29 tháng 2, 2012

"CHẨN BỆNH", "KÊ TOA" CHO GIÁO DỤC MẦM NON ĐBSCL

Trần Hữu Hiệp
Ngày 7.1, tại TP.Vị Thanh (Hậu Giang), Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (BCĐ TNB), Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), UBND tỉnh Hậu Giang phối hợp cùng 12 tỉnh, thành trong vùng tổ chức Hội thảo “Giáo dục mầm non ĐBSCL - thực trạng và giải pháp”. Nhiều ý kiến tâm huyết của nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và lãnh đạo địa phương đã tập trung “chẩn bệnh” để “kê toa” cho giáo dục mầm non trên “vùng trũng” giáo dục của cả nước.
Dấu hiệu “suy dinh dưỡng”

Theo báo cáo của Bộ GDĐT, toàn vùng hiện có 1.687 trường mẫu giáo, mầm non, nhà trẻ, tăng 275 trường so với năm học 2006-2007, trong đó trường công lập chiếm 90%. Tuy nhiên, toàn vùng ĐBSCL còn 215 xã chưa có trường MN độc lập, 769 phòng học tạm, 3.316 phòng học nhờ, mượn, chiếm tỉ lệ 27,5%, cao hơn nhiều so bình quân cả nước (18,8%). Đặc biệt, tiến độ xây dựng trường MN đạt chuẩn quốc gia rất chậm (mới đạt 10%). Ở tỉnh mới Hậu Giang, có 675 phòng học MN thì đến 115 là phòng học tạm bợ, tre lá và 130 là phòng học bán kiên cố đã xuống cấp trầm trọng, khiến các em phải học nhờ, học tạm tại 189 phòng học không phù hợp đặc điểm lứa tuổi. Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn nhiều thiếu thốn khiến việc triển khai đại trà chương trình GDMN mới gặp phải nhiều khó khăn. Tình trạng trường MN “4 không” (điện, nước, nhà vệ sinh, sân chơi) còn rất phổ biến. Tỉ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường MN thấp hơn cả Tây Nguyên, Tây Bắc.

28 tháng 2, 2012

VỤ TIÊN LÃNG, CÓ THỂ KỶ LUẬT “HỘI ĐỒNG XÉT XỬ 2 CẤP” NHƯ MỘT SỐ BÁO ĐƯA TIN?

Vừa qua, một số báo (ảnh) đưa tin cơ quan chức năng “Xem xét kỷ luật Hội đồng xét xử 2 cấp” (cấp sơ thẩm và phúc thẩm) vụ kiện hành chính đất đai ở xã Quang Vinh, huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng. Có thể “kỷ luật Hội đồng xét xử” này được không, thử xem qui định của pháp luật.

Theo các Điều: 35, 128, Điều 192. Luật Tố tụng Hành chính, thì Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm nhân dân (trường hợp đặc biệt có 2 Thẩm phán và 3 Hội thẩm nhân dân); cấp phúc thẩm gồm 3 Thẩm phán đều do Chánh án phân công Thẩm phán giải quyếtHội thẩm nhân dân tham gia. Ngoài Thẩm phán là công chức, Hội thẩm nhân dân không nhất thiết phải là CBCC. Hội đồng xét xử chỉ “xuất hiện” gắn với một vụ án hành chính nhất định, không phải là một “tổ chức hành chính”. Có thể từng thành viên của Hội đồng bị xem xét chịu các hình thức kỷ luật hành chính tương ứng theo qui định, nhưng không thể “Kỷ luật Hội đồng xét xử”. Phải không?
Tham chiếu:
Luật cán bộ, công chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP) quy định riêng cụ thể các hình thức kỷ luật đối với CBCC như sau:
- Đối với cán bộ, có 04 hình thức kỷ luật là: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ) và bãi nhiệm.
- Đối với công chức, có 04 hình thức kỷ luật đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc; đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có 06 hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Theo qui định mới này đã bỏ hình thức kỷ luật hạ ngạch và thêm hình thức kỷ luật giáng chức (đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị xuống chức khi chưa đến mức bị cách chức”)

CÀ MAU VỚI CÁI NHÌN 300 NĂM TRƯỚC

Theo Hồng Hạnh (http://namkyluctinh.org)/
Một góc Trung tâm khi 1điện đạm Cà Mau
Trong lúc đi tìm mọi cứ liệu liên quan đến 300 năm khai phá, khẩn hoang miền Tây, chợt nghĩ - Cà Mau cách Sài Gòn hơn 300 cây, nghe nói mỗi năm mũi đất chót vót này được bồi thêm vài chục thước nữa. Vậy liệu 300 năm trước khi Sài Gòn đã định hình phố xá? Cà Mau đã có trong bản đồ chưa? Liệu hồi đó mũi đất này ra sao?
CÀ MAU vốn được xem là xứ sở của những lưu dân đi khai khẩn, mở đất. Mọi người gắn cho Cà Mau những danh xưng - “vùng đất trẻ”, “bãi phù sa mới bồi tụ”... Trong “Tiểu giáo trình địa lý xứ Nam Kỳ” (Petit cours Géographie de la Basse - Cochinchine) của Trương Vĩnh Ký ấn hành năm 1875, có đoạn: “... đa phần đất đai miền này là thứ đất phù sa gồm bùn và cát do tác động của dòng nước đem tới, rồi bị ngăn chặn hoặc giữ lại bởi rễ của các thứ cây đước, vẹt, dà, bần...”. Thế nhưng, qua những giai thoại, những câu chuyện dân gian thì nào chỉ có vậy. Tất cả đã phủ lên vùng đất vốn bí hiểm này những dấu hỏi đậm chất sử thi. Liệu lịch sử của vùng đất này sẽ bắt đầu từ đâu.

Từ những trang địa bạ hiếm hoi
Đã có lần tôi đặt câu hỏi này với nhà sử học Nguyễn Đình Đầu - tác giả công trình “Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn” – ông đã không trả lời ngay. Ông cho rằng, khi nghiên cứu lại lịch sử, nhất thiết phải đi theo dòng lịch sử của cha ông đi khẩn hoang với những di tích lịch sử cụ thể. Điều đặc biệt, những di tích ở đây không chỉ là những giá trị vật chất như đình chùa, miếu mạo. Di tích đó còn là những giá trị tinh thần như mô hình làng xã, mối dây ràng buộc các thế hệ. Có vậy mới có một cái nhìn về lịch sử khách quan nhất.
Theo những tư liệu hiếm hoi để lại thì “công cuộc đạc điền” quy mô nhất vài ba trăm năm trước được tiến hành suốt 31 năm, từ Gia Long năm thứ tư (1805) đến Minh Mạng năm thứ 17 (1836) mới hoàn thành. Triều đình Huế còn giữ 10.044 tập địa bạ, gồm 16 ngàn quyển trong tổng số 18 ngàn xã, thôn lúc bấy giờ - điểm đáng quý những bản này đều là bản chép tay, không có bản thứ hai. Địa bạ quyển sổ ghi chép và mô tả từ tổng quát đến chi tiết địa phận của làng. Theo đó, chúng ta có thể hình thành được một bản đồ địa lý thật sự cho làng, xã đó. Qua những tài liệu hiếm hoi đó cho thấy, nước Đại Việt lúc bấy giờ là một xứ nông nghiệp, sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, lấy xã thôn làm đơn vị cơ sở. Từ đầu thế kỷ thứ 19, thống nhất về mặt hành chính từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, gồm 18 ngàn làng với các tên gọi như xã, thôn, phường, giáp, điếm, ấp, lân, trang, trại, man, sách... Riêng Nam Kỳ, đến năm 1835 được chia làm 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên (nay là Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu). Rất may là Địa bạ tỉnh Hà Tiên vẫn còn đủ 35 tập gồm 144 quyển, đều được lập năm 1836. Qua địa bạ, lúc này Hà Tiên là một tỉnh đất rộng mà thưa dân nhất nước, chưa được “khẩn hoang, lập ấp triệt để”. Hai tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu nằm trên toàn bộ huyện Long Xuyên (tổng Long Thủy có 23 làng và tổng Quảng Xuyên có 9 làng) và trên một phần đất của huyện Vĩnh Định thuộc tỉnh An Giang cũ.
Riêng Cà Mau, lúc bấy giờ tuy là vùng đất mới bồi tụ nhưng đã có nhiều vị trí, nhiều tài nguyên rất đáng chú ý và được liệt kê cụ thể ở các địa bạ. Hòn Khoai (Pulo Obi) lúc bấy giờ có tên gọi là Đảo Vu, dân dã thì gọi là Ba Tiêu Viên (vườn chuối - có lẽ nơi đây chuối mọc bạt ngàn). Đảo Vu rộng ước vài mươi dặm, có suối treo, nước ngọt, bốn màu không khô cạn, thuyền buôn các nước qua lại phải đậu ở đây để lấy củi, nước. Thông thường thuyền nào đến trước rồi chạy đi nơi khác buôn bán phải khắc chữ vào một thẻ cây để lại cho thuyền khác đến sau biết tin tức. Cũng theo Địa bạ, biển Cà Mau lúc bấy giờ có nhiều cồn, vực sâu và rất nổi tiếng với những sản vật như: hải sâm, đồi mồi, hàu, sò, tôm, cá cơm, ốc tai voi... Cà Mau cũng có rất nhiều bảo lũy, cửa tấn. Thủ sở Bình Giang (theo ông Nguyễn Đình Đầu có lẽ ở ngay thành phố Cà Mau bây giờ) là nơi quan yếu, có đặt thủ ngự trú phòng.
Các cửa tấn quan trọng như  Bồ Đề, Tam Giang, Hiệp Phố (tục danh Phú Cáp - gọi Bảy Háp hay Bảy Hợp thì đúng hơn), Hoàng Giang (nguyên tên Đốc Huỳnh - vàm Ông Đốc). Lúc đó, cả tỉnh Hà Tiên chỉ có 3 chợ lớn, quan trọng.
Dây chuyền Nhà máy đạm Cà Mau
Điều lạ là ngoài 2 chợ Mỹ Đức (nay thị xã Hà Tiên) và Sái Phu (tục danh là chợ Rạch Giá) chợ còn lại là chợ Hoàng Giang (chợ Sông Đốc hiện nay). Cách đây mấy trăm năm, nơi đây thường xuyên có thuyền buôn tụ tập, quán xá đông đúc. Tên Ông Đốc lấy từ tên Đốc Huỳnh, dân thường gọi là Đốc Binh. Tương truyền đây là Tân Khánh Huỳnh - một vị tướng của Nguyễn Ánh, không thấy tên họ trong chính sử. Từ đó mà có tên sông Đốc Huỳnh, Huỳnh Giang, chợ Hoàng Giang. Vào năm 1929 có tên xã Tam Khánh (Khánh An, Khánh Lâm, Khánh Bình) có lẽ có liên quan đến những danh xưng kể trên.
Cũng theo địa bạ thì lúc bấy giờ ở Cà Mau có rất nhiều lâm tẩu (rừng chằm, rừng sác), rộng nhất là rừng U Minh có nhiều đước, sú, nhất là tràm. Dân địa phương làm nghề ăn ong, những làng làm nghề đó gọi là “thuộc hoàng lạp” được miễn các loại thuế khác nhau chỉ nộp sáp ong vàng. Có đến 33/44 làng thuộc huyện Long Xuyên phải chịu nộp thuế hoàng lạp “bản huyện lệ trưng phong sào thuế ngạch” (huyện nhà ra lệ ngạch thuế khai thác tổ ong). Có vậy cũng đủ thấy sản vật lúc bấy giờ như thế nào. Một điểm đáng chú ý khác, 44 xã của huyện Long Xuyên lúc đó có diện tích thực canh gần 2 ngàn mẫu nhưng chỉ có 4 chủ điền, Cà Mau bây giờ có một đó là Nguyễn Văn Cường (thôn Tân Hưng, tổng Quảng Xuyên). Hà Tiên, nhưng ngoài chủ điền kể trên, các chủ điền khác chỉ sở hữu khoảng độ 10 - 20 mẫu. Hãy thử xem một mẫu địa bạ xưa: “Tân Đức thôn, ở xứ Thị Huy: Đông giáp địa phận các thôn: Tân Thuộc, Tân Xuyên, Tân An. Tây giáp thôn Đại Hữu có rạch Thủy Liễu làm giới. Nam giáp các thôn Tân Xuyên, Tân An và sông Khơ Mao. Bắc giáp địa phận thôn Tân Ngãi. Sơn điền mới khẩn 47.3.1.0 (47 mẫu, 3 sào, 1 thước). Dân cư thổ (đất để dân chúng ở) 2.8.5.0. Đất hoang nhàn 2 khoảnh, rừng chằm 3 khoảnh có chịu lệ thuế tổ ong của huyện. Thôn trưởng: Nguyễn Văn Bình (ấn ký). Dịch mục: Huỳnh Văn Nghĩa (điểm chỉ)”.

Tìm lại dấu xưa
Không chỉ ở những trang địa bạ hiếm hoi được tìm thấy, nhiều tư liệu khác cũng nói rất nhiều về xứ Cà Mau những ngày mới khẩn khoang, lập ấp. Ngược dòng lịch sử một chút, sau khi chiếm toàn bộ Nam Kỳ, ngày 5-1-1876, Đô đốc Duperrae ra nghị định phân chia 6 tỉnh Nam Kỳ thành 19 tiểu khu hành chính. Và đến 18-12-1882, Thống đốc Le Myre Vilers ra nghị định lấy một phần đất của hai tiểu khu Sóc Trăng, Rạch Giá lập thêm tiểu khu Bac Liêu với viên chủ tỉnh đầu tiên là Lamothe de Carrier. Đến ngày 20-12-1889, toàn quyền Paul Doumer lại Chủ điền này được xem là sở hữu ruộng đất nhiều nhất cả tỉnh Hà Tiên với 80 mẫu. Cần nói thêm toàn tỉnh Hà Tiên chỉ có 5 chủ điền ngoài 4 của huyện Long Xuyên (3 ở Bạc Liêu, 1 ở Cà Mau) chỉ có 1 ở đổi khu thành tỉnh - lúc bấy giờ tỉnh Bạc Liêu chỉ có hai quận Vĩnh Lợi và Cà Mau. Và còn rất nhiều lần tách nhập khác, mãi đến năm 1947, quận Phước Long thuộc tỉnh Rạch Giá cũ nhập vào Bạc Liêu và quận Cà Mau thành tỉnh mới. Cà Mau lúc bấy giờ có 6 quận: Quản Long, Thới Bình, Sông Ông Đốc, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn. Đến ngày 25-10-1956 đổi tên thành tỉnh An Xuyên.
Theo một tài liệu khác của hai tác giả biên khảo khá nổi tiếng trước đây là Nghê Văn Lương và Huỳnh Minh - cuốn “Cà Mau xưa” - đã đề cập đến mốc thời gian sớm hơn. Theo đó, vào cuối thế kỷ 17, Mạc Cửu dẫn một số người Trung Hoa bài Thanh phục Minh đến xứ Hà Tiên, tụ hội những lưu dân khẩn hoang lập nên 7 xã dọc theo bờ biển và 2 xã cực Nam là Rạch Giá và Cà Mau. Đến năm 1714, Mạc Cửu đã dâng phần đất này cho chúa Nguyễn và Mạc Thiên Tứ - con trai Mạc Cửu - đã vâng lệnh triều đình để lập ra đèo Long Xuyên (ở vùng Cà Mau nay) mang tính chất tổ chức quân sự. Năm Gia Long thứ 7 (1808) đã đổi ra huyện Long Xuyên. Lúc bị Tây Sơn đánh đuổi, vua Gia Long đã trú ngụ tại đây. Theo ông Huỳnh Minh, thì tại Cà Mau có rất nhiều địa danh gắn với tích xưa. Như Cái Tàu (xã Khánh An) có “Nền công chúa” - chôn cất một nàng công chúa chạy theo Nguyễn Ánh. Tại Cái Rắn (xã Phú Hưng) có “Ao ngự” - gần đồn dựng binh của vua Gia Long và nghi là nơi cung cấp nước ngọt cho vua. Kế đó vẫn còn những địa danh mang tên rạch “Long Ẩn”, xóm “Long Ẩn”.
Nhưng dù có đổi tên gì đi nữa thì dân các xứ vẫn rất ấn tượng với miền cuối đất qua danh xưng Cà Mau. Cà Mau hiểu theo một nghĩa nào đó là đọc trại từ “Khơ Mau” - xứ nước đen. Dân cố cựu diễn giải, hồi đó ở xứ này đước, tràm, vẹt rụng xuống đầy sông mục nát tạo nên màu đen cố hữu cho các kênh, rạch. Đường từ Sài Gòn về Cà Mau lúc bấy giờ dài 346 cây số nhưng chỉ có 6 thước bề ngang. Mãi đến lúc đó cửa biển Sông Đốc vẫn là một xứ rất phồn thịnh và được đánh giá là phồn thịnh nhất miền Hậu Giang. Tàu đánh cá nước ngoài thường đến mua cá chở qua Tân Gia Ba (Singapor). Nhưng hồi đó cá đồng vẫn chiếm một lượng đáng kể nhất. Theo ước tính, hàng năm Cà Mau bắt được 1.500 tấn cá biển, với 3 ngàn miệng đáy bắt tôm tươi ở sông sẽ có khoảng 2.000 tấn tôm khô. Thế nhưng lượng cá đồng lại lên đến 10 ngàn tấn và 8 ngàn tấn mắm khác. Ở xã Thới Bình còn có một “khoáng sản” gọi là “than đất” nhưng chưa được khai thác đúng mức.
Một vị trí địa lý khác cũng được nhắc đến nhiều - quận Năm Căn. Vào khoảng năm 1802 vùng này còn chưa có nhà cửa nhiều, chỉ có một thiểu số làm nghề săn thú, hạ bạc rải rác ở các rạch, xẻo. Ở con đường duy nhất đi Cà Mau từ vàm con Rạch Tắt đi ngang sông Bảy Háp chỉ có một trại đáy có 5 căn - có lẽ tên Năm Căn từ đó mà thành. Có một giai thoại bà mụ Trời đỡ sanh cho cọp ở Rạch Bần, quận Cái Nước gần đó. Dân gian lưu truyền cọp biếu thịt rừng cho bà mụ đến khi mãn phần. Loại đi yếu tố hoang đường thì rõ ràng thiên nhiên và con người ở đây vốn rất gần gũi, quen thuộc. Thiên nhiên đã hào phóng cung cấp sản vật cho người dân ở đây đến mức “hào phóng”. Năm Căn bấy giờ được coi là mỏ “vàng đen”, cung cấp than đước cho cả Nam Kỳ lục tỉnh. Với lối 71 ngàn mẫu rừng ở 4 khu (354, 353, 355, 534) Năm Căn đã cung cấp khoảng 240 ngàn steres củi hầm than, 50 ngàn steres củi vẹt đốt, 720 ngàn tạ than.
Một nguồn lợi khác của Cà Mau xưa vài trăm năm trước thấy được nhắc đến là “điểu đình”. Đại Nam nhất thống chí có đoạn: “Những chim ở ngoài biển đến đậu từng bầy không biết muôn ngàn nào mà kể. Thường năm, đến kỳ đẻ trứng có trà hộ ngạch bao lãnh nạp thuế ấy, gọi là thuế điểu đình và lấy cánh lông bán cho người Trung Hoa”. Những vườn chim lớn nằm ở Rạch Thứ Nhứt, Kinh Dài, Thầy Quơn, Chắc Băng, Đầm Dơi, Cổ Cò. Lớn nhất là sân ở Cái Nước rộng hơn 7 hecta (Bà Hính dọc theo sông Bảy Háp). Bấy giờ người ta bắt chim chỉ để nhổ lông bán, mỗi bó 30 lông lớn hoặc 35 lông nhỏ dùng bó quạt. Mỗi năm người ta giết chim 3 lần (cuối tháng Giêng, tháng 3 âm lịch) mỗi kỳ khoảng từ 1 - 5 ngàn con. Dân lúc đó chỉ ăn thịt rừng, cá, tôm chứ ít khi ăn thịt chim, đôi lúc họ nướng một hai con chim ra ràng để chỉ nhậu chơi. Do vậy, dân khai thác chim ngán nhất là... chở thịt chim đi đổ sông sau khi nhổ lông (!) - bởi lẽ, họ sợ xác chim thối rữa tại sân, chim sẽ không về. Phân chim lúc bấy giờ ngập đến 4, 5 tấc tây, cá, tôm chim tha về người coi sân chim lượm mỗi ngày chỉ non... năm bảy giạ, riêng trứng phải lượm hàng ghe (!). Rồi nhiều sản vật được gắn liền với địa danh như: than Năm Căn, chiếu Tân Duyệt, mật U Minh, ba khía Rạch Gốc, sấu Đầm Bà Tường, choại Cà Mau, cá thác lác Cái Tàu, than Tân Bằng, rau cải Cái Keo. Mỗi một sản vật, mỗi một địa danh được nghe tiếng đều nhờ vào công sức khai khẩn rất sớm của những lưu dân từ cách đây mấy trăm năm. Tiếng là lưu dân nhưng ở trong dòng máu của họ pha rất nhiều nghĩa khí, hiếu để.
“Kẻ sĩ biết chữ, dân siêng làm ăn, ở gần biển thì làm nghề lưới đáy, cắm đăng để bắt cá, ở gần núi, rừng thì bắt chim và tổ ong để bán. Người quân tử hay thích điều nghĩa, siêng năng việc công. Kẻ tiểu nhân (ý nói người bình dân) thì an thường, thủ phận, không gian tham trộm cướp... Đàn ông ra đường hay che dù, đàn bà, con gái trùm đầu bằng khăn vải dài, con trai bới tóc cho khỏi sổ, con gái trang sức sơ đạm, bới tóc thả thòng ra đằng sau. Tính người mau lẹ, nữ công tinh xảo, hay đi thuyền, giỏi nghề bơi nước, ưa nóng, ghét lạnh... Gặp tang chế, lễ nghi theo Nho và cũng theo Phật” (Theo Đại Nam nhất thống chí).
Trải qua hàng trăm năm dâu bể, Cà Mau bây giờ đã khác xưa. Chót mũi đã được bồi tụ hơn xưa, người dân các nơi đổ về sinh sống. Có một điều đau lòng nhất là sản vật, thiên nhiên không còn như xưa. Những chuyện rất thật kể trên, nếu không có những số liệu xác thực, có lẽ, đến thêm một hai thế hệ nữa chỉ còn là những chất liệu đẫm chất “thần thoại”. Duy có điều, khí chất của người đất Mũi vẫn vậy. Hậu duệ của những lưu dân đi khẩn hoang mấy trăm năm trước vẫn hào sảng, vẫn phóng khoáng như cha ông. Phải chăng, đó chính là bản sắc đã tạo nên sức hút cho một Cà Mau tươi trẻ bây giờ.

NHỮNG SẢN VẬT CỦA XỨ CÀ MAU:
- Nước ngọt của Hòn Khoai. - Mắm ruột (mắm lòng) ở Tân Điền, Phú Mỹ và Tân Hưng Đông.
- Mắm lóc, mắm trê.
-Cá dầy và lươn ở xã Tân Hưng.
- Cá bông ở Cái Tàu.
- Khô bẹ, khô cá chét, khô gộc và nước mắm ở Vàm Sông Đốc.
- Cá vược, cá bống mú, cá dứa, cá buôi ở Năm Căn và Ông Trang.
- Vi cá, bong bóng cá mè đường ở Rạch Gốc và Vàm Sông Đốc.
- Cá bống kèo, bống dừa ở các trại đáy.
- Sò huyết, mực tươi ở Ông Trang.
 - Nghêu ở Rẫy Chệc (Viên An).
- Vọp ở Rạch Vọp và Ông Tự.
- Hàu ở Hòn Đá Bạc và Thọ Mai.
- Ba khía, ốc len ở Rạch Gốc.
- Cua gạch son (cua đầm) ở Đầm Dơi.
- Tôm khô, tôm luội ở Năm Căn, Xóm Lớn, Hàng Vịnh.
- Tép mòng, con ruốc ở Rạch Gốc.
- Kỳ đà ở Xóm Thủ và Đầm Chim.
- Sấu ở Dày Chảo và sông Cửa Lớn.
- Rùa vàng ở đồng Cái Rắn và Rau Dừa.
- Cần đước ở Cái Tàu và Khánh Lâm.
- Khỉ ở khắp các rừng cấm.
- Lọ nồi ở Năm Căn, Nhưng Miên, Xóm Thủ và Cái Bát.
- Đuôn chà là ở Cái Keo và Đầm Dơi.
- Sân chim ở dớn Rạch Giếng.
- Mật ong và sáp ở rừng cấm Thới Bình, Tân An, và Khánh An.
- Chiếu lẫy ở Đầm Chim, Cái Rắn, Cái Nhút và Rạch Nhà.
- Cây mốp (làm nón), cây vông rừng (làm guốc), cây kè (làm liễn) ở Trèm Trẹm và Tân Bằng.
- Than đước và vẹt, vỏ dà, vỏ dước ở rừng cấm Năm Căn, Tân An và Nhưng Miên.
- Dây choại ở miệt dớn Rạch Giếng, Thới Bình.
- Lá tàu, lá bó, lá chằm, lá cần đóp ở khắp các rừng cấm, bờ sông lớn.
- Bồn bồn, môn nước ở nơi đất thấp.
- Sầu riêng, trầu vàng ở Cái Tàu.
- Khóm ở Trèm Trẹm.
- Dưa hấu ở Rẫy Chệc.
Tài liệu của Nghê Văn LươngHuỳnh Minh sưu khảo vào lối những năm 50 - in trong cuốn “Cà Mau xưa”. Trải qua bao dâu bể cuộc đời, hai tác giả đã hóa thành người thiên cổ.
Riêng những sản vật vừa kê dẫn, rất nhiều thứ chỉ còn trong ký ức của những bậc lão niên vốn sống chết cả đời với đất rừng phương Nam.
Chép lại để tự hào mà cũng để hoài nhớ, tiếc nuối một ngày xưa

KIẾN NGHỊ NÂNG VIỆN LÚA ĐBSCL LÊN THÀNH VIỆN LÚA QUỐC GIA

TT - Ngày 27-2, ông Trần Hữu Hiệp - vụ trưởng Vụ Kinh tế xã hội Ban chỉ đạo Tây Nam bộ - cho biết Ban chỉ đạo Tây Nam bộ vừa có văn bản đề nghị Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư nâng cấp Viện Lúa ĐBSCL thành Viện Lúa VN trực thuộc Bộ NN&PTNT, đồng thời có cơ chế tài chính và quản lý phù hợp.
Theo Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, trong những năm qua Viện Lúa ĐBSCL đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền nông nghiệp VN nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng. Đặc biệt là việc chọn, lai tạo giống mới, chuyển giao ứng dụng các giống mới vào sản xuất và kỹ thuật canh tác nông nghiệp. Đến nay, Viện Lúa ĐBSCL đã chọn tạo và xin công nhận đưa vào sản xuất hơn 60 giống lúa, sử dụng cho trên 50% diện tích cả nước.
THANH XUÂN

DIỆN MẠO BẠC LIÊU ĐẾN NĂM 2020

Diễn đàn Đầu tư điện tử ngày 28-02-2012
Trung ương nghiên cứu đầu tư: Trung tâm điện lực Bạc Liêu (nhà máy nhiệt điện Đông Hải), Cảng biển Gành Hào, đường cao tốc Hà Tiên-Bạc Liêu.
Bạc Liêu một vùng văn hóa (Ảnh hiepcantho: Chúa Khmer ở Xứ Bạc)
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 22-02-2012 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 (Click vào để xem nguyên văn). Theo đó, xây dựng Bạc Liêu trở thành tỉnh có nền nông nghiệp công nghệ cao phát triển bền vững gắn với phát triển công nghiệp và dịch vụ, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại … trở thành tỉnh khá trong vùng và cả nước. Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành kèm theo danh mục các dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư đến năm 2020 gồm 3 lĩnh vực Trung ương ưu tiên đầu tư là cảng Gành Hào, đường cao tốc Hà Tiên-Bạc Liêu thuộc lĩnh vực giao thông, Trung tâm điện lực thuộc lĩnh vực năng lượng, Cụm kho trữ muối quốc gia tại Điền Hải, cảng cá Gành Hào, hệ thống phân ranh mặn, ngọt Bạc Liêu-Sóc Trăng … thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi và 8 lĩnh vực, gần 80 dự án ưu tiên do tỉnh đầu tư và kêu gọi các thành phần kinh tế tham gai đầu tư.    
Hữu Hiệp

ĐÒI TÁC QUYỀN CHO CÂY LÚA

Bài trang 3. Báo Lao Động ngày 25-02-2012
Trần Hữu Hiệp
Tại buổi làm việc với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT Nguyễn Thị Xuân Thu mới đây, TS. Lê Văn Bảnh, Viện trưởng viện lúa ĐBSCL (CLRRI) một lần nữa đề xuất cần có qui định bảo vệ quyền lợi tác giả giống lúa. Theo TS. Bảnh, vấn đề này đã được nêu ra cách đây 2 năm, tại các hội nghị toàn quốc và cấp vùng. Các vị lãnh đạo có trách nhiệm đều đồng tình, ủng hộ, nhưng cho đến nay “chưa có chuyển biến gì”.
Lúa thử nghiệm tại CLRRI 

Tác quyền cho cây lúa, tạo sao không?
Một nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ sáng tác đều được hưởng lợi bằng vật chất (ngoài giá trị tinh thần, nhân thân) từ “quyền tác giả”. Nhà khoa học – tác giả giống lúa hiện cũng rất cần được đãi ngộ tương xứng, hơn cả sự “quan tâm, chiếu cố” là việc thực thi pháp luật về Quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với giống lúa. Họ xứng đáng được như vậy. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, tại Khoản 5, Điều 4 và các điều có liên quan qui định: tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển được hưởng quyền sở hữu, được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng.

Thêm 7 triệu USD cho nghiên cứu giống lúa mới mỗi năm
Qui trình tạo ra một giống lúa mới thông thường mất vài năm năm, chi phí khoảng hơn 2 tỉ đồng (chưa kể giá trị chất xám của nhà khoa học, không tính được bằng tiền). Để được công nhận là giống quốc gia, cần nhiều hơn thế. Kỳ tích hạt gạo Việt Nam 25 năm qua vang xa trên thế giới mang dấu ấn sâu đậm của CLRRI. Nhiều thế hệ nhà khoa học của CLRRI đã âm thầm tạo ra 117 giống lúa mới. Viện đã chọn tạo được tập đoàn giống lúa dưới 90 ngày, đảm bảo năng suất, chất lượng, kháng sâu bệnh, chịu mặn (trước nguy cơ biến đổi khí hậu, nước biển dâng). Theo kết quả điều tra của Trung tâm giống cây trồng Trung ương, thì giống lúa của Viện đã chiếm 80% diện tích gieo trồng toàn vùng ĐBSCL và hơn 50% diện tích cả nước. Trong 10 giống lúa được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, CLRRI đóng góp 8/10 giống trong vùng ĐBSCL vả 5/10 giống đối với cả nước. Nhiều giống lúa đã được lan tỏa ra nhiều nước trên thế giới ở Châu Phi, Nam Á, Myanmar, Campuchia … mang tầm quốc tế. Bên cạnh việc chuyển giao các giống mới, hàng năm CLRRI còn sản xuất và cung ứng hàng trăm tấn giống siêu nguyên chủng, hàng ngàn tấn giống nguyên chủng và xác nhận đạt tiêu chuẩn, chất lượng, đưa tổng diện tích sản xuất lúa sử dụng giống đạt chuẩn của vùng ĐBSCL từ dưới 10% vào năm 1999 lên hơn 34% hiện nay. Nhờ nhóm giống lúa mới, giúp nông dân trong vùng tăng thêm vụ 3 với diện tích hơn 600 ngàn ha, sản lượng lúa tăng thêm khoảng 3 triệu tấn mội năm.
Nhiều chuyên gia của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) không khỏi trầm trồ, thán phục khi “mục sở thị” CLRRI “không thua kém gì IRRI”. Trong khi đó, CLRRI vẫn còn là một tổ chức nghiên cứu cấp vùng, chưa mang tầm quốc gia, kinh phí sự nghiệp nghiên cứu khoa học được ngân sách phân bổ hàng năm khoảng 10 tỉ đồng, chỉ bằng khoảng 3% tổng kinh phí sự nghiệp này của các đơn vị nghiên cứu trong ngành nông nghiệp (khoảng 300 tỉ đồng). Rõ ràng chưa tương xứng với đóng góp của nó. Mới đây, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã có văn bản đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT thống nhất chủ trương nâng cấp Viện lúa ĐBSCL từ cấp vùng lên cấp quốc gia để được đầu tư tương xứng.         
Theo TS. Bảnh, nếu Viện lúa, tác giả các giống lúa được bảo hộ quyền tác giả, được “trả công” tương xứng họ bỏ ra, sẽ là kênh vốn nghiên cứu giống mới rất quan trọng. Theo tính toán của nhà khoa học này, chỉ cần trả tác quyền 1 USD/tấn gạo xuất khẩu (trị giá bình quân 500 USD/tấn), tương đương 0,2% giá bán gạo xuất khẩu. Nếu so với tiền tác quyền tương ứng của các tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật hay chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ khác vào khoảng 5-10% giá bán, thì đó chỉ là khoản chi trả ít ỏi. Hàng năm nước ta xuất khẩu 7 triệu tấn gạo, thì Viện này sẽ được khoảng 7 triệu USD từ tiền tác quyền cho nghiên cứu giống mới. Nguồn này, đơn vị xuất khẩu gạo trả, không thu từ nông dân, vì Luật sở hữu trí tuệ qui định rõ, cho phép sử dụng giống cây trồng phục vụ nhu cầu cá nhân và phi thương mại, nhằm mục đích thử nghiệm …
Nhà khoa học đang đòi tác quyền cây lúa, không phải cho mình mà cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học, một việc rất nên làm. Tác quyền giống lúa? Rất cần được thực thi, sao chưa được?


PCI năm 2011: “BẢNG ĐIỂM” CHÍNH QUYỀN VÙNG ĐBSCL

                                                                                Trần Hữu Hiệp
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI năm 2011) vừa được VCCI công bố là kết quả “chấm điểm chính quyền địa phương” của 6.922 doanh nghiệp trong nước và 1.970 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Tuy “nhiệt kế cảm nhận của doanh nghiệp” mới cho thấy kém lạc quan hơn về triển vọng tăng trưởng so các năm trước, giảm đáng kể từ mức 76% doanh nghiệp cho biết sẽ tăng qui mô kinh doanh vào năm 2006 xuống còn 47,4% vào năm 2011, nhưng họ cũng ghi nhận sự tiến bộ, nỗ lực vượt qua khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác điều hành của chính quyền địa phương. PCI vùng ĐBSCL năm nay có gì mới?
 “Điểm sáng” và những cuộc đổi ngôi ngoạn mục
“Điểm sáng” đầu tiên trong bảng xếp hạng PCI năm nay của đất Chín Rồng là các chỉ số thành phần tạo ấn tượng tốt trong mắt nhà đầu tư. Vùng này trở thành nơi có “chi phí gia nhập thị trường rất thấp” khi được chấm từ 7.73 - 9.27 điểm. Trong đó, có 12/13 địa phương thuộc nhóm “rất tốt” khi đạt từ 8 điểm trở lên. Các chỉ số thành phần khác cũng đều ở nhóm “khá” và “tốt” như: chi phí không chính thức đạt điểm số từ 6.44 – 8.51 điểm, tính minh bạch và tiếp cận thông tin (5.31 – 6.61 điểm), tiếp cận đất đai, sự ổn định trong sử dụng đất (5.42 – 7.95) và chi phí thời gian để thực hiện các qui định của nhà nước (5.07 – 8.26 điểm). Tất cả 13/13 tỉnh thành của vùng đều thoát ra ngoài nhóm “trung bình” và “tương đối thấp” của cả nước; đặc biệt, có 2 tỉnh (Long An, Đồng Tháp) thuộc nhóm “rất tốt”, 3 trong nhóm “tốt” (Sóc Trăng, Cần Thơ, An Giang) và 8 tỉnh còn lại đều nằm trong nhóm “khá”.

Nhìn bảng tổng sắp cho thấy, một số “tỉnh dưới” bám đuổi các “tỉnh trên” tới ngưỡng để làm cuộc “lật đổ” ngoạn mục. Đó là trường hợp của Long An – cửa ngõ miền Tây đã có bứt phá khi tách nhóm “tốt” lên “rất tốt”, vượt từ vị trí thứ 12 lên hạng 3 cả nước (tăng 9 bậc), giành luôn ngôi vị “quán quân” của vùng, vượt qua cả Đà Nẵng - nhiều năm liền giữ ngôi đầu bảng toàn quốc. Long An còn là tỉnh đứng đầu cả nước về chỉ số tiếp cận đất đai (8.37 điểm) và nhiều chỉ số thành phần khác xếp thứ hạng cao. Sự tiến bộ vượt bậc trong năm nay còn phải kể đến Sóc Trăng. Tiếp tục “đà tăng trưởng” vượt 24 bậc của năm trước, tỉnh vừa tổ chức “Festival lúa gạo Việt Nam lần II” này lại tăng thêm 24 bậc, từ hạng 41 lên 17. Kế đến là Cà Mau – nơi vừa tổ chức sự kiện Diễn đàn hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long cũng tăng liền 19 bậc, từ hạng 51 lên 31. Nhiều trọng số của tỉnh cuối bảng trong vùng này trong năm trước đã được cải thiện tốt như: thiết chế pháp lý (6.63 điểm, xếp 2/13 trong vùng), chi phí thời gian thực hiện các qui định của nhà nước (7.76 điểm) và tiếp cận đất đai, sự ổn định trong sử dụng đất (7.12 điểm) đều xếp hạng 3/13 trong vùng.
Một góc Long An - tỉnh vừa vươn lên vị trí đầu bảng trong vùng, thứ 3/63 cả nước
Riêng một số trường hợp tuy có giảm thứ hạng trên bảng tổng sắp, nhưng vẫn là điểm sáng. Đó là trường hợp của Đồng Tháp, giảm 1 bậc (từ vị trí thứ 3 xuống 4), nhưng vẫn nằm trong nhóm “rất tốt” (Top 6 cả nước) và cùng với Tiền Giang nằm trong “Top 10” cả nước có chỉ số cơ sở hạ tầng tốt nhất (KCN, đường sá, năng lượng, viễn thông-Internet). Thành phố Cần Thơ giảm 3 bậc (từ 13 xuống 16), nhưng vẫn trong nhóm “tốt” và đứng thứ 2 (sau Đà Nẵng) trong nhóm 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Các trọng số về “gia nhập thị trường”, “chi phí thời gian thực hiện các qui định của nhà nước” của “trung tâm vùng” này có bước cải thiện, đạt điểm số khá cao tương ứng là 8.84 và 8.27 điểm. 
    
Hiện tượng “rơi tự do”
Tuy nhiên, bảng tổng sắp PCI năm nay cũng cho thấy sự tụt hạng hàng loạt của các địa phương trong vùng. Có đến 10/13 tỉnh, thành bị sụt hạng; trong đó, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang và Bến Tre rơi khỏi vị trí “Top 10” cả nước khi giảm từ 20 – 45 bậc. Vĩnh Long trở thành 1 trong 2 tỉnh “đứng đầu” cả nước sụt giảm mạnh, từ vị trí thứ 9 rơi xuống thứ 54, giảm 45 bậc, thấp nhất trong vùng ĐBSCL. Các chỉ số thành phần như: tiếp cận đất đai, chi phí thời gian thực hiện các qui định của Nhà nước, chi phí không chính thức và đào tạo lao động của tỉnh này đều bị xếp hạng “cuối bảng” trong vùng. Hiện tượng “rơi tự do” của Vĩnh Long thực ra đã được “cảnh báo” từ năm trước, khi sụt giảm từ vị trí thứ 5 (nhóm rất tốt) xuống thứ 9 cả nước (nhóm tốt). Chẳng những sụt giảm về thứ hạng, địa phương này còn “giảm thuyết phục” điểm số tổng hợp từ 70.14 điểm năm 2007 (hạng 3 cả nước) xuống 54.10 điểm. “Thành tích ngược” kế đến là Trà Vinh, mới năm trước nổi lên như một hiện tượng khi tăng liền 13 bậc, chiếm vị trí 4/63 tỉnh, thành cả nước; năm nay đã rơi xuống 38 bậc, 42 cả nước, 11/13 trong vùng. 3/9 chỉ số thành phần của tỉnh này bị chấm điểm rất thấp là: dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (2.2 điểm), tính năng động và tiên phong của lãnh đạo (3.62 điểm) và đào tạo lao động (4.15 điểm). Hậu Giang và Bến Tre cùng sụt giảm tương ứng 35 và 20 bậc. Hậu Giang bị “mất điểm” bởi các chỉ số thành phần như: dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (3.71 điểm) và đào tạo lao động (4.27 điểm). Ngoài ra, các điểm số thành phần của tỉnh này tuy đạt mức trung bình khá, nhưng vẫn ở vị trí áp chót trong vùng do “bạn có nhiều cải thiện tốt hơn”. Đó là chi phí gia nhập thị trường (8.0 điểm), chi phí không chính thức (6.56 điểm) cùng xếp vị trí 12/13 và tiếp cận đất đai, sự ổn định trong sử dụng đất (xếp 10/13, đạt 6.62 điểm). Các điểm số tương ứng của Bến Tre cũng đạt thấp như dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (3.84), đào tạo lao động (4.68) và tính năng động của chính quyền (4.87).
Bao giờ "mảng tím" tràn vùng?

Một vài nhận xét và “điều cốt lõi”
Năm nay là năm thứ 7 VCCI tổ chức công bố chỉ số PCI. Tuy chỉ có giá trị tham khảo, nhưng các tỉnh, thành vùng ĐBSCL rất quan tâm kết quả xếp hạng này. Nhiều vị lãnh đạo tỉnh đã tổ chức họp đánh giá, phân tích nghiêm túc kết quả PCI được công bố, “đặt hàng” bộ máy tham mưu phải có giải pháp và quyết tâm cải thiện thứ hạng. Cần nhìn nhận rằng, PCI không phải là một loại “bằng khen” kết thúc một năm thi đua, mà nó chính là một công cụ đo lường điều hành kinh tế của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Để giải quyết được những khó khăn, thách thức về CSHT, tiêu cực, nhũng nhiễu, thủ tục hành chính, chất lượng giáo dục và đào tạo lao động mà doanh nghiệp phải đối mặt, cần tiến hành đồng bộ cải cách thể chế và điều hành năng động của chính quyền địa phương hơn là thứ hạng được xếp loại. Việc “vượt lên chính mình” còn quan trọng hơn “vượt qua tỉnh bạn”. Thứ hạng cao hơn so với năm trước cũng chẳng mang lại nhiều ý nghĩa nếu như các chỉ số đo “hàn thử biểu” – mức độ hài lòng của doanh nghiệp không tốt hơn. Vì vậy, “vấn đề cốt lõi” là chính quyền địa phương cần nhìn môi trường đầu tư, chất lượng quản lý điều hành ở không gian rộng lớn hơn là “tư duy hành chính tỉnh”. Đó là sự liên kết vùng, miền để tạo ra môi trường đầu tư tốt hơn. Xét ở góc độ này, PCI của 7 năm qua chưa được tính đến. Trong 9 chỉ số thành phần CPI chưa hề có có chỉ số “liên kết vùng”. Đó cũng chính là “đơn đặt hàng” cho các nhà làm PCI trong thời gian tới, là phương tiện để chính quyền địa phương “nắm tay nhau” cùng tiến bộ hơn là “cạnh tranh nhau” để có thứ hạng cao theo kiểu “xé rào thu hút đầu tư” đã từng xảy ra không lâu!


26 tháng 2, 2012

Đổi thay trên đất Chín Rồng

Như kỳ tích “câu chuyện trăm năm” của hạt gạo, đất đồng bằng sẽ vượt qua thách thức, hứa hẹn “trứng rồng” sẽ nở trên đất Rồng.


Chợ nổi Cái Răng thu hút khách quốc tế.

1. Tết về, con đường Nam sông Hậu sôi động hơn bởi người xe tấp nập. “Đi đường này về Sóc Trăng tuy xa hơn một chút nhưng “nhẹ đầu” hơn rất nhiều so với đường cũ, quốc lộ 1A, còn được thưởng thức cảnh đồng quê vẫn còn nguyên nét…”, - Sáu Tuấn, anh bạn đi cùng chỉ những cánh đồng lúa, vườn trái cây sum suê hai bên đường. “Mấy ngày tết lượng người đổ sang cù lao Dung chơi xuân đông nên quán chỉ nghỉ ngày 29...” - Ba Sự, chủ quán cơm gia đình nằm ngay ven đường xuống bến phà Đại Ngãi hứng khởi. Đường Nam sông Hậu đã phá thế độc đạo trên bộ, chạy dài khoảng 147km, từ TP Cần Thơ đến điểm cuối (nối quốc lộ 1A) thuộc địa phận Bạc Liêu đã thông suốt sau hơn 5 năm xây dựng. Con đường thọc sâu giữa vùng quê bao đời chỉ gắn với đồng lúa, mảnh vườn khiến bật dậy bao tiềm năng, tạo động lực mới không chỉ cho các tỉnh thành đi qua.

Hàng loạt công trình hạ tầng “chen nhau” trên cung đường mới. Trung tâm Điện lực sông Hậu (Châu Thành - Hậu Giang) có công suất giai đoạn 1 khoảng 5.200MW, được xem là trung tâm điện lực lớn nhất Việt Nam đến thời điểm này; Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 (tổng công suất 1.200MW) là nhà máy điện đốt than nằm trong dự án Trung tâm Điện lực Long Phú, với tổng công suất khoảng 4.400MW; các dự án xây dựng cụm công nghiệp - khu dịch vụ thương mại Kế Sách; cách đó không xa là cảng cá Trần Đề, một trong những cảng cá lớn của ĐBSCL… Tư Bình, nông dân ở xã Nhơn Mỹ - Kế Sách nhấp ly rượu rồi khề khà: “Chuyện lớn chưa biết hết nhưng rõ nhất là từ khi có con đường mới, việc mua bán thuận lợi hơn rất nhiều, trái cây có giá hơn trước, đất vườn cũng tăng khoảng hơn 20%”. Đường Nam sông Hậu kết hợp với quốc lộ 60 sẽ tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, điều kiện tốt nhất cho việc giao lưu hàng hóa giữa Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ với mọi miền.

Trên đoạn đường gần 10 cây số Trà Ôn (Vĩnh Long) – Cầu Kè (Trà Vinh), bụi vẫn còn bay do công nhân đang gấp rút thi công. Đoạn đường này nằm trên quốc lộ 54 có chiều dài 152km, nằm cặp sông Hậu, nối từ bến phà Vàm Cống (Đồng Tháp) qua Vĩnh Long và kết thúc tại thành phố Trà Vinh. Bến phà Trà Ôn, bến duy nhất trên toàn tuyến quốc lộ 54, đã đi vào quá khứ. “Đổi thay thật nhiều. Cảm xúc đi qua cây cầu Trà Ôn rợp cờ ngày tết thật lạ” - nhà thơ Phù Sa Lộc sống ở Cần Thơ nhưng quê tại Cầu Kè tâm sự. Đường Vị Thanh – Cần Thơ được ví như tuyến “Xà No trên bộ” xuyên vô bán đảo Cà Mau đã trở thành hiện thực.

Dù đã có thêm tuyến phà chở khách từ Hà Tiên sang nhưng đảo ngọc Phú Quốc tết về vẫn đều tất bật, quá tải. Năm nay, dọc bờ biển xuất hiện thêm nhiều “lều chõng” dã ngoại bởi khách sạn, nhà nghỉ đã “cháy phòng” hàng tháng trước tết. Một tin vui đến từ công trình trọng điểm cấp quốc gia, cuối năm 2012, cảng hàng không quốc tế Dương Tơ sẽ được đưa vào khai thác đúng tiến độ. Và niềm vui được nhân lên khi trên tuyến đường biển, bên cạnh công trình lớn Quan Chánh Bố đang tưng bừng thi công, luồng Định An bồi lắng bao năm vừa được khơi thông khi đã nạo vét ở độ sâu cốt luồng -4,2m, đảm bảo cho tàu 3.000 tấn ra vào dễ dàng…

2. Ngay dịp đầu xuân, Bí thư Thành ủy TP Cần Thơ Trần Thanh Mẫn phấn khởi chia sẻ: địa phương vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, 14,4%; thu nhập bình quân đầu người 2.350 USD/người/năm (tăng 328 USD so năm 2010); hoàn thành và đạt 14/19 chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng… Với 7 năm thực hiện Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị, Cần Thơ đã có những bước tiến rất dài, tạo tiền đề rất tốt cho năm Nhâm Thìn và những năm tiếp theo. Tuy nhiên, năm mới sẽ đầy thách thức, Đảng bộ chính quyền và quân dân Cần Thơ cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Đồng chí Trần Thanh Mẫn cũng nhấn mạnh việc triển khai nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” sẽ tạo động lực mới, tinh thần mới để Cần Thơ nhanh chóng khắc đậm hơn dấu ấn trung tâm vùng châu thổ.

Câu chuyện của bà Huỳnh Thị Hết, 60 tuổi ở phường Trà Nóc (Bình Thủy - Cần Thơ) không nhà, không đất đón xuân trong ngôi nhà mới từ sự hỗ trợ của chính quyền và những tấm lòng thơm thảo cho ta niềm tin về một chính quyền cho dân và vì dân. Tết về là tết của tình thương, của sự sớt chia, san sẻ, bắt đầu từ người nghèo, trên khắp đồng bằng, đi đâu cũng thấy.

Vũ Thống Nhất

Đưa Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long thành Viện lúa quốc gia

Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ vừa có văn bản đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất chủ trương đưa Viện lúa ĐBSCL (CLRRI) thành Viện lúa quốc gia để được đầu tư tương xứng với sự đóng góp của Viện và hướng phát triển tới.
Trong những năm qua, CLRRI đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp vùng ĐBSCL, đã chọn tạo ra 117 giống lúa mới, trong đó có 60 giống lúa được công nhận đưa vào sản xuất, nâng tỷ lệ diện tích sử dụng giống lúa xác nhận từ 10% năm 1999 lên 34 %, nâng sản lượng lúa vùng ĐBSCL từ 4,2 triệu tấn năm 1977 lên trên 23 triệu tấn như hiện nay. Theo kết quả điều tra của Trung tâm giống cây trồng trung ương, thì giống lúa của viện đã chiếm 80% diện tích gieo trồng toàn vùng ĐBSCL và hơn 50% diện tích cả nước. Trong 10 giống lúa được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, CLRRI đóng góp 8/10 giống trong vùng ĐBSCL và 5/10 giống đối với cả nước. Nhiều giống lúa đã được nhiều nước trên thế giới học tập. Bên cạnh việc chuyển giao các giống mới, hàng năm CLRRI còn sản xuất và cung ứng hàng trăm tấn giống siêu nguyên chủng, hàng ngàn tấn giống nguyên chủng và xác nhận đạt tiêu chuẩn, chất lượng. Đặc biệt, trước nguy cơ biến đổi khí hậu, nước biển dâng, viện đã chọn tạo được tập đoàn giống lúa dưới 90 ngày, đảm bảo năng suất, chất lượng, kháng sâu bệnh. Viện lúa đã tìm 30 dòng lúa có triển vọng chịu mặn là những dòng lúa kế thừa, được phát hiện chịu mặn qua nhiều lần thanh lọc trong phòng thí nghiệm và bể nhà lưới. Những dòng lúa triển vọng này đang được Viện phối hợp khảo nghiệm, đánh giá ở một số trung tâm giống tại các tỉnh thành khu vực ĐBSCL.
Hữu Hiệp

VINAFOOD II triển khai thu mua 3,8 triệu tấn lúa

Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood II) vừa có văn bản báo cáo Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ về tình hình triển khai thu mua lúa gạo vụ Đông Xuân 2011-2012 tại ĐBSCL. Theo đó, Vinafood đã chỉ đạo cho 24 đơn vị thành viên tổ chức mạng lưới đang thu mua 3,8 triệu tấn lúa gạo qui thóc. Đồng thời đề xuất Chính phủ cho phép thành viên Hiệp hội tổ chức thu mua 2 triệu tấn lúa gạo qui thóc với giá thu mua không dưới 5.000 đ/kg. Tình hình thị trường lúa gạo xuất khẩu những tháng đầu năm 2012 gặp nhiều khó khăn nhưng Vinafood II đang tích cực tìm thị trường, đảm bảo thực hiện đủ và vượt số lượng lúa gạo thu mua được Hiệp hội Lương thực phân bổ với giá có lợi cho nông dân.
Hữu Hiệp

BÀI THƠ CHƯA CÓ CÂU KẾT

(Viết trong một buổi sinh viên chờ cơm trưa)

Ai đã từng qua những cơn đói meo
Sẽ cảm thông những điều tôi nói
Hiểu chúng tôi- những thằng đang đói
Bởi có chung cái “cùng hội cùng thuyền”


Bữa ăn nào bụng đói triền miên

Cơm đầy thóc, hạt đen thui đen thủi
Vẫn mong đợi cho mau đến buổi
Dẫu ăn vào cơm lại muốn trở ra

Bưng bát cơm lại nhớ lúc ở nhà
Gạo đồng bằng thơm thơm mùi nước ngọt
Cá lóc kho tiêu mắm hòn xoài gọt
Ngon quá chừng. Nay miệng nuốt chẳng trôi
Nhớ sáng nào ra đứng hàng xôi
Bên quầy phở, thịt tỏa hương nghi ngút
Dẫu ít tiền vẫn củ mì ngồi nhai đôi chút
Hơn bây giờ nằm đói chờ cơm
Thằng bạn giường bên kể chuyện đêm hôm
Nằm mơ thấy bánh xèo bánh khọt
Khi thức dậy giật mình ngơ ngác
Miệng còn chép lia những món trong mơ..,
                             Bình Triệu, Sài Gòn
                                      -1986-

KÝ ỨC SÀI GÒN

Những ngày nhớ …

Sài Gòn trong kí ức,
Là mái phố trên đường sũng nước, 
lần đầu trên giữa phố chợ ngỡ ngàng. 
Mưa nặng hạt ào ào mặt lộ, 
tiếng còi xe hú vội oang oang...

Sài Gòn, 
chiều  lang  thang, 
cùng thằng Dũng lội bì bõm nước, 
trưa ở Nhà Rồng, Cảng, Bến Thành; 
chiều qua Thảo Cầm Viên, 
xuôi rồi ngược, 
chỗ nào năm sau ngồi lại với Mai?

Sài Gòn, 
đường Lê Thánh Tôn, 
trên ban công lầu 2, 
phóng tầm nhìn ra ngoài phố xá, 
ồn ào tiếng xe và những người xa lạ. 
Sao đến giờ còn nỗi nhớ trong ta?

Sài Gòn, 
năm tháng đi qua. 
Nhớ những ngày khó khăn ở kí túc xá, 
những bữa ăn mấy tháng trời không thịt cá, 
gạo dầu hơi thóc trong chén lùm lùm. 
Nhớ đêm cúp điện tối um, 
bụng đói cồn cào tìm được hơn lon gạo, 
mấy thằng xúm nhau mượn nồi nấu cháo, 
củi ướt, khói ung, miệng thổi mắt cay xòe.

Sài Gòn, 
buổi sáng hết tiền ra cổng trường ‘nhìn xe’. 
Chị bán hàng thương tình cho ăn “bánh mì kí”, 
cũng có khi làm sang, 
xỉn say túy lúy, 
đến kì nghỉ hết tiền về xe, 
đi làm mướn suốt mấy đêm liền.

Sài Gòn, 
những buổi chiều êm, 
rong xe qua Ngã Tư, Ngã Bảy. 
Cầu Khánh Hội biết khi nào gặp lại? 
Cô bán sách đầu đường có giọng nói thật dễ thương!

Sài Gòn chiều vấn vương, 
mưa rào rào cứ mong rơi mãi. 
Cơn mưa chiều níu chân em ở lại, 
mắt lại nhìn em đến phải ngượng ngùng. 
Tới bao giờ mình quên bữa cơm chung? 
Những món ăn do chính em làm lấy, 
mình chỉ được phép nhìn tay chân không táy máy, 
để em được niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: phục vụ riêng mình!

Sài Gòn là dáng hình em bé nhỏ xinh xinh, 
dẫu đến giờ chưa một nụ hôn - dấu vết tình yêu một thời vụng dại. 
Một lần nắm tay nhau cũng đủ đốt trong lòng lửa cháy, 
để giờ xa kí ức mãi dạt dào.

Sài Gòn, 4 năm qua mau khi ngoái đầu nhìn lại 
(không còn những mong chờ xa ngái). 
Buổi chia tay đi về, 
làm con trai mà nước mắt cứ rưng rưng ... 

Sài Gòn,
những năm tháng đi qua đâu để thành điều dửng dưng. 
Dẫu thời gian là đổi thay, 
là những điều không một ai ngờ được. 
Rồi em theo những tất bật với chồng con, 
những lo toan cuộc sống 
(mình cũng như em) 
đâu phải ai cũng sống mãi với kỉ niệm một thời. 
Nhưng Sài Gòn ơi, 
vẫn sống trong ta, 
dẫu những ngày qua dần xa theo năm tháng, 
vẫn quanh đây một trời nhớ nhung bãng lãng. 
Sài Gòn xưa, … nay nỗi nhớ cồn cào.
                                                1-1990

Một vài hình ảnh sưu tầm về Thị Nghè xưa qua Internet:
Cầu xi măng nối liền Sở thú với Thị nghè, năm 1957 có hội chợ bên Thị nghè, dân chúng chen nhau dẩm đạp làm chết một ít. Cầu đã phá bỏ khi mở đường Nguyễn Hửu Cảnh

Tháng 12 năm 1968 cầu Thị nghè sửa chửa, (như cầu hiện nay) nên có chiếc cầu tạm như thế này

Cầu Thị nghè ngày 30 tháng 4 năm 1975

Chợ Thị nghè rất xưa, nhìn từ dưới sông lên, khu vực bên trái trước chợ còn một rừng cây

Chợ Thị nghè năm 1964, thanh bình hơn bây giờ nhiều quá

Chợ Thị nghè thời Pháp, lúc này còn cái nhà tròn ngay vị trí nhà lồng cá hiện nay

Đường Hùng Vương xưa (nay là XVNT) bên hông Hội đồng xã Thạnh Mỹ Tây

Không ảnh khu vực Thị Nghè năm 1950

Rạch Thị nghè khoảng năm 1940, nhìn thấy rõ căn nhà 31 Phan Huy Ôn hiện nay vẫn còn

thời Pháp có một đường ray xe lửa từ Saigon về Gia định đi ngang qua cầu Thị nghè