28 tháng 3, 2013

VTV1 Chào buổi sáng: PCI ĐBSCL năm 2012

VCCI tổ chức công bố chỉ số năng lực cạnh tranh địa phương PCI. Trong khó khăn chung của nền kinh tế, các tỉnh, thành vùng ĐBSCL đã gây nhạc nhiên với kết quả có 2/3 tỉnh và 6/10 tỉnh trong vùng trong top đầu cả nước. Đồng Tháp, An Giang chiếm vị trí dẫn đầu và á quân, vượt qua Lào Cai - đứng đầu bảng xếp hạng năm trước, bỏ xa các "điểm sáng" nhiều năm liền như Đàng Nẵng, Bình Dương. Thứ hạng cao là tốt, nhưng cải thiện môi trường đầu tư tốt hơn, hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn mới là việc cần. 

VTV: Cải thiện môi trường đầu tư vùng ĐBSCL 
04/05/2013, 18:02:31 

(VTV Cần Thơ) - Kết quả công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (gọi tắt là PCI) năm 2012 cho thấy vùng ĐBSCL đã có sự cải thiện rõ rệt ở môi trường đầu tư ở tính năng động. Tuy nhiên điều này chưa thể khẳng định sẽ tạo động lực thu hút đầu tư mạnh mẽ cũng như giúp các tỉnh đạt được thứ hạng cao trong những năm tiếp theo. Chính vì thế, làm thế nào tiếp tục giữ vững thứ hạng, cải thiện được môi trường đầu tư tốt đang là vấn đề đặt ra của hầu hết các tỉnh, thành trong vùng.


Chỉ số PCI năm 2012 ngoài tỉnh Đồng Tháp đứng vị trí đầu tiên thì ĐBSCL có đến 3 tỉnh nằm trong top 5 và 6 tỉnh nằm trong top 10 của toàn quốc. Long An dù không đạt thứ hạng cao nhưng liên tục nằm trong tốp khá. Tuy nhiên kết quả điều tra PCI 2012 cũng cho thấy doanh nghiệp trong và nước ngoài đều cảm thấy kém lạc quan hơn về triển vọng kinh doanh so với các năm trước. Đồng Tháp mặc dù đứng đầu cả nước trong năm nay nhưng chỉ được xếp ở mức tốt, trong khi năm rồi lại thuộc vào nhóm rất tốt, các chỉ số tổng thể trên 9 chỉ số thành phần cũng thấp hơn năm rồi.

"Đã từng có doanh nghiệp năm này đạt thứ hạng cao nhưng năm sau thì không được như thế. Vì vậy cần phải có cách giữ vững thứ hạng"
, ông Trần Hữu Hiệp, Vụ Trưởng Vụ kinh tế - Ban chỉ đạo Tây Nam bộ nhấn mạnh.

Ngoài nền kinh tế chung đang gặp khó khăn thì sự kém lạc quan của các doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường đầu tư tại các tỉnh, thành. Dù hầu hết các địa phương đều nêu cao tính năng động của lãnh đạo tỉnh nhưng tính minh bạch vẫn còn là vấn đề lo ngại của nhiều doanh nghiệp.


"Những người thực hiện thường phải có cái tâm, hướng dẫn doanh nghiệp thì phải tận tình nhưng hiện nay điều này chưa có, buộc lòng doanh nghiệp phải đi tới đi lui nhiều lần", một doanh nhân nêu thực trạng.


"Trong thời gian sắp tới đòi hỏi của các doanh nghiệp về tính minh bạch trong môi trường kinh doanh còn cao hơn….", ông Đậu Anh Tuấn,  Phó Trưởng Ban Pháp chế - Phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam cảnh báo.
Với kết quả đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2012 được công bố, sẽ giúp cho lãnh đạo các tỉnh, thành nhìn lại hiệu quả cũng như những bất cập trong công tác quản lý, điều hành tại địa phương. Đây cũng sẽ là cơ sở để các tỉnh cải thiện môi trường đầu tư thu hút các doanh nghiệp đến với địa phương mình. Bởi ngoài vị trí thuận lợi, môi trường đầu tư, nguồn nhân lực tốt, sự thân thiện, nhiệt tình của các cơ quan hành chính v.v. cũng sẽ là yếu tố quan trọng để thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước../.(Mỹ Duyên)

Bỏ môn văn ngoài cổng trường đại học

Trần Hiệp Thuỷ
(LĐ) - Số 67 - Thứ năm 28/03/2013 03:00
Theo quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) năm nay, các trường khối văn hóa - nghệ thuật (khối C) và trường có tuyển sinh ngành nghệ thuật (khối H, N, S) không tổ chức thi tuyển môn văn mà chỉ dựa vào kết quả thi tốt nghiệp và điểm trung bình 3 năm học trung học phổ thông (THPT). Môn văn đã bị bỏ lại ngoài cổng trường ĐH.
Nữ sinh Miền Tây khát vọng vươn lên
Tất nhiên, lãnh đạo các trường được bỏ thi môn văn phấn khởi. Trước cảnh “túng quẩn” của nhiều trường ĐH, CĐ tuyển không đủ chỉ tiêu, phải “vơ vét thí sinh” bằng cách hạ điểm chuẩn, chờ đợi cầu may lượng thí sinh bị “dạt ra” từ các trường nhóm trên; thậm chí phải “phá rào” xin giảm điểm sàn, thì việc bỏ thi môn văn đã “cứu nguy” cho các trường này “bàn thua trông thấy”.

Cùng với môn sử “hàng ngàn điểm không”, việc dạy và học văn “đang có vấn đề”, bộc lộ rõ nhất qua các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ. Thay vì được củng cố, nâng chất môn học, thì cách dễ làm nhất là được bỏ đi, khỏi phải thi (!). Đành rằng, các kỳ thi “dồn cục” nhiều may rủi như hiện nay không phải là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng. Hàng năm, học sinh phải “đoán già đoán non” môn nào thi tốt nghiệp, rồi “học lệch” để được tốt nghiệp PT và vào ĐH. Thực tế đang đòi hỏi một cơ chế đánh giá công bằng, khách quan và thực chất hơn chất lượng học sinh PT trong suốt quá trình học tập.
Lộ trình tiến tới xét tuyển ĐH, CĐ dựa trên những tiêu chí đánh giá thực chất học sinh PT là đúng, nhưng chắc chắn không phải ngay bây giờ với một quyết định “cà giựt” chưa được chuẩn bị trước. Nếu phải bỏ thi tuyển ngay lập tức, thì tại sao lại chọn môn văn? GS. Chu Hảo - nguyên Thứ trưởng Bộ KHCN - đại diện cho nhiều ý kiến phản đối cho rằng, việc bỏ thi môn văn ở các trường năng khiếu là “sự tùy tiện và thiếu nghiêm túc”. 
Trả lời việc vẫn giữ đề thi “ba chung”, một lãnh đạo Bộ GDĐT cũng cho biết, sau năm 2015, khi chất lượng học PT và thi tốt nghiệp cải thiện, sách giáo khoa cũng đã đổi mới, một số trường có thể xét tuyển. Khi đó, thi đầu vào chỉ áp dụng các trường tốp trên. Điều đó là cần thiết, vì ngành GDĐT cần có bước chuẩn bị, nghiên cứu thận trọng, phải tạo được niềm tin cho người dân, rằng chất lượng dạy và học PT đã được đảm bảo, không cần đến thi tuyển ĐH, CĐ. 
Còn quá nhiều việc phải làm để đi đến “bỏ thi tuyển”, tại sao phải lấy môn văn làm “con chuột bạch” để thí nghiệm? Xin đừng vứt môn văn ngoài cổng trường ĐH!

Một góc nhìn hiện trạng giao thông ĐBSCL

Phóng sự của Nguyễn Phú Huân VTC16 đề cập những bất cập trong đầu tư, khai thác, sử dụng giao công trình giao thông ĐBSCL.

Lúa chất lượng cao khó tiêu thụ do đâu?

Thực hiện: Nguyễn Phú Huân – Nguyễn Văn Tuấn. Thời lượng: 3 phút
Đến thời điểm này, vụ lúa Đông Xuân tại ĐBSCL đã thu hoạch được hơn 50%. Một thực tế đang diễn ra là thương lái và doanh nghiệp chỉ chú trọng mua lúa thường tức là loại IR 50404 để chế biến, xuất khẩu. Trong khi đó, lúa chất lượng cao và lúa thơm, vốn được Bộ NN&PTNT khuyến khích mở rộng diện tích trong vụ này lại khó tiêu thụ hoặc chỉ bán được mức giá thấp hơn nhiều so với mọi năm. Vì sao tồn tại nghịch lý này, mời quý vị theo dõi phóng sự sau đây.

Khởi động MDEC - Vĩnh Long 2013: ĐBSCL hướng đến nền kinh tế xanh


27 tháng 3, 2013

Trồng lúa như chơi lô-tô


Hữu Hiệp
Việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa để có phẩm cấp gạo tốt, nâng cao giá trị hạt gạo chắc chắn là chủ trương đúng. Nhưng tiếc thay, do “mạnh ai nấy làm” đã đẩy nông dân vào cảnh trồng lúa như chơi chơi lô-tô, phó mặc cho may rủi.
Chọn giống lúa nào luôn là câu hỏi khó cho nông dân. Vụ mùa trước, giống IR 50404 bị coi là thủ phạm gây ế hàng, khó tiêu thụ. Người ta trách nông dân “nói hoài không nghe”, đua nhau trồng giống lúa tuy cao sản, kháng sâu bệnh, nhưng ngặt nổi phẩm cấp thấp, dân “ngoại quốc không chịu ăn”, không bán được. Giúp dân gỡ khó, ngành nông nghiệp đưa ra khuyến cáo về tỷ lệ các giống lúa cần lựa chọn, nên có bao nhiêu % diện tích lúa thường (cấp thấp), bao nhiêu lúa thơm cao cấp. Rồi phải “Tổ chức điều tra cơ cấu giống lúa đã gieo sạ để nắm chắc diện tích giống IR 50404 đã gieo, đối với diện tích còn lại, giao trách nhiệm cho chính quyền xã hướng dẫn nông dân hạn chế hoặc không gieo giống IR 50404; đảm bảo trong phạm vi toàn tỉnh giống IR 50404 không vượt quá 10%”.
Nghe theo “khuyến cáo”, năm nay nhiều nông dân Kiên Giang đã chuyển sang trồng lúa chất lượng cao hơn 70% diện tích canh tác. Hầu hết các địa phương trong vùng như An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang … cũng chuyển phần lớn diện tích trồng lúa sang chất lượng cao. Nhưng trớ trêu là lúa chất lượng cao “bị cào giá” như  chất lượng thấp, thương lái không mua, nông dân “lãnh đủ” phần thua thiệt.
Tuần qua, tại Cần Thơ đã diễn ra Hội nghị Sơ kết sản xuất lúa vụ đông xuân 2012 - 2013, triển khai kế hoạch sản xuất lúa vụ hè thu, thu đông. Nhiều ý  kiến bức xúc, khi thì lúa phẩm cấp thấp, lúc lúa chất không bán được. Chọn giống nào? Nông dân biết nghe ai? Dự báo, định hướng, thậm chí “chế tài” bằng các công cụ điều tiết kinh tế (như áp dụng hỗ trợ hay không hỗ trợ theo khuyến cáo) là cần thiết. Nhưng để dân tin, nghe và làm theo có hiệu quả, thì các cơ quan chức năng phải tăng “hàm lượng tin cậy” của các dự báo, khuyến cáo. Đặc biệt lả phải gắn được đầu vào (sản xuất giống nào) với việc tiêu thụ, xuất khẩu. Thực tiễn đã cho thấy hiệu quả của “Cánh đồng lớn” cần được nhân rộng. Việc khuyến cáo nông dân trồng giống lúa nào phải có địa chỉ qui hoạch cụ thể, mô hình thực thi như “Cánh đồng liên kết”, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, địa phương, thì mới có hiệu quả.
Một chủ trương đúng, nhưng nếu tổ chức thực hiện không đồng bộ; ông chỉ đạo sản xuất “hô một đằng”, ông thu mua, xuất khẩu làm một nẻo, thì người nông dân trồng lúa như chơi trò đỏ đen. Bao giờ tình trạng này mới khắc phục được?
(Báo Lao Động ngày 26-3-2013)

PCI 2012: Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long : Vì sao thăng hạng ?

(DĐDN) Chỉ số PCI vừa được VCCI công bố cho thấy, không chỉ có Đồng Tháp và An Giang đứng đầu bảng xếp hạng mà các tỉnh khác của ĐBSCL cũng chiếm tới 9/17 tỉnh ở nhóm tốt đồng thời không có tỉnh nào trong khu vực có điểm số dưới mức khá.
Các địa phương hãy xem vai trò vị trí của DN, nhà đầu tư như một nhà tư vấn cho chính quyền chứ không phải là đối tượng để quản lý.
Hiện vùng ĐBSCL có 3 tỉnh trong Top 5 của PCI năm 2012, còn nếu tính trong Top 10 PCI thì vùng ĐBSCL có 6 tỉnh. Điều này cho thấy, chính quyền các tỉnh khu vực ĐBSCL đã có những nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi rất tốt cho các nhà đầu tư.
Lãnh đạo tỉnh biết chia sẻ cùng DN
Theo ông Edmund Malesky - Trưởng nhóm Tư vấn năng lực cạnh tranh VN cho biết, các vị lãnh đạo các tỉnh ĐBSCL không chỉ năng động, quan tâm đến những khó khăn, vướng mắc của từng DN, hiệp hội DN, các tỉnh khu vực này còn nắm chắc đường lối phát triển của các tỉnh lân cận nên họ cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm cải thiện năng lực điều hành.
Nếu so sánh với các địa phương phía Bắc thì ngay cả tỉnh lân cận có những chính sách, động thái gì hỗ trợ cho DN họ cũng không biết và ít quan tâm. Các tỉnh ĐBSCL có mức độ rất đồng đều cũng như sự liên kết vùng cùng phát triển đã tạo cho khu vực có sự bứt phá ấn tượng.
Ông Lê Minh Hoan - Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết, trong những năm qua, các tỉnh ĐBSCL đã tổ chức khá nhiều các hội nghị liên kết, hợp tác luân phiên dưới sự lãnh đạo của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ. Chính qua những hội nghị này, chúng tôi thấy rằng sự cần thiết của tính liên kết là rất cao. Từ đó, mỗi địa phương đều có những nỗ lực trong liên kết vùng.
Chia sẻ kinh nghiệm khi đã vươn lên vị trí quán quân, theo ông Hoan, điểm mạnh nhất của Đồng Tháp chính là yếu tố năng động của chính quyền, cũng như việc định vị và ứng xử đối với đối với DN.
Vị lãnh đạo này chia sẻ, các địa phương hãy xem vai trò vị trí của DN, nhà đầu tư như một nhà tư vấn cho chính quyền chứ không phải là đối tượng để quản lý. Khẩu hiệu của Đồng Tháp là “đồng hành cùng DN” - sự đồng hành từ tư duy quản lý, đến kinh tế thị trường.
Còn dư địa cho cải thiện PCI
Các địa phương hãy xem vai trò vị trí của DN, nhà đầu tư như một nhà tư vấn cho chính quyền chứ không phải là đối tượng để quản lý.
Theo ông GSTS Edmund Malesky cho rằng, mặc dù các địa phương khu vực ĐBSCL có sự cải thiện năng lực cạnh tranh tương đối đồng đều, tuy nhiên, thực tế, khu vực này thu hút dòng vốn FDI còn hạn chế. Nguyên nhân cơ bản là nguồn nhân lực, hạ tầng kỹ thuật còn yếu, chi phí vận chuyển và đầu tư lớn…
GS TS Edmund Malesky cũng khuyến nghị, để tăng chất lượng nguồn nhân lực, khu công nghiệp… sự nỗ lực trong điều hành kinh tế cấp tỉnh chưa đủ mà còn cần ở cấp cao hơn là cấp khu vực và trung ương. Bên cạnh đó không nên chỉ cải thiện môi trường đầu tư dành cho những DN đang hoạt động trên địa bàn mà còn cần hướng tới những DN sắp đến đầu tư tại địa phương. Trong đó, các địa phương không nên bỏ qua các nhà đầu tư trong nước.
Ông Dương Quốc Xuân - Phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ thừa nhận ĐBSCL vẫn tồn tại nhiều yếu điểm, điển hình là nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, kinh tế mới chỉ phát triển theo chiều rộng, khai thác theo tiềm năng vốn có, tầm nhìn chiến lược và chỉ đạo phát triển đối với vùng còn nhiều lúng túng, nên vùng ĐBSCL vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Tuy nhiên, ông Dương Quốc Xuân cho rằng, cùng với khó khăn, thách thức thì đây cũng là dư địa để các tỉnh khu vực ĐBSCL phát triển.
Bá Tú (Báo DĐDN)

Phá sản ngân hàng: Có hay không?


Trong một số trường hợp, cổ đông ngân hàng chưa chắc đã mất hết tiền 
nếu ngân hàng có nhiều tài sản có giá trị cao, chẳng hạn như bất động sản.
Ngân hàng Nhà nước đã chấp nhận đưa thêm cụm từ “phá sản” vào Thông tư về xử lý ngân hàng yếu kém, trái với lời khẳng định trước đó không lâu là “sẽ không để ngân hàng nào đổ vỡ”.
Từ năm 1975 đến nay, ở Việt Nam chưa có ngân hàng thương mại nào tuyên bố phá sản. Và cả thị trường dường như đều có chung niềm tin rằng sẽ không bao giờ có chuyện này xảy ra. Nhưng niềm tin đó liệu có còn đúng, khi trong Thông tư 07/2013 của Ngân hàng Nhà nước mới đây đã xuất hiện cụm từ “phá sản”?
3 con đường cứu ngân hàng
Việc Ngân hàng Nhà nước chấp nhận đưa thêm cụm từ “phá sản” vào Thông tư 07 đã tạo ra bất ngờ, bởi chỉ nửa năm trước, sau sự cố Bầu Kiên, chính Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã khẳng định “sẽ không để ngân hàng nào đổ vỡ”.
Trong lịch sử, đây cũng không phải là lần đầu Ngân hàng Nhà nước xử lý các ngân hàng yếu kém. Quay ngược trở lại giai đoạn khủng hoảng ngân hàng vào những năm 1990, có khá nhiều ngân hàng thương mại đã được đưa vào diện kiểm soát đặc biệt. Nhiều ngân hàng tiến hành sáp nhập, hợp nhất, mua lại đổi tên, thậm chí giải thể. Kết quả là số lượng ngân hàng thương mại cổ phần giảm từ 51 (năm 1997) xuống còn 39 (năm 2001). Ngược lại, cũng không ít ngân hàng được vực dậy và phát triển trở lại sau cuộc khủng hoảng như Eximbank, VP Bank hay Maritime.

Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa hai giai đoạn. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đã mở lối cho những ngân hàng yếu kém không thể tái cấu trúc được, cho dù có sự giúp đỡ của Ngân hàng Nhà nước, thì buộc phải phá sản.

Phá sản một ngân hàng thường không đơn giản. Bởi điều khác biệt lớn nhất giữa một ngân hàng và doanh nghiệp phi tài chính là hệ thống người gửi tiền và sự liên hệ chặt chẽ giữa các ngân hàng với nhau. Vì thế, phá sản ngân hàng là lựa chọn cuối cùng, khi những nỗ lực xử lý trước đó của ngân hàng trung ương không thành công.

Bước đi đầu tiên và dễ dàng nhất là bơm tiền để các ngân hàng yếu kém duy trì hoạt động với hy vọng chúng sẽ cải thiện được tình hình. Tuy nhiên, đây là biện pháp tốn kém và khó giải quyết được gốc rễ của vấn đề.

Một phương pháp ưa thích của các ngân hàng trung ương là khuyến khích hoặc ép buộc các thương vụ mua bán sáp nhập. Theo Tiến sĩ Lê Hồng Giang, quan trọng nhất là tìm được một ngân hàng khác chịu ôm phần nợ của ngân hàng yếu kém. Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm được một khoản tiền mặt khổng lồ.

Đây cũng chính là con đường Việt Nam đang đi, với thương vụ điển hình là Habubank sáp nhập vào SHB. Với khả năng thanh toán gần như bằng 0, vốn chủ sở hữu giảm chỉ còn gần 200 tỉ đồng, Habubank được xem là gặp may khi có SHB đứng ra bảo lãnh mọi khoản nợ. Đối với Ngân hàng Nhà nước, đây là một thành công khi có thể bảo toàn được khoản tiền gửi của người dân tại Habubank trị giá 18.700 tỉ đồng.

Ngân hàng Nhà nước cũng đã thành công với thương vụ hợp nhất đình đám giữa 3 ngân hàng ở trong tình trạng mất thanh khoản trầm trọng SCB, FicomBank và TinnghiaBank trong năm 2011. Trong cuộc hợp nhất này, Ngân hàng Nhà nước đã dùng 2 công cụ để xử lý: thứ nhất là tái cấp vốn cho ngân hàng dưới sự tài trợ vốn của BIDV và thứ hai là buộc 3 ngân hàng tự hợp nhất với nhau. “Chi phí xử lý không lớn vì tài sản và nợ hầu như không đổi, chỉ có vốn chủ sở hữu là bị mất bớt”, Tiến sĩ Giang cho biết.

Biện pháp cuối cùng để xử lý ngân hàng yếu kém chính là quốc hữu hóa. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ được sử dụng khi ngân hàng đó “quá lớn để sụp đổ”, tức có quá nhiều mối liên kết chằng chịt và to lớn trong hệ thống tài chính. Đây cũng là biện pháp tốn kém nhất. Bài học từ Thái Lan cho thấy, để có tiền hỗ trợ hệ thống ngân hàng, ngoài việc phát hành một lượng trái phiếu khổng lồ, Thái Lan đã 2 lần vay mượn Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tới 20 tỉ USD. Kết quả, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã thực hiện sáp nhập và quốc hữu hóa 6 ngân hàng thương mại, 12 công ty tài chính, đồng thời đóng cửa 1 ngân hàng thương mại và 56 công ty tài chính.

Với biện pháp này, ngân hàng trung ương sẽ cử người ngồi vào ghế quản trị ngân hàng, trực tiếp điều hành và thực hiện công việc tái cấu trúc, cải thiện hoạt động kinh doanh. Sau khi đã ổn định mọi thứ, ngân hàng trung ương sẽ bán cổ phần trở lại cho tư nhân và thậm chí còn có thể thu lời để bù đắp cho chi phí tái cấu trúc.

Tiêu biểu cho phương pháp này là Tập đoàn Bảo hiểm AIG. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008, AIG được Chính phủ Mỹ quốc hữu hóa vì họ là đầu mối của các hợp đồng bảo hiểm phá sản tín dụng của các tổ chức tài chính trên toàn cầu, trị giá tới hơn 50.000 tỉ USD.

Mọi chuyện sẽ rất tốt đẹp nếu như xử lý thành công các tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán bằng những con đường nói trên; nếu không, chính phủ cũng phải chấp nhận để ngân hàng phá sản. Và ở Việt Nam, với Thông tư mở đường cho việc để ngân hàng phá sản, phải chăng Ngân hàng Nhà nước đã hết chiêu để xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém?

Đường nào cho Việt Nam?

Khi một ngân hàng nộp thủ tục xin phá sản, phần tiền thu được từ việc thanh lý tài sản sẽ được trả cho các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên: cơ quan thuế, người gửi tiền, các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, người sở hữu trái phiếu của ngân hàng, các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ và cuối cùng là cổ đông của ngân hàng.

Về mặt lý thuyết, các ông chủ ngân hàng sẽ phải chịu thiệt nhiều nhất, nhưng thực tế không hẳn như vậy.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, thành viên Hội đồng Quản trị ABBank, trong một số trường hợp, cổ đông ngân hàng chưa chắc đã mất hết tiền nếu ngân hàng có nhiều tài sản có giá trị cao, chẳng hạn như bất động sản.

Đó là chưa kể các chiêu tẩu tán tài sản của các ông chủ ngân hàng. Ông Nguyễn Nam Sơn, Giám đốc Điều hành Quỹ Đầu tư Vietnam Capital Partners (VCP), cho biết, trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, nhiều ông chủ ngân hàng ở các quốc gia khủng hoảng đã tăng cường cho các đối tác nước ngoài hoặc công ty sân sau do chính họ lập ra vay. Các khoản vay này được ghi vào nợ xấu và trong trường hợp ngân hàng phá sản hay được giải cứu, chúng đều được xóa bỏ. Vào thời điểm đó, giá trị các khoản tẩu tán lên đến hàng tỉ USD.

Ở đây, có một khái niệm cần làm rõ là cụm từ “ông chủ ngân hàng”. Những lợi thế nói trên chỉ thuộc về cổ đông lớn, có thể là những người đang trực tiếp điều hành ngân hàng và nắm trước những thông tin quan trọng. Cổ đông nhỏ tất nhiên không thể có được cơ hội đó.

Câu chuyện của Habubank là một ví dụ. Chỉ khi đến Đại hội Cổ đông vào tháng 4.2012, cổ đông Habubank mới vỡ lẽ rằng sau báo cáo giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước vốn chủ sở hữu của ngân hàng mình chỉ còn hơn 195 tỉ đồng, trong khi báo cáo tài chính (đã được kiểm toán) năm 2011 ghi rằng, vốn chủ sở hữu của Habubank là hơn 4.051 tỉ đồng.

Trở lại với vấn đề bảo vệ người gửi tiền, cổ đông lớn ở những ngân hàng yếu kém chưa kịp tẩu tán tài sản thường có xu hướng trì hoãn sự can thiệp của Nhà nước hoặc yêu cầu hỗ trợ thanh khoản, với lý do đảm bảo các khoản tiền gửi cho dân chúng. Lý do này có hoàn toàn thuyết phục?

Hãy xem xét Habubank trước khi sáp nhập. Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2012 cho thấy ngân hàng này có tổng tài sản hơn 34.600 tỉ đồng. Như vậy, trong trường hợp phá sản, giả định tài sản của Habubank được thanh lý với mức giá chiết khấu 50%, số tiền thu về đã đủ để chi trả cho người gửi tiền, mà chưa cần sử dụng đến phần bảo hiểm tiền gửi 50 triệu đồng/tài khoản.

Tất nhiên, những phân tích này đều dựa trên giả định đơn giản, bởi thực tế Habubank phá sản còn ảnh hưởng tới thanh khoản của các ngân hàng khác, do liên quan đến các khoản tiền gửi, tiền vay trên thị trường liên ngân hàng và tác động tâm lý đến thị trường. Điều đáng nói ở đây là lý do bảo đảm tiền gửi là chưa hợp lý. Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có thể đứng ra cam kết trả lại toàn bộ tiền gửi cho người dân, sau khi đã bán xong Habubank, tương tự như cách Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Mỹ (FDIC) đã làm với các ngân hàng của nước này.

Quan trọng hơn, dù có cho phá sản ngân hàng hay không thì một bài học lớn từ các nước đi trước là Ngân hàng Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ các khoản ra vào của một ngân hàng đã nằm trong danh sách giám sát, thậm chí phải phong tỏa tài sản.

Ông Đỗ Anh Tú, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị TienphongBank, cho rằng, ở Việt Nam khó xảy ra chuyện phá sản ngân hàng. Việt Nam vẫn sẽ tập trung giảm số lượng ngân hàng yếu kém bằng cách hợp nhất và sáp nhập, thay vì cho phá sản. Và theo ông, quá trình này sẽ diễn ra chậm chạp, bởi các ngân hàng vẫn có tâm lý chờ đợi Nhà nước rót vốn, thay vì bán mình với giá rẻ.

Hơn nữa, không ít ông chủ ngân hàng tin rằng, trong trường hợp xấu nhất, Ngân hàng Nhà nước vẫn còn một biện pháp cuối cùng trước khi cho phá sản, đó là quốc hữu hóa. Trên thực tế, cho đến nay Ngân hàng Nhà nước chưa sử dụng đến biện pháp này và có lẽ không ít ông chủ ngân hàng vẫn trông chờ cơ hội được cứu vớt.

Tuy nhiên, còn một ý kiến khác cho rằng không hề có chuyện ngân hàng phá sản. Theo ông Sơn, Quỹ Đầu tư VCP, trong khoảng 150 năm trở lại đây, thế giới chưa từng có vụ phá sản ngân hàng nào.

Người ta thường cho rằng Thái Lan, trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997, đã cho phá sản nhiều ngân hàng. Theo ông Sơn, bản chất sự việc không phải như vậy. Một số ngân hàng mất khả năng chi trả được sáp nhập vào các ngân hàng thuộc sở hữu của Chính phủ. “Nói chính xác là có những ngân hàng đóng cửa và thương hiệu biến mất”, ông nói.

Tương tự như việc phá sản ở Mỹ. Giai đoạn 2008 - 2012, FDIC đã cho đóng cửa 465 tổ chức tín dụng, phần lớn có quy mô nhỏ. Các khoản tiền gửi, tiền vay, chi nhánh đều được nhập vào một ngân hàng khác và FDIC chấp nhận hứng chịu một phần lỗ.

Việc phá sản ngân hàng, vì thế, có thể sẽ không dễ nhìn thấy như việc phá sản một doanh nghiệp thông thường. Chẳng hạn, bình luận về thương vụ hợp nhất 3 ngân hàng Việt Nam ở trên, Tiến sĩ Lê Hồng Giang cho rằng về bản chất thì 3 ngân hàng này đã phá sản, sau đó BIDV đứng ra mua lại và lập ra một ngân hàng mới. 

http://nhipcaudautu.vn/article.aspx?page=2&id=16021-pha-san-ngan-hang-co-hay-khong?

21 tháng 3, 2013

Chuyện cũ miền Nam

Chuyện cũ miền Nam


Cuối năm 2012, NXB Trẻ ấn hành tập di cảo thứ tư của học giả Vương Hồng Sển (1902 - 1996) mang tên “Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang - Ba Thắc chứng tích, nhân vật, đất đai thủy thổ của miền Nam cũ”. Cuốn sách gồm 18 câu chuyện, đa phần được viết vào năm 1966, kể chuyện miền Nam hồi 2 thập niên đầu thế kỷ 20, thuở mà tác giả đã sống cả một thời tuổi trẻ.
Sách giữ đúng văn phong truyền cảm và chánh tả rất riêng của cụ Vương thời đó; thí dụ cụ viết Sốc-Trăng chứ không viết Sóc Trăng hoặc Bãi-Xàu thay cho Bãi Xào, hay là Cơ-me thay vì Khmer như bây giờ.
Thí dụ trong bài “Cánh đồng Cà-Mau, vựa cá mắm thiên nhiên của trời dành cho dân Việt”, cụ mở đầu bằng một đoạn ngắn mà có thể giúp ta hình dung ra được nguồn cội và thủy thổ cả một vùng ĐBSCL: “Con sông lớn Mỹ-Công (Mékong) từ Tây-Tạng chạy suốt trên bốn ngàn cây số bề dài, như con rồng chín khúc (Cửu-Long-giang), xuyên qua Tây-Tạng, Trung-Hoa, Lào-quốc, Cam-bu-chia và Việt-Nam. Khi nhập vào đất Nam, nó chia làm hai nhánh con sông Tiền và con sông Hậu, và đèo thêm hai cái “túi thật lớn” chứa giữ nước dư ối là vùng Tháp-Mười về sông Tiền và vùng Cà-Mau về sông Hậu. Nhờ hai túi nầy đủ sức chứa nước thặng dư vào mùa nước đổ mà Miền Nam khỏi nạn lụt như Miền Bắc đã bị con sông Nhĩ-Hà làm khổ mỗi năm”. Đọc đoạn này ta có thể giựt mình, vì giờ đây “hai cái túi nước” đó đã bị bao đê làm lúa vụ 3 gây lụt lội tưng bừng như hồi năm 2011.
Về địa danh Cà Mau, cụ Vương viết: “Từ Bạc-Liêu đi một đỗi gặp một cánh đồng thấp phì nhiêu vô cùng, nhưng đặc biệt là nước sông rạch đều một màu đen thâm gần như mực xạ. Tiếng Cao-Miên gọi “swrock tưc khmau”, dịch “sốc nước đen”. Ông bà chúng ta Việt-hóa thành Cà-Mau, chớ không phải “Cà-Mâu” như nhiều đồng bào thường viết”. Kết thúc câu chuyện này, cụ kể: “Cũng vùng Cà-Mau có giống tràm mục lưu-lai nhiều đời, lá rụng cây ngã giữ nước đọng lại rồi nát thành bùn, biến ra một chất “than đá non” “nê-thán” (tourbe), xắn vuông-vắn phơi cho khô, chụm rất tốt. Đó là một nguồn lợi rất lớn về tương lai mà nước ta chưa khai thác vậy”.
Trong bài “Ba-Thắc, Hậu-Giang, năm mươi năm về trước” viết vào tháng 7.1966, cụ Vương giải thích cái tên Ba Thắc: “Miền Ba-Thắc, tức là Srock Bassac theo cách đọc của người Cơ-me, gồm các tỉnh trù phú miệt Hậu-Giang, kể từ Châu-Đốc (Thổ gọi Moat-chrut có nghĩa là “miệng heo”) xuống đến mũi Cà-Mau, mấy tỉnh nầy muốn giao thông với Sài-Gòn, thì có tàu sắt gọi xà-lúp (chaloupe) liên lạc chạy đều đều”.
Ai muốn biết ruộng đất thời đó ở miền Tây Nam bộ giá trị ra sao, xin đọc thử đoạn này trong bài “Phương pháp làm giàu của vài ông chủ điền lớp trước”:“Thuở ấy, trước năm 1930, đồng Rạch-Giá và Cà-Mau đã có người đứng tên xin khẩn, hoặc choán chỗ và khai phá gần hết sạch. Cho nên mặc dù đất trũng có phèn mà các tay kinh doanh đến trễ cũng đổ xô và đua nhau xin khẩn, kẻ thì đất ở Đồng Tháp Mười, kẻ thì dọc hai bên bờ con kinh Phụng Hiệp nầy”.
Gần đây báo chí có nhắc tới “thương cảng Bãi Xào” ngày xưa, nơi xuất khẩu gạo nổi tiếng của miền Tây, nằm ở Hậu Giang. Trong bài “Nói bắt quàng, lẩm cẩm” viết hồi cuối năm 1965, cụ Vương Hồng Sển - người “sanh trưởng miền quê đất Hậu Giang, chỉ biết nhớ tỉnh nhà Sốc-Trăng” - kể: “Bãi-Xàu ngày nay rất phồn thịnh vì đây là chợ lúa gạo trong xứ, chỗ dự trữ lúa đợi đủ số có ghe chài vận chuyển lên Chợ-Lớn xay ra gạo cho chúng ta ăn. Lúa miệt đồng Bưng-Xà-Mo, đồng Trà-Thê, đồng Mã-Tộc, Giồng Có, đều qui tụ về đây”, rồi giải thích thêm: “Bãi-Xàu có một tên khác rất nên thơ là làng Mỹ-Xuyên, lấy tên con sông chạy ngang đây nối liền rạch Ba-Xuyên (Sốc-Trăng) ra biển cả, nhưng Mỹ-Xuyên chỉ là danh-từ dùng trên mặt giấy tờ gởi lên quan, chớ dân bản xứ vẫn gọi Bãi-Xàu quen miệng”.
Về ẩm thực quê nhà, cụ Vương miêu tả kỹ càng hơn. Thí dụ như trong bài “Nhớ cá cháy, thèo-lèo, mè-láo là nhớ Hậu-Giang và nhớ Sốc-Trăng”, cụ kể chuyện ăn trứng cá cháy như vầy: “Còn nói về trứng cá cháy, theo ý tôi, trứng cá muối đóng hộp, món ăn đặc biệt của người Nga, gọi caviar, tuy ngon và rất đắt tiền, nhưng không sánh bằng trứng cá cháy và không khoái khẩu dân Việt đâu. Một khứa cá cháy có trứng, kho một lửa, ăn và với bún, ớt xoài chua với một mớ giá đậu xanh lót dưới tô thì đối với hộp caviar tôi không đổi”. Ở cuối bài này, giọng văn của cụ thật là ngậm ngùi, phải chăng bởi thời thế lúc ấy (tháng 9.1966) xứ sở hãy còn chinh chiến: “Nghe đâu con cá cháy cũng ngộ. Còn chiến chinh mãi, cá cháy miệt Đại-Ngãi Trà-Ôn biến đâu mất. Những người ở đó nói với tôi lúc nầy không lưới được con nào. Nó chờ thái bình mới ra mặt. Tuy vậy tôi ráng sống, để chờ một ngày kia hòa bình trở lại, thanh niên ta bớt ham học làm thầy cử thầy kiện và sẽ học nghề nuôi cá cháy để hộp và vô hộp trứng cá cháy bán ra làm món quốc hồn”.                
Huỳnh Kim

Vợ là ...


VỢ LÀ.... (Bài 1)

Vợ là mẹ các con ta
Thường kêu bà xã, hiệu là phu nhân
Vợ là tổng hợp : bạn thân,
Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền...
Vợ là ngân khố, kho tiền
Gởi vô nhanh gọn, hơi phiền rút ra
Vợ là biển cả bao la
Đôi khi nổi sóng khiến ta đắm phà
Vợ là âm nhạc, thi ca
Vừa lá cô giáo, vừa là luật sư
Cả gan đấu khẩu vợ ư ?
Cá ươn không muối, chồng hư cãi "bà" (vợ)
Chồng ơi ! đừng có dại khờ
Không vợ, đố biết cậy nhờ tay ai
Vợ là phước, lộc, thọ, tài ...
Thuộc trăm định nghĩa, trả bài vợ khen.

19 tháng 3, 2013

Đồng bằng sông Cửu Long: Cần cơ chế liên kết mới

Trần Minh Trường
Thứ ba, 05/03/2013, 08:35 (GMT+7)
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, đến nay, tăng trưởng kinh tế vùng của ĐBSCL chưa bền vững, xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu và yếu. Liên kết vùng giữa các địa phương chưa chặt chẽ, trong khi đây là mấu chốt chính thúc đẩy sự phát triển toàn vùng. ĐBSCL đang cần cơ chế liên kết từ Trung ương để giải quyết những yếu kém, bất cập và củng cố nội lực, vượt qua thách thức.
ĐBSCL cần nhiều chính sách hỗ trợ đồng bộ để phát triển nuôi trồng thủy hải sản. Ảnh: T.Kiên
Nhiều khó khăn, lắm vướng mắc
Theo đánh giá của các địa phương, tuy huy động vốn đầu tư toàn xã hội chưa đạt yêu cầu đề ra nhưng đầu tư toàn vùng có bước phát triển mạnh, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi. Các đô thị được nâng cấp, cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ. Nhiều công trình quan trọng được khánh thành và đưa vào sử dụng, góp phần thay đổi diện mạo cho ĐBSCL
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, kinh tế - xã hội ĐBSCL vẫn còn không ít khó khăn. Hiện ĐBSCL có đến 3.328 doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh và tạm dừng hoạt động, tăng 10% so với năm trước; 2 mặt hàng chủ lực quốc gia là lúa gạo và thủy sản vẫn rất bấp bênh.
Theo Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Lê Vĩnh Tân: “Đối với ngành gạo và cá tra, giá thấp, nông dân thiệt đủ đường, các chính sách cho phát triển vẫn chưa sát thực tế. Tình trạng tranh mua, tranh bán của các doanh nghiệp đối với sản phẩm cá tra đã gây thiệt hại lớn cho sản xuất. Do vậy, cần được giải quyết thỏa đáng bài toán sản xuất và tiêu thụ để lập lại trật tự các ngành hàng”.
Bí thư Lê Vĩnh Tân đề xuất Chính phủ tháo gỡ 7 vấn đề, trong đó có những vấn đề nổi cộm như chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng cánh đồng mẫu lớn; cơ chế kết nối giữa người sản xuất với người tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ Đồng Tháp xây dựng đề án tái cấu trúc nông nghiệp.
Trong khi đó, theo Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu Võ Văn Dũng, ngành tôm cũng không ít vướng mắc. Xung quanh tín dụng tôm có nhiều chính sách, nhưng khó đến với nông dân. Thay vì chọn lựa khoanh nợ cũ, cho vay tiếp, song hành với bảo hiểm tôm khi nông dân gặp rủi ro thì ngân hàng lại ngưng cho vay để người dân vay ngoài nên lãi suất cao, khó trả nổi.
Là thành phố trung tâm vùng, Cần Thơ vẫn chưa hết khó khăn. Bí thư Thành ủy Cần Thơ Trần Thanh Mẫn cho biết: Hạ tầng kinh tế của Cần Thơ rất khó: cảng xây rồi nhưng không có luồng tàu; hạ tầng công nghiệp chưa có vườn ươm công nghệ, chưa có công nghệ cao; nguồn nhân lực còn thua so với nhiều vùng khác.
Bí thư Trần Thanh Mẫn kiến nghị Chính phủ tập trung khai thác luồng Định An, khai thác thêm các đường bay từ sân bay Cần Thơ, sớm thi công dự án QL91. Trung ương cần quan tâm đến các bệnh viện ở ĐBSCL, nhất là Cần Thơ. Điển hình như Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ chỉ có 250 giường nhưng thường xuyên phải chữa trị cho hơn 600 - 700 cháu…
Nỗ lực liên kết vùng
ĐBSCL đang cần cơ chế, chính sách thiết thực từ Trung ương để giải quyết 4 vấn đề lớn, gồm: sản xuất và tiêu thụ nông sản; hạ tầng giao thông vận tải; nguồn nhân lực chất lượng cao; liên kết vùng. Đây là những trở ngại chính đối với sự phát triển của ĐBSCL. 
Theo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Thị Xuân Thu, cơ chế chính sách hiện hành cho sự phát triển ngành nông nghiệp còn nhiều bất cập, rõ nhất là chính sách liên kết 4 nhà. Để nông nghiệp phát triển bền vững, Bộ NN-PTNT đang đề xuất Chính phủ ban hành nhiều chính sách, các chính sách này sẽ được thực thi trong năm 2013.
Cụ thể như chính sách đối với sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo (sẽ bỏ quy định máy móc nội địa tỷ lệ 60%); bắt buộc doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải xây dựng vùng nguyên liệu đảm bảo đủ lúa cung cấp ít nhất 15% lượng gạo xuất khẩu trong năm 2013; đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ cho chăn nuôi cá tra, tôm. Bộ sẽ sơ kết thực hiện chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2013 để trên cơ sở đó đề xuất cơ chế mở rộng thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp với cơ chế phù hợp hơn…
Về hạ tầng kinh tế và hạ tầng kỹ thuật, theo Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông, dù bộ mặt giao thông ở ĐBSCL đã có nhiều thay đổi nhưng kết nối rất hạn chế, nhất là luồng cho tàu vào sông Hậu, loay hoay 10 năm qua chưa xong, trong khi đây là lối ra cho hàng hóa nông sản. Kênh Chợ Gạo cũng loay hoay vì thiếu vốn. Trước đây, nguồn vốn phân cấp đầu tư cho hạ tầng giao thông ở ĐBSCL là 12.000-15.000 tỷ đồng/năm, nhưng năm 2012 chỉ có khoảng 6.000 tỷ đồng nên nhiều công trình phải đình hoãn. Trong đó, dự án cải tạo QL 91 từ km 14 tới An Giang chưa bố trí được nguồn vốn.
Để giải quyết vấn đề này, Bộ GTVT đang kiến nghị Chính phủ tập trung nguồn vốn cho những công trình trọng điểm nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng giao thông của khu vực. Tương tự, vấn đề liên kết toàn vùng, trong đó nổi lên liên kết quy hoạch toàn vùng để phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành, quy hoạch lĩnh vực; liên kết đầu tư và liên kết phân bổ vốn đầu tư là yêu cầu cấp thiết, phải triển khai ngay.
Theo Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, liên kết vùng là yếu tố quyết định sự phát triển. Có liên kết sẽ hạn chế đầu tư dàn trải. Các bộ, ngành cần hỗ trợ vùng trong đổi mới, nâng chất lượng giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm. Nhanh chóng đề xuất, sửa đổi một số cơ chế chính sách đã ban hành rồi, nhưng hiệu quả chưa cao và chưa sát thực tế để giúp các địa phương vùng ĐBSCL phát triển bền vững.

VTV.Cần Thơ 1. Cùng chúng tôi đối thoại kỳ 10: NÂNG CAO GIÁ TRỊ HÀNG NÔNG SẢN


Mã số công dân


Công dân Việt Nam sắp có mã số định danh

(Đời sống) - Bộ Tư pháp cho biết, số định danh cá nhân sẽ gồm 12 chữ số, cấp cho mỗi công dân từ khi khai sinh, không thay đổi trong suốt cuộc đời, không lặp lại ở người khác. Dự kiến, việc cấp mã số định danh được triển khai từ tháng 6/2013 đến tháng 5/2014.
Bộ Tư pháp vừa hoàn thành dự thảo đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu quốc gia liên quan đến quản lý dân cư theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ. Dự thảo đề án đang được đưa ra lấy ý kiến góp ý của các cơ quan chức năng.
 
Mã số định danh cá nhân là cơ sở để xây dựng các loại giấy tờ trong một thẻ công dân.
Mã số định danh cá nhân là cơ sở để xây dựng các loại giấy tờ trong một thẻ công dân.
 
Cụ thể, số định danh cá nhân là dãy số gồm 12 chữ số, xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấp cho mỗi công dân Việt Nam từ khi đăng ký khai sinh và gắn với họ đến khi chết, không thay đổi trong suốt cuộc đời (ngay cả trong trường hợp công dân thôi/bị tước quốc tịch Việt Nam, khi được trở lại/nhập quốc tịch Việt Nam, số định danh cá nhân không thay đổi), không lặp lại ở người khác, dùng để xác định dữ liệu thông tin công dân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
 
Trước mắt, Bộ Công an sẽ là đầu mối giúp Chính phủ quản lý kho số định danh cá nhân (trên cơ sở kho số định danh cá nhân Chính phủ đã giao Bộ Công an xây dựng và quản lý).
 
Về giá trị pháp lý, số định danh cá nhân được cấp cho mỗi công dân khi đăng ký khai sinh kể từ ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực. Đối với công dân đã đăng ký khai sinh trước ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực, số định danh cá nhân được cấp khi thực hiện thủ tục cấp mới, đổi, thay thế chứng minh nhân dân hoặc đăng ký thường trú. 
 
Số định danh cá nhân được ghi trên giấy khai sinh và chứng minh thư nhân dân, số này không thay đổi trong suốt cuộc đời công dân; số định danh cá nhân đã cấp cho công dân này thì không sử dụng để cấp cho công dân khác.
 
Số định danh cá nhân là số gốc để truy nguyên chính xác về công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực và được sử dụng làm cơ sở để liên kết các thông tin cá nhân trong các cơ sở dữ liệu ngành, lĩnh vực. Các ngành, lĩnh vực thực hiện quản lý cơ sở dữ liệu ngành thông qua số định danh cá nhân để kết nối, khai thác thông tin công dân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để bảo đảm thống nhất thông tin.
 
Công an cấp huyện, cấp tỉnh có thẩm quyền cấp mã số định danh đối với công dân đã đăng ký khai sinh trước ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực khi công dân thực hiện đăng ký thường trú hoặc cấp mới, đổi, thay thế chứng minh nhân dân. UBND cấp xã cấp số định danh cá nhân cho công dân mới sinh khi đăng ký khai sinh kể từ ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành. 
 
Khi đăng ký khai sinh trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, mã số định danh công dân mới sẽ hình thành để cán bộ hộ tịch lấy số định danh đó ghi trên giấy khai sinh cho công dân. Dữ liệu về số định danh này là thông tin gốc để xác định, liên kết các thông tin khác về công dân.
 
Theo dự thảo đề án, việc cấp mã số định danh công dân sẽ được triển khai từ tháng 6/2013 đến tháng 5/2014.
 
PV. (Lược theo Dân Trí)

Thuế chống bán phá giá cá tra và chuyện “bồ nhà đá nhau trên sân khách”

Trần Hiệp Thuỷ
Việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) vừa áp thuế chống bán phá giá mặt hàng cá tra của doanh nghiệp (DN) Việt Nam (VN) vào thị trường Mỹ tăng hơn 25 lần, chắc chắn có tác động tiêu cực đến sản xuất, chế biến và xuất khẩu (XK) cá tra nước ta. Hiệp hội chế biến, XK thuỷ sản (VASEP) và các DN bị áp thuế cao đang xúc tiến thủ tục khởi kiện DOC lên Toà án Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (CIT), yêu cầu xem xét lại việc chọn Indonesia làm nước thứ ba (thay cho Bangladesh), các sai số trong tính toán để đưa ra phán quyết ... 
Đó là việc phải làm, nhưng quan trọng hơn, là các DN XK nước ta phải đoàn kết, hợp tác tạo ra sức mạnh để đủ sức ứng phó trước những “thủ đoạn” áp thuế chống bán phá giá hay các rào cản kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được các quốc gia sử dụng để “danh chính, ngôn thuận” bảo hộ hàng nội.  
Đây không phải lần đầu tiên, hơn 10 năm trước, ngành cá tra VN đã phải đương đầu với quyết định “áp thuế chống bán phá giá” của Hoa Kỳ. Lịch sử đã lặp lại, nhưng bài học cũ dường như chưa được học thuộc. Ngành kinh tế cá tra VN xuất phát từ vùng sông nước ĐBSCL hơn thập kỷ qua đã tạo ra kỳ tích. Sản lượng tăng hơn 50 lần, kim ngạch XK hơn 65 lần, chiếm 99% thị phần xuất khẩu cá tra toàn cầu. Xét về mặt kinh tế học, ta đang nắm giữ độc quyền cung ứng cá tra cho cả thế giới. Nhưng tại sao “nhà độc quyền” không có quyền quyết định giá bán và làm chủ thị phần? Hai năm qua, ngành cá tra lại ngoi ngóp. Giá cá nguyên liệu bán dưới giá thành, “hiệu ứng đôminô” lây lan, DN, người nuôi, đại lý thức ăn, ngân hàng … nợ nần dây chuyền, chiếm dụng vốn lẫn nhau. Trong cơn khát vốn, nhiều DN XK làm ăn chụp giựt, liên tục chào bán hàng với giá thấp hơn để có tiền xoay vòng và trả nợ. Đó là cái cách bồ nhà chơi xấu nhau trên sân khách”, đã tạo cho nhà nhập khẩu quyền xác lập “giá trần”. “Trần” liên tục hạ đến mức bị xếp vào “bán phá giá”. Ai đã phá giá? Thật bất công cho hàng ngàn hộ nông dân. Chắc chắn không một người nuôi nào muốn bán cá dưới giá thành, nhưng họ đã buộc phải bán khi quyền quyết định thuộc lại thuộc về người khác.
Thách thức từ việc “áp thuế chống bán phá giá cá tra” là chỉ dấu bộc lộ hệ luỵ do phát triển nóng, thiếu qui hoạch, mạnh ai nấy làm; đang đặt ra yêu cầu bức xúc tái cấu trúc lại ngành kinh tế này. “Vấn đề của VN hiện không phải là sợ thừa cá mà là sự phối hợp của các DN và hỗ trợ của các cơ quan nhà nước. Nhà nước và ngân hàng phải có chính sách kéo dài thời gian vay vốn cho DN bị thuế cao để họ không bị áp lực giảm giá bán. Còn người nuôi cá cũng cần gia hạn tín dụng để tránh bán tháo" – ông Dương Ngọc Minh, Phó Chủ tịch VASEP, Tổng Giám đốc Công ty CP Hùng Vương đã nói như vậy. Nhưng bao giờ là tiếng nói chung?
Bài trên BÁO LAO ĐỘNG ngày 19-3-2013 

NÓI YÊU NHAU NÀO CÓ DỄ

Mấy lần định nói yêu em 
Trái tim có đập bình thường nửa đâu
Mới vừa ấp úng vài câu
Tự dưng co duỗi mười đầu ngón tay
Quen nhau đâu chỉ vài ngày
Sao ngồi nói chuyện cứ quay ra hoài
Nói năng chữ rớt chữ rời
Cái ý thì có, cái lời thì không
Dẫu gì anh cũng đàn ông
Muốn quên cái tính ngượng ngùng không xong

Đôi khi nghĩ cũng giận lòng
Nói ít thì ngắn, nói vòng thì lâu
Đào kênh đắp đập đã lâu
Nắng mưa cũng phải cúi đầu chào thua
Cán thương tải đạn bao mùa
Đạn bay pháo dập cũng chừa anh ra
Anh là C trưởng tài ba
Trước em anh cũng vẫn là anh thôi
Lòng anh thì rộng như trời
Lại thêm tảng đá nào đè lên trên
Mừng lòng khiđược gần em
Ngồi lâu một lát giả quên ngó trời
Hiểu giùm anh nhé em ơi !
Cái ngây ngô có chịu rời anh đâu

Đào kênh thì nói bằng leng
Còn với giặc thì bằng AK
Với em anh nghĩ chưa ra
Thôi cho anh khuất thêm ba bảy lần
Dẫu gì cũng chuyện trăm năm
Bây giờ chữ nghĩa có nằm đây đâu
Thôi thì hãy hiểu giùm nhau (?)
Nên chồng nên vợ ngày sau nói bù !
Thanh Nguyên

16 tháng 3, 2013

Tình trắng

Cần Thơ ơi! Hỡi Cần Thơ
Vang bóng ngày xanh phủ bụi mờ
Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm 
Đã xây mồ dưới lớp hoa khô.

Ngã tư Tham Tướng im chân mộng

Đôi guốc mòn luyến cát Tây Đô
Hàng bã đậu cao che mái nắng
Ngồi bên đường đợi tiếng trống vô.
Ngã tư Tham Tướng, Cần Thơ xưa
Đại lộ Hoà Bình ngày xưa là con đường làng
Nhà cổ Bình Thuỷ thời trước
Trường Phan Thanh Giản (College de Can Tho, nay là Châu Văn Liêm) - một trong 2 ngôi trường cổ nhất lục tỉnh , có phải là ngôi trường mà Kiên Giang đã "ngồi bên đường đợi tiếng trống vô"?
Xóm Chài ửng nét duyên thôn nữ
Gió thổi lồng bay áo túi hồng
Cô lái đò ngang cười chúm chím
Thầm trêu hàn sĩ lúc sang sông

Cô bán xôi vàng nghiêng nón lá

Nói thầm trong mắt với thư sinh
"Ráng lo ăn học em mua bán
Thi đỗ đừng quên áo vá manh"

Tàu chạy Phong Điền nhớ Cái Răng

Khói vườn xanh thẳm gợn sông trăng
Câu hò Vàm Xáng thương Ba Láng
Rạch Giá phải lòng gái Sóc Trăng.

Cắm trại Long Tuyền mua vú sữa

Chia em quả mận, trái dừa tươi.
Những ngày nghỉ học lên Bình Thuỷ
Viếng mộ Thủ Khoa hát giữa trời

Bãi trường, tết không tiền về xứ

Ngồi bến xe khuya, ngóng bạn bè
Em lén trao anh tiền bỏ ống
- Nè! Anh lấy đỡ chút tiền xe

Từ đó về quê rồi nghỉ học

Không lần trở lại xứ Cần Thơ
Con đường kỷ niệm mờ xa khuất
Trường cũ không còn đợi trống vô

Mười mấy năm sau anh trở lại

Với tâm hồn bạn thủa đồng song
Hỏi thăm người cũ, người ơn cũ
Mới biết rằng em đã có chồng

Bấm nút chuông reo ngoài cổng đá

Lá me vàng rụng tựa mưa bay
Bỗng dưng khăn trắng ra ngoài ngõ
Ngẫng mặt nhìn anh đứng lặng người

Em dẫn anh ra viếng mộ chồng

Giữa mùa vú sữa mới ra bông
Nhìn anh quỳ trước bia người khuất
Em kéo khăn tang ủ tấm lòng

Đứa nhỏ gọi anh bằng tiếng chú

Ngậm ngùi viết vội mấy vần thơ
Từ đây xin gọi em bằng chị
Đừng kể nhau nghe mộng học trò

Tiễn anh ra cổng với khăn tang

Với đứa con thơ, với lá vàng
Với chút tiền xe chưa trả lại
Với tình bạn cũ vẫn cao sang

Thôi nhé từ đây cách biệt rồi

Chị vào nuôi dạy trẻ mồ côi
Lâu lâu tôi viết thư thăm chị
Chị đọc hồn tôi giữa bụi đời

Nếu có đến nhà thăm chị nữa

Tôi mời thầy cũ xuống Tây Đô
Thăm cô trò gái thành sương phụ
Để khóc triền miên tuổi học trò

Kiên Giang

Màu tím hoa sim


HỮU LOAN
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

15 tháng 3, 2013

Trách nhiệm

Vài lời tầm phào: Bài này khá hay, trên trang 1, mục SỰ KIỆN & VẤN ĐỀ báo SGGP, nhưng có chi tiết không chính xác. Không phải từ năm 2008, ở Việt Nam đã đồng loạt đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng phương tiện xe máy" mà theo Nhị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29-6-2007 của Chính phủ Về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, thì "Từ ngày 15 tháng 9 năm 2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên các quốc lộ bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm. Từ ngày 15 tháng 12 năm 2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm" Xem lại văn bản tại đây. Nếu viết có tính ước lượng theo năm, thì phải ghi là "từ cuối năm 2007".
Thứ năm, 14/03/2013, 06:07 (GMT+7)
Năm 2008, Việt Nam đã làm cả thế giới ngạc nhiên khi toàn dân đồng loạt đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng phương tiện xe máy. Những tưởng bước khởi đầu suôn sẻ ấy sẽ nhanh chóng trở thành một nền nếp tốt, một nét đẹp văn hóa giao thông của người Việt và hơn hết sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện tình trạng tử vong, chấn thương sọ não vì tai nạn giao thông. Ấy vậy mà, đã 5 năm qua, đội nón bảo hiểm vẫn là câu chuyện nóng bỏng với nhiều ngóc ngách, tiểu tiết ngày càng phức tạp. Hóa ra, việc đội nón bảo hiểm để bảo vệ chính mình vẫn chưa phải là nhận thức của đông đảo người dân. Vì thế mới nảy sinh ra tình trạng rất nhiều người dân đội nón bảo hiểm chỉ để đối phó với công an, vì thế mới có con số rất đáng giật mình - 70% số người đội nón bảo hiểm dỏm.
Và cũng từ đó, thị trường nón bảo hiểm dỏm ra đời, hoành hành ngang dọc khắp mọi miền đất nước, cả vùng sâu vùng xa, nơi đời sống người dân còn nghèo khó, dân trí còn thấp và cả ở những đô thị lớn, mặt bằng dân trí cao, đời sống tốt hơn như Hà Nội, TPHCM. Kết quả là, theo thống kê từ các bệnh viện, dù số người đội nón bảo hiểm vẫn nhiều, lên tới hơn 90%, thế nhưng tỷ lệ chết hoặc di chứng nặng nề do chấn thương sọ não lại giảm không đáng kể.

Câu chuyện đang ngày càng trở nên phức tạp hơn khi cơ quan chức năng kiên quyết thực hiện chủ trương đội nón bảo hiểm với việc tăng cường xử phạt còn người dân vẫn tiếp tục tìm cách đối phó. Sau rất nhiều tranh cãi và sau một thời gian dài loay hoay xung quanh việc khó xử phạt người đội nón bảo hiểm giả, vì không có thiết bị xác định nón thật, nón giả, vì không có chế tài, đáng mừng là cuối cùng các cơ quan chức năng đã nhận ra một điều hết sức quan trọng. Đó là muốn xử lý tình trạng nón bảo hiểm dỏm không cách nào khác là phải xử lý tận gốc, từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông rồi cuối cùng mới là người sử dụng.

Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng trong cuộc họp về dự thảo lần 3 Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt cũng đã nhấn mạnh, việc nhận biết nón bảo hiểm thật hay giả là việc của cơ quan chức năng chứ không phải của người dân, đó thực sự là sự thay đổi về nhận thức trong xử lý vấn đề của các cơ quan chức năng. Mới đây, 4 bộ: GTVT, Công thương, Công an và KH-CN cũng đã có dự thảo Thông tư liên bộ về quy định sản xuất, kinh doanh, sử dụng nón bảo hiểm, dự kiến sẽ có hiệu lực từ tháng 4-2013. Thông tư nhằm mục tiêu xử lý mạnh mẽ tình trạng nón bảo hiểm giả từ khâu sản xuất, kinh doanh tới tiêu dùng. Từ 15-3 tới, sẽ triển khai đồng loạt trên cả nước việc kiểm tra buôn bán, vận chuyển, sản xuất nón bảo hiểm. Thủ tướng Chính phủ cũng vừa có chỉ thị yêu cầu các tỉnh TP xử lý nghiêm tình trạng bày bán nón bảo hiểm dỏm tràn lan trên vỉa hè… Ủy ban ATGT quốc gia cũng cho biết, từ 15-3 đến 15-6-2013, Ủy ban ATGT quốc gia sẽ triển khai chiến dịch tuyên truyền về nón bảo hiểm đạt chuẩn, nhằm giúp người dân phân biệt nón bảo hiểm thật - giả. Bởi chỉ có xử lý triệt để tình trạng sản xuất, kinh doanh nón bảo hiểm dỏm, việc đội nón bảo hiểm mới mang lại hiệu quả thực sự, mang lại sự an toàn cho người dân.

Câu chuyện nón bảo hiểm vẫn đang tiếp tục được bàn thảo. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn hành vi sản xuất, kinh doanh, sử dụng nón bảo hiểm giả, cần tiếp thu ý kiến người dân để khi “luật hóa” sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống. Câu chuyện nón bảo hiểm một lần nữa lại khiến chúng ta phải suy nghĩ về trách nhiệm của cơ quan công quyền cũng như trách nhiệm của mỗi công dân. Với các cơ quan công quyền, không phải cứ muốn tốt cho dân mà người dân thuận tình, vấn đề quan trọng hơn vẫn là làm cách nào, lộ trình ra sao để phù hợp thực tiễn cuộc sống người dân, để đa số người dân dễ dàng hưởng ứng. Bên cạnh đó, người dân cũng cần nhận thức rõ hơn trách nhiệm với chính bản thân và gia đình, phối hợp với cơ quan công quyền trong việc mang lại sự bình an cho chính mình. 
BÍCH QUYÊN

Tận dụng tiềm năng đầu tư vùng ĐBSCL


(Chinhphu.vn) - Các địa phương khu vực ĐBSCL có sự cải thiện năng lực cạnh tranh tương đối đồng đều chứng tỏ có sự chia sẻ thực tiễn hiệu quả, lãnh đạo địa phương tích cực đồng hành cùng doanh nghiệp. Chính sự hợp tác này làm cho khu vực ĐBSCL ngày càng có bước phát triển ấn tượng.


Ảnh: VGP/Thu Giang
Đây là ý kiến của PGS.TS Edmund Malesky-Trưởng Nhóm tư vấn Năng lực cạnh tranh Việt Nam tại Hội nghị giới thiệu môi trường đầu tư vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các tỉnh  khu vực ĐBSCL phối hợp tổ chức chiều 14/3.
Đại diện các địa phương giới thiệu môi trường kinh doanh đầu tư tại địa phương và đối thoại với các nhà đầu tư. Các địa phương khu vực ĐBSCL đều cho thấy những thế mạnh riêng của mình. 
Tỉnh An Giang nằm ở biên giới Tây Nam của Việt Nam thuộc vùng đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông thủy khá thuận lợi, có cảng Mỹ Thới đạt chuẩn quốc gia và dự định khai thác cửa luồng Định An và Quan Chánh Bố có thể đón các tàu lên tới 15.000 tấn.
Tỉnh Bạc Liêu với lợi thế 56 km bở biển lại có lợi thế phát triển nuôi trồng thủy sản, phát triển kinh tế biển, có  cảng cá đa năng và khu kinh tế Gành Hào và các khu dịch vụ kỹ thuật hậu cần nghề cá, nuôi tôm công nghiệp. Tỉnh Bến Tre lại có lợi thế về vị trí khá gần TP.Hồ Chí Minh (86km), việc đi lại không quá 2h đồng hồ tạo lợi thế trong việc giao dịch.
Kinh tế vườn và kinh tế biển cũng là một thế mạnh của tỉnh. TP Cần Thơ là 1 trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm khu vực ĐBSCL là một cực  thúc đẩy kinh tế vùng phát triển với các thế mạnh về kết cấu hạ tầng với các cảng Cần Thơ, Trà Nóc, Cái Cui, sân bay tiêu chuẩn quốc tế, chuẩn bị xây dựng Trung tâm điện lực Ô Môn.
Các tỉnh tỉnh ĐBSCL cũng có thế mạnh phát triển các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao theo chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân. Đồng thời với địa hình thiên nhiên ưu đãi, đặc thù của miền Tây Nam Bộ, dịch vụ du lịch rất có tiềm năng phát triển mạnh thu hút hàng chục triệu lượt khách mỗi năm. Để phục vụ nhu cầu thu hút đầu tư, các tỉnh ĐBSCL cũng quy hoạch nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu…
Các địa phương khu vực ĐBSCL cũng cam kết đồng hành với các nhà đầu tư với phương châm “thân thiện, trách nhiệm, một cửa”, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch các chính sách kế hoạch sử dụng đất, các hồ sơ, thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư. Các địa phương khu vực này đều có các huyện thuộc địa bàn kinh tế xã hội thuộc diện ưu đãi đầu tư ở các mức khác nhau. Cụ thể,  thuế TNDN tại các huyện biển có kinh tế khó khăn là 10%, miễn thuế 4 năm và giảm 50% từ năm thứ 5 đến năm thứ 9, các huyện có chính sách ưu đãi khác là thuế 20% trong 10 năm, được miễn 2 năm và giảm 50% từ 2-4 năm tùy lĩnh vực dự án đầu tư.
Dù đạt được thành công bước đầu nhưng điều đáng lưu ý là luồng FDI vào khu vực này chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những vấn đề cần cải thiện chính là khoảng cách từ khu vực sản xuất tới thị trường, kết nối hạ tầng giao thông, viễn thông vẫn cần phải cải thiện. Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực, lực lượng lao động qua đào tạo nghề còn khá thấp, dịch vụ việc làm còn hạn chế.
PGS.TS Edmund Malesky phân tích sở dĩ đạt được nhiều tiến bộ một phần do lãnh đạo địa phương khu vực này rất năng động, chủ động, đồng hành với doanh nghiệp. Việc tiếp cận đất đai thuận lợi và lãnh đạo tỉnh rất quan tâm cải thiện cơ sở hạ tầng. Các địa phương khu vực ĐBSCL có sự cải thiện năng lực cạnh tranh tương đối đồng đều chứng tỏ có sự chia sẻ thực tiễn hiệu quả. Chính sự hợp tác này làm cho khu vực ĐBSCL ngày càng có bước phát triển ấn tượng. Tuy nhiên, để trở thành vùng kinh tế, sản xuất lương thực, thủy sản và du lịch trọng điểm của cả nước, các tỉnh trong vùng cần có những giải pháp đột phá để thu hút đầu tư, không chỉ từ nước ngoài mà còn từ các nhà đầu tư trong nước.
Tại Hội nghị, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI cũng cho rằng nếu so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) theo khu vực thì các tỉnh ĐBSCL luôn đứng hàng đầu cả nước, chiếm 3/5 vị trí dẫn đầu: Đồng Tháp (thứ 1), An Giang (thứ 2), Vĩnh Long (thứ 5). Đây thực sự là những con số khích lệ thu hút đầu tư.
Huy Thắng