để có được chính sách đặc thù đủ mạnh để điều chỉnh một số lĩnh vực mũi nhọn như nông nghiệp, thủy sản…?
Ông Trần Công Chánh: Đây là một câu hỏi thú vị. Thực tế, LKV là câu chuyện không đơn giản, nhất là trong bối cảnh, lâu nay các tỉnh còn tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Do vậy cần hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể cho sự phát triển sản xuất nông, thủy sản toàn vùng, gắn với thị trường. Nhà nước phải có chính sách đặc thù mới tăng chuỗi giá trị liên kết hiệu quả, nhất là cần có chính sách vĩ mô để giải quyết bài toán này.
Ông Trần Hữu Hiệp: Thời gian qua, ai cũng thấy sự cần thiết và nhu cầu tăng cường LKV, như một mệnh lệnh phát triển trong thời buổi hội nhập, cạnh tranh… Nhưng liên kết cái gì? Ai làm? Làm như thế nào cho thực chất và hiệu quả?
Thực tế đã có những “xung đột lợi ích” khi các địa phương hay các ngành chỉ “lo cho mình”... Vì vậy cần có một cơ chế liên kết, hợp tác hiệu quả giữa các tỉnh, thành để tạo ra kinh tế vùng mà vẫn không mất đi vai trò của các địa phương, cũng như bảo đảm hiệu quả phối hợp ngành, liên bộ.
Ông Nguyễn Phương Lam: Nói đến LKV, trước hết, cần có một cấu trúc đầy đủ từ chính sách tới các hoạt động triển khai. Chúng ta mới chỉ dừng lại ở những mong muốn và vẫn có nhiều điểm chưa thống nhất được. Thậm chí, còn đang “mắc kẹt” bởi những chỉ tiêu KT - XH mà lẽ ra không nên quy định ở cấp địa phương, hoặc nếu có thì phải được “phân công” hợp lý giữa các địa bàn xét trong bài toán tổng thể. Thí dụ: Chuyển dịch cơ cấu giảm tỷ trọng nông nghiệp là đúng, nhưng lẽ ra phải có những tỉnh phải tăng sản lượng nông nghiệp làm nguồn cung ứng cho sản xuất chế biến ở các địa phương khác…
PV: Thúc đẩy LKV cần phải gắn liền với quá trình tái cơ cấu nền nông nghiệp. Nhưng sự chựng lại của mô hình “Cánh đồng lớn” (CĐL) gần đây lại bộc lộ sự lúng túng trong xác định phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn?
Ông Nguyễn Phương Lam: Trước hết, muốn giải quyết vấn đề quy mô đất đai bảo đảm sản xuất lớn, thì cần giải bài toán hạn điền. CĐL là một minh chứng, nhưng nó chưa được luật hóa để các lĩnh vực nuôi trồng khác làm theo. Hiện nhiều DN và cá nhân đang làm một cách phi chính thức, tại sao ta không đánh giá để nó trở thành chính thức?
Thứ hai, khi có được hạn điền quy mô, ứng dụng KHCN phải được đầu tư. Chính phủ và chính quyền địa phương phải có chính sách rõ ràng và cụ thể để người dân, DN tham gia sản xuất. Từ đó sẽ kéo theo các ngành hỗ trợ và từng bước hình thành chuỗi sản xuất theo hướng chuyên môn.
Thứ ba, cần có chính sách ưu đãi đặc biệt cho đầu tư nông nghiệp trong thời kỳ đầu của sản xuất lớn. Tại sao ĐBSCL là vùng nông nghiệp lớn, có tiềm lực nhưng ít có dự án FDI lớn nào trong nông nghiệp? Phải chăng đầu tư nông nghiệp rủi ro cao? Điều đó gợi mở rằng Chính phủ cần xem xét chính sách ưu đãi đặc biệt để có những dự án lớn, mang tính hệ thống, dẫn dắt, tạo ra một chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu. Có như thế chúng ta mới có được một nền sản xuất lớn.
Ông Trần Hữu Hiệp: Tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài, cần được thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế, trên cơ sở xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấn thông tin phản hồi từ các bên liên quan, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Tư duy về lợi thế cần được thể hiện trong chiến lược quốc gia, vùng miền để tạo ra sức cạnh tranh hơn là quanh quẩn trong địa giới hành chính tỉnh, huyện như vừa qua. Muốn tái cơ cấu nông nghiệp, không thể không nhắc đến vai trò của người nông dân và DN.
Ông Trần Công Chánh: Đã đến lúc chúng ta không chỉ tập trung gia tăng sản lượng nông, thủy sản mà phải tính đến giá trị gia tăng để người nông dân “một nắng, hai sương” gia tăng lợi nhuận chính đáng trên thửa ruộng của chính họ.
PV: Hiện nay mối liên kết giữa DN - Hợp tác xã - Nông dân vẫn còn lỏng lẻo, thậm chí đứt gãy... Muốn khép kín được chuỗi sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm, yếu tố niềm tin, sự công bằng trong phân chia lợi ích phải là điều kiện tiên quyết?
Ông Trần Công Chánh: Điều đáng mừng trong khoảng 5 năm gần đây, cả nông dân và DN đều nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của mối liên kết giữa hai chủ thể. Nhiều DN đã đến địa bàn Hậu Giang liên kết với nông dân thông qua đầu tư xây dựng CĐL trong sản xuất lúa.
Theo tôi, cái chính là hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia trong chuỗi liên kết sản xuất. Chúng ta cần những cơ chế có tính chất bệ phóng như Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 21-3-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới tại vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 - 2020”.
Ông Trần Hữu Hiệp: Rất cần tư duy mới về hoạch định cơ chế, chính sách nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất. Cái gì Nhà nước làm, cái gì DN làm và thị trường điều tiết, cần chính sách tác động vào...?
Nhìn rộng hơn, tái cấu trúc nông nghiệp ĐBSCL phải theo hướng sản xuất hàng hóa lớn và phải chú trọng đến việc cải tiến, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu, trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Ông Nguyễn Phương Lam: Quan điểm của tôi, đây là kiểu liên kết của thị trường. Nếu muốn mối liên kết này khả thi, cần xem xét trên yếu tố lợi ích. Sau nhiều vụ kiện giữa nông dân và các DN chế biến, năm 2012 - 2013 chúng tôi có làm nghiên cứu về mối quan hệ hợp đồng. Kết quả cho thấy, quan hệ các bên thông qua hợp đồng mua bán thường bị “bẻ kèo” vì xung đột lợi ích.
Do vậy Nhà nước cần phải giám sát và thực thi mạnh mẽ để bảo đảm quyền lợi. Khi đó, các thành tố tham gia chuỗi sản xuất yên tâm và thực thi nghiêm túc hợp đồng, giúp quan hệ này chặt chẽ hơn. Nhưng cũng cần lưu ý, tư duy kinh doanh phải được đào tạo và tuyên truyền để các bên thấy được lợi ích khi tham gia chuỗi, biết đầu tư dài hạn so với lợi ích trước mắt…
PV: Ông kỳ vọng gì vào QĐ 593, liệu cơ chế đưa ra có đủ sức tháo gỡ những lực cản đang kéo tốc độ tăng trưởng của ĐBSCL chậm lại?
Ông Trần Hữu Hiệp: Để bảo đảm thực hiện thí điểm thành công, thì cần tập trung thực hiện tốt ba vấn đề cốt lõi: Nội dung thí điểm; phương thức phối hợp thực hiện và cần có cơ chế tài chính sáng tạo cho LKV.
Về nội dung, cần tập trung thực hiện “hai ưu tiên”. Một là, liên kết phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp; bao gồm các liên kết thị trường, tạo thương hiệu... Hai là, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu.
Về phương thức tiến hành, đề xuất cần có Tổ Công tác liên ngành do lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thường trực BCĐ Tây Nam Bộ làm nòng cốt, trong đó có bộ phận giúp việc, điều phối liên tỉnh. Có thể chọn các tiểu vùng sinh thái như Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau… để chỉ đạo điểm.
Về cơ chế tài chính để thực hiện các chương trình dự án LKV? Ngoài 10% tổng vốn ngân sách bố trí thì cần thêm các nguồn vốn khác như chương trình vốn tín dụng ưu tiên, phương thức hợp tác PPP, phân bổ vốn ODA, thu hút FDI và các nguồn vốn dân doanh khác với cơ chế khuyến khích liên kết.
Ông Nguyễn Phương Lam: Tôi cho rằng, QĐ 593 ra đời phù hợp với nhu cầu LKV, không chỉ cho ĐBSCL mà là mô hình để nhân rộng cho cả nước. Song điều tôi lo lắng là khả năng thực hiện. Để triển khai, cần phải ưu tiên quy chế này trước những hoạt động khác, nhằm tạo hiệu ứng lâu dài. Cùng đó, các bộ, ngành liên quan cần có bộ phận chuyên trách thực hiện.
Ông Trần Công Chánh: Theo tôi, chúng ta cần lấy lợi ích toàn vùng để xác định mục tiêu liên kết. Thực hiện tốt quy chế này, ĐBSCL sẽ tạo được sự liên kết vững chắc, nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương; hướng đến mục tiêu hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái và xây dựng nông thôn mới. Liên kết vùng không chỉ nhằm phát huy lợi thế của từng địa phương trong vùng mà còn phát huy lợi thế quốc gia.
Lê Đức Nghĩa (Thực hiện


1 tháng 8, 2016

Trăn trở với đất Chín Rồng

Kim Chung
Báo Bạc Liêu, ngày 18/07/2016
Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL (MDEC Hậu Giang 2016) đã thành công tốt đẹp, thu hút được sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư, các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước. Nhiều mục tiêu, giải pháp quan trọng đã được đưa ra nhằm khai thác tối đa các tiềm năng, thế mạnh của vùng. Tuy nhiên cũng đặt ra hàng loạt khó khăn, thách thức mà các tỉnh ĐBSCL phải đối mặt. Đó là làm gì để tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững?

THIẾU VÀ YẾU
Khi đánh giá về thực trạng của kinh tế vùng ĐBSCL, các chuyên gia kinh tế đều có chung nhận định: Vùng ĐBSCL có rất nhiều tiềm năng, thế mạnh, nhưng lại phát triển chậm và chưa xứng tầm với những gì vốn có. Qua 9 lần tổ chức MDEC, nỗi trăn trở này luôn là vấn đề nóng hổi tính thời sự, được tập trung bàn thảo, phân tích và tranh luận nhiều nhất.
Không trăn trở sao được khi các thế mạnh của vùng mới dừng ở tiềm năng, lợi thế. Sản vật có nhiều, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhưng lại thiếu đầu tư và gần như chưa giải quyết tốt được bài toán nâng cao giá trị. Theo nghiên cứu và phân tích của các chuyên gia kinh tế: Cấu trúc và cơ cấu kinh tế của vùng có nhiều khiếm khuyết. Tỷ trọng nông nghiệp chiếm 33,1%, công nghiệp - xây dựng 25,25% và thương mại - dịch vụ 41,65%.
Từ những con số trên cho thấy, tỷ trọng nông nghiệp tuy có giảm do dịch chuyển đúng hướng, nhưng vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Đặc biệt đến nay chưa có địa phương nào ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nhằm làm tăng năng suất, chất lượng và mang lại lợi nhuận cao. Bằng chứng là nhiều sản phẩm nông - lâm - thủy sản được đem ra quảng bá và mời gọi hợp tác tại Hội chợ thương mại - MDEC Hậu Giang 2016 lần này chủ yếu ở dạng giới thiệu mô hình. Bởi với diện tích sản xuất vài chục héc-ta thì làm sao có thể cung ứng hàng hóa với số lượng lớn?!
Đối với ngành công nghiệp chủ yếu dựa trên chế biến nông - thủy sản và khai thác nguồn nguyên liệu thô với sản phẩm sơ chế là chính chứ chưa tạo ra nhiều sản phẩm cho giá trị gia tăng cao. Riêng thương mại - dịch vụ tuy có gia tăng do sức mua, nhưng chưa thu hút và chưa là đầu mối trong các giao dịch thị trường, hỗ trợ tốt cho các lĩnh vực kinh doanh khác...
Tồn tại bất cập trên là do thiếu sự đầu tư về hạ tầng và chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển. Đơn cử, năm 2015 tổng đầu tư của Chính phủ vào ĐBSCL khoảng 3.534 ngàn tỷ đồng, chiếm 15,5% tổng vốn cả nước. Thêm vào đó, nhiều công trình giao thông quan trọng thực hiện chậm. Cụ thể một số hạng mục như: hạ tầng, đường cao tốc TP. HCM - Trung Lương được xây dựng đầu tiên tại Việt Nam, nhằm giúp vận chuyển hàng hóa nhanh hơn giữa vùng ĐBSCL với TP. HCM, nhưng sau đó lại ngưng trệ.
Một yếu kém khác là chất lượng và trình độ nguồn nhân lực. Vùng có lực lượng lao động chiếm gần 20% trong cả nước, với khoảng 10,5 triệu lao động, nhưng tay nghề và trình độ thuộc nhóm thấp nhất cả nước. Tỷ lệ người lao động tốt nghiệp nghề/tổng số lao động chưa đào tạo còn thấp, bình quân vùng chỉ 2,64%, so với trung bình cả nước là 5,05%.
Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), năm 2015 toàn vùng chỉ thu hút 1.155 dự án, với tổng vốn 16,73 tỷ USD, chiếm 6% cả nước. Bên cạnh đó, doanh nghiệp của vùng thiếu và yếu về số lượng lẫn chất lượng với hơn 53.160 doanh nghiệp và chỉ chiếm khoảng 12% doanh nghiệp cả nước (trong khi dân số chiếm 21%).
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
Xác định rõ những hạn chế, yếu kém của mình, thời gian qua các tỉnh ĐBSCL đã tích cực mời gọi đầu tư và thay đổi mô hình tăng trưởng. Đây được coi là một trong những giải pháp quan trọng trong thu hút các nguồn lực và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế. Cũng như góp phần khắc phục những hạn chế, khó khăn do yếu và thiếu nguồn lực đầu tư.
Một trong những biểu hiện tích cực nhất là tập trung nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), mà việc làm cụ thể là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Điển hình như Bạc Liêu từ vị trí xếp cuối bảng xếp hạng chỉ số PCI trong nhiều năm liền, nhưng từ năm 2013 đến nay đã liên tục tăng hạng và luôn xếp trong tốp nhóm tốt, khá của khu vực và cả nước, đặc biệt năm 2012 chỉ số PCI xếp thứ 7/63 tỉnh, thành.
Có được kết quả trên, do Bạc Liêu tích cực chỉ đạo và lồng ghép việc cải thiện nâng cao chỉ số PCI vào kế hoạch hành động thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Đến nay, Bạc Liêu đã thu hút được 98 dự án, với tổng vốn đầu tư trên 20.000 tỷ đồng, tăng gấp 55 lần so với giai đoạn 2006 - 2010 (trong đó có hơn 50 dự án hoàn thành đưa vào hoạt động).
Cùng với nâng cao chỉ số PCI, tập trung tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững vốn là thế mạnh hàng đầu của vùng cũng được các địa phương tích cực triển khai. Song, giải pháp này chỉ mang lại hiệu quả khi có sự liên kết vùng và tạo nên sự kết nối bền chặt với các vùng và trung tâm kinh tế đầu tàu khác.
Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL lần thứ X sẽ được tổ chức tại Bạc Liêu. Hy vọng với sự nỗ lực và chung sức của toàn vùng, MDEC Bạc Liêu - 2018 sẽ có thêm những sức bật mới và đưa vùng đất Chín Rồng hội nhập sâu, phát triển nhanh và bền vững.
ThS. Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ:
Cần đẩy mạnh tái cơ cấu, tăng cường liên kết vùng
Hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt ra yêu cầu bức thiết tái cơ cấu nông nghiệp, tăng cường liên kết vùng ĐBSCL, nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Nông nghiệp. Liên kết vùng thời gian tới phải vượt qua các thách thức và các điểm nghẽn tăng trưởng. Theo đó, cần điều chỉnh lại quy hoạch vùng, cần có những nghiên cứu cơ bản về vùng và xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học vùng (tài nguyên đất, nước, rừng, biển…) để làm nền tảng phân tiểu vùng và liên kết vùng, kết nối không gian phát triển và sản xuất, từ kết nối sản xuất đến tiêu thụ; kết nối thị trường, doanh nghiệp.
Sự kết nối thể chế và phối hợp chính sách mang tính “pháp định hóa”, tạo ra hiệu lực chỉ huy thống nhất cấp vùng, mang ý nghĩa quyết định. Các địa phương trong vùng phải có sự đồng thuận về tư duy, tầm nhìn và quy hoạch phát triển vùng và xác định rõ lợi ích của vùng là tiền đề, điều kiện thực hiện các lợi ích của địa phương mình.