31 tháng 5, 2012

‘Mặc váy’ bê tông cho cây sưa

 
.



<>
Những người quản lý vườn hoa Nam Cao, TP Phủ Lý (Hà Nam) vừa có sáng kiến độc đáo: đổ bê tông quanh gốc để bảo vệ cây sưa.

Mỗi khối bê tông có hình dáng, kích cỡ như một ống cống được đặt theo chiều thẳng đứng từ gốc lên đến ngang thân cây sưa.
Hàng cây sưa tại vườn hoa Nam Cao, TP Phủ Lý (Hà Nam) đã được đổ bê tông quanh gốc - Ảnh: Thái Bình
Hàng cây sưa tại vườn hoa Nam Cao, TP Phủ Lý (Hà Nam) đã được đổ bê tông quanh gốc - (Ảnh: Thái Bình)
Ông Nguyễn Bá Đoàn, bảo vệ vườn hoa, cho biết cả vườn có khoảng 25 cây sưa (7-8 năm tuổi), nhưng gần hai năm qua bốn gốc sưa lớn nhất đã bị kẻ xấu đốn hạ.

Cũng theo ông Đoàn, mặc dù đã đổ bê tông quanh gốc sưa nhưng có lần “sưa tặc” canh lúc đêm bẩy cả ống cống lên để luồn cưa vào cưa gốc khiến cây đổ làm vỡ cả ống cống (do ống cống xây không có móng)... “May mà lực lượng bảo vệ vườn hoa phát hiện đánh động,  “sưa tặc” mới tháo chạy và không kịp mang cây sưa vừa hạ ra khỏi hiện trường” - ông Đoàn kể.

Trước đây, Hà Nội cũng từng có sáng kiến bảo vệ cây sưa bằng cách “mặc váy” bằng thép cho sưa.
Theo Thái Bình
Tuổi Trẻ

Tháo lồng cho hòn đá bị giam

Vài lời: Hòn đá đã được tháo lồng, nhưng "Tư duy lồng sắt" vẫn đóng. Thực ra đây là cuộc "di lý" hòn đá về trại giam mới mà thôi.
Ngày 29.5, lãnh đạo H.Chư Sê (Gia Lai) đã quyết định tháo lồng, di lý hòn đá sau gần 1 tháng “tạm giam” tại sân trụ sở UBND huyện về nơi quản lý mới.
Như Thanh Niên thông tin, Đoàn kiểm tra liên ngành của H.Chư Sê đã tiến hành cưỡng chế, tạm giữ 3 hòn đá của ông Lê Hùng Dũng và bà Trần Thị Sắc ở xã H’Bông vào hai ngày 28 và 29.3. Cuộc cưỡng chế, với sự có mặt của Phó chủ tịch UBND huyện này là ông Lê Đình Huấn, cuối cùng bất thành vì sự phản đối của ông Dũng và đông đảo người dân. Sau đó, đá đã bị tẩu tán đi đâu không rõ. Do vậy, UBND H.Chư Sê không có cơ sở xử lý vì không xác định được chủng loại đá.
Chiếc lồng sắt trở nên vô dụng sau khi hòn đá được giải thoát
Chiếc lồng sắt trở nên vô dụng sau khi hòn đá được giải thoát - Ảnh: Trần Hiếu
Riêng hòn đá của bà Sắc bị đưa lên xe về trụ sở UBND H.Chư Sê và sau đó bị “giam” trong một cái lồng sắt. Đến hôm qua, hòn đá này mới được tháo lồng, “di lý” về trụ sở Ban Công trình đô thị và vệ sinh môi trường H.Chư Sê. Ông Lê Văn Minh, trưởng ban, nói rằng: “Chúng tôi có lực lượng trực 24/24 nên hòn đá để ở đây sẽ rất an toàn. Để ở trụ sở UBND huyện thì không an toàn lắm vì chỉ có một bảo vệ nên rất khó, canh người ngay chứ ai canh được kẻ gian…”. Trước đó, các ngành chức năng của Gia Lai kết luận sẽ tịch thu hòn đá của bà Sắc vì cho rằng vận chuyển khoáng sản trái phép.
Giải thích lý do làm lồng sắt “giam” hòn đá, ông Nguyễn Hồng Linh, Chủ tịch UBND H.Chư Sê, nói: “Khuôn viên của UBND huyện đang xây dựng nên chúng tôi cho làm lồng sắt là để bảo vệ tang vật. Chúng tôi lo rằng có ai đó sẽ lén đập phá hay đập lấy một cục nhỏ để đem về chơi vì đá khá mềm”. Về hướng xử lý tiếp theo, ông Linh cho biết, huyện sẽ báo cáo lên UBND tỉnh xin ý kiến, hoặc để làm cảnh ở một công trình công cộng hoặc bán đấu giá. Ông Linh cho rằng với chủng loại này, hòn đá (khoảng 3.000 kg) có giá khoảng 180.000 đồng/kg. Trong khi đó, Liên đoàn Địa chất bản đồ miền Nam xác định mẫu đá của bà Sắc là loại đá bán quý casidol. Đây là loại đá có khá nhiều ở H.Chư Sê, không phải là loại đá cảnh độc đáo hoặc có giá cao.
Sáng cùng ngày, Đoàn kiểm tra liên ngành của huyện cũng đã họp kiểm điểm trách nhiệm những tập thể, cá nhân liên quan trong việc để mất 2 hòn đá tại nhà ông Lê Hùng Dũng. Sau cuộc họp, Trưởng phòng TN-MT H.Chư Sê Nguyễn Đình Viên cho biết: “Chúng tôi tự nhận và chịu sự phê bình của UBND huyện, tỉnh về vụ việc này, đồng thời rút kinh nghiệm sâu sắc. UBND xã H’Bông cũng bị phê bình khi để mất đá, do đó không có cơ sở xử lý 2 hòn đá của ông Dũng”.
Trần Hiếu

Để con cá tra chiến thắng trên đường đua xanh

Bài cuối: Đưa cá tra trở lại bầy đàn
Trần Hữu Hiệp
PGS.TS Nguyễn Văn Sánh, Giám đốc Viện Nghiên cứu - Phát triển ĐBSCL, ưu tư: “Con cá tra đang bị người ta chặt ra làm 3 khúc. Khúc đầu cho nhà phân phối nước ngoài đưa lên bàn ăn với giá trị ước khoảng 15 - 17 USD/kg. Khúc giữa cho các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu (XK) fille khoảng 3,2  đến 3,4 USD/kg. Người nuôi chỉ được khúc đuôi từ 1,2  đến 1,4 USD/kg. Đây là “phần ăn” lắm xương. Người nông dân trước nguy cơ chịu rủi ro mất trắng, dịch bệnh, ô nhiễm nguồn nước, môi trường”.
Nhắm đích, vượt đường đua
Đề án cá tra ĐBSCL đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, xác định mục tiêu: “Đến năm 2015, sản lượng cá nguyên liệu đạt 1,8 triệu tấn, sản phẩm XK đạt 750 nghìn tấn, tiêu thụ nội địa 150 nghìn tấn; giá trị kim ngạch XK đạt 2,2 tỉ USD, tạo việc làm cho 23 vạn lao động”.
Đến cuối năm 2011, sản lượng cá tra đạt hơn 600.000 tấn, giá trị kim ngạch XK hơn 1,8 tỉ USD. “Đế ngư nước ngọt” đang bơi trong chặng về đích. Nhưng thực trạng phát triển thì ai cũng biết, nhất là trước yêu cầu phát triển bền vững. Giá trị của ngành sản xuất cá tra mang lại rất lớn, nhưng thử hỏi trong kim ngạch 1,8 triệu USD XK được, thì người nuôi nhận được bao nhiêu %? Vấn đề không phải là số lượng đạt được mà “chuỗi giá trị” và phân phối lợi nhuận đang có vấn đề. Con cá tra được “chặt ra làm nhiều khúc” là điều bình thường trong cơ chế thị trường, khi có sự “phân công lao động” theo “chuyên môn hóa” ở từng công đoạn. Nhưng vấn đề là liên kết các “mắt xích” lại, và quan trọng hơn là sự phân chia công bằng và làm sao cho từng khúc cá đó to hơn, ngon hơn.
Nhiều ý kiến đề xuất, nên quy định việc sản xuất, kinh doanh thủy sản là hoạt động có  điều kiện. Đề xuất giải pháp quy hoạch lại vùng nuôi và quản lý quy hoạch hiệu quả hơn sau cơn “thoi thóp” của cá tra hiện nay. Phải tổ chức lại sản xuất và tăng cường quản lý nhà nước về giống, thức ăn và chế biến, XK cá tra. Cần luật  hóa  những  quy  định  như giá sàn XK, cơ chế đàm  phán giá, mức phí XK, sử dụng quỹ phát triển XK, tăng cường hoạt động thực chất của hiệp hội ngành nghề... Chắc chắn điều đó chưa đủ sức cho con cá tra trong chặng đua mới khi một số quốc gia Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonesia đang nỗ lực phát triển ngành kinh tế này, sẽ đến lúc trở thành những đối thủ đáng gườm. Theo PGS.TS Sánh, muốn giải bài toán này phải liên kết vùng, thương hiệu hóa và luật hóa “luật chơi” trong “sân chơi cá tra” để các doanh nghiệp VN ứng xử và liên kết lại, đủ sức cạnh tranh với bên ngoài. Phải có lộ trình “cải tổ” ngành sản xuất cá tra theo hướng “liên kết chuỗi giá trị ngành hàng”; phát huy vai trò của hiệp hội ngành hàng này trong câu chuyện cá tra VN, tiến tới thành lập sàn giao dịch cá tra hoạt động thực chất và hiệu quả. Một dự án Phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra do các nhà khoa học đồng bằng xây dựng với sự hỗ trợ của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đang đệ trình Chính phủ và các bộ, ngành tung ương đang mở ra nhiều kỳ vọng mới.
Tín hiệu xanh trên đường bơi
Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đưa cá da trơn chất lượng cao và các sản phẩm chế biến từ cá da trơn vào danh mục thuộc Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020. Thực ra, vấn đề này đã được đề đạt từ nhiều năm qua. Đề án liên kết vùng phát triển 3 sản phẩm chủ lực của ĐBSCL; trong đó có cá tra, lồng ghép đào tạo nghề thực chất theo nhu cầu tại chỗ do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp các viện, trường và địa phương đệ trình Chính phủ đã được chuẩn bị rất công phu mấy năm qua. Nhiều giải pháp thực tiễn được đề xuất để liên kết vùng bằng những tiến bộ khoa học, công nghệ và trợ giúp của cơ chế, chính sách, luật pháp, dựa trên các nguyên lý phát triển vùng kinh tế, phương pháp quản trị theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực ... Tất nhiên, đường đi phía trước còn dài. Liên kết vùng đối với một sản phẩm quốc gia, đã vươn xa tầm quốc tế như cá tra là một yêu cầu bức bách, là cách thức để đưa cá tra Việt Nam trở lại bầy đàn mạnh mẽ hơn trong cuộc đua mới.

30 tháng 5, 2012

Độc đáo chùa Khmer Nam Bộ

(VOV) - Cộng đồng người Kh'mer miền Tây Nam Bộ luôn coi chùa là không gian văn hóa tâm linh, tinh thần, tôn giáo độc đáo riêng.

CTV Vũ Thanh/VOV online
Chùa luôn chiếm một vị trí trang trọng trong tâm thức mỗi người dân Khmer cho nên luôn được xây dựng bề thế, tôn nghiêm và mang đậm nét văn hóa Kh’mer điển hình với những nét chạm khắc tinh tế, công phu.
Những mái cong, nóc nhọn, những ngọn tháp cao vút trong một không gian xanh bề thế của những vườn cây xanh mát. Những hình tượng, họa tiết tinh xảo mang đậm nét văn hóa Kh’mer có nguồn gốc từ Campuchia được hòa trộn với văn hóa bản địa của người Việt tạo nên những hình thái kiến trúc văn hóa “Chùa Kh’mer” độc đáo.
Đối với cộng đồng người Việt ở miền Tây Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung, chùa Kh’mer đã trở thành một di sản văn hóa, tinh thần độc đáo, một đặc sản của Việt Nam đối với du khách bốn phương./.

Phật giáo có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống cộng đồng người Kh'mer Nam Bộ.



Chùa Chén Kiểu có kiến trúc riêng độc đáo với những mảnh sứ được ghép một cách tinh tế tạo nên hoa văn trên những bức tường bao quanh gian chính điện.


Chùa Dơi có kiến trúc Kh'mer điển hình và nổi tiếng với khu vườn là nơi sinh sống của loài dơi khổng lồ duy nhất tại Việt Nam.


Những ngôi chùa Kh'mer có kiến trúc độc đáo với ngói lợp nhiều mầu sắc và những họa tiết tinh xảo.


Những họa tiết hình đầu rắn trên các mái chùa có chi tiết rất tinh xảo và được sơn màu vàng sặc sỡ.


Hình ảnh các vị thần ở đầu vì kèo các mái chùa.


Phần chóp của những ngọn tháp.


Rắn là hình tượng được sử dụng phổ biến trong kiến trúc chùa Kh'mer


Những cầu thang dẫn lên gian chính điện ở các chùa Kh'mer đều được trang trí với hình ảnh phù điêu rất tinh xảo.


Những bức tranh bích họa về cuộc đời và quá trình tu thành chính quả của đức phật Thích Ca luôn mang tính giáo dục sâu sắc về đức hướng thiện cho con người.


Những giá trị tôn giáo mang tính giáo dục nhân văn sâu sắc luôn có vị trí tôn nghiêm trong cộng đồng người Kh'mer Nam Bộ...


...và trong chính những ngôi chùa của họ.

Hậu trường thú vị phim Đồng Quê

Thứ ba, 29 Tháng 5 2012 15:29 (GMT+7)
(TGĐA) - Phát sóng lúc 17h30 hàng ngày trên HTV9 kể từ 11/5/2012.
Chủ Chiếu là một tay điền chủ giàu có, tham lam, độc ác, có máu dê khiến vợ chồng Tư Lộ phải bỏ điền trốn đi. Chẳng may qua sông gặp nạn, vợ con Tư Lộ chết mất xác. Tư Lộ bèn gia nhập vào băng cướp của Nữ Chủ. Cùng lúc mẹ con thím Hai Hậu đến thuê mảnh đất mà Tư Lộ để lại và lọt vào “tầm ngắm” của Chủ Chiếu. Hai Nghĩa (con thím Hai) là một thanh niên chất phác, tánh tình cương trực, lại đàn giỏi hát hay nên các cô gái đều mê, trong đó cả cô Ba con Chủ Chiếu. Bị cha mẹ ép gả cho con trai một gia đình giàu có, không thể chấp nhận, cô Ba đành bỏ nhà ra đi… Bên cạnh đó, sau sự cố Chủ Chiếu lén lút báo Hương quản Thân cho lính truy đuổi, bắn bị thương, mối thù của Tư Lộ với Chủ Chiếu càng thêm nung nấu…  
22 tập phim Đồng quê của đạo diễn Lê Phương Nam được xây dựng dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Phi Vân, phản ánh đời sống cơ cực của người nông dân Nam Bộ thời thực dân phong kiến, phải sống dưới sự áp bức bóc lột của bọn cường hào ác bá đia chủ bấy giờ, cùng những phong tục tập quán của vùng Đồng bằng Sông Cửu long- Cà Mau - Bạc Liêu vào những năm 1930-1945 và công cuộc mưu sinh trên vùng đất phương Nam nước Việt. Bối cảnh bộ phim được quay tại Cà mau, Long An, Bình Dương, Phước Hải (Đồng Nai), Bến Tre,  Cần Giờ.
IMG_8677
Đậm đà điệu lý tình quê
Lịch sử miền tây Nam bộ gắn liền với ca cổ, với những điệu hò tình quê. Phim Đồng quê có rất nhiều đoạn ca cổ, những bài vọng cổ đến nhịp 16, nhất là khi nhân vật chính- Hai Nghĩa- lại là một người vừa biết đàn kìm vừa biết hát. Ngay khi chọn diễn viên, đạo diễn đã “nhắm” vào những người có chất giọng tương đối tốt, có khả năng cảm được cái hồn của bài hát, dù rằng chỉ nhép miệng theo bài hát đã được thu play back sẵn. Cho nên, các diễn viên chính như Ngọc Hùng, Phương Khánh…đều phải dành thời gian tập dượt rất kỹ, để hát cho đúng khẩu hình và không bị rớt nhịp.
hanh_thuy
Vượt lên chính mình
Phương Khánh, Minh Thảo, nhất là Đình Toàn lần đầu làm quen với sông nước, ruộng đồng, phải dầm mưa dãi nắng học cắt lúa, đập lúa, chẻ lát, chèo xuồng…y như nông dân thật. Còn Hạnh Thúy, trước khi quay, nhờ bà ngoại dạy cho ăn trầu để vào vai bà Chủ Chiếu đanh đá.
“Vịt kêu đồng” Ngọc Hùng thì đã quá quen với thể loại phim đồng quê, nên không ngại đường xa ngồi trên chiếc 50 phân khối từ Sài Gòn chạy xuống Cần Giờ, đèo thêm cô bạn Phương Khánh ở gần nhà.
Dinh_Toan_vai_Tinh_va_Ngoc_Hung_vai_Hai_Nghia
Phim quay ròng rã 7 tháng trời, nên Ngọc Hùng có thời gian nuôi râu tóc cho đúng hình ảnh của nhân vật, mà không cần phải gắn râu giả.
Khổ vì chiếc… chiếu
Cũng như đàn anh Đình Toàn, Phương Khánh (từng tham gia phim Nụ hồng bóng đêm, Bảo mẫu thời @, Cá cược cuộc đời, Màu xanh đôi mắt, Cưới ngay kẻo lỡ) cũng phải chật vật làm quen với sông nước trước khi vào phim. Lúc tập chèo xuồng thì có thầy theo giám sát, nhưng khi quay cảnh Yến gặp Hai Nghĩa, cô vẫn bị té xuống sông, uống nước quá bẩn, muốn ói mà cũng không dám vì đang quay, sợ bị đạo diễn la.
image24
Cảnh Yến và Nghĩa hôn nhau, đạo diễn tinh tế “bỏ nhỏ” Ngọc Hùng nên “chủ động” cho Phương Khánh đỡ ngượng. Chỉ chạm môi thôi, mà cô nàng cũng cảm thấy lúng túng, không ngờ đúng theo ý đồ của đạo diễn: gái quê thời đó ngại vậy là đúng!
Trong phim có cảnh thím Hai (mẹ Hai Nghĩa) và Yến dệt chiếu, được quay tại Đồng Nai. Đoàn nhờ bà Út chuyên dệt chiếu “phụ đạo” cho Hoài An và Phương Khánh. Nhìn thì đơn giản, nhưng khi bắt tay vào làm, thì cả Hoài An lẫn Phương Khánh đều ê chề, vì…khó quá, có sợi dây mà luồn mãi cũng không xong. Thế là hai chị em đành phải nhắm mắt xuôi tay cố nhớ vài động tác để lên hình như người làm chiếu chuyên nghiệp.
Khi Minh Thảo múa võ
Không chỉ phải học gánh lúa, đánh xe bò, cắt lúa, các điệu hò giao duyên, Minh Thảo còn phải học múa roi, đi quyền cho ra cô Én, con của võ sư Hai Hóa. Nhưng nhờ có căn bản Taekwondo từ nhỏ mà cô học rất nhanh. Tuy vậy, lúc quay cảnh Én dợt võ cùng Ất, do phối hợp không ăn ý, khi Minh Thảo phang vô chân Ất, Thanh Danh nhảy chậm một bước, trúng đòn của Minh Thảo đến rướm máu.
ngoc_hung
Biên kịch: Nguyễn Trọng Nghĩa  
Đạo diễn: Lê Phương Nam
Biên tập: Nguyễn Tường Phương
DOP: Đặng Phúc Yên 
Thiết kế mỹ thuật: NSƯT Lê Trường Tiếu
Âm nhạc: NS Ngọc Sơn
Diễn viên: Ngọc Hùng (Hai Nghĩa), Đình Toàn (Tình), Nguyễn Hậu (Chủ Chiếu), Hạnh Thúy (vợ Chủ Chiếu), Minh Thảo (Én), Phương Khánh (Yến), Châu Kha (Cô Ba), Lê Bình (thầy Cao Đệ), Hoài An (thím Hai Hậu, mẹ Hai Nghĩa), Thạch Kim Long (Tư Lộ), Trung Hậu (Nữ Chủ), Cao Thanh Danh (Ất), Mai Hoàng Chung (Sửu)...

Giang Trúc