15 tháng 2, 2012

LIÊN KẾT VÙNG - GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TAM NÔNG

Tham luận Hội thảo “Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn”do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ: NN&PTNT, Công thương, UBND TPCT và Báo SGGP phối hợp tổ chức tại Cần Thơ ngày 10-12-2010
                                                                                                                       ThS. Trần Hữu Hiệp[1]
Phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), tăng cường liên kết dọc – ngang theo hướng phát huy lợi thế của vùng, khắc phục tình trạng không gian kinh tế bị chia cắt theo địa giới hành chính, tình trạng “mạnh ai nấy làm” hay đầu tư theo “phong trào” … hướng trọng tâm vào việc phát huy thế mạnh của các sản phẩm chủ lực, đặc thù của vùng như lúa gạo, trái cây, thủy sản (tôm, cá tra), gia tăng chuỗi giá trị hàng hóa … là vấn đề quan trọng đang đặt ra, cần được quán triệt, chỉ đạo triển khai thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả; là một trong những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL bền vững và nâng cao năng lực, thu nhập nông dân.
Về vấn đề liên kết vùng ĐBSCL, thời gian qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ cùng với Trường ĐH Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL và Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và 13 tỉnh, thành trong vùng xây dựng Chương trình với 5 dự án sản xuất và tiêu thụ: (1) lúa gạo (2) Cây ăn trái (3) Thủy sản: tôm, cá tra (4) Đào tạo nghề cho nông dân trong 3 lĩnh vực trên (5) Cơ chế, chính sách để phát triển các sản phẩm chủ lực này và đào tạo nghề cho nông dân ĐBSCL. Thủ tướng Chính phủ đã thống nhất chủ trương “Khuyến khích việc liên kết vùng ĐBSCL trong việc triển khai các chương trình, đề án liên quan đến việc phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng ĐBSCL chỉ đạo, triển khai thực hiện các chương trình, đề án, đảm bảo gắn kết được sự phát triển của từng lĩnh vực, từng địa phương với phát triển của toàn vùng, nhằm phát huy lợi thế, hiệu quả đầu tư của từng địa phương, từng lĩnh vực”.[2]


Thủ tướng Chính phủ đã thống nhất chủ trương thực hiện liên kết vùng ĐBSCL; song, từ “chủ trương” đến “hiện thực” là một quá trình đòi hỏi phải được quán triệt, chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ, sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả. Trong khuôn khổ hội thảo, tham luận này trình bày phương pháp tiếp cận, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất những nội dung trọng tâm cần liên kết và các giải pháp thực hiện nhằm góp thêm định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà chủ đề hội thảo đã đề ra.

II. Phương pháp tiếp cận:
1.Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế vùng, liên kết kinh tế vùng ĐBSCL:

- Vùng (region) là một khái niệm tương đối phổ biến, nhưng được hiểu và phân chia có thể theo những cách thức khác nhau tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu và yêu cầu chỉ đạo phát triển. Tuy nhiên, yếu tố không gian lãnh thổ và địa – kinh tế là tiêu chí quan trọng để phân vùng. Theo đó, vùng kinh tế (economic region) được coi là một thực thể khách quan, sự tồn tại của nó là do yêu cầu phát triển KT-XH của mỗi quốc gia trong những giai đoạn nhất định quyết định[3] hoặc dựa trên những lợi ích. Vùng ĐBSCL cũng được hiểu trong khuôn khổ lý luận đó. Theo cách phân vùng hiện nay, ĐBSCL bao gồm toàn bộ không gian lãnh thổ của 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm: TP. Cần Thơ trực thuộc Trung ương, các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Trong đó, vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL hình thành nên “Tứ giác động lực”, bao gồm: Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang và Cà Mau được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập vào tháng 4-2009. ĐBSCL có diện tích đất tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm khoảng 12% diện tích, 22,8% về dân số, là địa bàn rộng và đông dân cư đứng thứ 2 trong tất cả các vùng kinh tế của cả nước (chỉ sau ĐB sông Hồng). Hàng năm, vùng này đóng góp khoảng 27% vào GDP cả nước, sản xuất 55% sản lượng lương thực, cung cấp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu; chỉ riêng năm 2010 xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch hơn 2,7 tỉ USD, góp 70% lượng trái cây, 58% sản lượng thủy sản, riêng tôm chiếm 80% và đóng góp trên 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.
Việc hình thành các vùng kinh tế, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm (phía Bắc, miền Trung và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam), đã đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế chung cả nước, tạo điều kiện cho các vùng cùng phát triển, đồng thời tạo liên kết giữa nội vùng và các vùng.
Tuy nhiên, việc phân vùng kinh tế hiện nay còn tồn tại một số vấn đề cần quan tâm, ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách cũng như chỉ đạo phát triển vùng:

(1) Khái niệm và cách phân vùng kinh tế ở nước ta thời gian qua cũng như hiện nay chưa thống nhất, còn mang tính tương đối, chủ yếu phục vụ yêu cầu chỉ đạo, định hướng chính sách và có ý nghĩa thống kê; việc phân vùng còn trùng lắp về địa bàn như trường hợp của 2 tỉnh Long An và Tiền Giang vừa nằm trong vùng ĐBSCL vừa nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

(2) Vùng kinh tế, trong đó có vùng ĐBSCL không phải là 1 đơn vị hành chính – kinh tế, việc phân bổ ngân sách, nguồn lực đầu tư cho vùng hoàn toàn do Trung ương đảm nhiệm. Theo Luật Ngân sách hiện hành và các qui định về lập kế hoạch ngân sách hàng năm, vùng không phải là cấp ngân sách; việc đầu tư cho vùng phụ thuộc vào sự đầu tư của Trung ương và các tỉnh, thành (chủ yếu là để phát triển địa phương, qua đó đóng góp cho vùng). Vì thế, vùng ĐBSCL không thể nào thực thi một cách “chủ động” các chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển vùng. Theo một nghiên cứu của TS. Vũ Thành Tự Anh,[4] thì: Việt Nam không có nền móng khái niệm rõ ràng về chính sách vùng. Xu hướng hiện nay của chính sách vùng là sự pha trộn các ý tưởng tự do mới (với trọng tâm hướng vào hiệu quả, tính cạnh tranh về kinh tế và sự công bằng, ổn định chính trị - xã hội). Còn theo ông Lê Viết Thái, Trưởng ban Thể chế, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, thì: Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại “63 vùng kinh tế”, tương ứng với 63 tỉnh, thành.[5] Nên không gian kinh tế vùng bị chia cắt và thu hẹp, nhiều cụm ngành kinh tế (Cluster) và sản phẩm thế mạnh mà các tỉnh có lợi thế chung không được “liên kết” hoặc lợi thế so sánh của từng tỉnh không được phát huy mà còn cạnh tranh cục bộ lẫn nhau, chuỗi giá trị ngành hàng bị cắt khúc, đầu tư trùng lắp, tính gia tăng giá trị thấp, suất đầu tư cao do không tận dụng được “lợi thế dùng chung” trên cơ sở phân công trong nội bộ vùng và liên vùng.

(3) Tổ chức quản trị vùng và cơ chế phối hợp còn nhiều hạn chế: là một trong 3 yếu tố quan trọng phát triển vùng, bao gồm: chính sách vùng, công cụ - nguồn lực tài chính và cơ chế quản lý phối hợp. Để phát triển kinh tế vùng, Trung ương Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành ban hành và hình thành hệ thống chủ trương, định hướng và chính sách phát triển vùng ĐBSCL qua việc ban hành các Nghị quyết, Chiến lược, Chương trình, Kế hoạch phát triển và qui hoạch vùng ĐBSCL. Nhưng việc tổ chức thực hiện nó hoàn toàn phụ thuộc vào các cơ quan Trung ương và địa phương. Những hoạt động tích cực gần đây của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ cũng chỉ là sự phối hợp kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của các Bộ, ngành và địa phương trong 3 lĩnh vực đột phá của vùng như phát triển: giao thông, thủy lợi, giáo dục – đào tạo và dạy nghề, cụm tuyến dân cư vượt lũ, các công trình trọng điểm trên địa bàn vùng ... Do đó, việc hình thành một tổ chức chỉ đạo, quản lý điều hành cấp vùng đang là vấn đề cần được nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở hoàn thiện một số mô hình hiện hữu như Ban Chỉ đạo điều phối vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL, một số hoạt động của BCĐ Tây Nam Bộ. Hoạt động của tổ chức này nên hướng vào việc điều phối, tập hợp được các dự án đang rải rác ở các Bộ, ngành, địa phương, có chức năng giám sát, đánh giá hiệu quả các dự án cấp vùng.

(4) Xét về cơ cấu kinh tế, các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL đều có đặc điểm chung là hoạch định chiến lược, các chương trình, kế hoạch đầu tư đều theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, giảm nông – lâm – ngư nghiệp, hướng theo một “Cơ cấu đẹp” nên hướng theo một cơ cấu kinh tế tương tự nhau hơn là dự trên lợi thế chung (hợp tác) và khai thác lợi thế so sánh (đặc thù) của từng tỉnh. Dễ thấy nhất là tình trạng tỉnh nào cũng có khu, cụm công nghiệp, chợ đầu mối, nhà máy đường, hoặc đang có xu hướng “chạy đua” xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, trung tâm giống … kết quả là đầu tư trùng lắp, dàn trải, chậm phát huy hiệu quả. Tình trạng hiện nay là cấp tỉnh đang thực sự chi phối và quyết định sự phát triển kinh tế vùng. Do đó, kinh tế vùng ĐBSCL mặc dù đang có nhiều lợi thế về sản phẩm mũi nhọn và các yếu tố địa - kinh tế khác nhưng chưa thể phát triển như mong muốn, đòi hỏi một cơ chế liên kết hợp tác thực sự hiệu quả. Theo đánh giá của Báo cáo “Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam” công bố 11-2010 với sự tham gia của “cha đẻ học thuyết cạnh tranh hiện đại” – GS. Michael E. Porter: “Đầu tư hạ tầng được dùng để bù đắp cho các tỉnh có tăng trưởng kém hơn chứ không phải nhằm tạo ra hiệu quả và tác động cao nhất có thể”. Điều đó cũng cho thấy, định hướng đầu tư hạ tầng đang nghiêng về góc độ “xã hội” hơn là “kinh tế”, nên trong điều kiện nguồn lực tài chính hạn hẹp, càng khó phát huy thế mạnh của địa phương và vùng. Theo TS. Trần Du Lịch[6] “Đã đến lúc chúng ta cần xoá bỏ tư duy cơ cấu kinh tế tỉnh, tránh tình trạng đất đai là “bờ xôi ruộng mật”biến thành các KCN hoặc đô thị; thúc đẩy sự bố trí sản xuất và dân cư trên phạm vi các vùng kinh tế”

(5) Sự cạnh tranh giữa các tỉnh có thể phá vỡ qui hoạch vùng: Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình phi tập trung hóa, theo đó, chính quyền cấp tỉnh được “chuyển giao quyền” và có quyền chủ động hơn về qui hoạch và phân bổ các nguồn lực đầu tư trong phạm vi địa phương mình. Các tỉnh thường quan tâm đến 2 vấn đề: Một là, các nguồn lực (chủ yếu là phân bổ vốn đầu tư ngân sách từ Trung ương) được chuyển giao hơn là bản chất chính sách và cơ cấu kinh tế vùng; hai là, làm thế nào để tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư bằng cơ chế chính sách của địa phương. Kết quả là, nhiều tỉnh “chạy đua khuyến khích” làm nảy sinh những câu chuyện tương tự như “ưu đãi đầu tư vượt rào” hay tỉnh nào cũng “đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực” dẫn đến việc đãi ngộ không còn ý nghĩa đặc thù, nó cũng giống như tình trạng tất cả đều có “quyền ưu tiên” nên dẫn đến “không ai có quyền ưu tiên cả”. Trong khi đó, hiện chưa có một cơ chế hành chính theo vùng nào chịu trách nhiệm điều phối sự phát triển vùng và quá trình “chuyển giao quyền” từ các Bộ, ngành Trung ương nhiều hơn cho các tỉnh (thẩm quyền quyết định, cấp phép đầu tư, ban hành cơ chế, chính sách ...). Một chính sách điều phối vùng (sát hợp hơn chính sách quốc gia) là cần thiết để điều phối vùng trong những tình trạng tương tự.

Vì vậy, mặc dù đã có chủ trương định hướng và chính sách cơ bản về kinh tế vùng, Chính phủ đã ban hành các qui hoạch vùng ĐBSCL; nhưng để “hiện thực hóa qui hoạch” bằng các chương trình, dự án đầu tư phải được thông qua các đơn vị cấp Bộ hoặc cấp tỉnh làm chủ đầu tư, thì tình trang chung là thường bị chia nhỏ cho các địa phương thực hiện như Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL, Chương trình kiên cố hóa trường lớp học, một tuyến giao thông được “chia xẻ” đầu tư cho nhiều địa phương như đường nối Cần Thơ – Vị Thanh, tuyến Bốn Tổng – Một Ngàn, dự án thủy lợi Ô Môn – Xà No …

2. Sự cần thiết liên kết vùng ĐBSCL trong lĩnh vực nông nghiệp, tập trung 3 sản phẩm thế mạnh cấp vùng: lúa gạo, trái cây, thủy sản (tôm, cá tra):
Từ thực trạng trên, cần thống nhất quán triệt chủ trương, xây dựng chương trình liên kết vùng, xây dựng cơ chế chính sách, khung hợp tác. Trước mắt, chương trình liên kết vùng ĐBSCL cần tập trung vào 3 sản phẩm mũi nhọn của vùng là: lúa gạo, cây ăn trái, thủy sản (tôm, cá tra) và liên kết vùng trong đào tạo nghề cho nông dân để phát triển sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm này.
Ngoài nguồn vốn ngân sách đầu tư từ Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Tam Nông, thì các nguồn vốn tín dụng đầu tư và thương mại, huy động vốn doanh nghiệp tham gia là rất quan trọng. Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã chủ động thực hiện riêng lẻ các chương trình như “Cùng nông dân ra đồng”, “Nhịp cầu nhà nông” của Công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang (ngoài ra đơn vị này còn có đóng góp kinh phí tự nguyện rất quan trọng cho việc nghiên cứu xây dựng Chương trình liên kết vùng ĐBSCL và các dự án hợp thành, chủ động xây dựng Trung tâm thực nghiệm và huấn luyện nông dân ở An Giang). Các chương trình tương tự cần được liên kết lại để phát huy hiệu quả.
Kênh huy động vốn cho Chương trình liên kết vùng ĐBSCL rất cần sự tham gia hoạch định chính sách tài chính - tiền tệ - tín dụng của Ngân hàng Nhà nước; sự hỗ trợ của WB và các tổ chức quốc tế quan tâm liên kết vùng trong lĩnh vực nông nghiệp (Phát biểu của bà Victoria KwaKwa – Giám đốc WB tại Việt Nam tại Hội nghị đầu tư vùng ĐBSCL, Cần Thơ tháng 9-2010 thể hiện mối quan tâm này) và các chương trình tín dụng của các ngân hàng thương mại như: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, BIDV, Viet Tin Bank, Liên Việt Bank ...

III. Nội dung và giải pháp thực hiện liên kết kinh tế vùng ĐBSCL:
Trên cơ sở kết quả quá trình phát triển sản xuất kinh doanh trong nhiều thập kỷ qua và những điều kiện tự nhiên của Vùng ĐBSCL, có thể xác định một số sản phẩm mũi nhọn, tạo điều kiện hình thành và phát triển một số cụm liên kết (cluster) tiềm năng của Vùng ĐBSCL, đó là lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản (tôm, cá tra).
1. Một số vấn đề liên quan đến phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Trong khi người nông dân ĐBSCL là tác giả của “công trình” đưa Việt Nam trở thành và giữ vững vị trí thứ 2 thế giới của một “cường quốc xuất khẩu gạo”, thì đời sống của họ lại luôn bị đe dọa bởi những yếu tố bất ổn định như giá cả, thời tiết, dịch bệnh,…. Một số nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên là:
+ Vấn đề “an ninh lương thực” chưa được lý giải một cách thấu đáo, chưa có chính sách ưu đãi phù hợp làm ảnh hưởng đến lợi ích của người trồng lúa phục vụ cho mục tiêu quan trọng này. Chưa có sự phân biệt giữa người sản xuất lúa gạo cho mục tiêu an ninh lương thực - những chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ an ninh lương thực quốc gia, góp phần quan trọng cho an ninh lương thực thế giới - với người sản xuất lúa gạo cho mục tiêu thương mại đã dẫn đến việc Nhà nước không đủ khả năng bao cấp cho toàn bộ nông dân sản xuất lúa, đời sống của người sản xuất lúa gạo luôn thấp hơn những người nông dân khác trong Vùng. Chính vì vậy cần phải tách bạch rõ ràng phạm vi và đối tượng những người chịu trách nhiệm thực thi nhiệm vụ “bảo vệ an ninh lương thực” và những người trồng lúa để phục vụ mục tiêu kinh doanh để từ đó có những chính sách khác biệt cho những đối tượng này.
+ Hiện tượng “được mùa mất giá” liên tục diễn ra, khâu trung gian kết nối giữa người sản xuất lúa gạo và thị trường tiêu thụ (cả nội địa lẫn xuất khẩu) đều còn tồn tại quá nhiều vấn đề nên thiệt hại trong việc kinh doanh lúa gạo luôn trút lên vai người nông dân.
+ Việc bảo quản sau thu hoạch, đóng gói và thương hiệu gạo còn nhiều hạn chế, đặc biệt là khâu xay xát và lưu trữ gạo trước khi đưa ra thị trường.
Để lúa gạo có thể trở thành sản phẩm hạt nhân trong một Cụm liên kết, ngoài các mục tiêu, giải pháp được nêu trong dự án Phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ĐBSCL, cần lưu ý một số quan điểm cũng như giải pháp cho một số vấn đề sau:
+ Mục tiêu xuất khẩu gạo chỉ có ý nghĩa khi đời sống của người nông dân sản xuất gạo được cải thiện và Nhà nước không phải hỗ trợ nhiều hơn nông dân ở những ngành khác.
+ Hỗ trợ nghiên cứu một số giống lúa mới, đảm bảo quản lý chất lượng giống lúa theo hướng phù hợp với nhu cầu của thị trường, ổn định chất lượng và giá trị của sản phẩm gạo.
+ Hỗ trợ nghiên cứu công nghệ sau thu hoạch và chuyển giao công nghệ cho người nông dân.
+ Hỗ trợ các dự án xây mới hoặc mở rộng, nâng cấp các kho trữ gạo, như hỗ trợ lãi xuất tín dụng, hỗ trợ tạo mặt bằng.
+ Cải thiện hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất lúa.
+ Đổi mới cơ chế quản lý xuất khẩu gạo.
Các chính sách tín dụng ngân hàng cần công bố rõ ràng khoản tín dụng ưu đãi, lộ trình ít nhất là 5 năm cho các hỗ trợ trên.

2. Một số vấn đề liên quan đến phát triển sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả
ĐBSCL là vùng có truyền thống trồng cây ăn trái và diện tích, sản lượng lớn hất nước với diện tích chiếm 38% và sản lượng chiếm 70%. Tuy nhiên, còn nhiều tồn tại trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cây ăn quả (CAQ), như:
+ Đến nay, trên phạm vi cả nước và cấp vùng vẫn chưa có qui hoạch CAQ, việc xây dựng vùng chuyên canh chưa được chú ý, quy mô nông hộ nhỏ và trồng tạp, hình thức tổ chức sản xuất chưa phù hợp dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao.
+ Công tác giống và quản lý giống còn nhiều bất cập.
+ Việc sản xuất CAQ chưa được các nhà vườn thất sự quan tâm theo hướng chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩm (GAP).
+ Trái cây chưa hấp dẫn người tiêu dùng nội địa và nước ngoài, do năng suất, chất lượng kém, công nghệ sản xuất và chế biến, đóng gói còn lạc hậu, dẫn tới giá thành cao nên rất khó cạnh tranh.
+ Trái cây Việt Nam thực sự sẽ phải cạnh tranh rất gắt gao với trái cây nhập khẩu khi hàng rào bảo hộ thuế giảm xuống.
+ Thất thoát sau thu hoạch còn khá lớn, công nghệ đóng gói, chế biến chưa phát triển và lạc hậu so với nhiều đối tác cạnh tranh trong khu vực.
+ Cơ sở hạ tầng còn yếu kém làm tăng chi phí sản xuất, lưu thông sản phẩm nông nghiệp.
+ Hệ thống dịch vụ nông nghiệp, nông thôn còn nhiều yếu kém, bất cập.
+ Sự liên kết giữa những người sản xuất với nhau, giữa người sản xuất và nhà phân phối giữa các địa phương có vùng chuyên canh CAQ còn rất lỏng lẻo.

3. Một số vấn đề liên quan đến phát triển và tiêu thụ thủy sản
Mặc dù đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước với diện tích chiếm 70%, 58% sản lượng, riêng tôm chiếm 80% và đóng góp trên 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Song, việc phát triển nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản một cách tự phát quá nóng, thiếu đồng bộ; đầu tư cho phát triển còn thấp, chậm; cơ sở hạ tầng yếu kém, rõ nhất là ngành nuôi tôm, cá tra ĐBSCL.... Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành cụm liên kết thủy sản, cần chú ý một số vấn đề sau:

+ Đảm bảo giống: việc cung ứng giống tôm và cá trong Vùng vẫn chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ; chưa có sự liên kết mật thiết giữa các đơn vị cung ứng giống với các đơn vị nuôi thủy sản.

+ Dịch bệnh: vẫn luôn là nguy cơ lớn đối với tất cả các đơn vị nuôi trồng thủy sản, do giống chưa được đảm bảo, sự lan truyền của dịch bệnh còn do việc đầu tư sản xuất cũng như hệ thống thủy lợi phục vụ thủy sản chưa được chú ý đúng mức.

+ Giá cả bất ổn định: giá đầu vào lẫn đầu ra đều biến động lớn trong những năm gần đây theo hướng gây thiệt hại cho người sản xuất. Ngoài ra, các biện pháp hạn chế như hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và các chế tài bằng thuế chống bán phá giá phi lý của một số quốc gia đã gây thiệt hại chủ yếu cho người nuôi.

+ Chế biến: mặc dù đã hình thành các cụm nhà máy chế biến ở Sóc Trăng, Cà Mau, Hâu Giang, An Giang và Cần Thơ … nhưng vấn đề nổi lên thời gian qua là chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đã ảnh hưởng tiêu cực đến thương hiệu của thủy sản Việt Nam.

+ Thủy sản Việt Nam, nhất là 2 mặt hàng tôm, cá tra cũng đang chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt do cách áp đặt thuế chống bán phá giá, hàng rào kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm hay môi trường của một số quốc gia hay tổ chức mà việc Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) đưa cá tra VN vào danh sách Đỏ để khuyến cáo hạn chế sử dụng vào đầu 12.2010 là một thí dụ.

4. Đào tạo nghề cho nông dân ĐBSCL phát huy 3 sản phẩm mũi nhọn của vùng:
Mục tiêu của dự án Đào tạo nghề cho nông dân ĐBSCL phát huy 3 sản phẩm mũi nhọn của vùng (lúa gạo, trái cây và thủy sản) là trong 10 năm (2011-2020) đào tạo và tư vấn nghề (chủ yếu là đào tạo máy cái) cho khoảng 30.000 lượt người và tư vấn nối kết doanh nghiệp với các cơ sở dạy nghề ở địa phương, với tổng kinh phí 155 tỉ đồng, trong đó gần 135 tỉ đồng dành cho việc nghiên cứu, hơn 20 tỉ đồng xây dựng nâng cấp một Trung Tâm Nghiên cứu và Đào tạo nghề nông thôn cho toàn vùng đặt tại Đại học Cần Thơ (trên cơ sở hiện có của Trung Tâm Nghiên cứu và Đào tạo Nghề Nông thôn thuộc Viện NCPT ĐBSCL – ĐHCT); chương trình sẽ tận dụng, lồng ghép với hoạt động đào tạo, chuyển giao công nghệ của Viện lúa ĐBSCL, Viện Cây ăn quả Miền Nam.

Về đào tạo nghề cho nông dân, mặc dù Chính phủ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đang triển khai đề án đào tạo nghề cho nông dân cả nước trong 5 năm với kinh phí hơn 32.000 tỉ đồng. Việc triển khai đề án được thực hiện qui mô, nhưng đang là vấn đề cần được quan tâm chỉ đạo sát sao với cách làm mới để đạt hiệu quả tốt hơn hơn là việc phân bổ nguồn vốn đào tạo về cho các tỉnh. Nhiều người lo ngại, với những trợ cấp cho người học nghề cả chi phí đi lại, ăn ở, vói hệ thống các trường nghề địa phương và năng lực đào tạo còn nhiều hạn chế như hiện nay có khả năng cho ra những sản phẩm đào tạo không có địa chỉ, do những học viên đi học nghề cho đủ chỉ tiêu. Cần phát huy vai trò các trung tâm đào tạo nghề cấp vùng trong việc cho ra đời các “máy cái” để đào tạo lại các kỹ năng nghề cho nông dân thật sự có nhu cầu và liên kết chặt chẽ các chương trình đào tạo nghề đang có xu hướng rãi ra ở các địa phương. Ngoài ra, một chủ trương lớn như vậy cũng rất cần được Chính phủ chọn ĐBSCL – từ những đặc điểm, yếu tố mang tính quyết định của vùng này – để làm điểm chỉ đạo.

5. Hỗ trợ tín dụng để phát triển các sản phẩm mũi nhọn vùng ĐBSCL:
Đề nghị các ngân hàng, tổ chức tín dụng quan tâm, có chương trình hỗ trợ tín dụng cho Chương trình liên kết vùng tập trung vào các sản phẩm chủ lực với các nội dung sau:

- Đối tượng được thụ hưởng các chính sách ưu đãi tín dụng, bao gồm các doanh nghiệp và các dự án sau:
+ Các doanh nghiệp, dự án liên quan đến sản xuất và chế biến nông thủy sản
+ Các đơn vị cung ứng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
+ Các cơ sở dạy nghề theo danh mục dự án đào tạo nghề
+ Các dự án xây dựng kho trữ nông sản, thủy sản
+ Các dự án chuyển giao công nghệ
+ Các dự án phát triển du lịch trên cơ sở liên kết trong vùng và với vùng khác
+ Các dự án mở rộng sản xuất hoặc di dời đến ĐBSCL của các doanh nghiệp ở vùng khác.
+ Các dự án liên quan đến dạy nghề, đặc biệt là dạy nghề phục vụ liên quan đến 3 sản phẩm chủ lực.

- Ban hành chính sách tín dụng ưu đãi với những hình thức khác nhau: lãi suất thấp hoặc không lãi, thời gian ân hạn phù hợp, hình thức thế chấp đơn giản, bảo lãnh tín dụng…

- Hỗ trợ tín dụng cho dự án nâng cấp các cơ sở dạy nghề công lập, đầu tư thành lập các cơ sở dạy nghề ngoài công lập và khuyến khích các doanh nghiệp cùng phối, kết hợp trong quá trình dạy nghề liên quan đến 3 sản phẩm chủ lực; hỗ trợ việc hợp tác Viện, trường - doanh nghiệp trong công tác dạy nghề và nghiên cứu đưa ra những sản phẩm mới, công nghệ mới, đặc biệt những công nghệ liên quan đến các sản phẩm chủ lực.

IV. Kết luận – kiến nghị:
1. Việc xây dựng và triển khai Chương trình liên kết vùng ĐBSCL trong lĩnh vực nông nghiệp, tập trung các sản phẩm mũi nhọn và đào tạo nghề thiết thực cho nông dân là vô cùng cần thiết để góp phần thực hiện thành công Nghị quyết TW 7 về nông nghiêp, nông dân, nôn thôn và Chương trình hành động của Chính phủ ở một địa bàn trọng điểm nông nghiệp của cả nước. Nó cũng tạo ra “cốt” vật chất và con người cho xây dựng nông thôn mới, là một trong những giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn bền vững mà hội thảo này chọn thảo luận. Chủ chương liên kết vùng ĐBSCL cần một cơ chế pháp lý rõ ràng và mạnh mẽ hơn là sự “khuyến khích” bằng một văn bản truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ.[7] Một “Chiếc áo pháp lý” tương xứng cho liên kết vùng là rất cần thiết cho một nhu cầu bức xúc từ vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp lớn nhất nước, lực lượng nông dân đông đảo nhất và trình độ sản xuất hàng hóa nông nghiệp vào loại bậc nhất cả nước.

2. Cần tiếp tục nghiên cứu hình thành tổ chức quản trị - điều hành cấp vùng phù hợp, đủ sức đảm đương và điều tiết các nhu cầu cấp vùng. Trước mắt cần nghiên cứu, hoàn thiện mô hình hoạt động của Ban Chỉ đạo điều phối Vùng kinh tế trọng điểm để thử nghiệm cho Chương trình liên kết vùng ĐBSCL.

3. Đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào 3 sản phẩm mũi nhọn của vùng ĐBSCL, tập trung hoàn thiện CSHT kinh tế, khai thông các kênh tín dụng (vốn ngân sách, OAD, FDI, vốn doanh nghiệp tham gia và vốn tín dụng ngân hàng) và đào tạo nguồn nhân lực để phát triển các sản phẩm mũi nhọn này.[8]

4. Tăng cường hơn nữa các hình thức liên kết, hợp tác theo nhu cầu và thực chất hơn các hình thức ký kết hợp tác kinh tế giữa chính quyền các tỉnh, thành trong vùng với nhau bvà với TP HCM thời gian quan chủ yếu mang tính cam kết, còn nặng hình thức và theo phong trào. Cần phát huy hơn nữa kết quả của Diễn đàn hợp tác Kinh tế ĐBSCL đã được Thủ tướng Chính phủ Quyết định thành lập.
_________________________________________________________________________________
[1] Phó Chánh Văn phòng BCĐ Tây Nam Bộ, Ủy viên BCĐ Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL

[2] Công văn số 740/VPCP-KTN ngày 01-02-2010 về Chương trình liên kết vùng ĐBSCL

[3] Địa lý các vùng kinh tế Việt Nam, NXb Giáo dục, 2009.

[4] Vũ Thành Tự Anh, Nghiên cứu chính sách vùng của Việt Nam, 2008

[5] Lê Viết Thái, Báo cáo đề dẫn Hội thảo quốc tế Phát triển kinh tế vùng, CIEM, 2009.

[6] Tham luận Hội thảo Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, Cần Thơ 12-2010

[7] Công văn số 740/VPCP-KTN ngày 01-02-2010 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng về Chương trình liên kết vùng ĐBSCL

[8] Bộ KH&ĐT đang nghiên cứu trình TTg CP đề án đặc thù thu hút đầu tư vào vùng ĐBSCL.

2 nhận xét:

  1. Hay thế này mà giờ mới cho biết?

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cám ơn nhà báo đã động viên. Do phải làm việc, cày bừa kiếm tiền để ... sống, nên không nhiều thời gian, làm từ từ thôi. Sẽ tiếp tục up lên các nội dung tương tự. Mong chia sẻ. Chúc vui.

      Xóa