28 tháng 2, 2014

Tư duy cũ đang giết chết ngành mía đường

Báo Nông Nghiệp Việt Nam

HOÀNG ANH   -Thứ Ba, 18/02/2014, 10:14 (GMT+7)

Vài lời: Cái tít bài đúng là vậy, nhưng nói như thế này (trích từ nội dung bài viết) "Tóm lại, ngành mía đường thê thảm như hiện nay hoàn toàn tại các doanh nghiệp hết. Chả phải tại địa phương, không phải tại Chính phủ hay bộ này bộ nọ như họ kêu đâu. Đừng đưa ra tranh cãi mấy vấn đề vớ vẩn ấy"... thì cũng tội doanh nghiệp quá. Chã lẽ, ai mang tên "doanh nghiệp" mía đường, thì cũng có lỗi làm ra cái "tại" đó sao? Đây là nguyên văn bài viết:
Đề cập đến thực trạng thê thảm hiện nay của ngành mía đường, nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn (ảnh), “cha đẻ” của Chương trình 1 triệu tấn đường tới năm 2000 trước đây thẳng thắn: Cứ nói là nghe họ nói hết Bộ trưởng sẽ rơi nước mắt, tôi thấy nực cười thì đúng hơn. Không ai khóc cho họ đâu!
Thà họ khó khăn thật cơ, đằng này điều kiện khách quan thuận lợi, thiết bị sản xuất không vấn đề gì, nông dân cần cù, cơ chế chính sách đều ổn thì phải đặt câu hỏi là vì sao lại chết?
Những con số không thể chấp nhận được
Thưa ông, đúng là thực trạng ngành mía đường hiện nay vô cùng thê thảm, nhưng nguyên nhân chính liệu có phải là do nạn đường lậu đang tung hoành, cơ chế chính sách xuất khẩu chưa phù hợp như nhiều ý kiến hiện nay không?
Đã hơn 20 năm chúng ta thực hiện chương trình mía đường. Nếu nói về chính sách thì Chính phủ đã giải quyết 2 trục trặc lớn nhất của ngành mía đường Việt Nam là chính sách tài chính, giải quyết nguồn vốn hỗ trợ, không phải vay lãi suất cao, thứ hai là cổ phần hóa các doanh nghiệp mía đường. Nhờ hai chính sách đó mà ngành mía đường ổn định và phát triển. Thay thế nhập khẩu hàng tỷ đô la, tạo hàng triệu việc làm cho người nông dân. Có những vùng nông dân giàu nhờ mía đường như Tuyên Quang, Sơn La, Cao Bằng, Hòa Bình, Thanh Hóa...
Mặc dù vậy, sau mấy chục năm phát triển, ngành mía đường Việt Nam vẫn lạc hậu nhất vùng Đông Nam á. Một thực trạng rất đáng phê phán, rất đáng rút kinh nghiệm.
Tôi lấy 2 ngành có nhiều điểm tương đồng để làm phép đối chiếu là mía đường và bò sữa. Trong khi ngành bò sữa cập nhật được toàn bộ tiến bộ của ngành sữa quốc tế thì mía đường vẫn trầy trật, tụt hậu. Trách ai bây giờ đây?
Chỉ tiêu quan trọng thứ nhất là năng suất thì mía đường Việt Nam thuộc loại bét trong khu vực. Trong khi ở Quảng Tây (Trung Quốc) và Thái Lan người ta thường đạt năng suất hơn 100 tấn mía cây/ha, thu về hơn 100 triệu đồng/ha thì Việt Nam vẫn lẹt đẹt từ 50-60 tấn/ha.
Chỉ tiêu thứ hai là giá thành. Đường RS của Việt Nam ở thời điểm này có giá bán buôn tại nhà máy khoảng 12.000 – 12.500 đồng/kg, trong khi đó ở Thái Lan với giá từ 11.500 – dưới 12.000 đồng/kg. Giá đường Việt Nam luôn ở mức cao hơn so với Thái Lan từ 10-30%. Vì sao vậy?
Thứ ba là tiềm năng của ngành mía đường. Trong khi ở các nước sản lượng đường đã đạt từ 10-20 tấn/ha/năm thì ở Việt Nam, để có 1,5 triệu tấn đường phải cần tới 300 nghìn ha. Tính ra mỗi ha chỉ có 5 tấn đường thôi. Đó là những con số không thể chấp nhận được.
Tại sao? Tôi muốn gửi câu hỏi này đến tất cả các nhà máy, xí nghiệp trong ngành mía đường của cả nước. Các anh đừng có ngồi đó mà trách Nhà nước, vì tất cả các chính sách Nhà nước đều có hết rồi, giải quyết thuận lợi hết rồi còn gì? Chúng ta thử ngồi nghĩ xem, thử kiểm điểm lại cả hệ thống của ngành mía đường xem, rõ ràng là hệ thống ngành mía đường Việt Nam hiện nay đang có vấn đề. Nhà nước chẳng có khuyết điểm gì ở đây cả, do nội tại ngành có vấn đề mà thôi.
Vậy, cụ thể vấn đề cốt lõi khiến ngành mía đường "bầm dập" như hiện nay là gì, thưa ông?
Đó là vấn đề năng suất rất thấp, trữ lượng đường rất thấp trong khi chi phí đầu tư cao. Chúng ta nên nhớ rằng, tiềm năng của mía đường Việt Nam còn rất lớn. Hoàn toàn có thể đưa năng suất, trữ lượng đường tăng lên đồng thời hạ giá thành đầu tư xuống để đảm bảo vừa có lãi, vừa có thể cạnh tranh với đường Thái Lan. Nhưng tôi thực sự không hiểu sao ngành mía đường không làm được điều đó. Có thể làm được nhưng không làm thì kêu ca cái gì, khóc lóc với ai đây.
Lãng phí một nửa diện tích đất trồng mía
Thưa ông, như thế có nghĩa là ngành mía đường hoàn toàn có thể thay đổi được nếu có một cuộc cách mạng?
Chính xác là một cuộc cách mạng từ cây mía cho đến hạt đường, từ đầu đến cuối.
Về thiết bị máy móc không có chuyện gì để mà kêu ca cả. Thiết bị của chúng ta hiện nay đều được nhập về từ Úc và các nước tiên tiến. Nhiều nhà máy có công suất lên đến 6-8 ngàn tấn mía/ngày. Các nhà máy của Trung Quốc cũng 1,5 nghìn tấn/ngày. Thiết bị phù hợp, không có gì lạc hậu, không phải thay gì cả. Vì vậy năng suất kém, sản lượng thấp là do thâm canh, do quản lý kém nên đẻ nhiều thứ chi phí vô lý, đội giá thành lên cao.
Vừa rồi tôi đi Tuyên Quang, một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn như vậy mà diện tích mía đường đứng thứ 6 cả nước. Họ có 2 nhà máy đường, diện tích mía 15 ngàn ha. Tỉnh vừa yêu cầu làm thêm một nhà máy đường nữa để đưa diện tích lên 30 ngàn ha, đứng thứ nhì cả nước. Đường vẫn bán chạy, đời sống nông dân được nâng cao, đóng góp ngân sách đứng thứ nhì cả tỉnh. Vì vậy ngành mía đường đừng có kêu lỗ.
Hay như Công ty mía đường Việt Nam – Đài Loan. Họ tuyên bố sang năm 2015 sẽ hạ giá đường xuống dưới 11.000 đồng/kg vẫn có lãi. Chẳng sợ cạnh tranh với đường Thái Lan.
Dường như ông đã có những phép tính, hướng đi cụ thể để khẳng định điều đó?
Muốn làm được như vậy thì thứ nhất là phải cấu trúc lại diện tích cây mía. Hiện nay năng suất bình quân của chúng ta là 50 tấn/ha. Nhưng để phát triển được, nông dân sống được, DN có lãi thì đất mía trên đồi phải 70-80 tấn/ha (100 triệu/ha/năm). Còn đất ruộng phải đạt 150-200 tấn/ha (200 triệu đồng/ha/năm). Còn không sớm muộn gì người ta cũng bỏ mía.
Thứ hai là giống mía. Hiện nay đã có nhiều loại giống đạt năng suất từ 150-200 tấn/ha/năm rồi. Phải phổ cập cho nông dân ngay đi chứ. Đằng này tôi thấy ở nhiều nơi chúng ta còn cho trồng các loại giống mía ra hoa. Với mía đường, nếu để ra hoa tức là chấp nhận hàm lượng đường giảm từ 1-2%. Hàm lượng đường của Việt Nam đã kém thế giới từ 3-4% rồi, lại phải giảm thêm vì những nguyên nhân thế này thì chết.
Thứ nữa là thâm canh. Chúng ta đang thâm canh mía theo 3 khâu và cả 3 khâu đều kém như nhau cả. Tôi đã nghiên cứu và dám khẳng định rằng, với cách làm hiện nay chúng ta đang lãng phí một nửa diện tích đất trồng mía.
Cụ thể, đã là mía thì phải tưới mới tăng được năng suất, phải có chế độ phân bón phù hợp hàm lượng đường mới cao, phải cơ giới hóa mới giảm giá thành đầu tư được. Ngành mía đường chưa làm được những điều đó.
Tôi tính, 300.000 ha trồng mía chỉ thu về có 19 triệu tấn mía cây. Nếu chúng ta làm bài bản thì chỉ cần 150.000 ha là đủ sản lượng rồi. Đất đồi cao đang trồng mía thì chuyển đổi sang cây trồng khác đi. Phải chuyển một số diện tích đất lúa sang làm mía, đặc biệt là diện tích lúa một vụ. Đất lúa cùng lắm 60 triệu đồng/ha trong khi mía lên 200 triệu đồng/ha. Trồng mía gấp 3 lần trồng lúa, tội gì không chuyển đổi.
Một vấn đề quan trọng nữa là cơ giới hóa thu hoạch. Thế giới người ta đã cơ giới hóa 80-90% rồi, trong khi đó ở ta mới chỉ được đâu 10-20%, chủ yếu là khâu làm đất, còn lại đều thủ công hết. Thời đại bây giờ, sản xuất lớn mà cứ tính ngày công thì chịu sao được. Phải cơ giới hóa thu hoạch thì chi phí đầu tư mới giảm được. Muốn hạ giá đường để cạnh tranh mà vẫn có lãi điều cốt yếu là cần phải hạ chi phí đầu tư. Thái Lan đã làm được những khâu này nên đường họ mới rẻ thế.
Nhiều ông có cổ phần nên cứ kêu đòi Nhà nước bảo trợ
Thưa ông, nếu thực sự như thế thì ngành mía đường hoàn toàn có thể tự mình thoát khỏi thực trạng u ám, thê thảm như hiện nay. Nhưng chính những người trong cuộc lại kêu ca rất thống thiết. Họ có thật sự bất lực?
Một chuỗi biện pháp như tôi vừa nói nhằm đạt mục tiêu một ha trồng mía có thể thu nhập từ 100-200 triệu đồng cho người nông dân. Nếu đạt được mục tiêu ấy thì việc hạ giá đường để cạnh tranh với đường Thái Lan hay bất kể nước nào hoàn toàn có thể làm được. Đây là thời kỳ dễ làm đường nhất. Điều kiện khách quan thuận lợi, dư địa lớn, công nghệ thâm canh đầy đủ, không sợ sâu bọ phá hoại. Các nhà máy khấu hao xong hết rồi, chả phải lo nợ nần gì cả. Mía đường là loại bồi dưỡng đất, thuận lợi trong việc chuyển đổi canh tác...
Tóm lại, ngành mía đường thê thảm như hiện nay hoàn toàn tại các doanh nghiệp hết. Chả phải tại địa phương, không phải tại Chính phủ hay bộ này bộ nọ như họ kêu đâu. Đừng đưa ra tranh cãi mấy vấn đề vớ vẩn ấy.
Trước hết, ngành mía đường cứ lo làm cách nào để hạ giá thành đầu tư, kéo giá đường xuống thì đường Thái Lan làm sao bóp chết anh được. Khi giá đường hợp lý rồi, đường lậu không vào được thì chỉ cần đáp ứng nhu cầu trong nước vừa đủ chứ xuất khẩu đáng bao nhiêu. Khi "sức khỏe" anh có thì anh nào vào chấp anh đó, kể cả tạm nhập tái xuất hay không cũng kệ, đề kháng được hết.
Đằng này năng lực anh yếu, anh sợ chết. Mà chết là phải. Ngành mía đường nắm trong tay hoàn toàn quyền tự quyết. Sao không làm đi? Có lâu lắc gì, chỉ một hai năm là có thể thay đổi được bộ mặt rồi. Đằng này cứ ngồi đó mà đấu đá lợi ích rồi kêu. Tôi nói thật, có nhiều ông có cổ phần, có lợi ích ở các DN, các nhà máy nên suốt ngày ngồi kêu đòi nhà nước bảo trợ. Đến năm 2015 này bỏ hàng rào thuế quan thì bảo trợ thế nào được? Càng hàng rào thì mình càng mất sức cạnh tranh, mất sức sáng tạo.
Cuộc cách mạng ở trong tầm tay ngành mía đường. Không phải đợi nhà nước, không phải đợi các nhà khoa học gì cả. Những người trong ngành có làm hay không làm thôi. Phải thay đổi ngay tư duy của ngành mía đường. Hướng đến tư duy cạnh tranh thay vì tư duy đòi trợ cấp, dựa vào trợ cấp, dựa vào hàng rào thuế quan để sống. Nói cách khác, tư duy bao cấp là nguồn gốc lạc hậu của ngành mía đường hiện nay.
+ “Từ câu chuyện của ngành mía đường, tôi thấy lo lắng lắm. Đến năm 2015, xóa bỏ hàng rào thuế quan. Nếu cứ thế này thì mía đường sẽ chết đầu tiên rồi đến chăn nuôi. Đường Việt Nam không cạnh tranh nổi với Thái Lan. Trâu Úc, bò Úc tràn vào, gà cũng thua nốt. Sẽ thua đau đớn trên sân nhà”, ông Nguyễn Công Tạn.
+ Trên thế giới người ta đã tính và làm rồi, nếu có phân vi lượng bón phù hợp thì độ đường của mía tăng từ 1-2%. Vấn đề này chúng ta cũng đang bỏ ngỏ. Không nơi nào chịu nghiên cứu, không ai quan tâm. Đơn giản nhất là kỹ thuật bóc vỏ mía cũng không thấy ai chịu làm. Bóc vỏ mía vào cuối vụ có thể tăng trữ lượng đường từ 1-1,5%. 
Chưa kể, nếu đem bẹ lá mía nghiền thành bột đưa về làm giá thể trồng nấm thì một ha được 10 tấn lá, thu nhập cho nông dân tăng được vài chục triệu đồng/ha rồi. Tôi gọi cách làm này là mũi tên kép, vừa tăng độ đường vừa tăng thu hoạch phụ, nâng cao thu nhập ngoài đường, sử dụng hết tiềm năng từ ruộng mía và tiềm năng sức lao động dư thừa.

Tư vấn truyền hình trực tuyến: Điều kiện có việc làm khối ngành kinh tế

Báo Thanh Niên, 21/02/2014 01:32

Nhiều trăn trở của thí sinh về cơ hội việc làm khối ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, luật đã được chuyên gia đến từ các trường ĐH giải đáp trong buổi trực tuyến truyền hình qua Báo Thanh Niên điện tử (www.thanhnien.com.vn) chiều 20.2.

Tư vấn truyền hình trực tuyến: Điều kiện có việc làm khối ngành kinh tế
Học sinh Trường THPT Marie Curie (TP.HCM) đặt câu hỏi trong buổi tư vấn truyền hình trực tuyến về khối ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, luật - Ảnh: Khả Hòa
Chọn ngành hôm nay để cho tương lai
Trước rất nhiều lo lắng của bạn đọc về tình trạng thất nghiệp của sinh viên ngành kinh tế, thạc sĩ Dương Tôn Thái Dương, Phó phòng Đào tạo Trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM), khẳng định: “Chúng ta chọn ngành hôm nay là cho 5 năm sau nữa”.  Thạc sĩ Dương phân tích hiện tại chúng ta đang trong phân khúc suy thoái của thời kỳ kinh tế, sự suy thoái này chính là tiền đề cho sự phát triển mới của nền kinh tế. Hơn nữa, chúng ta đang hội nhập kinh tế rất mạnh, vài năm nữa chúng ta không chỉ cạnh tranh với nhân lực trong nước mà còn nhiều nước khác trên thế giới. Để vượt qua được thách thức này, khi chọn ngành cần xuất phát từ sự yêu thích của bản thân để trang bị tốt kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ làm việc chuyên nghiệp để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chia sẻ thêm, tiến sĩ Phan Ngọc Minh, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, cho rằng cơ hội việc làm lĩnh vực này do chính bản thân người học quyết định. “Tình trạng thất nghiệp hiện nay là có thật nhưng không đồng đều. Xã hội đang thừa người có bằng ĐH nhưng thiếu người có bằng ĐH giỏi thực sự. Các ngân hàng vẫn tuyển dụng dù quy mô có hạn chế hơn. Do vậy, quan trọng là phải kiên định và chuẩn bị hành trang tìm việc của mình theo đúng yêu cầu xã hội đặt ra”.
Thạc sĩ Nguyễn Văn Đương, Phó phòng Đào tạo Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, chia sẻ bằng những con số cụ thể, khi theo số liệu khảo sát của trường có tới trên 80% sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp 6 tháng. Tại Trường ĐH Quốc tế Sài Gòn tỷ lệ này cũng trên 80%. “Sở dĩ vậy là do sinh viên có được lợi thế, thế mạnh về ngoại ngữ và các kỹ năng ngoại khóa”, thạc sĩ Văn Thị Thiên Hà, Giám đốc Hệ thống chương trình Việt Nam - Trường ĐH Quốc tế Sài Gòn, nói thêm.
Nói về thế mạnh đóng trên địa bàn Đồng Nai, thạc sĩ Lâm Thành Hiển, Hiệu phó Trường ĐH Lạc Hồng, cho hay: “Nhu cầu nhân lực của Đồng Nai rất lớn khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư về tỉnh này, vì vậy trong tương lai sẽ cần một nguồn nhân lực trình độ cao”.
Cơ hội từ những ngành học mới
Dù chỉ tiêu tuyển sinh các ngành khối kinh tế giảm mạnh vào năm 2013 và cả năm nay nhưng vẫn có những ngành mới ở các trường. Thạc sĩ Lâm Thành Hiển cho biết trường vừa được Bộ GD-ĐT cho phép mở ngành mới là luật kinh tế, tuyển sinh ngay trong năm 2014. Chia sẻ về cơ hội việc làm ngành này, thạc sĩ Hiển thông tin: “Thực tế, số lượng trường có đào tạo ngành này không nhiều trong khi nhu cầu nhân sự ở ngành này có thể nói rất lớn. Trước khi mở ngành này, trường đã tiến hành khảo sát nhu cầu của các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn Đồng Nai thì thấy nhu cầu nhân sự rất lớn, cụ thể là gần 10.000 nhân viên pháp chế”. Tiến sĩ Phan Ngọc Minh, Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, chia sẻ: “Năm nay Bộ cũng cấp phép cho trường được tuyển sinh và đào tạo thêm 2 ngành mới là kinh tế quốc tế và luật kinh tế nhằm đáp ứng nhân sự cho xu hướng mở rộng quan hệ quốc tế của VN và thế giới”.
Những tố chất cần thiết
Ngay trong phần mở đầu của buổi trực tuyến, rất nhiều học sinh Trường THPT Marie Curie (TP.HCM) có mặt tại hội trường đã cho biết rất quan tâm tới khối ngành kinh tế. Tuy nhiên, các học sinh đều không trả lời được lý do vì sao có lựa chọn này. Tư vấn cho các học sinh những tố chất cần thiết cho khối ngành này, thạc sĩ Nguyễn Văn Đương, khuyên: “Đầu tiên học sinh cần có tính năng động và sự ham thích các hoạt động quản lý, mua bán”.
Tiến sĩ Dương Tấn Diệp, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế  - Tài chính TP.HCM, phân tích thêm: Người thích làm những công việc mang tính thách thức, có tính tương tác cao sẽ phù hợp khi chọn lựa vào ngành kinh tế. Chẳng hạn, nếu thích theo dõi tiền tệ, tài chính học sinh này có thể phù hợp khi chọn thi vào ngành tài chính ngân hàng. Hoặc đơn giản, nếu thấy mình thích quan sát cách trưng bày trong các siêu thị, có thể sẽ phù hợp với marketing. Người yêu thích sự di chuyển, quan tâm đến các nền văn hóa khác nhau thì có thể dự thi vào ngành quản trị du lịch. Trong khi đó, để thi ngành kế toán kiểm toán thí sinh cần có tính tỉ mẩn, cẩn thận... Tóm lại, người phù hợp với nhóm ngành kinh tế cần có óc quan sát, khả năng lãnh đạo, gây được ảnh hưởng của mình tới người khác, sáng tạo, có suy nghĩ giải quyết độc lập, giao tiếp tốt...
Thông tin chi tiết về buổi trực tuyến tại địa chỉ www.thanhnien.com.vn

27 tháng 2, 2014

Tại sao chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp ĐBSCL còn thấp?



19/10/2012, 16:40:28 

(VTV Cần Thơ) - Là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của cả nước, hàng năm đồng bằng sông Cửu Long cung cấp 90% sản lượng gạo, 60% thủy sản và khoảng 70% trái cây xuất khẩu của cả nước. Tuy dẫn đầu về sản lượng, song giá trị mà các sản phẩm này mang lại chưa cao, đời sống của người nông dân còn nhiều bấp bênh. Vì sao lại có sự mâu thuẫn giữa sản lượng và giá trị các sản phẩm nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long? Sáng nay (19-10), Tạp chí Cộng Sản phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Tỉnh ủy Sóc Trăng tổ chức Hội thảo: “Vai trò khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông thôn mới vùng ĐBSCL" nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề này.


Các chuyên gia nông nghiệp cho rằng, kĩ thuật canh tác, sản xuất nông nghiệp của nông dân đồng bằng sông Cửu Long không thua bất cứ khu vực nào trên thế giới. Sản phẩm mà họ làm ra có khả năng cạnh tranh ở những thị trường khó tính. Vậy tại sao chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp nơi đây vẫn còn thấp? Các nhà khoa học cho rằng do sản xuất nông nghiệp của ta từ trước đến nay còn nhỏ lẻ, manh mún, vì thế khi đối tác đặt hàng với số lượng lớn ta không đủ để cung ứng; vấn đề liên kết trong sản xuất chưa được thực hiện chặt chẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp chế biến và người nông dân chưa có tiếng nói chung; chưa có nhà máy công nghệ cao để chế biến nông sản tại chỗ sau thu hoạch… Những vấn đề trên là nguyên nhân chính dẫn đến giá trị sản phẩm nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long còn thấp so với tiềm năng.

"Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của cả nước."  PGS. TS Vũ Văn Phúc – Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh: "Vì vậy chúng tôi cho rằng việc triển khai ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp có vai trò quan trọng thúc đẩy, nâng cao giá trị xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển."

Những năm gần đây hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long chuyển biến theo hướng tích cực; chỉ tính từ năm 2010 đến nay, toàn vùng có 570 đề tài, dự án khoa học được Sở Khoa học - Công nghệ các tỉnh, thành công nhận. Trong đó có 37% các đề tài, dự án về nông, lâm, ngư nghiệp. Mặc dù vậy, tính khả thi của các đề tài chưa cao, chưa sát thực tiễn. Vì thế, việc nghiên cứu khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp mặc dù có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong khu vực.

"Hiện nay việc phát triển các sản phẩm nông nghiệp của ta còn nhiều hạn chế, thiếu tính liên kết. Vì vậy khoa học công nghệ có vai trò trong việc liên kết, thúc đẩy các ngành mũi nhọn này phát triển trong tương lai… " Thạc sỹ Trần Hữu Hiệp – Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Xã hội – Ban chỉ đạo Tây Nam bộ đặt vấn đề.
 
Tại hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm cho các mặt hàng nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, đầu tư phát triển, nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, thu hoạch cũng như chế biến được nhiều đại biểu quan tâm. Cụ thể, nhiều đại biểu cho rằng đồng bằng sông Cửu Long cần có trung tâm ứng dụng nông nghiệp chất lượng cao; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực để kịp thời xây dựng một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại. Đặc biệt, cần lai tạo nhiều giống lúa mới để ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời gian tới.
TS Lê Văn Bảnh – Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL khẳng định: "Hiện nay chúng ta có nhiều giống lúa tốt, tuy nhiên thời gian tới khi ảnh hưởng của biến đổi khi hậu tăng thì chúng ta cần nhiều giống lúa mới thích hợp. Ngoài ra, làm thế nào để hạ giá thành sản phẩm giúp người dân có lãi."

Để người nông dân đồng bằng sông Cửu Long có thu nhập ổn định từ mảnh vườn thửa ruộng của mình thì vấn đề quy hoạch lại sản xuất; nghiên cứu, lai tạo các giống cây trồng vật nuôi phù hợp với đặc thù của vùng cần được ngành nông nghiệp các địa phương trong khu vực triển khai thực hiện. Ngoài ra, để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước thì việc nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến của các địa phương là cần thiết. Một khi các giải pháp trên được thực hiện đồng bộ thì nền nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long sẽ phát triển bền vững trong tương lai./. (Thanh Phong)

Chưa ra trường đã lo thất nghiệp

Báo Tuổi Trẻ, 27/02/2014 09:20 (GMT + 7)
TT - Đại bộ phận các trường không đủ điều kiện đảm bảo chất lượng, lại trượt dài đào tạo theo cái mình có mà không đào tạo cái xã hội cần. GS. TSKH Nguyễn Minh Đường - ủy viên Hội đồng quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực - lý giải tại sao nhiều sinh viên cao đẳng chưa ra trường đã lo thất nghiệp.

GS.TSKH Nguyễn Minh Đường - Ảnh: Nguyễn Khánh
"Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo đang rất mất cân đối, không gắn với yêu cầu phát triển nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng vùng, từng địa phương, cũng chưa phù hợp với xu thế phát triển nhân lực của nhiều nước trên thế giới"
GS Nguyễn Minh Đường
Cao đẳng chỉ là chỗ trú chân
Nhiều trường than thở khó khăn nảy sinh từ thông tư mới về đào tạo liên thông, ép người học phải chen vào cánh cửa quá hẹp, muốn liên thông ngay thì phải thi “ba chung”. Song phải nói quy chế này rất hợp lý nếu muốn nâng cao chất lượng đào tạo và không phá vỡ quy hoạch phát triển nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nếu cứ hết trung cấp thì học lên cao đẳng, xong cao đẳng lại học lên đại học, như vậy cuối cùng chỉ có cử nhân và kỹ sư, ai sẽ làm công nhân giỏi để phát triển sản xuất?
Các nước chỉ có khoảng 10-15% sinh viên tốt nghiệp CĐ loại xuất sắc được ưu tiên học liên thông ngay đại học để khuyến khích người học giỏi, còn lại tất cả phải vào thị trường lao động hành nghề. Sau một thời gian lao động, theo nhu cầu của sản xuất phải nâng cao trình độ hoặc theo nhu cầu cá nhân (không nhiều) mới học liên thông lên đại học. Còn ở VN, nhiều năm nay chủ trương liên thông dễ dãi nên có đến 70% người học CĐ liên thông ngay lên đại học. Theo cách đó, học CĐ chỉ là chỗ trú chân cho những học sinh học yếu thi trượt đại học đi đường vòng để học đại học! Như vậy, chúng ta đã mất đi những công nhân giỏi mà lại có thêm nhiều kỹ sư dốt, đồng thời phá vỡ quy hoạch đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước.
Chia sẻ về các nguyên nhân khác khiến nhiều trường cao đẳng (CĐ) ngắc ngoải, GS.TSKH Nguyễn Minh Đường nhận định: Xét về cơ cấu ngành nghề thì một mặt các trường không có đủ thông tin về nhu cầu nhân lực của thị trường để tuyển sinh hằng năm cho phù hợp. Mặt khác, Nhà nước còn cấp kinh phí đào tạo mang tính bình quân, chưa sát với chi phí đào tạo thực tế vốn rất khác nhau của mỗi ngành. Vì vậy, nhiều trường mở rộng ngành nghề đào tạo cũng như tuyển sinh theo hướng các nghề dễ học, đầu tư ít tốn kém mặc dù đã dư thừa nhân lực. Không ít trường kỹ thuật, công nghệ lại dành trọng tâm tuyển sinh cho nhóm ngành kinh tế trong nhiều năm mà ít tuyển các nghề xã hội đang cần nhưng phải đầu tư tốn kém.
* Thưa GS, nhiều chuyên gia lại cho rằng sự nâng cấp vội vã các trường trung cấp lên CĐ, cũng như việc ào ạt đưa trường CĐ lên thành ĐH đã khiến các trường CĐ bị đặt vào đường đua quá sức...
- Một trường trung cấp mạnh được nâng cấp sẽ thành trường CĐ yếu. Trường CĐ cũng vậy, nâng cấp lên thành trường đại học thì trước mắt là một đại học yếu và phải nỗ lực, cố gắng mất một thời gian dài khoảng 10 năm may ra mới trở thành trường mạnh, đào tạo có chất lượng. Điều đáng nói, biết đâu, nếu nhân lực trình độ đào tạo mà trường được nâng cấp đã bão hòa thì sự nâng cấp cũng chẳng có nghĩa lý gì. Đào tạo ra mà người học không tìm được việc làm, tuyển sinh không được thì nguy cơ bị tự giải thể là rất lớn.
Xu thế của các nước là hệ đào tạo sau trung học phải phát triển theo hình (chiếc) trống. Lao động trình độ trung cấp ngày càng giảm, trình độ CĐ chiếm tỉ lệ lớn và trình độ đại học chiếm tỉ lệ ít hơn. Còn ở VN thì lại phát triển theo hình tháp ngược, ĐH chiếm số lượng nhiều nhất, trung cấp chiếm tỉ lệ thấp nhất.
* Liệu những vấn đề mà GS đề cập đã là nguyên nhân chính đẩy các trường vào cảnh khốn khó chưa?
- Thật ra, nguyên nhân sâu xa là vì chúng ta chưa có biện pháp và cơ chế quản lý để đào tạo gắn với sử dụng. Hệ thống đào tạo và hệ thống sử dụng nhân lực còn là hai mảng ít có quan hệ gắn bó với nhau theo quan hệ cung - cầu của thị trường lao động trong cơ chế thị trường. Nhà trường còn ít có mối quan hệ với doanh nghiệp. Một nguyên nhân cơ bản khác là cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân của chúng ta còn nhiều bất hợp lý. Hiếm nước nào như VN cho tồn tại hai loại hình trường cùng một trình độ đào tạo: CĐ thì có CĐ nghề và CĐ, trung cấp có trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp với hai cơ quan quản lý nhà nước khác nhau, không theo một quy hoạch phát triển chung thống nhất.
Trong một địa phương lẽ ra chỉ nên có một trường thì lại thành lập hai trường đào tạo cùng trình độ do hai sở GD-ĐT và lao động - thương binh và xã hội quản lý. Điều này đã làm đầu tư bị phân tán khi nguồn lực tài chính và nhân lực của VN còn rất hạn hẹp. Điều thiệt thòi cho các trường CĐ chuyên nghiệp hiện nay khi nó nằm trong giáo dục đại học, nhưng chỉ là cái đuôi của đại học nên ít được cơ quan quản lý quan tâm, ít đầu tư. Còn các trường nghề lại là cái đầu của hệ thống đào tạo nghề nên được quan tâm đầu tư hơn nhiều. Trong thời điểm hiện tại, CĐ nghề dễ thở hơn các trường CĐ chuyên nghiệp, nhưng về lâu dài, nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, CĐ nghề cũng sẽ rất khó khăn.
* Như vậy, không có cách nào khác là phải thống nhất hoàn thiện hệ thống đào tạo, một trình độ đào tạo chỉ có một tên gọi và một chuẩn đầu ra, nghĩa là phải nhập CĐ nghề và CĐ chuyên nghiệp lại, cũng như nhập trung cấp nghề và trung cấp lại với nhau, thưa GS?
- Nhân lực quốc gia là một chỉnh thể, nhưng việc quy hoạch lại thiếu tổng thể vì Bộ Lao động - thương binh và xã hội quản lý một mảng, Bộ GD-ĐT quản lý một mảng. Tôi nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta phải sáp nhập các loại hình đào tạo cùng trình độ này lại. Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “thống nhất tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra”. Muốn hệ CĐ hồi sinh sức mạnh thật sự thì tất yếu phải thống nhất lại, hai chương trình đào tạo CĐ nghề và CĐ chuyên nghiệp phải xích lại gần nhau. Điều khó khăn nhất khi nhập hai hệ thống làm một có lẽ không phải ở sự thích nghi của các trường khi thực tế trước đây chúng đã từng thuộc một cơ quan quản lý chung. Khó khăn nhất chính là nhập hai cơ quan quản lý làm một.
NGỌC HÀ thực hiện

Xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn lớn nhất ĐBSCL

04:44 CH, 26/02/2014

(Chinhphu.vn) – Ngày 26/2, tỉnh Sóc Trăng khởi công xây dựng Nhà máy xử lý chất thải rắn thành phố Sóc Trăng, được đánh giá là nhà máy xử lý chất thải rắn lớn nhất khu vực ĐBSCL.
Dự án có tổng mức đầu tư 216 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn vay ưu đãi của Na Uy chiếm khoảng 177 tỷ đồng, nguồn vốn đối ứng của tỉnh khoảng 39 tỷ đồng. Chủ đầu tư là Công ty TNHH MTV Công trình Đô thị tỉnh Sóc Trăng.
Nhà máy có công suất 160 tấn/ngày và sản xuất phân hữu cơ vi sinh với công suất 100 tấn/ngày, kết hợp với xây dựng bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh và các dây chuyền tái chế, tái sử dụng chất thải sử dụng vào nhu cầu cuộc sống như hạt nhựa, gạch không nung,...
Sau khi nhà máy được đưa vào khai thác sẽ thay dần các bãi rác lộ thiên đang quá tải, gây ô nhiễm, góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường, giảm thiểu tác động tổn hại đến nguồn nước, đất, không khí, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, mỹ quan đô thị cho TP Sóc Trăng và các vùng lân cận.
Dự kiến công trình sẽ thi công hoàn thành và nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng trong tháng 8/2015.
Hà Anh

20 tháng 2, 2014

Triển vọng nông thôn mới ở ĐBSCL

SGGP, Thứ năm, 20/02/2014, 00:46 (GMT+7)
Đầu năm 2014, người dân ĐBSCL đón tin vui: 4 xã đầu tiên của vùng được công nhận hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới (NTM). Tại Phước Long (Bạc Liêu), một trong 5 huyện điểm của cả nước về xây dựng NTM, lãnh đạo huyện cũng vừa triển khai kế hoạch xây dựng NTM trong năm 2014 với nhiều giải pháp quyết liệt. Chương trình xây dựng NTM ở ĐBSCL đang chuyển biến tích cực.
        Cú hích làng quê
Trong dịp kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh, Hậu Giang đã tổ chức công nhận xã Đại Thành (TX Ngã Bảy) đạt chuẩn NMT vào ngày 24-12-2013. Sau 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, đến nay xã Đại Thành đã đạt 19/19 tiêu chí, với tổng vốn đầu tư trên 380,8 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp trên 102,6 tỷ đồng. Điểm nổi bật của xã Đại Thành là sản xuất không ngừng phát triển, nhất là người dân đã biết liên kết, hình thành phương thức làm ăn mới. Đến nay, thu nhập bình quân đầu người ở xã Đại Thành đạt 23,9 triệu đồng/người/năm (tăng 6,9 triệu đồng so với năm 2010). Tỷ lệ hộ nghèo từ 7,7% giảm xuống còn 4,07%.
Đường giao thông nông thôn ngày một thông thoáng. Ảnh: THANH VŨ
Sau Hậu Giang chưa đầy 3 tuần, UBND tỉnh Vĩnh Long đã công nhận xã Long Mỹ (huyện Mang Thít) đạt chuẩn NTM. Thành công của xã Long Mỹ là nhờ nỗ lực lớn của chính quyền cơ sở, sự đồng thuận của quần chúng nhân dân. Đặc biệt, các tiêu chí khó, xã luôn có cách làm sáng tạo và người dân nhiệt tình ủng hộ. Trong số 19 tiêu chí, khó khăn nhất với xã Long Mỹ là tiêu chí về môi trường. Quyết tâm thực hiện hoàn thành tiêu chí này, chính quyền địa phương đã vận động bà con xây hố chứa rác, đoàn viên thanh niên thực hiện ngày chủ nhật xanh, thực hiện hàng rào bờ hoa… Sau 3 năm vấn đề vệ sinh môi trường được cải thiện đáng kể. 

UBND TP Cần Thơ cũng đã tổ chức lễ công nhận xã Mỹ Khánh (thuộc huyện Phong Điền) và xã Trung An (huyện Cờ Đỏ) là 2 xã đạt chuẩn quốc gia NTM đầu tiên trên địa bàn thành phố. Sau hơn 3 năm triển khai xây dựng, đến nay, xã Mỹ Khánh đã hoàn thành 19/19 tiêu chí của Chính phủ và 20/20 tiêu chí của TP Cần Thơ giao. Ông Trần Hoàng Lâm, Chủ tịch UBND xã Mỹ Khánh cho biết: Hầu hết các tiêu chí về nông thôn mới được thực hiện đạt mức độ cao. Trên địa bàn xã không còn nhà ở tạm bợ dột nát. Toàn xã có trên 40 hộ sản xuất nông nghiệp có thu nhập trên 300 triệu đồng/năm; mức thu nhập bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng/người/năm.
Cơ sở sản xuất giỏ lục bình xuất khẩu ở Bến Tre. Ảnh: THANH VŨ
Tại huyện Phước Long (Bạc Liêu), chương trình xây dựng NMT đang được đẩy mạnh toàn diện. Theo ông Trần Hoàng Duyên, Bí thư Huyện ủy, so với Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM, huyện Phước Long đã có 8/19 tiêu chí cơ bản hoàn thành, 5 tiêu chí gần đạt và 6 tiêu chí còn thấp. Đảng bộ và chính quyền huyện Phước Long đã chủ động ban hành đề án về xây dựng NTM phát triển toàn diện với 30 tiêu chí, trong đó có 8 tiêu chí về lĩnh vực kinh tế. Từ đó, huyện phát huy được tiềm năng, lợi thế trên cả hai vùng sản xuất. Đến nay, kinh tế huyện phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng đạt 15% - 16%; thu nhập bình quân 28,9 triệu đồng/người/năm, gấp 3,5 lần so với năm 2005.
        Cuộc đua nước rút
Theo kế hoạch, đến cuối năm 2015, cả nước sẽ có 20% số xã hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM. Đây là bài toán khó giải, dù đã có không ít thành công bước đầu ở một số địa phương. Quá trình xây dựng NTM không thể theo phong trào, mà phải là thực chất. “Muốn xây dựng được NTM, phải có người nông dân mới, người nông dân đó phải am hiểu, có kiến thức khoa học - kỹ thuật, tư duy của người nông dân cũng phải thay đổi”, TS Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, nêu ý kiến. Ông Trịnh Quang Hưng, Bí thư Thị ủy Ngã Bảy (Hậu Giang) thẳng thắn nhìn nhận: “Bên cạnh những thuận lợi, xã Đại Thành cũng gặp một số khó khăn như chưa có sẵn mô hình xã NTM để Đại Thành học tập và làm theo, do đó trong quá trình xây dựng xã phải vừa làm, vừa tự rút kinh nghiệm. Bên cạnh đó, một số chủ trương, chính sách của Nhà nước về xây dựng NTM khi đi vào thực tế không còn phù hợp phải kiến nghị thay đổi, điều chỉnh…”.

Theo lãnh đạo một số địa phương, cái khó nhất trong xây dựng NTM là làm thế nào nâng cao thu nhập và đời sống người dân. Ông Võ Thành Hạo, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, cho biết: Bến Tre có 124 xã xây dựng NTM. Hiện toàn tỉnh đã có một xã đạt 16 tiêu chí, 17 xã đạt 10 - 14 tiêu chí, 99 xã đạt 5 - 9 tiêu chí. Tuy nhiên, các mô hình kinh tế liên kết nâng cao thu nhập người dân hiện chưa được nhân rộng đại trà do địa phương chưa có doanh nghiệp nào đủ lớn, có khả năng cung ứng trên diện rộng mà chủ yếu dựa vào doanh nghiệp ngoài tỉnh. Tỉnh chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp nên để nâng cao thu nhập người dân lên mức khá giàu rất khó!
Hạ tầng giao thông nông thôn mới ở Phước Long (Bạc Liêu). Ảnh: SONG HỶ
Xây dựng cầu giao thông nông thôn tại huyện Phước Long, Bạc Liêu. Ảnh: Song Hỷ
Từ khi có chủ trương xây dựng NTM, các địa phương vùng ĐBSCL đã nhanh chóng vào cuộc và được người dân tích cực hưởng ứng với nhiều mô hình, cách làm hiệu quả, khẩn trương bắt tay kiến thiết lại nông thôn một cách căn bản hơn. Tuy nhiên, xây dựng NTM là một chương trình lớn, toàn diện và còn khá mới mẻ nên nảy sinh không ít khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Đó là nhận thức về NTM ở một số địa phương chưa sâu, chưa rõ; cơ chế, chính sách, hướng dẫn nội dung của một số bộ, ngành trung ương còn chậm, chưa kịp thời; các địa phương còn lúng túng trong cơ chế huy động nội lực, cơ chế lồng ghép các nguồn vốn, tiếp cận nguồn vốn tín dụng; trong tiếp cận và giải ngân các nguồn vốn ngân sách cấp. Tiến độ triển khai một số nội dung công việc còn chậm so với kế hoạch đề ra. Trong thực hiện các nội dung, mới chú trọng nhiều đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng mà ít quan tâm đến các hoạt động phát triển sản xuất, xây dựng các mô hình sản xuất phù hợp, xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư...
NTM thì phải làm lâu dài, kiên trì. Quan trọng nhất, then chốt vẫn là sản xuất. Xây dựng cơ sở hạ tầng mà người dân đói thì không phải là NTM. Chính phủ cùng với các địa phương phải huy động các nguồn lực để xây dựng NTM. Các địa phương tập trung thực hiện xây dựng NTM theo hướng vững chắc, duy trì và từng bước nâng chất các tiêu chí, tránh chạy theo thành tích, đặc biệt là nỗ lực huy động các nguồn lực trong toàn xã hội chăm lo an sinh xã hội, hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế, cải thiện đời sống.
Phó Thủ tướng VŨ VĂN NINH - Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia về xây dựng nông thôn mới

TRẦN MINH TRƯỜNG

18 tháng 2, 2014

Tầm nhìn dài hạn cho ĐBSCL phát triển an toàn và trù phú

Bài trên báo SGGP, Thứ ba, 18/02/2014, 00:24 (GMT+7)
Sông nước ĐBSCL
Vừa qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ phối hợp với Bộ TN-MT, Trường Đại học Cần Thơ, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới tại Việt Nam tổ chức hội thảo tham vấn cuối cùng lấy ý kiến của các tỉnh, thành trong vùng về kế hoạch ĐBSCL (MDP) - Tầm nhìn dài hạn đến năm 2100 cho một khu vực đồng bằng an toàn, trù phú và bền vững trước thách thức biến đổi khí hậu và nước biển dâng. MDP do các chuyên gia Hà Lan xây dựng, đã được làm sáng tỏ hơn bởi những người trong cuộc. 4 kịch bản phát triển của MDP được đề xuất gồm: Công nghiệp hóa hành lang kinh tế, lấy trục phát triển chính TPHCM - Cần Thơ; An ninh lương thực; Công nghiệp hóa nông nghiệp - tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với công nghiệp hóa; Công nghiệp hóa nút kép - lấy “TPHCM và Cần Thơ” làm hạt nhân thúc đẩy phát triển toàn vùng. MDP được xây dựng theo cách tiếp cận mới: Tầm nhìn dài hạn trăm năm, phân kỳ thành 3 giai đoạn (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn); dựa trên các nguyên tắc: “Chọn lựa ưu tiên, không hối tiếc”, “hoạch định cho một tương lai không chắc chắn”, khả năng có nhiều thay đổi.

Ông Martin van de Groep, chuyên gia kỹ thuật Hà Lan, cho biết: MDP được xây dựng theo 4 kịch bản, gồm: an ninh lương thực, công nghiệp hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa hành lang kinh tế, công nghiệp hóa nút kép. Trong đó, kịch bản công nghiệp hóa nông nghiệp khả thi nhất vì sẽ phát triển ĐBSCL thành vùng chuyên môn hóa về nông nghiệp giá trị cao và sản phẩm thực phẩm nông nghiệp phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu. 

Thực tiễn cho thấy, ĐBSCL đã và đang phát triển theo những kịch bản đó. Vấn đề là chọn lựa ưu tiên nào để có giải pháp thích ứng và “không hối tiếc”. Yêu cầu đặt ra là những khuyến nghị chính sách, giải pháp cần có sự liên kết giữa các kịch bản với nhau, khả năng thích ứng trước nhiều thay đổi cho một tương lai trăm năm, không chỉ “cho ta, mà còn cho con cháu ta”. Với tư cách những người trong cuộc, nhiều đại biểu đã trao đổi thẳng thắn, tâm huyết.

Các giải pháp công trình; đặc biệt là các công trình thủy lợi, giao thông là rất cần, nhưng phải được tiếp cận theo vùng và kiểm soát nghiêm ngặt khi quyết định đầu tư và thực hiện. Không được đóng cửa sông là ý kiến của nhiều đại biểu được chuyên gia Hà Lan Martin van de Groep ghi nhận: “Dòng sông cần được mở ra biển, những cửa sông tự nhiên sẽ làm giảm quá trình nhiễm mặn khiến biển không đi sâu vào đất liền, là cơ hội nuôi trồng thủy sản. Do đó, trong phiên bản MDP lần này đã bỏ giải pháp đóng cửa sông tại ĐBSCL”.

Giải pháp phi công trình và liên kết vùng đã được nhiều đại biểu đề cập. Việc đề xuất lập một “Ủy ban Kế hoạch ĐBSCL” được ủng hộ, nhưng yêu cầu lớn hơn cho phát triển còn vượt hơn cả việc lập kế hoạch, đòi hỏi tổ chức phối hợp cấp vùng này phải có “thực quyền”, “thẩm quyền và năng lực điều phối” vì lợi ích chung của vùng.

Các đại biểu ủng hộ các khuyến nghị của MDP về khôi phục lại vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên ở vùng thượng du đồng bằng thành vùng trữ nước lũ. Kể từ những năm 1990, những vùng này đã bị khai thác để làm lúa vụ ba, trong khi các đại biểu cho rằng lúa vụ ba là không bền vững về kinh tế cũng như môi trường. Theo cách nói của một đại biểu: “Chúng ta xuất khẩu gạo để muốn giàu hơn hay nghèo hơn?”. Vì thực tế, nông dân trồng lúa ở ĐBSCL là những người nghèo nhất cả nước. Khi trồng lúa, gia tăng sản lượng và gia tăng thu nhập không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau. Khôi phục lại vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên với vai trò lịch sử của nó là “tấm xốp” tự nhiên giúp hấp thu nước trong mùa mưa và thoát nước trong mùa khô cũng có nghĩa là tạo ra những thay đổi đáng kể trong mục đích sử dụng đất. Nếu thực hiện điều này có nghĩa là sẽ bỏ lúa vụ ba, nhưng mặt khác, nó sẽ giúp giảm nguy cơ lũ trong mùa mưa và giảm xâm nhập mặn trong mùa khô.
TRẦN HỮU HIỆP

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp
Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011
Chân chất, thật thà, đơn giản

Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  Sài Gòn là đặc trưng.Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”: con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc …
Có người nói, giọng Miền Tây “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của bài vọng cổ - giọng nói Miền Tây Nam Bộ! Nhiều người Miền Tây xa quê mấy mươi năm, hàng ngày nói tiếng Tây, tiếng Tàu hay đã pha tạp chất giọng của các vùng miền khác; nhưng chỉ cần đôi ba tuần sống hòa mình lại chốn xưa, lại trở về cái chất giọng của cố hương như tìm về nơi chôn nhau, cắt rún của mình.
Tiếng Miền Tây – giao thoa ngôn ngữ
Trong tiếng nói người Miền Tây, có nhiều từ ngữ “đặc sản” chỉ vùng này mới có, thú vị hơn là sự giao thoa ngôn ngữ Kinh – Khmer – Hoa như món Lẩu mắm của xứ này (cái lẩu – tiếng Hoa, món mắm – người Kinh, Khmer đều quen dùng và rau các loại – món ăn tự nhiên khởi nguồn từ những người Việt đi khẩn hoang vùng đất Phương Nam này chăng?). Gặp một em gái Miền Tây đi đâu một mình, hỏi: “Em đi với ai?”. Trả lời: “Dạ, em đi mình ên”. Thì ra, trong tiếng Khmer, “Êng” có nghĩa là “một mình”. Ca sĩ, nhạc sĩ Đình Văn có bài hát rất hay “BUỒN MÌNH ÊN”(Đan Trường – Cẩm Ly thể hiện): “Buồn ngồi mình ên, buồn ngồi chờ ai/ Ánh trăng bên thềm/ Xót xa, xót xa cho người chờ mong/ Buồn ngồi tùng đêm, buồn lòng hiu hắt/ Nước mắt rơi trong lòng tiếc thương/ Tiếc thương cho mối tình đầu … Mình ên ai đứng đợi người/ Buồn thiu cá chẳng ăn mồi/ Cá buồn không giỡn bóng trăng/ Người đi xa mãi cánh cò, cánh cò mỏi mòn đợi mong/ Mình ên cùng với trăng vàng/ Ai đứng nhớ người chết lặng mình ên”. Qua ngõ nhà em, thương lắm rồi mà làm bộ dửng dưng (một chút làm cao), không rẽ vào nhà màđi qua luôn, gọi là đi huốt – cũng có gốc từ tiếng Khmer.
Tiếng Miền Tây chân chất mà chuẩn xác ngữ nghĩa biểu cảm

Người Miền Nam nói chung và dân Miền Tây nói riêng không dùng lẫn lộn các từ “đắc – mắc” – đắc đỏ và mua may bán đắc; hay “vay & mượn” như người miền Bắc, ngoài Trung. Đối với người Miền Nam, bán “mắc” là bán hàng giá cao, còn bán đắc là đông khách hàng đến mua. Anh em giúp đỡ nhau chút ít tiền gọi là “cho mượn”, không bao giờ nói là “cho vay” – có tính lãi (do họ quá rành các nguyên tắc giao dịch trong luật dân sự chăng?). Người Miền Tây hay dùng các từ đệm chân chất như "đẹp hết sẩy", "xấu quắc" ... Nếu để ý, người Miền Tây có cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ ba trong tiếng Việt rất đơn giản (không cần thêm từ), thí dụ như để chỉ anh ấy, chị ấy, ông ấy, em ấy,bà ấy, … họ nói: ảnh, chỉ, ổng, ẻm, bả – gọn thế là xong.

Người ta nói tiếng Sài Gòn dễ hiểu, dễ nói, dễ viết. Người Sài Gòn sáng tạo và đóng góp cho từ điển Việt Nam rất nhiều từ hay, ngắn, gọn, ai nghe cũng hiểu ngay đó là cái gì như Bột ngọt (miền Bắc: mì chính, vốn gốc từ tiếng Tàu), Mì ăn liền (ngoài Bắc hay gọi mì tôm, nhưng bi giờ thì đủ loại: tôm, cua, gà, bò ... nên gọi mì ăn liền thì hợp hơn), Xe hơi (miền Bắc: ô tô, phiên âm Auto), Bánh tráng (miền Bắc: bánh đa). Người Miền Tây cũng dùng như vậy. Tiếng Miền Tây chân chất, đơn giản, cũng dễ hiểu, dễ nói, nhưng khó viết một chút; nếu phiên âm nguyên xi thì sai lỗi chính tả. Người Việt do đặc điểm tiếng nói và tư duy ngôn ngữ khác (ngôn ngữ đơn âm tiết, nói chuyện uốn lưỡi bảy lần), nên nói chung học ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga – thuộc ngôn ngữ đa âm) rất cực. Ngoại ngữ là một trong những yêu cầu rèn luyện của mọi người, nhất là giới trẻ. Nhưng Giới trẻ ngày nay hội nhập vào nhiều nền văn hoá, học nhiều, biết nhiều ngôn ngữ quốc tế (nhất là tiếng Anh, tiếng Hàn), đã “cung cấp” thêm vốn từ “ba rọi”, nửa nạc nửa mỡ nghe cũng vui  tai nhưng thấy kỳ kỳ, có người mừng, người lo. Nhiều người báo động sự phong phú, giàu đẹp và trong sáng của Tiếng Việt đang đứng trước nguy cơ “xâm lăng” của ngôn ngữ ngoại lai. Giọng nói, từ ngữ vùng, miền cũng không nằm ngoài nguy cơ đó.
Mỗi vùng miền có cái hay, cái đẹp riêng (dĩ nhiên cũng có những hạn chế riêng). Tiếng dùng, giọng nói mỗi miền cũng vậy, nên tạo ra bản sắc riêng trong cái chung của người Việt. Quan trọng là cách dùng trong từng môi trường giao tiếp cốt sao cho người nghe hiểu mà vẫn cảm nhận được vẻ đẹp riêng lấp lánh của ngôn ngữ vùng, miền. Đơn giản là vậy, nhưng dùng đúng, dùng hay cũng không dễ./.
__________________________________________________
Wikipedia về “Nhận dạng tiếng nói” - là một quá trình nhận dạng mẫu, là sự phân lớp (classify) thông tin đầu vào là tín hiệu tiếng nói thành một dãy tuần tự các mẫu đã được học trước đó và lưu trữ trong bộ nhớ. Các mẫu có thể là các từ, hoặc các âm vị. Khó khăn cơ bản của nhận dạng tiếng nói là do nó luôn biến thiên theo thời gian và có sự khác biệt lớn giữa tiếng nói của những người nói khác nhau, tốc độ nói, ngữ cảnh và môi trường âm học khác nhau. Xác định những thông tin biến thiên nào của tiếng nói là có ích và những thông tin nào là không có ích đối với nhận dạng tiếng nói là rất quan trọng. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn mà ngay cả với các kỹ thuật xác suất thống kê mạnh cũng khó khăn trong việc tổng quát hoá từ các mẫu tiếng nói.
Bài hát: Con gái Miền Tây ; Về Miền Tây
TIẾNG BẮC - TIẾNG NAM (Bài đồng dao hay thể loại nào không biết rất dễ thương)
Không gian tiếng Việt

Áo bà ba duyên dáng đồng bằng

(LĐ) - Áo bà ba là loại trang phục đặc trưng Nam Bộ, cả nam lẫn nữ đều mặc được; nhưng giới nữ ưa chuộng nhiều hơn; đặc biệt là ở miệt vườn, miệt ruộng của vùng sông nước Cửu Long, tạo nên nét duyên dáng đồng bằng không gì so sánh được.
Ảnh: Lê Vũ Tuấn

Nguồn gốc xuất xứ và tên gọi của loại trang phục “đặc sản” này đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng, áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ vào thời Hậu Lê vì có nét giống “cái áo đàn ông cổ tròn, cửa ống, tay hẹp" mà sách xưa ghi là cụ Lê Quý Đôn đã quy định thành trang phục cho dân Đàng Trong cuối thế kỷ 18.
Lại có ý kiến cho rằng, áo bà ba chỉ mới xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 19, được học giả Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người Malaysia gốc Hoa cho phù hợp với vóc dáng người Việt. Nếu điều này đúng thì dân Nam Bộ chính là những người giao lưu khu vực sớm nhất. Tôi không biết ai đúng, nhưng vẫn coi áo bà ba là “đặc sản” của xứ tôi – đồng bằng sông Cửu Long - dù hiện nay phần đông giới trẻ thích mặc quần áo hiphop, model Hàn Quốc, quần jean, áo pull; giới công chức thì mặc trang phục công sở, giới doanh nhân nam mặc veston, sơmi, doanh nhân nữ mặc váy hay đồ tây..., gọi chung là Âu phục.
Dân Nam Bộ nói chung và dân miền Tây nói riêng mặc nhiên coi áo bà ba như thứ trang phục truyền thống, chất chứa “giá trị phi vật thể” tích tụ từ bao đời trên mảnh đất phương Nam. Những năm gần đây, áo bà ba thường xuyên xuất hiện trong các cuộc thi hoa hậu, người đẹp ở đồng bằng sông Cửu Long và cả Nam Bộ như một sự thừa nhận và cổ xúy cho loại trang phục có sức quyến rũ bền bỉ, vượt qua thử thách của thời gian.


Nhiều thế hệ người Miền Tây thuộc lời bài hát “Cô Thắm về làng” của nhạc sĩ Giao Tiên với hình ảnh áo bà ba hiền hoà: “Kìa ai như cô Thắm con bác năm đi xa mới về, dáng người trông xa xinh quá, trông ngẩn ngơ đám trai làng ta. Nón bài thơ nghiêng trong nắng tà, áo bà ba duyên quê ấy mà, cùng chị em chân dép cô đi chợ xa”.
Với tôi, những năm tháng trẻ thơ, nhớ những lần ngơ ngác đi chợ huyện sợ lạc, tay luôn nắm chặt vạt áo bà ba của má tôi – một phụ nữ chân quê đồng bằng. Nhớ các chị tôi vào độ tuổi trăng tròn thường mặc chiếc áo bà ba mượt mà, đầy đặn, làm nhiều anh trai làng phải ngã bệnh tương tư, lén gửi thư tình bằng giấy học trò kẻ hàng đôi để chữ viết được tròn trịa như... con gái mặc áo bà ba.
Áo bà ba không chỉ xuất hiện ngoài phố chợ mà còn có mặt trên ruộng đồng, dưới tán vườn, thấp thoáng qua cây cầu nhỏ... Cái thứ trang phục “2 phần kín, 1 phần hở" đó vừa giấu, vừa khoe một cách tài tình vẻ đẹp tự nhiên, quyến rũ trong cơ thể của người phụ nữ Nam Bộ. Áo bà ba đã đi vào thơ ca, nhạc, họa cùng với chiếc xuồng ba lá, cái nón lá và chiếc khăn rằn thành biểu tượng của nữ du kích miền Tây.
Áo bà ba cổ điển, được nhiều người mặc từ thập niên 1960 trở về trước, may bằng các loại vải một, vải ú, vải sơn đầm... rất mau khô sau khi giặt; được xẻ ở hai bên hông làm người mặc cảm thấy thoải mái, gần vạt áo có thêm hai cái túi to. Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái mà cả nam lẫn nữ ở đồng bằng sông Cửu Long thường vận bộ bà ba đen khi đi làm đồng.
Theo các nhà Từ điển học nghiệp dư của Wikipedia, trong 2 thập niên 1960-1970, áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến nhờ óc sáng tạo của các nhà tạo mẫu dân gian mang hơi hướng "tân cổ giao duyên" nên vừa phá cách, vừa giữ được nét đặc thù. Áo dài bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình như để khoe "3 số đo" của các cô gái duyên dáng dễ thương.
Người miền Bắc có câu: "Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương", nhớ “áo tứ thân với tóc đuôi gà”. Còn người miền Nam thì mộc mạc hơn, “thương nhớ áo bà ba” như nhớ thương một vùng ký ức tuổi thơ một thời thấp thoáng...
TRẦN HỮU HIỆP



16 tháng 2, 2014

Dự thảo Luật Doanh nghiệp mới: Được kinh doanh nếu pháp luật không cấm

TT - Không phải đăng ký trước ngành nghề để ghi trong giấy đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được kinh doanh các ngành nghề mà luật, pháp lệnh, nghị định không cấm và có quyền không tuân thủ các quy định trái với ba loại văn bản này.
TIN BÀI LIÊN QUAN
Đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch - đầu tư TP.HCM - Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Ông Nguyễn Đình Cung - Ảnh: V.Dũng
Bộ Kế hoạch - đầu tư vừa công bố dự thảo Luật doanh nghiệp (DN) sửa đổi, bãi bỏ nhiều thủ tục khi thành lập DN, không buộc phải đăng ký trước ngành nghề kinh doanh...
Tuổi Trẻ phỏng vấn ông Nguyễn Đình Cung - viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đơn vị chủ trì soạn thảo - về những điểm mới trong dự thảo luật.
Tạo bình đẳng, giảm phiền hà
Bãi bỏ việc bắt buộc đăng ký ngành nghề kinh doanh
- Thế giới hiện nay đã không bắt buộc ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy đăng ký kinh doanh. Ở ta, anh muốn kinh doanh ngành nghề gì phải đăng ký. Cho dù ngành nghề đó pháp luật không cấm, nhưng anh kinh doanh ngoài giấy phép kinh doanh là phi pháp. Nên nhiều khi chớp được cơ hội kinh doanh, doanh nhân lại phải chờ xin điều chỉnh giấy đăng ký kinh doanh, xong thì có thể cơ hội đã qua.
Lần này sửa đổi sẽ đảm bảo đúng tinh thần của Hiến pháp, người dân được quyền kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm, chứ không chỉ trong những lĩnh vực giấy phép nêu. Điều này tạo tính linh hoạt cho doanh nhân, giảm được nhiều chi phí về đăng ký bổ sung, giảm được chi phí giao dịch và rủi ro...
* Dự thảo sửa đổi Luật DN lần này có đưa ra những đột phá nào như Luật DN 1999?
- Luật DN 1999 đã có cú đột phá rất mạnh, cho nên lần này nói tạo thêm đột phá nữa là không đơn giản. Nhưng lần này chúng tôi cũng đưa ra nhiều điểm mới. Dự thảo luật lần này tách riêng thủ tục thành lập DN với các thủ tục về đầu tư dự án, cũng như với các thủ tục có liên quan về cổ phần, cổ phiếu... Chúng ta hình dung một DN có thể có rất nhiều dự án, mỗi dự án có vòng đời riêng, hết dự án thì có thể DN vẫn còn đó. Cho nên tách riêng như dự thảo là cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế. Cũng theo dự thảo luật, việc thành lập DN là như nhau đối với tất cả DN trong nước và ngoài nước. Khi có dự án cụ thể thì tùy theo lĩnh vực ngành nghề, DN phải làm các thủ tục và tuân thủ các quy định liên quan, ví dụ ngành có điều kiện thì khác với ngành không điều kiện.
Chúng tôi cũng đưa ra quy định để thu hẹp sự khác biệt giữa DN trong nước và nước ngoài để tạo sự bình đẳng, giảm phiền hà. Lâu nay có nhiều định nghĩa khác nhau về DN có vốn đầu tư nước ngoài, có nơi áp dụng cứ nước ngoài đầu tư thì dù 1 đồng cũng coi là DN đầu tư nước ngoài (trong khi DN nước ngoài không được tham gia một số lĩnh vực như phân phối thuốc, xăng dầu - PV).
Bây giờ chúng tôi đưa ra định nghĩa DN có vốn đầu tư nước ngoài là DN có tối thiểu 51% sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Đây chưa phải là cải cách tối đa nhưng cũng là bước tiến quan trọng. Ở đây cần phân biệt DN có vốn đầu tư nước ngoài là đối tượng quản lý, còn đối tượng thống kê lại khác. Với tư cách là đối tượng thống kê thì đầu tư nước ngoài vào VN dù 1 đồng cũng được tính.
Đó là những thay đổi thân thiện hơn với kinh doanh, cải thiện môi trường kinh doanh, giúp tăng đầu tư, giảm chi phí giao dịch, chi phí tuân thủ, giảm rủi ro cho DN, vì trong thực tế có những rủi ro không hẳn xuất phát từ kinh doanh mà từ việc tuân thủ quy định pháp luật.
* Như vậy dự thảo luật muốn tạo ra cơ hội lớn hơn về khả năng gia nhập thị trường?
- Đúng vậy, lần này hướng sẽ tách biệt hẳn giữa việc thành lập DN và việc kinh doanh có điều kiện. Trước đây có một số ngành nghề nhập nhằng giữa thành lập DN và kinh doanh có điều kiện. Chẳng hạn lĩnh vực y tế, bắt buộc anh thành lập DN thì giám đốc phải có chứng chỉ hành nghề. Nay không bắt buộc như vậy nữa, anh cứ thành lập DN, còn điều kiện về ngành nghề kinh doanh, anh phải tuân thủ mới được làm. Quy định đó tạo sự thân thiện hơn cho khởi nghiệp và kinh doanh nói chung.
Môi trường kinh doanh của VN có thể lên bậc 50
* Dự luật hướng đến giảm được bao nhiêu thời gian trong việc thành lập DN?
- Dự thảo luật cũng cố gắng giảm thủ tục, ví dụ hiện nay thành lập DN đang từ chín thủ tục sẽ giảm xuống còn năm, bỏ bốn thủ tục. Từ chỗ theo tính toán của quốc tế thì toàn bộ quá trình thực hiện các thủ tục có liên quan để một DN ở ta đi vào hoạt động là 34 ngày, dự thảo luật sẽ giảm xuống còn 20 ngày. So sánh với quốc tế và khu vực, mức độ phức tạp và tốn kém về chi phí tuân thủ, thủ tục thành lập DN và khởi sự kinh doanh năm 2013 của nước ta vẫn ở thứ hạng thấp. VN đang đứng thứ 99/189 quốc gia và nền kinh tế trong báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới công bố ngày 29-10-2013. Nếu thực hiện được các quy định mới của dự thảo luật, chúng tôi tính toán rằng có thể nhảy lên khoảng bậc 50.
* Có ý kiến lo Luật DN năm 2005 “thoáng” quá nên nhiều DN thành lập chỉ để mua bán hóa đơn giá trị gia tăng. Hậu kiểm ở ta chưa hoàn thiện mà “thoáng” thế sẽ có bất ổn...
- Ở VN, một đạo luật có thời gian thực hiện hơn bảy năm có thể được coi là tương đối dài hơi và tất nhiên Luật DN đã được bảy năm nên cũng nảy sinh những vấn đề. Nhưng chúng tôi đã thống nhất phân thành ba loại vấn đề. Thứ nhất là những vấn đề trong thực thi luật, ví dụ như người nào đó thành lập hàng chục DN mà không kinh doanh, chỉ mua bán hóa đơn, trốn thuế, lừa đảo... Những thứ đó là vấn đề trong quá trình thực hiện luật, chứ không phải vấn đề của nội dung luật. Đó là chuyện vi phạm pháp luật, nghĩa là dù luật nào thì cũng có thể bị vi phạm, để hạn chế phải chấn chỉnh khâu thực thi. Như Luật giao thông đường bộ quy định rất rõ ràng nhưng người ta vẫn cứ vi phạm. Không nên lấy những vi phạm để rồi cho rằng luật phải thay đổi, chạy theo những thứ đó. Thứ hai là những vấn đề liên quan đến luật khác, rất nhiều luật chồng chéo, trùng lặp. Vậy thì không thể một mình Luật DN giải quyết được hết. Thứ ba mới đến những vấn đề thuộc về nội dung của Luật DN. Chúng tôi lần này tập trung vào nội dung của Luật DN.
Nguồn: Bộ Kế hoạch - đầu tư, Đồ họa: V.Cường

DN nhà nước phải công bố thông tin theo chuẩn
* Dự luật lần này có chương riêng về DN nhà nước, với những quy định cụ thể thế nào?
- Dự thảo luật quy định về vai trò, chức năng của DN nhà nước nói chung và từng DN nhà nước nói riêng. Điều này lâu nay nói nhiều nhưng chưa quy định hoặc chỉ quy định trong nghị định của Chính phủ. Bước tiến mà chúng tôi hướng đến là quy định rõ vai trò, chức năng của DN nhà nước giới hạn trong những ngành nghề nhất định. Dự thảo luật cũng quy định vai trò, chức năng của chủ sở hữu theo hướng tách bạch rõ Quốc hội làm gì, Chính phủ làm gì, các bộ làm gì... Đặc biệt lần này luật quy định rõ DN nhà nước phải công khai như các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tức phải công bố thông tin theo chuẩn, chứ không phải công bố thế nào xã hội biết thế ấy, qua đó để xã hội giám sát tốt hơn.
* Dự thảo nêu “DN có quyền tự chủ đăng ký và kinh doanh các ngành nghề mà luật, pháp lệnh và nghị định không cấm”, điều này tạo ra thay đổi gì?
- Dự luật mới yêu cầu chỉ ba loại văn bản như trên mới có thể ảnh hưởng đến quyền đăng ký kinh doanh của DN. Những văn bản khác không có giá trị. Với quy định này, ví dụ cấp quản lý ở địa phương nào đó ra quy định cấm kinh doanh karaoke thì quy định đó là bất hợp pháp nếu luật, pháp lệnh và nghị định không cấm việc kinh doanh này, người dân có quyền không tuân thủ và sau đó kiện ra tòa án.
V.V.THÀNH - C.V.KÌNH thực hiện
* Năm 1990, Quốc hội ban hành Luật công ty (quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) và Luật DN tư nhân.
* Năm 1999, Quốc hội ban hành Luật DN quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và DN tư nhân.
* Năm 2005, Quốc hội ban hành Luật DN với đối tượng áp dụng là DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Luật này thay thế Luật DN 1999, Luật DN nhà nước năm 2003, các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của DN tại Luật đầu tư nước ngoài 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 2000.
* Dự thảo Luật DN (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội trong năm 2014-2015.