26 tháng 7, 2016

Xuất nhập khẩu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Còn nhiều thách thức

QĐND - Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng mở ra nhiều cơ hội cho xuất nhập khẩu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tuy nhiên, để đẩy mạnh xuất khẩu trong tình hình hiện nay đòi hỏi các cấp, các ngành chức năng cần kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; đa dạng hàng hóa và thị trường xuất khẩu, đồng thời đưa ra nhiều giải pháp mang tính chiến lược.
Nhiều khó khăn trong xuất khẩu
Trong những năm gần đây, các sản phẩm nông, thủy sản xuất khẩu đóng góp quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, góp phần nâng cao thu nhập, đời sống của người dân. ĐBSCL hiện đóng góp gần 41% giá trị sản xuất nông nghiệp, gần 70% kim ngạch xuất khẩu thủy sản, 90% sản lượng gạo xuất khẩu. Hai mặt hàng chính góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu chung của ĐBSCL là thủy sản và lúa gạo. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu chưa thật sự bền vững và tương xứng với lợi thế, tiềm năng vốn có.
Thống kê 6 tháng đầu năm 2016, ĐBSCL đã xuất khẩu 2,65 triệu tấn gạo, giảm 1,99% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo Hiê%3ḅp hô%3ḅi Lương thực Viê%3ḅt Nam (VFA), 6 tháng cuối năm ĐBSCL dự kiến xuất khẩu 3 triệu tấn, giảm 14% so với năm 2015. Riêng mặt hàng thủy sản có chiều hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2015. Các mặt hàng xuất khẩu tập trung vào 3 thị trường lớn là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản, với 2 mặt hàng có tỷ trọng áp đảo là thủy sản và gạo. Đây cũng là những nền kinh tế hàng đầu thế giới, nhưng các rào cản thương mại, kỹ thuật cũng rất cao. Áp lực từ thị trường nhập khẩu, cạnh tranh về giá, hàng rào phi thuế quan, thuế chống bán phá giá… cùng với những biến động của thị trường thế giới là những thách thức lớn đối với tình hình xuất nhập khẩu của ĐBSCL.
Về mặt hàng lúa gạo, theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, nhìn chung, sản xuất lúa gạo của nông dân ĐBSCL vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Chuỗi giá trị lúa gạo vẫn còn nhiều khâu trung gian và phụ thuộc lớn vào thương lái… Theo ông Huỳnh Thế Năng, Tổng giám đốc Vinafood II, Chủ tịch VFA: “Thách thức mà ĐBSCL gặp phải trong xuất khẩu lúa gạo hiện nay là do thị trường lúa gạo thế giới ngày càng cạnh tranh gay gắt, nhất là chính sách tự túc lương thực của các quốc gia nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam như Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a... Trong khi đó, tổ chức sản xuất ở ta lại chậm đổi mới, cơ sở hạ tầng nông thôn, hậu cần (logistics), dịch vụ, khoa học-công nghệ phục vụ sản xuất còn bộc lộ nhiều yếu kém”.
Với mặt hàng thủy sản, ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định: “Xuất khẩu thủy sản thời gian qua còn bị ảnh hưởng nặng nề do các rào cản kỹ thuật và vấn đề bảo hộ ngành hàng của nước nhập khẩu. Nhất là cá tra và tôm vào thị trường Mỹ, Nhật, EU… Ngoài ra, điểm yếu trong xuất khẩu thủy sản của ĐBSCL là chưa tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích trong chuỗi giá trị ngành hàng, từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ. Bên cạnh đó, sản phẩm chế biến còn đơn điệu; nhiều doanh nghiệp chưa thiết lập được hệ thống phân phối sản phẩm tại các thị trường nước ngoài; công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam chưa được đầu tư đúng mức; tác động của các chính sách vĩ mô như tiền tệ, thuế...”.
Đổi mới sản xuất, đẩy mạnh liên kết 
Để nâng cao giá trị xuất nhập khẩu tại ĐBSCL, nhiều ý kiến cho rằng, việc tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng gạo và thủy sản là rất cần thiết. Bởi đây là những mặt hàng chiến lược về lợi thế vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, thời gian tới cần lưu ý chuyển từ xuất khẩu "thô" sang đầu tư chế biến sâu cho các mặt hàng gạo và thủy sản để mang lại giá trị cao; đồng thời tăng cường xuất khẩu các sản phẩm khác mà vùng ĐBSCL có lợi thế, nhất là trái cây tươi, các loại rau quả, nông sản chế biến.
Cũng theo ông Trần Thanh Hải, việc tìm giải pháp xuất khẩu cho nhóm hàng nông, thủy sản đòi hỏi hệ thống các giải pháp đồng bộ, mang tính chiến lược từ Chính phủ, bộ, ngành Trung ương, các địa phương, các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp. “Trong thời gian tới, ĐBSCL cần tập trung thực hiện hiệu quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo. Tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nhất là công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm nông, thủy sản, phát triển thị trường xuất khẩu, kịp thời cập nhật các thông tin tại các thị trường và cung cấp tới các doanh nghiệp để có phương án đa dạng và nâng cao giá trị sản phẩm theo đúng thị hiếu, nhu cầu tại các thị trường”, Ông Hải cho biết.
Nhận định về tình hình xuất khẩu gạo ở ĐBSCL thời gian qua, ông Huỳnh Thế Năng cũng cho rằng: “Các doanh nghiệp cần có sự liên kết chặt chẽ trong xuất khẩu gạo nhằm tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới; đồng thời phải có sự can thiệp của Nhà nước thông qua việc hỗ trợ sản xuất lúa, đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, cung cấp dịch vụ công, hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu và ký kết hợp đồng nông sản…”.
Đưa ra những giải pháp ngắn, trung và dài hạn cho tình hình xuất nhập khẩu tại ĐBSCL, cũng theo ông Trần Hữu Hiệp, ĐBSCL cần tập trung tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho nguồn cung nguyên liệu, vốn kinh doanh, xuất khẩu; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại… “Một thời gian dài, chúng ta mải mê với ngôi vị “cường quốc xuất khẩu gạo thô” vốn có rất ít giá trị gia tăng, trong khi nhiều quốc gia kém lợi thế hơn đang chọn con đường sáng tạo là phát triển các ngành công nghiệp sau gạo như thực phẩm tiêu dùng gồm: Dầu ăn, sữa gạo, thức uống dinh dưỡng... hay ngành dược, mỹ phẩm, ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, thủy sản... Đã đến lúc ĐBSCL phải thúc đẩy mạnh mẽ hơn các ngành công nghiệp phụ trợ, hình thành các ngành công nghiệp mới sau gạo và tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu...”, ông Hiệp nhấn mạnh.
 Bài và ảnh: THÚY AN


“Làm mới” HTX để nhà nông bớt thua thiệt

Chúc LyDescription: http://streaming1.danviet.vn/images/2014/icon-dot1.png
(Dân Việt) Đề án thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới tại ĐBSCL giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu xây dựng được các mô hình HTX kiểu mới gắn sản xuất với tiêu thụ trong các chuỗi giá trị nông sản và có khả năng nhân rộng ở các tỉnh, thành ĐBSCL.
Hôm qua (14.7), tại Hậu Giang, Bộ NNPTNT phối hợp Bộ KHĐT, Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, UBND các tỉnh, thành ĐBSCL tổ chức Hội nghị triển khai Đề án thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới tại ĐBSCL giai đoạn 2016-2020.
Tăng lợi ích cho nông dân
Theo Bộ NNPTNT, hiện toàn vùng ĐBSCL có 1.242 HTX nông nghiệp (trong đó có 38% HTX có hiệu quả hoạt động khá, 30% HTX trung bình và 32% HTX yếu kém). Đề án đặt mục tiêu củng cố và phát triển khoảng 300/1.242 (chiếm 30%) HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả trong 3 lĩnh vực- lúa gạo-trái cây-thủy sản; tập trung thí điểm hoàn thiện mô hình HTX, Liên hiệp HTX với các thành viên là HTX thành viên và các hộ nông dân, thực hiện từ 2016-2020.
Cụ thể, đối với mỗi loại mô hình thí điểm cần thực hiện theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ năm 2016-2017): Thí điểm hoàn thiện mô hình HTX; giai đoạn 2 (từ năm 2017- trở đi): Thí điểm hoàn thiện mô hình Liên hiệp HTX lúa gạo quy mô tỉnh; giai đoạn 3 (từ  2018- 2020 và sau đó): Thí điểm hoàn thiện mô hình Liên hiệp HTX lúa gạo, trái cây, thủy sản quy mô vùng.
Theo ông Nguyễn Văn Đoàn – Vụ trưởng Vụ HTX, Bộ KHĐT, sau 2 năm hoạt động kể từ ngày hoàn thành việc xây dựng mô hình thí điểm, Bộ NNPTNT sẽ cùng Bộ KHĐT phối hợp Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, các cơ quan liên quan, các địa phương trong vùng sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, đồng thời xây dựng phương án nhân rộng trong phạm vi toàn vùng và cho cả nước.
Không nên “hành chính hóa” các HTX
Chia sẻ tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Đồng – Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Hậu Giang, cho biết: “Quá trình chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX 2012 vẫn còn gặp một số khó khăn như: Nhận thức của cán bộ và người dân về vai trò, tầm quan trọng của kinh tế HTX trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa chưa sâu sắc. Nhiều HTX còn lúng túng trong định hướng hoạt động và đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, chưa có sản phẩm dịch vụ tốt để đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa; thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa HTX và các thành viên…”.
“Nghị định 55 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định không yêu cầu có tài sản thế chấp nhưng phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các HTX không thể tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng. Vì thế, đề nghị các HTX nông nghiệp nên xem xét phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả để cho vay” – ông Đồng đề xuất.
Ông Lê Đức Thịnh – Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ NNPTNT) thông tin: “Trong thí điểm củng cố các HTX, việc phát triển, mở rộng liên kết sản xuất và đẩy mạnh mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản là nội dung quan trọng. Phải làm sao tăng cường hỗ trợ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị giữa HTX với các doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp xây dựng phát triển vùng nguyên liệu, cánh đồng lớn; hỗ trợ quảng bá thương hiệu, nhãn mác sản phẩm; gắn kết các chương trình khuyến nông, chương trình đào tạo nghề, mô hình thực hành nông nghiệp tốt”.
Về vấn đề này, ông Trần Thanh Nam – Thứ trưởng Bộ NNPTNT cho rằng: “Về số lượng HTX được lựa chọn để làm thí điểm, trong các cuộc họp chuyên ngành sắp tới sẽ tiếp tục bàn. Tuy nhiên, bao nhiêu cũng phải làm chắc và có hiệu quả. Về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ở các HTX thí điểm, chúng tôi đề xuất đào tạo gắn với kỹ sư khuyến nông ở cơ sở. Bên cạnh đó, không nên chọn cán bộ xã về làm cán bộ quản trị HTX vì chúng ta không nên hành chính hóa HTX, mà phải chính xác với thực tế người nông dân.
“Quyết định triển khai Đề án xây dựng HTX kiểu mới phải được gắn với quyết định liên kết vùng và thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị. Đồng thời phải suy nghĩ đến ý tưởng thí điểm mô hình các chợ đầu mối, trên cơ sở vùng sản xuất để làm một chợ đầu mối đảm bảo cung ứng đầu vào, đầu ra cho sản xuất” – ông Trần Thanh Nam nói. 
Ông Nguyễn Văn Đồng – Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Hậu Giang:“6 không” nên khó vay 
Các HTX nông nghiệp khó tiếp cận được các nguồn vốn từ các ngân hàng, tuy ngành ngân hàng cũng rất muốn cho HTX vay vốn nhưng đa số các HTX không đáp ứng được các yêu cầu. Hiện nay các HTX nông nghiệp rơi vào tình trạng “6 không” nên không thể vay vốn, đó là: Không có trụ sở, vốn điều lệ quá nhỏ coi như không vốn, không có phương án sản xuất kinh doanh, không có sổ sách ghi chép, không hợp đồng bao tiêu và không có uy tín.
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ: Chọn sản phẩm theo điều kiện đặc thù địa phương
Việc chọn lựa 3 dòng sản phẩm chủ lực là lúa gạo, thủy sản và trái cây để thực hiện là hợp lý, tuy nhiên, tùy vào điều kiện đặc thù của từng địa phương có thể sẽ lựa chọn những dòng sản phẩm khác. Việc lựa chọn số lượng HTX để thực hiện thí điểm, tôi rất đồng tình với việc chúng ta phải tổ chức khảo sát, đánh giá trên cơ sở tự nguyện làm. Thứ 2 là xét tới điều kiện cơ sở sản xuất của địa phương có đáp ứng với yêu cầu của ngành hàng đó không. Thứ 3 là sự quyết tâm của địa phương và sự sẵn sàng của các ngành. 
Chúc Ly (ghi


22 tháng 7, 2016

Biến dạng đồng tiền

Trần Hữu Hiệp
SGGP, thứ tư, 20/07/2016
Từ ngày 18-7, Công ty TNHH MTV Xổ số điện toán VN (Vietlott, đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính) hợp tác cùng Tập đoàn Berjaya (Malaysia) chính thức phát hành vé xổ số tự chọn Mega 6/45 tại hơn 800 điểm bán hàng trên toàn quốc. Không chịu chậm chân “làm giàu” cho người chơi bằng phương thức thủ công, đơn vị này cũng đã có kế hoạch phục vụ chơi số tự chọn qua kênh các thiết bị đầu - cuối điện thoại, máy tính.

Xổ số tự chọn là loại hình xổ số mà người mua được quyền lựa chọn những con số, những lô ưa thích để tham gia dự thưởng. Kết quả trúng thưởng được xác định ngay sau khi quay số mở thưởng vé số truyền thống. Trong khi “nền kinh tế tiền mặt” của chúng ta đang bị chi phối bởi nhiều hoạt động giao dịch, khó kiểm soát; ý thức một bộ phận không nhỏ người dân, nhất là người nghèo còn nhiều hạn chế, thì sẽ có rất nhiều người sa vào các kiểu chơi xổ số mới này.
Một vài chuyên gia cho rằng kiểu chơi này không chỉ góp phần lớn tăng thu ngân sách, mà còn ngăn được tệ nạn lô đề nhức nhối, và còn dự báo những đóng góp tích cực của nó cho nền kinh tế, cho xã hội, đáp ứng nhu cầu hội nhập với thế giới cũng như phù hợp với sự phát triển văn minh trong cộng đồng. Sự thật có phải như vậy, hay chính việc cổ vũ cho hình thức tự do đỏ đen này sẽ làm phát sinh nhiều hệ lụy, làm méo mó diện mạo đồng tiền, kéo theo những hệ lụy khôn lường?
Không thể phủ nhận, xổ số là ngành kinh doanh siêu lợi nhuận, hấp dẫn nhà đầu tư, là nguồn thu quan trọng trong điều kiện ngân sách eo hẹp. Nhưng đó chỉ là mặt tích cực của “đồng tiền kinh tế”, còn mặt tiêu cực ở đâu? Nhìn ở góc độ xã hội, sẽ có bao nhiêu gia đình tán gia bại sản khi tình trạng “lô đề quốc doanh” được cổ vũ rộng khắp? Nếu làm bài toán “chi phí và lợi ích” thì được hay mất?
Đành rằng, có thể sử dụng phần lớn từ nguồn thu xổ số để tái đầu tư cho các công trình y tế, giáo dục, xây dựng nông thôn mới..., nhưng có bao nhiêu đồng tiền bị chảy qua các chi phí trung gian như lương khủng của giám đốc, các cán bộ quản lý, hệ thống đại lý, hay các kiểu tài trợ của các công ty xổ số kiến thiết cho “cán bộ sắp nghỉ hưu đi học tập kinh nghiệm nước ngoài”?

Kiểu chơi xổ số mới đã được phơi bày công khai, khó cưỡng. Hậu quả như thế nào, phụ thuộc ở chất lượng quản lý nó sắp tới để đồng tiền không bị biến dạng hơn; không để người nghèo, nhất là người nghèo đô thị, nông thôn dốc sạch túi cho những canh bạc đang được hợp thức hóa!
TRẦN HỮU HIỆP


16 tháng 7, 2016

Nghèo đa chiều, giàu một chiều

Trần Hữu Hiệp
(TBKTSG) - Một báo cáo gần đây của tổ chức phi chính phủ quốc tế - Oxfam International, được trích dẫn: 1% dân số thế giới hiện nắm nhiều tài sản hơn 99% dân số còn lại. Tài sản của 62 người giàu nhất thế giới trị giá khoảng 1.760 tỉ đô la Mỹ, bằng tổng số tài sản một nửa dân số thế giới. Năm năm qua, giá trị tài sản của 62 người này đã tăng lên 44%, ngược lại tổng tài sản của 3,5 tỉ người nghèo trên thế giới giảm xuống 41%.
“Dân giàu, nước mạnh” là mục tiêu của các quốc gia trên thế giới. Làm giàu chính đáng rất cần được khuyến khích. Loài người vẫn đang phấn đấu cho một thế giới khá giả hơn, giàu có hơn, nhưng quan trọng hơn là dân chủ, công bằng. Tất nhiên, những khái niệm đó, tùy lúc, tùy nơi, có nội hàm khác nhau, nhưng bất bình đẳng giàu - nghèo không phải là mong đợi của một xã hội văn minh.

Chênh lệch giàu - nghèo là một thực tế. Nó vẫn đang tồn tại, đáng lo ngại hơn khi khoảng cách đang gia tăng với tốc độ nhanh. Vẫn theo Oxfam, ước có khoảng 7.600 tỉ đô la Mỹ của những người giàu hiện đang được cất giấu ở các thiên đường thuế. Chỉ riêng việc “đánh thuế công bằng”, các chính phủ có thể thu về khoảng 190 tỉ đô la Mỹ mỗi năm, gần bằng GDP của Việt Nam. Đó sẽ là nguồn lực không nhỏ để tiếp tục thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ giảm nghèo của Liên hiệp quốc.
Trông người mà ngẫm đến ta. Nguồn thu từ thuế của quốc gia chắc chắn sẽ tăng hơn nhiều, chăm lo cho người nghèo sẽ nhiều hơn, nếu không xảy ra tình trạng “lời thật, lỗ giả” của các ông lớn đầu tư vào Việt Nam để né thuế. Các ông chủ Thái đã nhanh chóng điều hành Big C, khi thủ tục thuế từ thương vụ mua bán hệ thống bán lẻ thuộc loại lớn này ở Việt Nam còn chưa hoàn tất. 500 triệu đô la Mỹ là khoản tiền đền bù được phía Formosa nhanh chóng đưa ra sau khi bị xác định là nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường, cá chết hàng loạt ở miền Trung, nhưng số thuế mà họ đã đóng góp cho đất nước này được bao nhiêu, vẫn còn là “lời hứa” của cơ quan chức năng.
Mặc dù đạt được thành tựu ấn tượng về giảm nghèo, nhưng khoảng cách giàu - nghèo đang là một thách thức lớn. Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% cao nhất so với nhóm 20% thấp nhất cả nước năm 1990 là 4,1 lần, năm 1995 là 7 lần, năm 2004 là 8,4 lần, đến năm 2010 là 9,2 lần. Mức chênh lệch này đang tăng lên khoảng 10 lần.
Nông nghiệp sáng tạo, nông dân khởi nghiệp, doanh nhân hóa nông dân, rất cần được cụ thể hóa bằng hành động cụ thể, thiết thực, phải đến được với nông dân, phải là hoạt động thực tiễn ở nông thôn.Box phải
“Kỳ tích hạt gạo” đã đưa nước ta từ một quốc gia thiếu lương thực, chỉ sau vài năm tham gia xuất khẩu trở lại đã chiếm vị trí hàng đầu của một cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới. Nông dân - phần lớn là hộ thu nhập thấp thuộc diện nghèo, cận nghèo - đã đóng vai trò quan trọng tạo ra kỳ tích đó. Nhưng nghịch lý khi tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở “vựa lúa miền Tây” chưa giảm tương ứng với tỷ lệ tăng sản lượng lúa được cha mẹ chúng làm ra. Người nông dân không định được từ giá thành đến giá bán các sản phẩm nông nghiệp của mình. Thu nhập của người tạo ra kỳ tích cho nền nông nghiệp Việt Nam vẫn đang bấp bênh theo giá cả thị trường.
Chúng ta đang dùng thang đo “nghèo đa chiều” thay cho “tiêu chí thu nhập” đơn điệu để tìm kiếm công bằng hơn. Nhưng đáng lo ngại khi trong thực tế xuất hiện tình trạng “không muốn thoát nghèo” vì những bất hợp lý trong chính sách. Khoảng cách giàu - nghèo càng bị đẩy ra xa hơn do những nghịch lý như cơ chế vận hành Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT). Người nghèo ở khu vực nông thôn, miền núi, dân cư phân tán, đi lại khó khăn nên khi có bệnh, ít được đến các cơ sở y tế điều trị. Quỹ BHYT ở những nơi này thường kết dư lớn. Ngược lại, ở thành phố luôn bội chi Quỹ BHYT. Nghịch lý “người nghèo bù đắp chi phí cho người giàu” trong khám, điều trị bệnh bằng BHYT đã được mổ xẻ. Song, đó chưa phải là nghịch lý duy nhất của tình trạng “người giàu - người nghèo”.
Nghèo đa chiều, nhưng người giàu dường như đang đi theo một chiều: số ít không ngừng gia tăng khoảng cách, bỏ xa số đông người nghèo. “Nghịch lý” đó đang đặt ra bài toán cần lời giải tổng thể từ cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội, các giải pháp, cách thức thực thi. Người nghèo cần được định vị lại cuộc mưu sinh bền vững hơn. Việc “sắp xếp lại 16 chương trình mục tiêu quốc gia trước đây thành hai chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới cũng nhằm hướng đến điều đó. Nhưng thách thức vẫn còn đang ở trước mặt khi mà còn các địa phương đang “chạy theo thành tích”, “vung tay quá trán” tiền ngân sách, huy động quá mức sức dân để “sớm về đích nông thôn mới” trong khi người dân vẫn còn nghèo.
Cần có nhiều hơn nữa các cơ chế, chính sách hỗ trợ người nghèo thiết thực hơn và thực thi có hiệu quả hơn. Các vấn đề đất đai, khoa học kỹ thuật  cho sản xuất hàng hóa lớn ở khu vực nông nghiệp, nông thôn đang cần sự sửa đổi cực kỳ mạnh dạn để chuyển đổi nông nghiệp sang một mô hình khác, chứ cứ lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ, một ít chính sách hỗ trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật, rồi trộn lẫn với chính sách giảm nghèo có tính đối phó, theo đuôi thiệt hại như vừa qua, thì rõ ràng là “không ăn thua”.
Người nông dân cần được giải phóng gánh nặng bằng kiến thức của người kinh doanh. Đào tạo nghề nông nghiệp, tập trung nâng cao giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, đào tạo nghề phi nông nghiệp để chuyển nghề và tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp sáng tạo, nông dân khởi nghiệp, doanh nhân hóa nông dân, rất cần được cụ thể hóa bằng hành động cụ thể, thiết thực, phải đến được với nông dân, phải là hoạt động thực tiễn ở nông thôn.
Những đòi hỏi khắc nghiệt từ cuộc sống luôn là bài toán khó. Nhưng với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta không thể để tình trạng nghèo đa chiều, giàu một chiều, khoảng cách giàu - nghèo ngày càng nghiêm trọng hơn!