22 tháng 6, 2014

Ông Vụ trưởng đam mê con chữ

Đức Khánh
Đó chính là Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ Trần Hữu Hiệp. Đối với ông Hiệp, chuyện viết lách dường như đã trở thành cái nghiệp, thấm vào máu, vào hơi thở, nhịp đập con tim...
Nhiều người có chung nhận xét: Mỗi lời văn, ngôn từ được thể hiện trên từng tác phẩm báo chí của ông Trần Hữu Hiệp đều đậm chất Nam Bộ. Những tác phẩm báo chí của ông khiến người đọc nghiền ngẫm, thú vị và luôn cảm nhận một bức tranh đồng quê trù phú, về cuộc sống sinh động của con người miền Tây Nam Bộ.

33 năm làm báo “lụi”
Về thâm niên làm báo “lụi” của ông Hiệp, nếu nói ra chắc nhiều người phải “té ngửa”, đôi khi nửa tin nửa ngờ. Với 48 tuổi đời thì ông chí ít đã có 33 năm làm nghề viết báo với khối tài sản là hàng nghìn tác phẩm, bản tin.
Tôi may mắn quen biết ông đã được chừng 10 năm, từ khi tôi còn là thằng sinh viên báo chí mới ra trường tập tễnh dấn thân vào nghề báo. Ông đối với tôi như là một người bạn, người anh, người thầy… dễ gần, dễ mến và rất đáng trân trọng.
Quê huyện Thới Lai, quận Ô Môn, TP.Cần Thơ, khi mới 15 tuổi Trần Hữu Hiệp đã là hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cần Thơ (cũ). Niềm đam mê viết lách đã thấm vào ông ngay từ thuở đó. Ông Hiệp chia sẻ: “15 tuổi, với chùm 3 bài thơ đầu đời được in trên Tạp chí Văn nghệ Cần Thơ, những dòng thơ có lúc “bốc đồng, hô hào” nhưng khiến tôi không thể nào nguôi được cảm xúc sung sướng”.
“Từ những trang báo tường thắm đượm chất học trò hơn 30 năm trước; đến những trang báo, trang văn, và cả những mẩu tin, bài báo bằng tiếng Đức, rồi những trang văn, truyện ngắn, truyện vụ án, chuyện cảnh giác… trên các báo Công an nhân dân, Minh Hải, Công an Hậu Giang, Tư pháp Hậu Giang… Tôi vừa viết để phản ánh hiện thực nhưng cũng để kiếm cơm khi còn là anh sinh viên đói ăn. Thắm thoát vậy mà đã hơn 30 năm...” – ông Hữu Hiệp bộc bạch.
Với ông, đó là những trang viết đầy ắp kỷ niệm với “gạo, tiền công chức nhà nước”, lúc ra trường “lương ba cọc, ba đồng”, rồi “vợ sinh con, mỏi mòn lương tháng”...
Có một kỷ niệm vui trong đời làm báo “lụi” mà ông Hữu Hiệp vẫn nhớ mãi. Đó là một lần ông từ Sài Gòn về qua bắc Cần Thơ, nghe em bán báo rao “chuyện vụ án” trên trang báo vừa phát hành, chi tiết có vẻ quen quen, mua một tờ đọc. Hóa ra, chuyện là của mình…
“Ngàn trang viết, có dở, có hay. Có những nghĩ suy thành trang báo, trang văn đến với bàn dân thiên hạ; nhưng cũng có những trăn trở thâu đêm mãi còn nằm trong quyển vở học trò, những dòng nhật ký điện tử... Vì ta chỉ viết cho ta. Trò chơi con chữ, lặng lẽ như chiếc bóng, vẫn âm thầm theo ta suốt cuộc đời này” – ông Hữu Hiệp trải lòng.
Trăn trở với đồng bằng
Đảm nhiệm chức vụ Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Xã hội, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, nhiều năm qua ông Hiệp đã có những đóng góp hết sức đáng kể vào những hiến kế, chiến lược, giải pháp, đề xuất về lĩnh vực “tam nông”, để từng bước giúp cho nhà nông cả nước nói chung, nhà nông miền Tây nói riêng nâng cao thu nhập, thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
“Tôi vẫn canh cánh trong lòng, làm sao để nhanh chóng tháo gỡ những bất cập, khó khăn ở vùng đất trù phú đầy ắp lúa gạo, cá tôm, cây trái phong phú… mà sao nhiều người vẫn còn nghèo. Cần phải có sự quyết liệt hơn nữa trong việc liên kết vùng để gia tăng chuỗi giá trị hàng hóa. Đồng thời, phải thống nhất quan điểm và đồng bộ trong chỉ đạo sản xuất, tính kỷ cương trong quy hoạch…” – Vụ trưởng Trần Hữu Hiệp trăn trở.
Với ông, thông qua diễn đàn báo chí là cơ hội tốt để trao đổi, chia sẻ, bày tỏ những vấn đề của cuộc sống gắn với công ăn, việc làm của người nông dân đồng bằng. Hiện ông là cộng tác viên của rất nhiều tờ báo, thường xuyên có những bài phân tích, bình luận về tình hình kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ. Với Báo NTNN, ông Hiệp là cây bút chủ lực giữ mục “Quê tôi – ngày ấy – bây giờ” trên chuyên trang ĐBSCL.
“Với tôi viết báo cũng như tập thể dục hàng ngày. Lặng lẽ quan sát, suy ngẫm và viết. Mỗi dòng chữ, ngòi bút sử dụng phải có trách nhiệm hơn. Tuy làm báo “cho vui” nhưng hàng năm đến ngày 21.6, mình cũng nhận được nhiều lời chúc mừng, động viên, xúc động và sung sướng lắm” – ông chia sẻ.

Nợ đọng văn bản và nợ dân

Trần Hữu Hiệp
Nợ đọng văn bản là một trong bốn “món nợ dân” được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhắc đến, các đại biểu Quốc hội chất vấn vị “tư lệnh” ngành Tư pháp.
Trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy, có hay không việc cài lợi ích nhóm vào công việc xây dựng pháp luật và “vừa thiết kế, vừa thi công” của các bộ, ngành trong làm luật và thực thi pháp luật, Bộ trưởng Tư pháp có phần lúng túng, không trả lời thẳng mà phải dựa vào nguyên tắc pháp luật “thể chế chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng”. 
Mặc dù hơn 90% văn bản luật của Quốc hội là do Chính phủ dự thảo, trình ban hành, nhưng Chính phủ lại là “con nợ” lớn. Số lượng văn bản, nhất là văn bản hướng dẫn luật, pháp lệnh chậm ban hành, nợ đọng kéo dài, gây bức xúc. Tháng 4-2014, Bộ Tư pháp có báo cáo, còn 29/44 văn bản thuộc thẩm quyền Chính phủ chưa được ban hành, chiếm 65,9%; còn 38/46 văn bản thuộc thẩm quyền các bộ, ngành chưa ban hành, chiếm 82,6%.
Tính chung, “nợ đọng văn bản” chiếm tới 74,44%. Đáng lo ngại hơn khi có 312 văn bản pháp luật sai luật, theo Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng là rất nghiêm trọng.
Pháp luật nước ta là pháp luật của Nhà nước do dân, vì dân. Dân làm chủ, “thuê” công chức làm việc, đặc biệt là việc làm quan trọng - “gác cổng pháp luật”. “Những đầy tớ” này phải có tâm sáng, chuyên môn sâu để “giữ cửa” an toàn. Xét ở góc độ đó, thì năng lực, trình độ, phẩm chất của nhiều công chức ở một số bộ được trao quyền “làm luật” chưa đạt yêu cầu. Nhiều bộ, ngành đã chểnh mảng công việc đến nỗi Thủ tướng Chính phủ phải chỉ đạo khắc phục tình trạng “nợ đọng văn bản”, nhưng xem ra cần phải “quyết liệt” hơn.

Nhiều đạo luật được Quốc hội thông qua phải chờ nghị định hướng dẫn. Đến lượt mình, nghị định của Chính phủ lại phải “nhờ vả” thông tư của các bộ quy định chi tiết. Thậm chí, luật trung ương còn phải chờ chính quyền địa phương “cụ thể hóa”, thì mới đến được với người dân. Đường đi của nhiều đạo luật lắm nhiêu khê mà chính Bộ trưởng Tư pháp cũng phải than “hệ thống pháp luật phức tạp nhất thế giới”. 
Nếu như trước đây, các văn bản pháp quy do các bộ quản lý ban hành “thỉnh thoảng” có sai sót hoặc bất cập, thì gần đây “tần suất” ra đời văn bản “cần rút kinh nghiệm”, không khả thi, ngô nghê và áp đặt, bị phản ứng mạnh mẽ của dư luận ngày càng nhiều.
Một điển hình mà nhiều người dân còn nhớ là Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT của Bộ Y tế với những cái “chuẩn trời ơi” là: “Thấp bé” - dưới 1,45m, “nhẹ cân” - dưới 40kg, “ngực lép”- nhỏ hơn 72cm, thì không đủ sức khỏe để lái xe trên 50cc. Rồi đến quy định của Bộ NN-PTNT về việc “bán thịt tươi không được quá 8 tiếng”, “phạt người sử dụng phân bón giả”; của Bộ Văn hóa TT&DL về “quan tài không nắp kiếng” và “hà tiện vòng hoa tang”; rồi đến quy định “phạt xe không chính chủ” mặc dù cần, nhưng bất ngờ, cà giựt, chưa được chuẩn bị tốt, tác động tiêu cực đến số đông dân chúng... phải để chậm lại việc thi hành.
Nợ đọng văn bản đang là mối lo của nhà nước pháp quyền. Yêu cầu xây dựng pháp luật cũng cấp bách như điều hành kinh tế, mà điều cấp bách đầu tiên là giải quyết ngay tình trạng “nợ đọng văn bản”, trước khi nó thành “nợ xấu” để khơi thông “dòng chảy pháp luật” đến được với dân.
Các phiên chất vấn bộ trưởng, trưởng ngành tại Quốc hội vừa qua về nợ công, nợ giáo dục, nợ đọng văn bản chỉ mới là “nhắc nợ”, chưa phải “trả được nợ”. Nợ dân vẫn còn đó, “con nợ” phải làm việc cật lực hơn thì mới mong trả được nợ dân!

20 tháng 6, 2014

Ai dìa rốn cá miền Tây!

Trần Hữu Hiệp
“Công danh chi nữa mà chờ/Dìa kinh Long Phụng đặt lờ nuôi em”. Lung Ngọc Hoàng thuộc địa phận 2 xã Phương Bình và Phương Ninh, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, được bao bọc bởi dòng kinh Long Phụng.
Khác với nhiều địa danh mộc mạc, quen thuộc như Xẻo Môn, Xẻo Đước… Cái tên đẹp của kinh Long Phụng, lung Ngọc Hoàng vẫn không làm mất đi chất dân dã, mà còn gợi cảm về một món quà thiên nhiên dành tặng những người dân chất phác, thật thà. Lung Ngọc Hoàng – xứ sở của trời, miền đất ngập nước quanh năm, từ lâu được xem là rún cá miền Tây.
Vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước lung Ngọc Hoàng rộng khoảng 2.800ha, không chỉ là “lá phổi xanh” của ĐBSCL, mà còn là nơi bảo tồn đa dạng sinh học độc đáo. Nơi đây còn lưu giữ vẻ nguyên sơ đặc trưng với rừng tràm, thảm thực vật phong phú, hơn 300 loài chim có tên trong sách đỏ, hơn 200 loài cá và nhiều động vật đặc hữu, rắn, rùa.
Khác với nơi có sông lớn, mùa nước nổi, cá linh, mè vinh, các loài cá trắng theo dòng sông Tiền, sông Hậu hội tụ về; lung Ngọc Hoàng là nơi giáp nước, đất thấp, một vùng đệm nối Tứ giác Long Xuyên với bán đảo Cà Mau, nên tập trung nhiều cá đồng, cá đen quanh năm.
Dìa với lung Ngọc Hoàng - rún cá miền Tây để vui thú với những món ăn dân dã từ các cá đồng, cá đen – của cải trời cho. Cá chạch lấu to tròn, nướng muối ớt, đựng bằng tàu lá chuối, lai rai vài ly đế giữa trời đất giữa lung Ngọc Hoàng, thì đời chẳng khác nào bậc đế vương. Cá sặc rằn nhiều quá ăn không hết thì làm khô, dân vùng này gọi là khô bổi. Món này có trên đời như để đãi dân nhậu, đơn giản là nướng, trộn với xoài bằm, nghe nhắc đã mắc thèm.
Con cá lóc có ở khắp nơi, nhưng lóc bông thì chỉ có nhiều ở xứ này hoặc miệt U Minh. Nhiều con cá to hơn bắp vế sấp con trai 18, đêm ngày quậy đùng đùng dưới nước. Hậu Giang nổi tiếng với cá thát lát, rau choại, khóm Cầu Đúc. Cá thát lát thì sẵn dưới lung. Dây choại mọc theo gốc hoặc trên thân tràm, lau, sậy, bòng bong. Khóm cầu Đúc từ miệt rẫy Vị Thanh, Long Mỹ chở qua. Ba thứ này gom chung làm món lẩu mẻ, cá thát lát tươi nguyên từng xớ thịt, đượm vị khóm ngọt, nhúng đọt choại thì đúng là món ăn nhớ đời.
Ai có rảnh, nhín chút thời gian dìa với lung Ngọc Hoàng – rún cá miền Tây để ngất ngây với thiên nhiên, trời đất và hương vị các món cá đồng tự nhiên như cuộc sông bao người dân quê xứ này.


Máy bay VietJet chở khách đi Đà Lạt đến... Nha Trang


Vài lời: Đúng là "chuyện ngất ngưỡng" chỉ có ở Việt Nam.


(NLĐO)- Chiều tối 19-6, một sự việc hi hữu đã xảy ra trong hoạt động hàng không nội địa khi gần 200 hành khách đi Đà Lạt lại được hãng hàng không giá rẻ VietJet Air chở đến... Nha Trang. Trong khi đó, gần 200 khách đi Nha Trang vẫn yên vị tại Nội Bài.


Máy bay VietJet Airlines trên sân đỗ Sân bay quốc tế Nội Bài
Máy bay VietJet Air trên sân đỗ Sân bay quốc tế Nội Bài

Theo lịch trình, chuyến bay Hà Nội - Đà Lạt có số hiệu VJ8861 xuất phát từ sân bay Nội Bài và đến Đà Lạt trong chiều ngày 19-6. Tuy nhiên, toàn bộ gần 200 hành khách đi chuyến bay VJ8861 đã được bay thẳng đến sân bay Cam Ranh - Nha Trang. Khi đến sân bay Cam Ranh, VietJet Air đã bố trí cho khách tiếp tục bay đến Đà Lạt như hành trình đã bán vé.
Trong khi đó, gần 200 hành khách khác đi chuyến bay VJ8575 Hà Nội - Nha Trang cùng lúc vẫn yên vị chờ ở sân bay quốc tế Nội Bài dù đã quá giờ khởi hành.
Ngay trong tối 19-6, cả hãng hàng không VietJet Air, Cảng vụ Hàng không Miền Bắc và các đơn vị liên quan đã triển khai các biện pháp cần thiết để đưa khách đi đúng hành trình. Đồng thời họp tìm nguyên nhân của việc máy bay VietJet Air đáp xuống Cam Ranh, thay vì Đà Lạt như lịch trình.
Theo đánh giá sơ bộ ban đầu, nguyên nhân nhầm lẫn có thể do 2 chuyến bay của VietJet Air có lịch khởi hành gần nhau, số lượng khách tương đương nhau nên các bộ phận liên quan nhầm lẫn khi triển khai nhiệm vụ. Sai sót rất có thể xảy ra ở khâu dịch vụ mặt đất hoặc bộ phận kế hoạch bay.
Cục Hàng không Việt Nam đang yêu cầu thu hồi toàn bộ kế hoạch bay của VietJet Air để kiểm tra, phát hiện khâu sai sót.
Ngày 1-5 vừa qua, có  50 hành khách của hãng hàng không VietJet Air từ Nha Trang đi TP HCM cũng suýt bị bay nhầm đến Hà Nội do bộ phận đón khách ra máy bay có sự nhầm lẫn giữa 2 chuyến bay từ Cam Ranh đi Hà Nội và TP HCM. Rất may là trước khi đón khách lên máy bay, đã có nhân viên phát hiện sự nhầm lẫn này nên hành khách vẫn không bị bay nhầm 1 chặng.
Trước đó cũng tại sân bay Cam Ranh, một chuyến bay của VietJet Air đi Hà Nội đã bỏ quên toàn bộ hành lý của hành khách. Hơn 100 khách về đến Hà Nội phải chờ đến ngày hôm sau mới được nhận lại hành lý.


Tin-ảnh: Tô Hà

18 tháng 6, 2014

Nợ công của Việt Nam và những thông điệp 'nóng'

Đăng Bởi Một Thế Giới - 

Chủ tịch Quốc hội: "Nợ công đã đe dọa an ninh tài chính"
Chủ tịch Quốc hội: "Nợ công đã đe dọa an ninh tài chính"
Nhiều dấu hiệu cho thấy “độ nóng” nợ công của Việt Nam đã tăng nhanh cả về định tính và định lượng, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ trong nhận thức, cách tính, ngưỡng an toàn, hiệu quả quản lý và sử dụng. 
Tăng nhanh về quy mô, dịch vụ và điều kiện nợ
Theo Bộ Tài chính, tính đến 31.12.2010, tỉ lệ nợ Chính phủ là 45,7% GDP, nợ nước ngoài 42,2%, nợ công là 57,3%. Cuối năm 2011, nợ công khoảng 54,6% GDP. Cuối năm 2012, nợ công khoảng 58,4% GDP. 
Với việc nâng mức bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2013 từ 4,8% lên 5,3% GDP, đến cuối năm 2013 nợ công đạt tới 56,2% GDP, dư nợ chính phủ là 42,6% GDP và dư nợ quốc gia 39,5% GDP. Theo tờ báo Anh The Economist, so với năm trước, nợ công của Việt Nam tăng 11,2% trong năm 2013 và sẽ tăng gần 15% năm 2014.
Ngày 8.11.2011, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 của Việt Nam: đến 2015 nợ công không quá 65% GDP, dư nợ của Chính phủ không quá 50% GDP, dư nợ quốc gia không quá 50% GDP. Tuy nhiên, mức này chỉ tính đến nợ công không có nợ của các doanh nghiệp nhà nước tự vay, tự trả… 
Bên cạnh đó, gần đây tổng số dịch vụ nợ công (trả nợ cả gốc và lãi) của Chính phủ thường chiếm khoảng 14-16% tổng thu NSNN hằng năm. Năm 2014, dịch vụ nợ công nhảy vọt, chiếm 25% tổng thu NSNN cả năm 2014 và vượt 30% trong những năm tiếp theo. Trong khi theo thông lệ quốc tế, mức dịch vụ nợ an toàn là không quá 35% tổng thu NSNN hằng năm. 
Dịch vụ nợ nước ngoài của Việt Nam trong năm 2010 là 1,67 tỉ USD (bằng tới 50% tổng đầu tư phát triển cùng năm), trong đó riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD, tăng gần 30% so với con số 1,29 tỉ USD của năm 2009. Năm 2011, Việt Nam trả nợ 86.000 tỉ đồng, chiếm 12,5% tổng  thu NSNN; năm 2012 phải trả 100.000 tỉ đồng, chiếm 13,5% tổng thu. 
Đặc biệt, Bộ Tài chính cảnh báo, dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong năm 2010 chỉ còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, giảm mạnh so với con số 290% và 2.808% của các năm 2009 và 2008; trong khi mức khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới là trên 200%. 
 
Việc mua vào hàng chục tỉ USD trong thời gian gần đây giúp nâng tổng dự trữ ngoại tệ tính đến tháng 4.2014 là 34 tỉ USD, mức cao nhất từ trước đến nay, đã cải thiện tỉ lệ an toàn này của Việt Nam. Song, việc mua vào ngoại tệ ồ ạt dễ trở thành nguồn xung lực làm tăng lạm phát tiền tệ nếu không kịp thời thu hút lượng tiền đã tung ra để mua ngoại tệ vào...
Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số có lãi suất thấp. Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho biết, điều kiện vay ngày càng ngặt nghèo hơn do Việt Nam đã bị giảm mức nhận ưu đãi khi gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, ít nhiều bị giảm mức tín nhiệm quốc gia (theo một vài đánh giá cá biệt) vì những e ngại  bất ổn kinh tế vĩ mô và sự kiện Vinashin.
Nguyên nhân làm tăng nợ công 
Nguồn thu NSNN đang gặp nhiều áp lực cả khách quan và chủ quan. Cả nước hiện còn khoảng 400.000 doanh nghiệp (DN) đang hoạt động, 70% không có lãi; 50% DN FDI báo lỗ; khoảng 2/3 số DN vừa và nhỏ đang ở tình trạng hết sức khó khăn về nợ xấu, hàng tồn kho, điều kiện tiếp cận vốn và duy trì lợi nhuận kinh doanh, nhất là ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, kinh doanh bất động sản, nông lâm nghiệp và thủy sản. 
Nguồn thu NSNN giảm không chỉ do các doanh nghiệp gặp khó trong kinh doanh, mà còn do nhà nước thực hiện nhiều giải pháp nới lỏng tài chính, giảm thuế, tiền thuê đất và các hỗ trợ khác.
Trong khi đó, nhiệm vụ chi NSNN ngày càng tăng do nhiệm vụ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vừa khách quan, vừa bị lạm dụng từ bất cập phân cấp quản lý quy hoạch và đầu tư. 
Việt Nam hiện có 194 khu công nghiệp (46.600 ha), cùng 1.643 cụm công nghiệp (73.000 ha) 15 dự án khu kinh tế ven biển (662.000 ha -2% diện tích tự nhiên của Việt Nam), nếu không cắt giảm bớt, ước tính cần hơn 2.000 tỉ USD (bằng toàn bộ đầu tư cả nước trong 50 năm nữa) để đầu tư. Năm 2011, cả nước “lọt lưới” 333 dự án mới sai đối tượng sử dụng vốn trái phiếu chính phủ. 
  
Gánh nặng nợ công tăng nhanh cả về quy mô, dịch vụ và điều kiện nợ (Ảnh minh họa)
Nguồn làm tăng nợ công ở Việt Nam còn chịu ảnh hưởng mạnh bởi kết quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước, dù một phần nợ của chúng chưa được tính vào nợ công. 
Cụ thể, DNNN chiếm 37,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2012 và tăng lên 39,3% chỉ trong 9 tháng đầu năm 2013; chiếm 31,41% tổng thu nội địa năm 2012 và trên 32% năm 2013, cao nhất trong 3 khu vực kinh tế và tạo ra khoảng 30% GDP hằng năm. 
Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có nợ nần chồng chất. Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính năm 2011 của 271 doanh nghiệp thuộc 27 tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước vừa được hoàn thành vào tháng 5.2014 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy nhiều con số đáng lo ngại từ khu vực này.
Có 23/27 tập đoàn, tổng công ty kinh doanh vẫn có lãi, một số đơn vị tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt dưới 5%; 4 doanh nghiệp còn lại và một số công ty con thuộc các tập đoàn, tổng công ty này thua lỗ. Kết quả kinh doanh của không ít đơn vị giảm mạnh. 
Kết quả kiểm toán tại 27 “ông lớn” này cũng đã điều chỉnh giảm tổng tài sản - nguồn vốn 1.477 tỉ đồng, tổng doanh thu - thu nhập thuần 1.015 tỉ đồng, tổng chi phí 2.347 tỉ đồng và tăng lợi nhuận trước thuế 1.305 tỉ đồng cho thấy chất lượng báo cáo tài chính thấp do gian lận. Tỉ lệ nợ phải trả/tổng nguồn vốn cho thấy các đơn vị hoạt động chủ yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng. 
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), dư nợ của các tổ chức tín dụng đối với EVN tính đến cuối tháng 7.2013 là 118.840 tỉ đồng - mức dư nợ lớn nhất của hệ thống ngân hàng dành cho một DNNN. Còn theo báo cáo mới nhất của bộ Tài chính, nợ vay cả ngắn hạn, dài hạn từ các ngân hàng thương mại của EVN là hơn 103.000 tỉ đồng, chưa kể, khoản nợ nước ngoài 112.625 tỉ đồng.
Hiệu quả sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với quy mô vốn, tài sản của doanh nghiệp, do nhiều nguyên nhân, trong đó có tình trạng độc quyền, không chịu sức ép cạnh tranh, dẫn đến sức ỳ lớn, năng lực, quản trị yếu kém, trách nhiệm làm thất thoát vốn, tài sản, nợ xấu, thua lỗ chưa hoặc không được xử lý rõ ràng, cụ thể.
Nhận thức và quản lý nợ công còn nhiều bất cập
Nợ công tăng nhanh, nhưng trên thực tế Việt Nam còn nhiều bất cập cả trong nhận thức, cũng như xử lý nợ công, đặc biệt là còn chậm và thiếu đầu mối tập trung tổng hợp, thống kê cập nhật tổng dư nợ, kế hoạch vay - trả nợ chưa được thẩm định chu đáo, bố trí vốn đối ứng chậm và chậm giải phóng mặt bằng… Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, người có trách nhiệm tham mưu vay nợ dường như coi ODA là nguồn vốn rẻ, thời hạn vay dài và càng vay nhiều càng tốt…
Cách tính nợ công Việt Nam hiện chưa đưa vào nợ của DNNN tự vay tự trả, kể cả nợ nước ngoài. Trong bối cảnh thế giới cho thấy luôn có sự chuyển hóa mau lẹ giữa nợ doanh nghiệp và nợ công, thì những khoản nợ xấu của khu vực DNNN, mặc dù không thuộc diện bảo lãnh, nhưng Chính phủ vẫn thường phải đứng ra hỗ trợ khi họ làm ăn thua lỗ, không thể trả nợ đúng hạn hay đứng trước nguy cơ phá sản. Ví dụ như khoản nợ quốc tế 600 triệu USD của Vinashin hay hàng chục triệu USD của HUD...
Theo Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia và báo cáo của Chính phủ cho thấy tổng nợ ngân hàng của các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tính đến cuối năm 2012 là gần 1.550 ngàn tỉ đồng, tương đương 52,5% GDP. Nếu loại trừ phần cụ thể đã được Chính phủ bảo lãnh (5,17% GDP trong nợ công nước ngoài và 6,5% GDP trong nợ công trong nước), vẫn còn tới 40,9% GDP nợ của DNNN không được Chính phủ bảo lãnh. 
Nếu cộng cả số này cùng với nợ đọng trong xây dựng cơ bản vào con số công bố chính thức thì nợ công Việt Nam hiện nay sẽ lên tới xấp xỉ 98,2% GDP, vượt xa so với ngưỡng an toàn là 65% GDP được khuyến cáo phổ biến bởi các tổ chức quốc tế. 
Dù tự tin và thận trọng, muốn hay không thì cũng phải rung chuông tự cảnh cảnh báo rằng mức nợ công của Việt Nam đã tiếp cận giới hạn chịu đựng của nền kinh tế so với khả năng trả nợ, vì rõ rằng đã ở chấp chới dưới mức cảnh báo an toàn về nợ nước ngoài của WB như trên đã nêu. 
Cần tỉnh táo thấy rõ sự thực trần trụi rằng, nếu khủng hoảng nợ công xảy ra, Việt Nam sẽ phải “một mình vượt cạn”, khó trông cậy vào sự cứu trợ “giá rẻ “hay vô tư nào từ các chủ nợ, các khối kinh tế hay tổ chức tài chính khu vực và quốc tế như chuyện của EU hiện tại…. Vấn đề càng nhạy cảm hơn trong bối cảnh khủng hoảng nợ công đang bao phủ toàn cầu và đe dọa nhấn chìm nền kinh tế thế giới vào vòng xoáy khủng hoảng tồi tệ mới vô tiền khoáng hậu…
Một số giải pháp kiểm soát 
Để kiểm soát tốt nợ công, góp phần phát triển bền vững đất nước và con cháu mai sau không phải chịu cảnh “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, trước hết cần có những điều chỉnh thích hợp cả trong nhận thức và cách tính nợ công bám sát những chuẩn quốc tế chung về nợ công.  
Đặc biệt, cần tăng cuờng giáo dục, tuyên truyền, quán triệt nhận thức và trách nhiệm về vay và trả nợ công, không để tình trạng coi nợ công là không của ai cả và không ai chịu trách nhiệm, coi của vay là của đuợc, càng nợ nhiều càng có nhiều cơ hội lạm dụng có lợi cho mình. 
Trong khi chưa áp dụng cách tính chính thức bao gồm cả những khoản nợ của các DNNN tự vay, tự trả thì các cơ quan chức năng liên quan cũng cần có những kịch bản chủ động chuẩn bị cho những tình huống xấu nhất là NSNN phải gánh vác dịch vụ nợ của những khoản vay này, khi DNNN vỡ nợ kiểu tập đoàn Vinashin. 
Đồng thời, cần rà soát, bổ sung những cơ sở pháp lý hạn chế sự lạm dụng các khoản vay của các DNNN kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”, trong đó có những luật về đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Luật đầu tư công và Luật về Nợ nước ngoài.
Cần cơ chế công khai minh bạch và thống nhất một đầu mối thông tin và quản lý nợ công, có hệ thống chân rết từ TW tới địa phuơng; phân cấp và định vị rõ ràng, cụ thể, trách nhiệm thông tin, giải trình và giám sát cảnh báo, với các chế tài nghiêm khắc tới từng cá nhân có liên quan cho mỗi hành vi vi phạm các nguyên tắc vay, sử dụng, giải trình, kiểm tra, trả nợ công...
Ngoài ra, cần thúc đẩy tái cơ cấu nợ theo huớng giảm dần nợ nước ngoài và tăng nợ trong nước để Việt Nam giảm được sự phụ thuộc vào nước ngoài, chủ động hơn trong việc vay nợ; phát triển thị trường mua - bán nợ công có sự tham gia một số công ty mua bán nợ của nhà nước và một số tổ chức kinh tế ngoài nhà nước. 
Hơn nữa, trong thời gian tới, cần đổi mới mô hình tăng trưởng và công tác kế hoạch, tăng cường phân cấp, tái cấu trúc và quản lý hiệu quả đầu tư công theo hướng vừa tôn trọng tính năng động, trách nhiệm và sáng tạo trong tự phát triển của địa phương và sự phát triển tổng thể nền kinh tế, vừa tăng cường hơn vai trò tổng cân đối chung của Chính phủ; giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh” , giảm quy mô đầu tư và tỷ trọng đầu công tư, nâng cao kỷ luật tài khóa, nâng cao hiệu quả đầu tư công./.
Chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Minh Phong và Nguyễn Trần Minh Trí

Nước mắt của cây

Trần Hiệp Thủy
TT - Caouchouk là tên gọi cây cao su, theo thổ ngữ Mainas, có nghĩa là “nước mắt của cây”. Từ vùng rừng Amazon Nam Mỹ, theo chân thực dân Pháp, loài cây này đến Việt Nam và nhanh chóng trở thành cây công nghiệp chủ lực.
Theo số liệu thống kê, đến năm 2013 diện tích cao su cả nước đạt 915.000ha, vượt xa con số 800.000ha, là mốc trong chiến lược phát triển cao su đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt. Sản lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam cũng đã vượt mức 1 triệu tấn, trị giá hơn 2,8 tỉ USD/năm.
Dù đứng thứ tư thế giới về sản lượng khai thác, nhưng mức tiêu thụ cao su nội địa rất thấp, chưa đến 20% tổng lượng, còn lại xuất khẩu dạng thô với giá thấp. Việt Nam xuất khẩu cao su đến hơn 70 nước trên thế giới, nhưng thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 62%. Phía sau ánh hào quang của loài cây công nghiệp chủ lực này là những bất cập khiến “nước mắt của cây” còn chảy ngược.
Mới năm trước, tại nghị trường, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát bị các đại biểu Quốc hội chất vấn về tình trạng chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su đã bị lợi dụng và làm tràn lan. Các đại biểu đã đề nghị Chính phủ phải rà soát, kiên quyết ngăn chặn nhiều nơi lấy cớ trồng cao su để phá rừng. Vậy mà năm nay tình hình quay chiều hướng lo ngược lại. Mấy ngày qua, các phương tiện thông tin, truyền thông báo động tình trạng hàng ngàn hecta cây cao su mới trồng, đang phát triển lẫn đang kỳ thu hoạch tại nhiều tỉnh thành trên cả nước, từ miền Đông đến miền Trung, bị đốn hạ do giá mủ cao su giảm mạnh, thu không đủ bù chi. Sau khi lên đỉnh vào năm 2011, giá mủ cao su liên tục lao dốc trong ba năm qua, hiện chỉ còn bằng 1/3 so với trước.
Cùng số phận của cây dừa, cây mía và nhiều mặt hàng nông sản khác, cây cao su cũng đang bị xoay vòng luẩn quẩn: trồng - chặt, mà bài toán đầu ra chưa được giải căn cơ.
Việt Nam là nước xuất khẩu cao su lớn trên thế giới, nhưng hằng năm phải nhập hàng trăm ngàn tấn để phục vụ cho sản xuất trong nước. Thống kê từ Bộ Công thương, năm 2012 chúng ta phải nhập hơn 4,8 tỉ USD cao su, các sản phẩm từ cao su và chất dẻo. Công nghiệp ôtô nước ta qua mấy chục năm được nuông chiều vẫn phát triển lệ thuộc phụ kiện, vật liệu ngoại; công nghiệp phụ trợ nhiều năm được quan tâm vẫn chưa ngóc đầu lên được, nên một cường quốc mủ cao su như nước ta vẫn phải chấp nhận xuất mủ thô, giá trị thấp để nhập về vật liệu ngoại cùng loại là phải.
Câu chuyện của ngành cao su không mấy khả quan trong ngắn hạn là nhận định chung của nhiều chuyên gia, không chỉ trước áp lực lệ thuộc yếu tố Trung Quốc chiếm hơn 60% lượng xuất khẩu cao su Việt Nam mà còn chịu thêm áp lực khi cường quốc số một thế giới là Thái Lan có kế hoạch “xả hàng” 200.000 tấn cao su từ kho dự trữ.
Cũng như số phận của hạt gạo cắn làm tám, cây mía chặt nhiều lóng, con cá tra bị chặt thành nhiều khúc, cây cao su cũng đang cần “cuộc chuyển đổi lớn”. Yêu cầu nâng cao chất lượng quy hoạch trồng và thực thi, kết nối với sản xuất tinh chế, giải quyết đầu ra, phát triển công nghiệp phụ trợ, tăng cầu trong nước với thị trường hơn 90 triệu dân Việt... đang là đòi hỏi bức xúc từ cao su - cây công nghiệp chủ lực của quốc gia, để “nước mắt của cây” thôi chảy ngược


NHẬN XÉT VỀ BÀI "NƯỚC MẮT CỦA CÂY" TRÊN BÁO TUỔI TRẺ:
6/16/2014 1:56:12 PM
Nước mắt của cây! Đó cũng là nước mắt của người quê.Lăn lộn lam làm ngửa mặt nhìn trời đất chỉ mong ước giản dị: Làm lúa ,lúa trĩu bông; làm miệt vườn, làm hồ tiêu, điều,cà phê... cho nhiều trái; trồng cao su, cao su cho nhiều mủ. Nhưng bao năm nay trái cây càng trĩu quả, lúa càng trĩu bông thì nụ cười người quê như càng thêm héo hắt! Tôi cứ nhớ mãi câu nói hơn cả châm ngôn, hơn cả lời hiền triết của cô bác nhà nông: "Được mùa mà khóc, khóc vì được mùa đó chú ơi?". Tôi cũng đã nghe các quan chức cỡ bộ, cỡ ngành nói chất chứa nỗi niềm: "Thương lắm người quê"! Nghe những lời à ơi như "bèo dạt mây trôi" trong câu ca quan họ từ miệng các quan chức cứ nói thương, mà chả lo làm được gì giúp người quê vượt lên thêm thấy chạnh lòng cho cô bác: Chỉ được chút tiếng thơm chính sách hỗ trợ tạm trữ, được chút người đời thương miêng thương môi. Hỗ trợ mua gạo tạm trữ thì tiền ấy đi đường nào, ra cửa nào, chảy vào túi ai mà cô bác cứ mãi nghèo?
Giờ lại nghe nhà nông đây đó đốn chặt cao su để trồng cây khác vì giá cao su hạ giá quá đa! Cũng bởi cái đầu ra phụ thuộc ông bạn láng giềng Trung Quốc bắt bí đủ kiểu kia! Họ lắc đầu không xài là thị trường tắc nghẽn. Không biết các quan chức của Bộ Công thương lo làm thị trường cho hàng hóa của ta nghĩ gì đây? Chả cứ cao su đâu, mà 120 ngàn ha cà phê già cỗi đang cần tái canh đâu đã mấy ai lo! Gần 3 tỷ USD tiền bán cà phê một năm, nhưng qua tay khách hàng, họ chế biến thu về gấp ba cái con số gần 3 tỷ USD kia! Chế biến sâu mới có lợi nhuận, nhưng bao năm sản phẩm vẫn cứ chỉ xuất khẩu thô!
Nuớc mắt của cây-Cái tứ bài viết quá hay.
ĐỖ QUANG ĐÁN

16 tháng 6, 2014

Thay đổi cách tính lương hưu - người lao động có thua thiệt?

SGGP, Thứ hai, 16/06/2014, 01:44 (GMT+7)
Hôm nay, 16-6, Quốc hội sẽ tiến hành thảo luận về Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi. Trước nguy cơ vỡ quỹ BHXH, Chính phủ phải đưa ra nhiều điểm sửa luật như đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu, thay đổi mức đóng, mức hưởng BHXH, nhưng nhiều ý kiến lại phản đối. Có phải từ 1-1-2018, người lao động (NLĐ) sẽ đóng BHXH nhiều hơn và hưởng lương hưu ít đi? Phóng viên Báo SGGP trao đổi với bà TRƯƠNG THỊ MAI (ảnh), Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề của xã hội của Quốc hội để làm rõ điều này.
* PHÓNG VIÊN: Thưa bà, lần sửa luật này điểm mới mấu chốt là gì?

* Bà TRƯƠNG THỊ MAI:
 Luật BHXH lần này có rất nhiều chỉnh sửa chính sách quan trọng. Đầu tiên là sửa đổi công thức tính lương hưu. Việt Nam chúng ta đã đi qua chặng đường dài với các công thức tính lương hưu khác nhau, phù hợp với hoàn cảnh nhưng đều chưa tiếp cận được xu thế tiến bộ của thế giới. Người trước năm 1995 thì hưởng lương hưu bằng mức bình quân của 5 năm cuối cùng; từ năm 1995 đến năm 2000 hưởng mức 6 năm cuối cùng; từ năm 2000-2006 là 8 năm và bắt đầu từ 2007 cho đến nay là 10 năm. Như vậy, cách tính lương hưu đã qua 4 giai đoạn. Và giai đoạn cuối cùng, khi tới đây sửa luật chúng ta sẽ chuyển hoàn toàn sang cách tính khác. Ủy ban đang đề xuất lộ trình chuyển cách tính lương hưu mới là từ 1-1-2018. 

Từ đây trở đi là cách tính bình quân mức lương cả cuộc đời, tức là đóng đi đôi với hưởng. Khi tính từ 2018 thì sẽ đi theo lộ trình 20 năm. Tức là người đóng BHXH từ 1-1-2018 thì họ sẽ bắt đầu hưởng cách tính lương hưu mới từ 1-1-2038, tức là 20 năm sau. Vì vậy, tôi muốn nhấn mạnh cách điều chỉnh chính sách lương hưu mới này hoàn toàn không gây ra biến động lớn gì trong xã hội. Tất cả mọi việc sẽ diễn ra hết sức bình thường cho đến năm 2038. Còn người đóng BXHX vào 31-12-2017 thì họ vẫn được lương hưu bằng bình quân lương 10 năm cuối cùng như hiện hành. Đó là mấu chốt nhất của lần sửa luật lần này.

* Dự luật đã đề cập tới sàn lương hưu tối thiểu? 
* Đúng vậy, có điểm mới nữa trong dự luật là Nhà nước sẽ thiết lập sàn lương hưu tối thiếu để đáp ứng được cuộc sống tối thiểu của người già. Thay vì việc Nhà nước phải có chính sách hưu trí xã hội cho những người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên như hiện nay thì chính sách tới đây là sàn lương hưu tối thiếu. Tức là người ta đi làm cả đời, đóng BHXH nhưng vẫn không đủ sàn lương hưu tối thiểu thì Nhà nước sẽ hỗ trợ họ. Đó là chính sách lớn mà Quốc hội nên ủng hộ để chúng ta chuyển hoàn toàn sang mô hình bảo hiểm hưu trí mà vừa bảo đảm được quyền lợi NLĐ, vừa bảo đảm an toàn cho Quỹ BHXH. 

* Có nhiều ý kiến cho rằng, với thay đổi cách tính này thì lương hưu của NLĐ sẽ bị thấp đi so với cách tính hiện nay?
* Đúng là như vậy, cả hệ thống sẽ có lương hưu thấp hơn so với hiện nay. Vì khi tính bình quân lương hưu bằng 10 năm cuối cùng thì sẽ có lợi là bình quân cả cuộc đời đóng BHXH. Nhưng đó là nói về công thức, còn về con số tuyệt đối thì chưa chắc đã thấp hơn. Bởi vì từ 2018 lương tối thiểu và lương trên thị trường đều đạt chuẩn. Khi mức lương đã đạt chuẩn thì căn cứ đóng BHXH cũng chuẩn hơn. Vì vậy, có thể công thức tính thay đổi nhưng con số lương hưu thực nhận được là không thấp hơn so với các giai đoạn trước đó.

Thay đổi nữa là căn cứ đóng cũng rất quan trọng. Lần này từ 2018, căn cứ để đóng BHXH là bao gồm cả tiền lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác. Dự kiến NLĐ sẽ phải đóng 8%, chủ sử dụng (đối với khu vực tư nhân) hoặc Nhà nước (đối với khu vực công) đóng 18%. Như vậy, phần lớn mức đóng là do chủ sử dụng, Nhà nước đóng. Đóng ít thì hưởng ít, đóng nhiều hưởng nhiều. 

* Bà nghĩ sao khi ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam phản đối tất cả những sửa đổi này, cho rằng cần tính lương hưu mới ngay từ 1-1-2015?
* Anh Đặng Ngọc Tùng nói không sai, nhất là khi đứng về phía NLĐ. Bộ luật Lao động đã quy định về lương và lương tối thiểu và lẽ ra phải thực hiện từ 1-7-2015. Tuy nhiên, quy định lương trong Bộ luật Lao động là áp dụng cho điều kiện nền kinh tế thị trường. Theo dự kiến của WTO thì đến năm 2018 chúng ta mới được công nhận là nền kinh tế thị trường, lương lúc đó cũng mới chuẩn. Vì vậy, chúng tôi muốn đến thời điểm năm 2018 mới áp dụng cách tính đóng BHXH mới để bảo đảm sự đồng bộ đó. 

Khi phải đóng 18% BHXH theo cách mới tính đúng tính đủ thì kinh phí sẽ đội lên rất nhiều, chúng ta phải cho doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị và tôi cho rằng lộ trình 2018 là hợp lý. Chúng ta bảo vệ quyền lợi NLĐ nhưng cũng bảo đảm sự hài hòa lợi ích của cả NLĐ và doanh nghiệp và để bảo đảm tính khả thi. 

* Có phải với cách tính mức hưởng lương hưu mới, NLĐ sẽ hưởng lương hưu thấp đi?
* Về mức hưởng lương hưu thì chúng tôi đang cân nhắc lại. Nếu tuổi nghỉ hưu không kéo dài như đề xuất của Chính phủ thì sẽ tính lại theo hướng bảo đảm quyền lợi của NLĐ, đồng thời bảo đảm an toàn cho Quỹ BHXH. Nhưng chắc chắc là không theo lộ trình tính lương hưu theo bình quân lương 10 năm cuối cùng như hiện nay, nếu tính như vậy thì quỹ sẽ bị vỡ, vì khi lương đã theo đúng thị trường lao động mà lại không tính bình quân lương cả cuộc đời thì quỹ không vỡ mới lạ, và Nhà nước lại phải bỏ tiền ra đề bù đắp.

PHAN THẢ

15 tháng 6, 2014

Dựng câu thơ thành cột mốc chủ quyền

SGGP, Thứ bảy, 14/06/2014, 01:01 (GMT+7)
Biển Đông dậy sóng. Cả nước sục sôi. Hòa cùng dân tộc, văn nghệ sĩ đồng bằng lại hừng hực “Dựng câu thơ thành cột mốc chủ quyền”.Đề tài biển Đông phủ trùm từng ngày từng giờ, trong mọi sinh hoạt của người dân châu thổ, làm nóng mọi bàn cà phê buổi sáng, làm mọi người xích lại gần nhau hơn. Bọc trứng Âu Cơ chia đôi. Hôm nay, bước chân của “50 người con xuống biển” luôn được dõi theo, quặn thắt dòng máu Lạc Hồng. 

Người đồng bằng giận, thương rõ ràng, minh bạch. Chơi là chơi trăm phần trăm cái trong lòng mình có/ mộc mạc như con cá kèo, cá nâu, con hàu, ba khía (Lê Chí). Sự kiện Trung Quốc ngang ngược hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trên vùng biển của Việt Nam khiến cả nước và “SGGP, miệt vườn nổi giận”. 

Chỉ 2 ngày sau, nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên hoàn thành bài thơ Trái tim Việt Nam; nhạc sĩ Hồ Hoàng nhanh chóng phổ nhạc. Bài thơ 6 khổ ôm trọn ước mơ bình dị: Dân nước tôi tay cuốc, tay cày/ Bạn bè tôi lưng trần bám biển/ Con cá, con tôm, củ khoai, hạt lúa/ Mơ ước đơn sơ khói tỏa lam chiều. Nhưng khi Tổ quốc cần: Thì sá gì ngọn sóng triều dâng/ Hàng triệu trái tim hòa thành một khối/ Trái tim chung, trái tim bất diệt/ Sang sảng giữa trời hai tiếng Việt Nam. Bài hát nhanh chóng được nhiều người tán thưởng, lan truyền bởi ca từ mạnh mẽ, dứt khoát cùng ý chí dâng hiến của người dân châu thổ, người dân Việt Nam. 

Từ chót mũi Cà Mau, nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều, tác giả của tập thơ Kiều Mây, Giấu anh vào cỏ xanh… từng tạo ấn tượng mạnh với bạn đọc cả nước lại dâng tràn những cảm xúc nồng nàn nữ tính nhưng thật mãnh liệt: Những hồng cầu rỏ xuống từ máu ngư dân/ Nhắm hướng trùng khơi rẽ sóng/ Nước mắt đất liền khóc ngày biển động…. Loạt bài thơ: Em sẽ cùng mẹ ra thăm anh, Thư cho Trường Sa, Em viết cho anh từ phía cuối chân trời… đong đầy khắc khoải, yêu thương hướng về đảo xa. 

Dựng câu thơ thành cột mốc chủ quyền/ Rằng cha ông ta vươn mình ra biển lớn/ Chểnh mảng nào cũng đắc tội với tổ tiên… (Nguyễn Thanh Mừng). Rất nhiều tác giả đồng bằng đã chọn Hoàng Sa - Trường Sa là mạch nguồn chủ đạo trong các sáng tác. Nhà thơ Nguyễn Thanh Hải (Tiền Giang, đã sáng tác bài thơ Trái bàng vuông điểm danh Tổ quốc mình) vừa nóng bỏng Đã đến lúc Diên Hồng mang tên biển/ Mẹ Việt Nam ơi chín mươi triệu ngọn lòng… vừa nhắn gửi da diết Ơi những gậy đước dáng mũi đất Cà Mau/ Ơi những đá sỏi cao nguyên hình địa đầu Lũng Cú/ Không thể để lông ngỗng lông ngan vẽ lên màu số phận... 

Chỉ riêng Tiền Giang, ngay từ khi chưa có sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trên vùng biển của Việt Nam đã có hàng trăm tác phẩm văn học nghệ thuật về biển đảo quê hương được ra mắt công chúng dưới nhiều hình thức (xuất bản phẩm, biểu diễn văn nghệ, trưng bày triển lãm tranh ảnh…).
Chương trình sinh hoạt văn học của Hội Nhà văn TP Cần Thơ (tháng 6-2014) mở đầu với ca khúc Hát về chiến sĩ Trường Sa (Ngọc Hương), bài thơ Giọt nước Trường Sa (Võ Tường Duy). Giọng người dẫn chương trình làm nóng bao bầu nhiệt huyết: Tổ quốc nằm trong trái tim mỗi con người, nơi nhịp đập của sự sống và sẵn sàng sống hết mình vì độc lập, tự do của đất nước. Chúng ta hướng về biển Đông và chúng ta nhận ra chính ngay trong khoảng thời gian này, đất liền chính là hậu phương vững chắc cho những chiến sĩ ngoài đảo xa... 

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân/ Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ. Cái nghĩa khí của Quốc ngữ một thiên truyền mãi mãi (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) nơi cụ Đồ Chiểu lại hừng hực trong lớp cháu con hôm nay. 

Vẫn đỏ rực màu cờ Tổ quốc trên biển Tây Nam hay biển Đông giông gió. Sông Hậu sông Tiền vẫn ầm ầm tràn vào biển lớn. Vì đó là Tổ quốc của chúng ta, máu thịt của chúng ta.
VŨ THỐNG NHẤT

Bông súng, củ co nơi miền Tây Nam Bộ

Dân Việt điện tử, thứ Bảy, ngày 14/06/2014 08:59 AM (GMT+7)
Theo Út Tẻo (Dân Việt)
Củ co có lá và cọng như bông súng nhưng kích thước nhỏ hơn. Người ta ít thấy bông củ co nở. Hay do bông nó quá nhỏ và nở vào buổi xế chiều nên ít ai để ý.
Dân miệt bưng biền ngập nước ở đồng bằng sông Cửu Long thường hay mượn lời của một chàng trai nào đó tán gái để giãi bày hoàn cảnh của mình: 
"Đói lòng đi móc củ co
Thấy em hết gạo anh cho một nồi".
Bông súng, củ co nơi miền Tây Nam Bộ - 1
Đồng sâu bông súng mọc
Củ co, cũng là một dạng cây hoang mọc dưới nước khắp bưng đồng, kênh rạch vùng đất sông, xẻo như ô bàn cờ này. Hình dạng củ co tròn, khi đem về rửa sạch và nấu chin ăn bùi bùi như dái khoai môn (dân gian gọi phần củ nhỏ mọc dính theo củ lớn). 
Ngày trước, nhà nghèo, thiếu gạo, đói cơm, dân gian thường nấu cháo củ co, bông súng. Khoảng tháng 10, tháng 11, nước giựt gần cạn đồng, người ta theo các bụi co già và thò tay móc sâu xuống dưới rễ của nó để lấy những chùm củ lớn bằng ngón chưn (chân) cái. 
Bông súng mọc khắp các đồng bưng ở miền Tây Nam Bộ, dân gian thường chia ra làm hai loại. Một loại có bông lớn, đài hoa màu xanh, cánh hoa trắng, nhụy hoa vàng, được gọi là bông súng ta. Loại bông súng này có cọng mập. Mọc đất gò, cọng bông súng ngắn; mọc đất sâu, cọng bông súng dài, có nơi dài tới năm sáu thước vì chúng phải vượt theo mức nước ngập. 
Bông súng, củ co nơi miền Tây Nam Bộ - 2
Bông súng, củ co mọc ven sông
Loại thứ hai có cọng nhỏ, vỏ mỏng, cánh hoa màu xanh đọt chuối, đài hoa màu trắng, nhụy cũng màu vàng nhưng mảnh mai hơn so với bông súng ta, được dân quê gọi là bông súng ma. Bông súng ma thường mọc và sinh sản vùng đất gò.
Bông súng, củ co nơi miền Tây Nam Bộ - 3
Bông súng trắng
Bông súng thường nở trắng đồng vào buổi sáng sớm, dân quê chống xuồng nhổ bông súng từ lúc mặt trời chưa mọc, đến xế chiều thì về vì khi ấy bông súng dần tóp lại, lẫn vào bạt ngàn một màu xanh mênh mông giữa đồng rộng, khó bề nhổ được loại thực vật hoang dã này. 
Trái bông súng hình dạng bằng nắm tay, có hột nhỏ li ti như hột trái thanh long, không có mùi vị rõ rệt. Trong Vân Đài loại ngữ, chương IX, mục 173, trang 433, Lê Quý Đôn gọi: Hoa lăng (củ ấu) nở trái hướng mặt trời; hoa khiếm (củ súng) nở về hướng mặt trời; cho nên tính chất củ ấu hàn, mà tính chất củ súng noãn (ấm, ôn).
Bông súng, củ co nơi miền Tây Nam Bộ - 4
Bông súng
Cọng bông súng nhổ về, lặt bỏ vỏ, xắt khúc bằng lóng tay, bóp qua nước muối. Củ co rửa sạch, luộc chín, lột vỏ. Nhiều khi bắt được cá lóc, tôm, tép, thì làm sạch, luộc chín, rồi lấy nước luộc ấy nấu cháo. Bỏ củ co vô nấu trước, sau đó, cho bông súng vô nấu cho đến khi cháo thiệt nhừ. Dân gian dùng bột củ co thay cho gạo để nấu cháo. 
Thịt cá, tôm rỉa ra, chiên sơ qua mỡ phi hành, tỏi, chờ cháo nhừ, nhắc xuống cho thịt cá, tôm ấy vào, nêm nếm vừa ăn. Cháo bông súng, củ co cần ăn nóng, nhâm nhi với rượu đế thì mặn mà đến khó tả hương vị đồng quê.
Cũng có khi người ta chỉ nấu cháo củ co với nước lã, sau đó làm ơ kho quẹt để ăn qua ngày túng ngặt.
Đặc biệt, bông súng thường không thể thiếu trong đĩa rau đồng để chấm lẩu mắm hay mắm kho.
"Muốn ăn bông súng mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm".
Bông súng, củ co nơi miền Tây Nam Bộ - 5
Bông súng chấm mắm kho
Lẩu có mặt ở miền đất Cửu Long Giang từ lúc nào? Tra cứu Từ vị Annam-Latinh (1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine, (Bá Đa Lộc), hay Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huỳnh-Tịnh Paulus Của, chúng ta sẽ không tìm thấy mục từ lẩu. 
Theo một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thì lẩu là cách đọc của người Hoa gốc Quảng Đông, nhằm chỉ lò lửa. Âm Hán-Việt là lô. Người Hoa gọi lẩu là lù với nét nghĩa chính là món ăn nấu chín bên lò lửa. (Vương Hồng Sển, Sài Gòn tạp pín lù, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội - 1997).
Lẩu mắm tạo ấn tượng bởi vị đậm đà và mùi thơm đặc trưng riêng từ mắm. Mắm cá sặc, hay cá linh, cá chốt, cá lưỡi trâu, cá rô, được bỏ vô nồi nước nấu sôi cho rả hết thịt, rồi dùng rổ lượt hết xương, nêm chút đường cho vừa ăn. Người dân miền Tây có bí quyết riêng giúp lẩu mắm không quá mặn (có người dùng nước dừa tươi để nấu), nồi lẩu lại ngả màu nâu đặc trưng của mắm, nước sanh sánh nhờ tỏi ớt cay, riềng bằm nhuyễn kết hợp với sả vừa thơm, vừa nhìn ngon miệng. 
Mắm làm hương vị chính thơm lừng cho nồi lẩu, nhưng nguyên liệu nấu với mắm không thể thiếu cà dái dê, thịt ba rọi. Lẩu mắm miền Tây dân gian thường có thêm cá lóc, cá kèo, cá rô, lươn, cá bông lau, tôm, mực… 
Ăn lẩu mắm không thể thiếu rau. Vùng đất phương nam được thiên nhiên ban tặng sự trù phú với nhiều loại rau xanh mọc hoang đầy ruộng, vườn, đủ các hương vị ngọt, chua, đắng, chát như: kèo nèo, bắp chuối hột, đọt nhãn lồng, cải trời, rau muống, rau ngổ, lá hẹ, trái đậu rồng, rau đắng, càng cua, bông so đũa, lá tai tượng, rau má, bông bí, rau nhút, đặc biệt là bông súng.
Như đã nói ở trên, lẩu bắc trên nồi nước nóng, hoặc múc ra cù lao (giữa để than đỏ rực), nước sôi ùng ục, gắp rau sống vào tô, phía trên là bún rồi chan nước lẩu vào, cá để riêng ra đĩa nước mắm, dằm ớt cay,… nhâm nhi vài ba chung rượu đế thấm đậm tình làng, nghĩa xóm và cũng chẳng thể nào quên cái tinh túy độc đáo trong món lẩu mắm dân dã của miền đất này.
Cọng bông súng nấu canh chua với vị chua là trái giác thì hương vị đậm đà khó tả, khó quên.
Bông súng, củ co nơi miền Tây Nam Bộ - 6
Canh chua cá với bông súng
Loài hoa đồng quê không chỉ là nguyên liệu được dân gian sử dụng trong ẩm thực, người bình dân còn trồng súng trong các ao vườn hay trước bến sông nhà để đẹp mắt. Các soạn giả vọng cũng không bỏ qua cảm hứng từ loài hoa này. Bài hát Bông súng trắng của Ngô Hồng Khanh ra đời cách nay gần 40 năm vậy mà nhiều người vẫn ngâm nga mỗi khi ngồi lai rai vài chung rượu đế với bạn bè: 
Hò… ơ…
Anh đến quê em giữa mùa bông súng trắng
Vượt đồng bưng mưa nắng dãi dầu
Dù trực thăng soi tàu giặc chận đầu
Những đường quê ta đó…
Hò … ơ …
Nhưng đường quê ta đó đó nơi nào cũng lối đi.

12 tháng 6, 2014

"Chợ nổi di động” vùng sông nước Cửu Long

Hình ảnh “kinh tế thị trường” đầu tiên đối với tôi không phải là những học thuyết, lý luận của các nhà kinh tế học nổi tiếng như Adam Smith, Michael Porter mà chính là… những chiếc ghe hàng vùng sông nước miền Tây Nam Bộ quê tôi. Ở nơi đò giang cách trở, xa chợ, xa thành.
Chợ nổi là hoạt động giao thương mang đậm chất văn hóa, truyền thống của cư dân ĐBSCL.

Nếu hiểu kinh tế thị trường là nền kinh tế mà người mua, kẻ bán quan hệ với nhau theo quy luật giá trị, cung - cầu, thì nó đã tồn tại ở quê tôi từ lâu rồi. Ai cần gì, từ đồ ăn, thức uống đến cục pin, cạc điện thoại, thuốc Tây chữa bệnh đến mài dao, mài kéo...
Những chiếc ghe hàng lênh đênh sông nước miền Tây cung cấp đủ thứ hàng hoá, dịch vụ. Người mua, chỉ chờ dứt một tiếng “hơ... hơ...”, ngoắc tay một cái là có ngay các thứ mình cần. Ngược lại, người bán cũng thông thuộc tánh ý, sở thích, thị hiếu từng nhà, từng người tiêu dùng của mình.
Ghe hàng tiện dụng xứ quê, nhưng giới chuyên môn thì lo ngại tác hại của việc thuốc Tây bán tràn lan, thực phẩm không an toàn hay những yêu cầu quản lý dân cư. Có những nhà bè di động mấy thế hệ không hộ khẩu. Nhưng như nước chảy, bèo trôi, hoạt động của các “chợ nổi di động” này cứ tồn tại theo quy luật có cầu-có cung. Thương hồ thiệt thòi nhiều thứ vì chỉ được cấp giấy tạm trú thời hạn 6 tháng/lần tái ký. Nhiều người muốn bỏ kiếp ghe hàng, đi làm ăn xa thì không có giấy tùy thân lận lưng; muốn mua xe máy lên bờ làm ăn, thì không có giấy tờ để đăng ký.
Thời gian gần đây, giao thông bộ phát triển, giảm bớt đò giang cách trở; các ghe hàng đã nhảy từ dưới sông lên bờ thành xe hàng, len lỏi từng lối nhỏ đường quê để “bán tận ngọn” cho người tiêu dùng nông thôn.
Ghe hàng bán tạp hóa trên sông hay xe hàng di động trên bờ là một trong những hình thái chợ mang đậm chất Nam Bộ xưa và nay. Gần đây, đã có một số nghiên cứu và nỗ lực của ngành chức năng đối với hoạt động bán hàng rong và giải pháp duy trì, phát triển, phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu của hình thái chợ quê này.
Những hoạt động kiểu chợ di động ở miền Tây không chỉ cần được xem xét dưới góc độ kinh tế, mà cần đặt trong vấn đề văn hóa, xã hội, truyền thống và tập quán sinh hoạt của cư dân đồng bằng. Tại sao hình thái “chợ nổi di động” này không thể là một phần của du lịch miền sông nước như một nét văn hóa đặc thù của chợ nổi miền sông nước?

Pháp luật Việt Nam phức tạp nhất thế giới!

Báo Tuổi Trẻ, 11/06/2014 15:05 (GMT + 7)

TTO - Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường thừa nhận như vậy tại phiên trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội chiều 11-6.
Bộ trưởng Hà Hùng Cường: "Hệ thống pháp luật của chúng ta phức tạp nhất thế giới" - Ảnh: Việt Dũng


Có lợi ích nhóm trong ban hành văn bản pháp luật không?
Là người đầu tiên đặt câu hỏi chất vấn Bộ trưởng Bộ tư pháp Hà Hùng Cường, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng) nêu vấn đề: dư luận người dân, báo chí và ngay tại diễn đàn Quốc hội, đã có đại biểu nêu hiện tượng cài đặt lợi ích nhóm, lợi ích riêng của bộ ngành trong một số văn bản quy phạm pháp luật hoặc có nhiều quy định theo hướng tạo thuận lợi cho việc quản lý của các cơ quan công quyền, đẩy khó khăn về phía người dân. Là người đứng đầu cơ quan thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề nghị Bộ trưởng cho biết quan điểm và hướng khắc phục tình trạng trên?
Thứ hai, có nhận định rằng việc vừa thiết kế vừa thi công trong xây dựng cơ bản là rất ít khi được chấp nhận nhưng việc vừa soạn thảo luật, vừa xử lý chinh sách lại đang là thực tế khá phổ biến ở nước ta, dẫn đến tình trạng chính sách không được làm rõ trong luật nên khi triển khai thực hiện không đạt kết quả như mong muốn. Bộ Tư pháp là một trong những Bộ được chính phủ giao soạn thảo nhiều dự án luật, xin Bộ trưởng cho biết quan điểm và giải pháp về vấn đề này?
Trả lời câu hỏi của đại biểu Kim Thúy về vấn đề lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong văn bản quy phạm pháp luật, theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp- hiện nay theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp được giao thẩm định các loại văn bản quy phạm pháp luật từ quyết định của Thủ tướng Chính phủ trở lên, còn lại thông tư, thông tư liên tịch của các Bộ thì giao cho bộ phận pháp chế của các bộ.
Từ quyết định của Thủ tướng trở lên thì quy trình rất chặt chẽ, từ việc thẩm định, lấy ý kiến, đăng tải trên cổng thông tin điện tử trong vòng 60 ngày.
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy: "dư luận người dân, báo chí và ngay tại diễn đàn Quốc hội, đã có đại biểu nêu hiện tượng cài đặt lợi ích nhóm, lợi ích riêng của bộ ngành trong một số văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tạo thuận lợi cho việc quản lý của các cơ quan công quyền" - Ảnh: Việt Dũng

Với quy trình như vậy, câu chuyện có cài đặt lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ vào các quyết định của Chính phủ trở lên, chúng tôi thấy chưa phải là vấn đề đặt ra. Tuy nhiên vấn đề là đứng từ phia nào để chúng ta nhìn xem có lợi ích nhóm.
Phức tạp, nhiêu khê
Đại biểu Trần Du Lịch (Đoàn TP.HCM) chất vấn: Không ở đâu thủ tục thi hành án dân sự phức tạp, nhiêu khê như ở VN, nhất là thủ tục phát mại tài sản để thu hồi nợ của các ngân hàng - qua quá nhiều trình quy trình, có khi mất 4 năm. Bộ Tư pháp có thấy đó là rào cản? Bộ trong trách nhiệm rà soát văn bản quy phạm pháp luật có thấy điều này?
Đại biểu Trần Du Lịch: "Không ở đâu thủ tục thi hành án dân sự phức tạp, nhiêu khê như ở VN" - Ảnh: Việt Dũng
Bộ trưởng Hà Hùng Cường thừa nhận ý kiến của đại biểu Trần Du Lịch, tuy nhiên ông cũng giải thích quy trình phát mãi tài sản (nhất là bất động sản) có liên quan đến vấn đề giá cả, thị trường nóng nguội. Thi hành án thường liên quan đến giá cả do bản án tuyên (hiện nay giá nhà đất thấp), nên việc đánh giá thế nào để định giá tài sản thi hành án vẫn còn khó.
Luật thi hành án dân sự có thể là tài sản của người dân, cũng có thể của tổ chức, nhà nước nên cũng cho quyền của chủ sở hữu có quyền yêu cầu đánh giá đi, lại về tài sản của mình, không thừa nhận kết quả đấu giá.
Bộ vừa thay mặt Chính phủ trình QH dự án luật sửa đổi thi hành án dân sự, theo đó chủ sở hữu chỉ được khiếu nại về định giá 1 lần thôi. Việc định giá cũng theo hướng xã hội hóa cho công ty được định giá chứ không chỉ là sở tài chính.
Đại biểu Trần Du Lịch cũng chất vấn: Hiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật rất chồng chéo, rất nhiều loại văn bản pháp luật khác nhau. Cũng có quy định bộ ngành nào được làm văn bản pháp luật trong ngành mình - ngành nào quản lý gì thường xây dựng pháp luật của ngành đó. Mà vì lợi ích cục bộ nên các cơ quan này thường làm nhẹ trách nhiệm của của mình trong chính sách, quản lý. 
Bộ tư pháp được giao rà soát lại mọi văn bản nhưng liệu có tình trạng nể nang đối với các văn bản pháp luật bảo vệ lợi ích  cục bộ của ngành?
Bộ trưởng Hà Hùng Cường nói vấn đề ông Lịch đặt ra hết sức vĩ mô. Ông Cường thừa nhận rằng: "Từ khi thực hiện công việc đổi mới thì chúng ta mới quan tâm đến công tác xây dựng văn bản pháp luật và thấy là còn nhiều chồng chéo. Chẳng có quốc gia nào hệ thống pháp luật lại phức tạp như hiện nay. Nhiều luật mẹ chưa có nhưng đã có luật con".
Sau khi phân tích nhiều quy định pháp luật dẫn chứng, Bộ trưởng Hà Hùng Cường kết luận: "Hệ thống pháp luật của chúng ta phức tạp nhất thế giới".
Ông Cường thừa nhận hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì có  rất nhiều chủ thể được ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thậm chí là cấp chủ tịch xã. Một chủ thể cũng có thể ban hành nhiều loại văn bản khác nhau".
Ông Cường nói Bộ đã đề xuất giảm số lượng văn bản, cụ thể là giảm lượng văn bản của của Chính phủ, Bộ trưởng... Việc có quá nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhiều chủ thể khác nhau nên pháp luật của chúng ta rất khó tuân thủ!
"Bill Gates có xin lao động ở Việt Nam cũng sẽ không được"
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa nêu một vấn đề mà theo ông có thể xem là vấn nạn đang gây tác hại, bức xúc đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đó là các văn bản hướng dẫn dưới các hình thức nghị định, quyết định, thông tư.
Hiện nay, ngoaòi tình trạng nợ đọng, có việc hiến pháp thì cho, luật tạo ra hành lang nhưng văn bản hướng dẫn lại đặt ra các thủ tục, điều kiện, thậm chí là các mẫu đơn và giấy phép con. Những phiền toái này thực chất là rào chắn và đôi khi là những cái bẫy đối với doanh nghiệp và người dân. Để vượt những rào chắn này, doanh nghiệp và người dân phải chung chi, bôi trơn...
Trong khi luật hình sự Việt Nam có cái tội gọi là "cố ý làm trái". Đôi khi người dân không trái hiến pháp, không trái luật mà chỉ sai các quy định hướng dẫn thì lại rơi vào tội "cố ý làm trái" và có thể bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Như vậy các văn bản hướng dẫn này không làm tròn trách nhiệm hướng dẫn mà lại hạn chế trên hành lang pháp lý mà luật cho phép.
Trong một diễn đàn cách đây mấy ngày, Thủ tướng có gặp các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, những doanh nghiệp này phản ánh: ở các nước chỉ cần 3 ngày để thành lập công ty, trong khi Việt Nam cần đến 3 tháng, thậm chí lâu hơn.
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa: "Có người nói rằng, nếu Bill Gates mà xin lao động ở Việt Nam, theo điều kiện ở Việt Nam cũng không được cấp giấy phép" - Ảnh: Việt Dũng
"Có người nói rằng, nếu Bill Gates mà xin lao động ở Việt Nam, theo điều kiện ở Việt Nam cũng không được cấp giấy phép vì phải có bằng đại học và phải có 5 năm làm việc chẳng hạn. Như vậy tình trạng văn bản hướng dẫn tạo ra rào chắn, tạo bẫy gây nhũng nhiễu, tiêu cực, vô hiệu hóa hành lang pháp lý là một vấn nạn. Xin Bộ trưởng cho biết tình trạng này phải được khắc phục, xử lý như thế nào?" - ông Trương Trọng Nghĩa đặt câu hỏi.
Vấn đề thứ hai, tình trạng ra văn bản hướng dẫn sai, sau đó phải thu hồi để sửa như nhiều ví dụ mà báo chí đã đăng, điều này dẫn đến việc đôi khi chúng ta phải tốn kém hàng trăm hoặc hàng ngàn tỉ. Làm sao để tránh tình trạng này? - ông Nghĩa chất vấn Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Giải trình về vấn đề ông Trương Trọng Nghĩa nêu, Bộ trưởng Hà Hùng Cường cho biết, về nguyên tắc văn bản các bộ, kể cả mẫu mã đính kèm các văn bản không được trái với luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng chính phủ và lại càng không được trái với Hiến pháp.
"Chúng tôi rất cảm ơn vấn đề đại biểu Nghĩa nêu và sẽ kiểm tra cụ thể lĩnh vực được nêu, nếu có chúng tôi sẽ gửi kết quả báo cáo với đại biểu" - bộ trưởng Hà Hùng Cường nhấn mạnh.
Về việc văn bản ra sai vừa rồi gây nhiều dư luận, cũng xin được thông cảm. Có những cái đã ra văn bản rồi nhưng cũng có những cái mới chỉ là dự thảo để lấy ý kiến. Khi dự thảo lấy ý kiến nhận được phản ứng của dư luận, các Bộ ngành đã tiếp thu và xử lý ngay. Kể cả những văn bản đã ban hành nhưng sau khi có ý kiến của dư luận, Bộ tư pháp kiểm tra, có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đã sửa chữa kịp thời.
Về vấn đề đại biểu nêu, cụ thể có những dự án nào đó gây tốn kém kinh phí, ngân sách Nhà nước, tôu nghĩ phải đi sâu vào vụ việc. Nếu được đại biểu cho biết để có cơ sở kiểm tra cụ thể và sẽ có báo cáo.
Chủ tịch Quốc hội: hậu quả 312 văn bản sai luật rất nghiêm trọng!
Sau khi nghe Bộ trưởng trả lời, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp nói rõ hơn, trả lời cụ thể về 312 văn bản mà Bộ trưởng báo cáo là sai pháp luật. Các văn bản sai này đã gây hậu quả gì chưa?
"Nếu người ta căn cứ 312 văn bản này để mà tổ chức thực hiện thì gay go rồi. Mà nếu không tổ chức thi hành thì lại là vi phạm pháp luật. Căn cứ theo quy định thì có thể xử lý kỉ luật: khiển trách, cảnh cáo, đuổi việc... cán bộ được rồi, có khi xử lý hình sự được rồi", chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng nói.
Theo chủ tịch QH, đây là vấn đề rất nghiêm trọng, đề nghị Bộ trưởng phải trả lời kỹ hơn. Cần phân tích để tìm trách nhiệm, tìm cách giải quyết.
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa cũng chất vấn bổ sung: Trong chức năng nhiệm vụ của mình thì Bộ tư pháp làm tốt chức năng “thổi còi” đối với văn bản thông tư, chỉ thị trái luật nhưng vấn đề là nhiều văn bản hiện không trái để mà thổi, nhưng lại là những lực cản rất lớn cho xã hội.
Ông Nghĩa ví von: "nếu nói hướng dẫn trái luật thì Bộ Tư pháp trả lời là đúng rồi nhưng bây giờ họ không trái: chẳng hạn luật cho hành lang 3 mét nhưng hướng dẫn chi còn 1 mét. Luật cho đi đường thẳng nhưng văn bản dưới luật chỉ đi đường vòng, lên dốc... Nếu nói trái thì không trái nhưng điều này rất khổ, nhất là trong vấn đề đầu tư, khổ sở cho doanh nghiệp".
Từ 15g, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trả lời chất vấn về: Tình hình triển khai thi hành Hiến pháp; việc triển khai Nghị quyết của Quốc hội về hướng dẫn thi hành và đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật đối với các dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội và Nghị định của Chính phủ trong thời gian qua; những hạn chế, bất cập trong công tác thi hành án dân sự; giải pháp khắc phục.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia giải trình làm rõ thêm những vấn đề liên quan.
T.MAI - C.MAI