30 tháng 1, 2012

ĐẤT CHÍN RỒNG: TỪ "NĂM THÌN BÃO LỤT" ĐẾN THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trần Hữu Hiệp
Nam bộ là vùng đất lành, chim đậu, mưa thuận, gió hòa. Có lẽ vì vậy mà hậu quả của “Năm Thìn bão lụt” (1904 và 1952) đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong tâm trí người dân. Câu “Năm Thìn bão lụt” không chỉ để nói chuyện xưa mà còn nhắc đến một hậu quả thiên tai lớn “Gặp em đây mới biết em còn/Hồi năm Thìn bão lụt, anh khóc mòn con ngươi”. Đầu năm con Rồng, nhắc chuyện “năm Thìn” ngẫm về triết lý sống chung với lũ, vượt lên đỉnh lũ và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở vùng đất Chín Rồng...
* Chuyện “Năm Thìn bão lụt”

Mùa lũ (Ảnh: hiepcantho)

Trong Nam bộ 300 năm làm thủy lợi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2005, Sách biên niên sử An Giang, quyển Gò Công xưa và nay của Huỳnh Minh, Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển, Tạp chí Xưa & Nay, số 75B, tháng 5 năm 2000 và nhiều tài liệu khác... có đề cập đến chuyện “Năm Thìn bão lụt”. Đó là trận bão lũ kèm sóng thần dữ dội tàn phá khắp Nam bộ, mà đỉnh điểm của nó diễn ra vào ngày 1 tháng 5 năm 1904 (nhằm ngày 16 tháng 3 năm Giáp Thìn) cách nay 108 năm. Những nơi bị thiệt hại nặng nhất là Gò Công, Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia Định và dọc theo vùng duyên hải, ảnh hưởng đến tận Campuchia. Nhiều làng gần bờ biển Tây Nam bộ bị sóng cao đến 4, 5m cuốn đi mất. Theo sách Sài Gòn Gia Định xưa - Tư liệu và hình ảnh (tr.79), thì chỉ riêng trận sóng thần này đã làm chết khoảng 5.000 người ở Gò Công và vùng lân cận; còn theo “dân gian, truyền miệng”, thì miệt Gò Công, Tân An (bao gồm Tiền Giang, Long An và một phần TP.HCM hiện nay) số người chết khoảng “một muôn hai” (tức khoảng 12.000 người). Ở ĐBSCL còn xảy ra 2 trận lụt lớn “năm Thìn” khác. Đó là trận lụt năm Nhâm Thìn 1952 và đặc biệt là lũ năm Canh Thìn 2000 được coi là một trận lụt lịch sử, lớn nhất trong vòng 87 năm qua. Theo thống kê của Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia, có 539 người chết, 212 người bị thương, hơn 890.000 căn nhà, gần 14.000 phòng học, 383 cơ sở y tế bị ngập trong nước, hơn 62.000 hộ dân phải di dời nhà ở, hơn nửa triệu người phải cứu trợ khẩn cấp, 80 vạn học sinh phải nghỉ học; hơn 224.000ha lúa, gần 86.000ha hoa màu, cây ăn trái, cây công nghiệp; hơn 14.000ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại... Ước tổng thiệt hại ở ĐBSCL trong năm 2000 khoảng 4.626 tỉ đồng.

Đồng Tháp Mười mùa lũ
 * Triết lý “sống chung với lũ”
Nhắc chuyện “Năm Thìn bão lụt” ngẫm chuyện nay, mai. ĐBSCL từ chống lũ ở thập niên 1980 trở về trước, thực tiễn đã dạy người dân kinh nghiệm “né lũ” rồi hình thành chủ trương và cách làm thể hiện “ý Đảng, lòng dân” trong việc “chung sống với lũ”. Chương trình “Xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL giai đoạn 1” và nhiều chương trình đầu tư giao thông, thủy lợi, trường học,... là một minh chứng. Vượt lên trên một chương trình kinh tế - xã hội, xây dựng hơn 1.000 cụm, tuyến dân cư với hệ thống cơ sở hoàn chỉnh đồng bộ, nó còn mang đậm tính nhân văn, đã bố trí chỗ ở ổn định, làm ăn, sinh sống cho hơn 200.000 dân vùng ngập lũ - một cuộc “di dân tại chỗ và tái định cư lớn” chưa từng có trong lịch sử vùng đất này đã diễn ra thành công. Cơn lũ lớn năm 2011 vừa qua ở ĐBSCL như liều “thuốc thử” để đánh giá kết quả những nỗ lực của hơn một thập niên đầu tư xây dựng, củng cố triết lý “sống chung với lũ” đã được hình thành bằng chính mồ hôi, nước mắt và máu của con người vùng đất này. Hơn thế, là cuộc tập dợt bước đầu trước yêu cầu “thích ứng biến đổi khí hậu và nước biển dâng” - một thách thức toàn cầu - đang hiển hiện ngày càng rõ ở vùng đất Chín Rồng. Năm 2011 đi qua ghi thêm kỳ tích cho hạt gạo và người làm ra lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long; không chỉ là cột mốc lịch sử của sản lượng xuất khẩu 7,5 triệu tấn gạo, cung cấp 100% sản lượng xuất khẩu gạo của cả nước, chiếm hơn 20% lượng gạo thương mại toàn thế giới mà còn khẳng định tư thế của “hạt gạo đồng bằng vượt lên đỉnh lũ”.
Vùng châu thổ Cửu Long, từ cây lúa ma, lúa nổi, lúa trời, lúa nước đến lúa “chất lượng cao”; từ lúa 1 vụ đến 2 vụ, 3 vụ và ngày nay là chuỗi giá trị lúa gạo từ “cánh đồng mẫu lớn” bạt ngàn ra thị trường thế giới; từ lúa “để ăn” đến lúa hàng hóa đi khắp năm châu, đại diện cho cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu. Lúa gạo đất Chín Rồng đã tạo ra kỳ tích bằng đường bay của con rồng châu Á: Từ vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, từ những cánh đồng ngồn ngộn phù sa ven sông Tiền, sông Hậu, vượt lên hạn hán, xâm nhập mặn, triều cường và những cơn lũ dữ để chiếm ngôi vị á quân xuất khẩu gạo thế giới. Năm châu ngắm nhìn hạt gạo đồng bằng đầy ngưỡng mộ và nó thực sự xứng đáng được đặt vào vị trí trang trọng nhất trong cuộc chiến bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu.
* “Hai lúa” thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu
Thực tế đã hiển hiện “kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng” do các nhà khoa học dự báo là có thật, mà ĐBSCL là một “điểm nóng” trên thế giới. Những người hoạch định chính sách, chiến lược và nhà khoa học phải có tầm nhìn, tính đến những mục tiêu ứng phó dài hạn với nhiều giải pháp đồng bộ. Những người nông dân ĐBSCL ngày nay không chỉ “một nắng, hai sương” trên đồng ruộng, mà còn là bạn đồng hành với nhà khoa học, họ không thể không biết đến “thách thức toàn cầu”. Song, như cha ông xưa “mang gươm đi mở cõi”, nông dân ngày nay vẫn với tư thế bình tĩnh để “thích ứng, thích nghi”: không sợ hãi, không lùi bước và chắc chắn sẽ không có một cuộc di dân chạy khỏi vùng lũ. Họ vẫn phải sống, con em phải đi học, vùng đất này vẫn tiếp tục được đầu tư phát triển. Bằng kinh nghiệm sống, sức sáng tạo, người đồng bằng đã hình thành tư duy từ “chống lũ”, “né lũ”, đến “sống chung với lũ”, “vượt lên đỉnh lũ”. Và ngày nay, những “Hai lúa” miền Tây đang hiện thực hóa triết lý đó bằng hành động gắn với những kết quả nghiên cứu khoa học để thích ứng với biến đổi khí hậu - một nguy cơ toàn cầu bằng chính bản lĩnh Việt Nam. Chuyện năm Thìn bão lụt xưa như một ký ức động viên người đồng bằng nay vượt qua gian khó, vượt lên đỉnh lũ bằng thế rồng bay.

NHẬT KÝ NƯỚC ĐỨC

Gặp lại Deutschland

Brandenburg-Berlin
 Ngày 26-9-2010,
Trở lại nước Đức sau 11 năm, lòng bâng khuâng khó tả. Cái đất nước xa lạ, mênh mông và nhiều điều mới mẻ này ngày nào đã ghi dấu bao kỷ niệm thời trai trẻ của mình, tuổi 30 tràn đầy nhựa sống. 
Nơi đây, lần đầu tiên mình biết hệ thống Metro chằn chịt xuyên trong lòng đất của thành phố với những cao ốc chọc trời ở Franfurt – trung tâm tài chính, ngân hang châu Âu. Nơi đây, lần đầu tiên mình đi xe lửa cao tốc 300 Km/giờ (sau vụ tai nạn thảm khốc năm 1998, Chính phủ Đức chỉ cho tàu chạy cao nhất 200Km/h). 
Nước Đức với những miền đất huyền thoại mà mình đã có may mắn in dấu bùn miền quê sông Hậu lên chân Bức tường Berlin còn sót lại, hay ngồi thuyền trên sông Rhein, vào những lâu đài cổ xưa của Cologne, Aachen, Saarbuecken hay vào Bảo tàng bia với 5.000 năm văn hóa bia của Đức ở Dortmund …
Qua cửa ngỏ sân bay quốc tế Frankfurt, nay vẫn thế, nhịp sống nhanh và bận rộn, nhưng không mất trật tự. Người Đức dù phải gồng mình vượt qua bao khó khăn giải quyết hậu quả nặng nề sau cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới; dù bị “tụt hạng” cùng với Nhật Bản, bị mấy chú Chệt châu Á vượt qua, nhưng nước Đức vẫn là nền kinh tế hàng đầu EU, đứng thứ 4 thế giới, trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, là quê hương của nhiều chủ nhân giải thưởng Nobel trong nhiều lĩnh vực, là chủ sở hữu của những “thương hiệu” nổi tiếng thế giới không chỉ là Mercedes Benz, VW, BMW, Siemens, Bayer AG, … mà đặc biệt là những giá trị vô hình luôn gắn liền với phong cách Đức. Đó là tính kỹ luật, sự bền bỉ, thói quen đúng giờ và cẩn thận … Nước Đức mình đã đến, đã sống, rồi chia tay, nay trở lại. Nước Đức đã chiếm một phần trong trái tim mình tự lúc nào, khi xem một đội bóng Đức, một món hàng Đức … tự dưng lại có cảm tình hơn.
Gã ăn xin bên chú chó trung thành. Tôi cũng bỏ 1 Euro vào thau tiền cho chú chó
Nhưng nước Đức không phải là tất cả. Và trên thế gian này cũng sẽ không có bất kỳ nơi nào là thiên đường dành cho ta. Có chăng đó chỉ là những thiên đường trong kinh thánh, chỉ là Đức tin mà chúa Giêsu, thánh Ala, Phật Thích Ca truyền dạy. Sẽ không có bất kỳ một xã hội hoàn toàn tốt đẹp nào mà con người có thể phát hiện ra bằng những chuyến đi tìm lang thang. Tất cả đều phải đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để đổi lấy. 
Nền kinh tế đứng đầu châu Âu này chưa thể giải quyết được nạn thất nghiệp đã đành, nhưng vẫn còn đó những kẻ ăn xin, mặc dù phần đông trong số họ là người Thổ, những gã xin ăn “trí thức” làm “người mẫu” nghiệp dư cho du khách chụp ảnh, chơi nhạc hay chỉ ngồi ủ rủ bên chú chó dễ thương, chờ thiên hạ rủ lòng thương.
Park Inn Hotel - Tòa nhà cao nhất Berlin
Ấn tượng không đẹp đầu tiên ngày trở lại nước Đức của mình là những anh chàng … cảnh sát. Họ cho qua những hộ chiếu của công dân Đức và dường như đang soi mói, tìm kiếm gì từ những hành khách châu Á. Một nhóm 3 Polizei Đức làm hàng rào kiểm soát ngay lối vào từ cầu hàng không. Họ hỏi từ hộ chiếu (đã đành), vé máy bay (dù là vé điện tử in trên mạng), thư mời, và cả việc … mang theo bao nhiêu tiền, có xài thẻ tín dụng không. Thú thật 15 tháng ở Đức cách đây 12 năm trước, đi qua Bỉ, Pháp, Hà Lan, Luxemburg, mình chưa một lần bị anh chàng cảnh sát nào chặng hỏi điều gì. Đến cửa kiểm soát an ninh sân bay Frankfurt, họ vẫn làm kỹ như thế. Có lẽ chỉ là sự trùng hợp xui rủi khi cảnh sát Đức phải thực hiện một công vụ đặc biệt nào, nhưng vẫn một cảm giác khó chịu. Thế “lầy” thì Việt Nam ta còn tiến bộ hơn hẳn bọn mầy. Nhưng cuối cùng rồi cũng qua.

Vết tích Bức tường Berlin

Công dân CHLB Đức?
Berlin – Potsdam
Gần 15 giờ mới từ sân bay Berlin về khách sạn Park Inn
- một khách sạn thuộc loại đắc đỏ nhất nơi này. Với 1.012 phòng trên 37 tầng, Park Inn Hotel là khách sạn lớn nhất và là tòa nhà cao nhất ở thành phố Berlin. Nó được xây dựng vào năm 1967 - 1970 ở Đông Berlin và được thiết kế lại vào năm 2001 sau khi nước Đức thống nhất, chính thức đưa vào hoạt động lại vào năm 2003. Lần đầu tiên mình đến Berlin vào năm 1998 cũng chưa được đến đây.
Park Inn Hotel - Tòa nhà cao nhất nằm vị trí trung tâm Berlin.
Chị Hải, một Việt kiều từng du học CHDC Đức trước 1975, rồi định cư hẳn ở đây, mình quen trong chuyến đi Hoa Lư – Tam Cốc năm ngoái. Chị đã chờ, khoảng hơn 14 giờ 2 chị em đi Potsdam bằng tàu điện ngầm. Potsdam cách Berlin khoảng 40km về phía đông, là thủ phủ của tiểu bang Brandenburg. Một thành phố cổ tuyệt đẹp.

Thổi kèn Tây

Những con đường rợp lá thu vàng bên Sanssousi 
 
Lâu đài Sanssousi xanh biếc lá nho
Mặc trời mưa lâm thâm, chiều thu chập choạng, Potsdam vẫn đẹp lạ thường. Potsdam là thành phố di sản, nổi tiếng với nhiều lâu đài và vườn hoa thơ mộng của những ông hoàng, bà chúa xưa còn được lưu giữ đến nay. Vẻ đẹp thơ mộng của núi rừng, hồ, và các cung điện đã trở thành cảm hứng của biết bao nhà văn, nhà thơ Đức. Di sản cảnh quan của thành phố đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1990.
Hai chị em đi qua những con đường thẳng tấp hàng cây, những khu vườn đẹp như trong cổ tích chỉ dành cho bậc vua chúa, hoàng gia hưởng thụ. Nay ta, một thằng nhà quê, từ xứ sở sông nước ruộng đồng mà cha ông cùng thời đó, cơm còn chưa đủ ăn, áo mặc chưa đủ ấm, mơ ước chi có dịp đi xa tận xứ này. Những lâu đài cổ xưa hoành tráng, uy nghi trầm mặc. Hàng trăm bức tượng mà mỗi bức là một công trình nghệ thuật ghi dấu một giai đoạn lịch sử của nước Đức. Những tảng đá vô tri như đang suy tư trong một không gian tĩnh lặng êm đềm. ...
Những con đường rợp lá thu vàng quanh lâu đài Sanssouci.

BAO GIỜ SÁNG LÊN NGUỒN ĐIỆN ĐỒNG BẰNG?

                                                                                                                                Trần Hữu Hiệp
Bài đăng trên Vietnamnet ngày 10-3-2008
Trong chiến lược phát triển sắp tới, ngành công nghiệp điện có vị trí rất đặc biệt quan trọng đối với ĐBSCL. Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đến 2010 nhu cầu điện của ĐBSCL ước tính cần đến 6.000 MW - bằng một nửa năng lực cấp điện hiện tại của cả nước. Trong khi đó, chúng ta phải luôn đối mặt với tình trạng thiếu điện nghiêm trọng trong mùa khô hàng năm. Đây quả là một thách thức, song cũng là động lực thúc đẩy yêu cầu phát triển điện lực cho cả vùng.


Mô hình Trung tâm Khí-điện Cà Mau (Ảnh: hiepcantho)
Những “quả đấm” mạnh tạo nguồn điện mới
Công trình quốc gia khí - điện - đạm Cà Mau với tổng vốn đầu tư trên 1,2 tỉ USD, gồm đường ống dẫn khí PM3 dài 325 km từ ngoài khơi có năng lực vận chuyển 2 tỉ m3 khí/năm; hai Nhà máy điện Cà Mau 1 & 2 có tổng công suất 1.500 MW và Nhà máy đạm 800.000 tấn /năm. Hiện tại, Nhà máy khí điện Cà Mau 1 đã vận hành và hoà vào lưới quốc gia, Nhà máy điện Cà Mau 2 sẽ hoà lưới vào giữa năm 2008, góp phần quan trọng khắc phục tình trạng thiếu điện mùa khô.


Nhà máy nhiệt điện Ô Môn


Ngoài khí điện, nhiệt điện là nguồn năng lượng quan trọng cho đồng bằng sông Cửu Long. Quy hoạch tổng thể Trung tâm Điện lực Ô Môn đã được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) phê duyệt. Theo đó, Trung tâm điện lực này gồm 4 nhà máy nhiệt điện với tổng công suất 2.640 MW, tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỉ USD. Trong đó, Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn 1 có công suất 600 MW, đã hoàn thành khoảng 65% khối lượng, ước tính việc cung cấp điện sẽ được thực hiện vào đầu năm 2009. Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn 2 công suất 720 MW, theo tiến độ xây dựng đến năm 2011 đi vào vận hành. Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn 3, công suất 600 MW dự kiến vận hành vào năm 2013; Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn 4 công suất 720 MW cũng sẽ được đưa vào vận hành năm 2015. Mỗi năm, Trung tâm Nhiệt điện Ô Môn sẽ tiêu thụ khoảng 4 tỷ m³ khí. Tuy nhiên, tiến độ đầu tư xây dựng các Nhà máy trên còn chậm, cần được quan tâm đẩy nhanh hơn nữa với quyết tâm và nỗ lực cao tạo ra nguồn năng lượng mới cho đồng bằng sông Cửu Long.


Bao giờ sáng lên những dòng điện mới?
Tại Sóc Trăng, các chuyên gia đã tiến hành khảo sát vào tháng 8-2007 để xây dựng một nhà máy nhiệt điện than trên diện tích khoảng 350 ha, với 4 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 600MW cùng hệ thống kho bãi, bến cảng đáp ứng cho tàu 10.000 tấn ra vào đã được. Tại Trà Vinh, một nhà máy nhiệt điện tương tự, công suất khoảng 1.000 MW cũng đã được các chuyên gia khảo sát để quyết định đầu tư nhằm góp phần tăng năng lực cấp điện cho vùng ĐBSCL, tạo thế liên hoàn giữa công nghiệp năng lượng với các ngành kinh tế biển. Khoảng giữa năm 2007, Tập đoàn điện lực Pháp (EDF) cũng đã đến khảo sát tại Khu công nghiệp Sông Hậu, tỉnh Hậu Giang và đã ký thoả thuận thuê 350 ha để xây dựng một Nhà máy nhiệt điện than với công suất khoảng 3.600 MW. Theo Quyết định số 1290/QĐ-TTg ngày 26-9-2007, Thủ tướng Chính phủ cũng đã đưa danh mục 2 Nhà máy điện than Kiên Giang I & II với tổng công suất dự kiến 5.200 MW vào Danh mục dự án quốc gia gọi vốn đầu tư nước ngoài thời kỳ 2006 – 2010.
Tính theo suất đầu tư, tương đương mỗi 1.000MW điện thì cần có 1 tỷ USD thì chương trình phát triển điện năng cho vùng ĐBSCL quả là những con số khá lớn. Những thông tin trên thật có nghĩa đối với các nhà đầu tư và người dân đồng bằng, mở ra triển vọng cho ngành công nghiệp điện của vựa lúa “Chín Rồng”. Song, vấn đề quan trọng là việc triển khai đầu tư, đảm bảo tiến độ xây dựng các dự án đã có quyết định đầu tư như Nhà máy điện Cà mau 2, Trung tâm điện lực Ô Môn. Bên cạnh đó cần qui hoạch bài bản, khoa học, hợp lý, khả thi các nhà máy điện để định hướng cho giai đoạn nghiên cứu, khảo sát. Nhu cầu điện cho phát triển đồng bằng sông Cửu Long rất lớn và bức xúc, nhưng cần tránh tình trạng tỉnh nào cũng có nhà máy điện, nhất là nhiệt điện than.





Cần qui hoạch và cách làm bài bản
Hiện nay, chỉ mới có Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 – 2015, các Quyết định phê duyệt qui hoạch chung Khu khí - điện - đạm Cà Mau, Trung tâm điện lực Ô Môn, Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 – 2010, định hướng đến năm 2020; cả nước đã tiến hành quy hoạch điện 6, nhưng toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long thì vẫn chưa có một qui hoạch phát triển điện lực bài bản, chỉ mới dừng lại ở tầm quốc gia và từng tỉnh riêng lẻ. Trong khi qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội, qui hoạch giao thông, thủy lợi, xây dựng của vùng đã được phê duyệt và đang được xem xét điều chỉnh. Điều đó, khó có câu trả lời một cách khoa học là tỉnh này hay tỉnh kia trong vùng nên đặt nhà máy điện, loại gì, công suất bao nhiêu? Trước thông tin dồn dập về các chuyến nghiên cứu khảo sát để xây dựng các nhà máy nhiệt điện than ở nhiều tỉnh, dư luận vừa mừng, vừa lo.
Việc đảm bảo nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện chạy than trong giai đoạn tới là vấn đề cực kỳ quan trọng, là một thách thức lớn, đòi hỏi phải có kế hoạch triển khai ngay trước khi quá muộn.
Được biết, phần lớn các công trình nguồn điện mới cần triển khai trong Quy hoạch điện 6 của cả nước sẽ là nhiệt điện chạy than. Vì vậy, nhu cầu than cho các nhà máy điện của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) và các công ty do EVN giữ cổ phần chi phối cũng sẽ tăng rất mạnh, từ khoảng 5,2 triệu tấn năm 2008 lên khoảng 9,6 triệu tấn vào năm 2010 và 49 triệu tấn năm 2015 (trong tổng số than cho sản xuất điện của cả nước tương ứng là 6,5 triệu tấn, 15,4 triệu tấn và 78,2 triệu tấn). Để giải quyết vấn đề này, EVN dự kiến, các nhà máy nhiệt điện than từ Vũng Áng 2 trở ra phía Bắc sẽ sử dụng than nội địa, còn các nhà máy từ Vũng Áng 3 trở vào phía Nam sẽ sử dụng than nhập khẩu. Điều đó có nghĩa là, trong tương lai các nhà máy nhiệt điện than của đồng bằng sông Cửu Long chỉ sử dụng nguồn nguyên liệu than nhập khẩu. Và như vậy, để các Nhà máy điện này đi vào hoạt động còn phụ thuộc rất nhiều từ kế hoạch nhập khẩu than dài hạn và việc chỉnh trị, thông luồng Định An cũng như năng lực tiếp nhận của các cảng chuyên dùng của đồng bằng sông Cửu Long vốn chỉ quen với việc xuất khẩu lúa gạo, thủy sản và nhập khẩu hàng tiêu dùng.
Ba năm, năm năm, hay lâu hơn nữa… bao giờ sáng lên dòng điện mới cho đồng bằng?

29 tháng 1, 2012

ĐBSCL: Ì ẠCH CHỢ ĐẦU MỐI

Hiệp Thủy-Vĩnh Kim
Bài trên Vietnamnet ngày 19-10-2008
Sản vật đồng bằng
Chuẩn bị cho hội nhập kinh tế quốc tế, 5-6 năm qua, hệ thống chợ đầu mối đã được Nhà nước quan tâm qui hoạch và xây dựng. Nhiều chủ trương, văn bản mang tính khả thi cao; nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc, hoặc có nguy cơ “chệch hướng”.
Trong Chương trình phát triển chợ đến năm 2010, Chính phủ và Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) đã có nhiều văn bản làm cơ sở cho việc triển khai ở các địa bàn trọng điểm. Tuy nhiên, nhiều chủ trương đúng, văn bản được chuẩn bị công phu, mang tính khả thi cao; nhưng khi triển khai thực hiện gặp vướng mắc, hoặc có nguy cơ “chệch hướng”, lại chưa được rà soát, kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm.
“Chương trình chợ” đang được triển khai tiếp bằng Quyết định số 12/2007/QĐ-BCT của Bộ Công thương phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ trên phạm vi toàn quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với tổng vốn đầu tư lên đến 7.837 tỷ đồng ...
Từ những cơn sốt giá tại “vựa lúa châu Á”
Trong năm 2008, người tiêu dùng chứng kiến các “cơn sốt” cục bộ một số mặt hàng chiến lược như gạo, xi măng, sắt, thép… Cơn “sốt ảo” giá gạo tháng 4 vừa qua, mặc dù chỉ xảy ra trong vài ngày ngắn ngủi, nhưng làm cho nhiều người giật mình trước một nghịch lý chưa từng có ở xứ sở lúa gạo mà từ lâu đã được mệnh danh là “vựa lúa châu Á”.
Các “cơn sốt” vừa qua cho thấy những yếu kém trong tổ chức kênh phân phối, lúng túng trong “đối phó” do thiếu nguồn lực vật chất, do hệ thống hạ tầng thương mại yếu kém, liên kết dọc -ngang lỏng lẻo...
Và người ta nghĩ đến vai trò các chợ đầu mối với khả năng thu hút, phân phối và tham gia điều tiết thị trường. Tại ĐBSCL đã xây dựng nhiều chợ đầu mối cấp quốc gia, khu vực, trong đó các chợ tại Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp đã đi vào hoạt động 2 - 4 năm nay.
Theo ngôn ngữ của dự án, thì “chợ đầu mối” là “mô hình” liên kết 4 nhà, tạo điều kiện để người dân tiếp cận với cách mua bán hiện đại, góp phần ổn định thị trường nông sản, đưa người nông dân tham gia vào thị trường, xóa bớt đầu mối trung gian, liên kết chặt chẽ các chuỗi giá trị trên cơ sở lợi ích hài hoà giữa người sản xuất, làm dịch vụ và tiêu thụ, xuất khẩu; tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia mạnh mẽ.
Nhưng thực tế phần lớn các chợ đầu mối hiện nay giống như nơi gom các tiểu thương lại, hầu hết các dịch vụ hiện đại trong chợ như viễn thông, Internet, cách dịch vụ, tư vấn kinh doanh … chưa được triển khai. Đáng lo ngại là nhiều chợ đầu mối đang có nguy cơ bị biến dạng, đã và đang chờ chuyển sang… khu dân cư, khu công nghiệp. Chúng ta hãy cùng nhìn lại một số chợ đầu mối trái cây, lúa gạo “cấp quốc gia” trong vùng.
Chợ đầu mối trái cây quốc gia… bán mắm!
Chợ đầu mối trái cây quốc gia Tiền Giang (Ảnh: hiepcantho) 
Trung tâm trái cây quốc gia Satra Tiền Giang rộng khoảng 11,2ha tại xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè. Đây là chợ đầu mối có vị trí đẹp mắt, có thế “tiền lộ, hậu sông”, với quốc lộ 1A đi qua – con đường giao thương sôi động nhất nối TP.HCM với ĐBSCL. Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Hữu Chí cho rằng: “Khi bắt tay đầu tư, tỉnh có ý định nối liền trung tâm này với khu vực chợ gạo Bà Đắc để tạo thành chuỗi các đầu mối tiêu thụ hàng hóa do nông dân làm ra”.
Ông Nguyễn Hữu Chí còn cho biết, hạ tầng kỹ thuật của Trung tâm mặc dù đã được xây dựng khang trang, nhưng việc khai thác lại không đơn giản. Cụ thể là mặt tiền nằm kề quốc lộ 1A với 500m chiều dài, mặt hậu có âu thuyền nối liền hệ thống kênh rạch tự nhiên và diện tích vườn cây ăn trái hàng chục ngàn hecta của huyện Cái Bè, Cai Lậy, cách không xa Trung tâm nghiên cứu ứng dụng cây ăn quả Miền Nam – một cơ sở khoa học nông nghiệp hàng đầu của cả nước trong lĩnh vực cây ăn quả.
Vậy mà việc kinh doanh của trung tâm này lại gặp rất nhiều khó khăn từ lúc khai trương, tạm ngưng, rồi mở cửa trở lại, đến nay chỉ hoạt động cầm chừng. Trong tình thế đó, tỉnh “buộc lòng” phải chuyển giao trung tâm cho Tổng công ty Thương mại Sài Gòn khai thác.
Sau một thời gian tiếp nhận, Satra đã bố trí khu nhà chính của Trung tâm trái cây quốc gia làm “Siêu thị mắm Trí Hải” và cho xây thêm khách sạn, nhà hàng, văn phòng làm việc…. Tuy vậy,  lượng khách vào-ra siêu thị cũng rất lèo tèo…
Cách nay 4 tháng (ngày 20/05/2008), Satra Tiền Giang có đề xuất đổi tên Trung tâm trái cây quốc gia thành “Trung tâm kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp”. Theo phương án này, Trung tâm sẽ chuyển sang kinh doanh giống cây trồng, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, máy móc thiết bị nông-ngư cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp…
Về lý do chuyển đổi, Satra Tiền Giang cho biết thời gian qua, các hoạt động của Trung tâm như cho thuê mặt bằng mở nhà hàng, cho thuê mở nhà vựa kinh doanh trái cây, nhà xử lý và bảo quản trái cây, kho mát, siêu thị, trạm dừng chân... gặp nhiều khó khăn.
Một lý do khác, theo Satra Tiền Giang, phương án mới sẽ “Được sự quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ của Satra Group về vốn, hỗ trợ quảng bá thương hiệu, tổ chức hội chợ…” Vì thế, lần thứ hai, hy vọng về một sự chuyển đổi tư thế khai thác khối tài sản cố định hơn 30 tỷ đồng này nhắm đến hiệu quả cao hơn nhiệm vụ mục tiêu ban đầu của nó.
Hiệu quả kinh doanh đang còn là dự kiến. Chỉ có điều chắc chắn là một Trung tâm trái cây quốc gia – vốn là ý định và mong muốn trước đây - sẽ không còn như tên gọi của nó.
Chợ gạo… ì ạch trong xây dựng
Khác với chợ trái cây Tiền Giang, việc triển khai xây dựng chợ lúa gạo đầu mối ở Thốt Nốt, Cần Thơ vừa qua đã bị Thủ tướng Chính phủ “thổi còi”. Thủ tướng giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kiểm tra, làm rõ trách nhiệm của UBND thành phố Cần Thơ trong việc triển khai dự án. Đây là 1 trong 3 chợ đầu mối cấp quốc gia, cùng được triển khai xây dựng và dự kiến hoàn thành vào năm 2005 theo QĐ 559/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhắm tới những mục tiêu tốt đẹp, đồng bộ với QĐ 80 về tiêu thụ nông sản, giải quyết căn cơ “đầu ra” cho nông sản.
Chợ đầu mối cà phê Đắk Lắk đang phấn khởi chuẩn bị ngày khai trương sàn giao dịch cà phê (dự kiến cuối năm nay, nhân dịp Festival Cà phê lần thứ II – 2008) với hệ thống đặt lệnh, khớp lệnh đều thông qua các phương tiện điện tử và mang tầm quốc tế. Trong khi đó, chợ gạo đầu mối Thốt Nốt (Cần Thơ) hiện còn đang ì ạch trong xây dựng.
Có cả những “nguyên nhân khách quan, chủ quan”. Nhưng Cần Thơ là thành phố động lực của vùng, là một “chành lúa” trong vựa lúa ĐBSCL. Tuy chỉ cung cấp khoảng 1 triệu tấn lúa/năm, ít hơn sản lượng lúa của An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, nhưng Cần Thơ được đại diện cho vùng để ghi danh vào “3 chợ đầu mối nông sản quốc gia”, đã được ưu tiên bố trí ngân sách Trung ương 20 tỷ đồng để đẩy nhanh tiến độ xây dựng chợ.
Vì vậy, đề nghị của Cần Thơ “xin thôi đầu tư chợ gạo và chuyển toàn bộ phần đất sang phát triển công nghiệp” xem ra khó thuyết phục. Cũng theo Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Nguyễn Hữu Lợi, sau khi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phải tiếp tục xây dựng chợ gạo Thốt Nốt, UBND và các ngành chức năng Cần Thơ đang có kế hoạch đẩy nhanh tiến độ dự án trong thời gian tới.
Cho đến nay, chợ đầu mối quốc gia vùng ĐBSCL còn nhiều việc phải bàn, từ đầu tư xây dựng đến hiệu quả khai thác. Làm gì để những chợ đầu mối tầm cỡ quốc gia - với hàng chục tỉ đồng đầu tư mỗi dự án - được khai thác hiệu quả, không phải chuyển đổi mục đích sử dụng một cách vá víu?
Câu trả lời không phải dễ. Bởi vì đây là những mô hình chưa có tiền lệ ở nước ta, và cũng cần rút kinh nghiệm sâu sắc trong đầu tư của Nhà nước về chợ đầu mối quốc gia.

ĐI CHỢ TRỜI Ở NƯỚC ĐỨC

Trần Hữu Hiệp

Nhớ những năm 1997-1998, những ngày cuối tuần lang thang những chợ trời ở những thành phố miền Tây Đức, từ Sarbruecken, Cologne, Dortmund, qua Berlin và lâu nhất là hơn 7 tháng ở Aachen - thành phố ngã ba biên giới Đức - Bỉ - Hà Lan. Nhờ chợ trời mà những thằng "ngoại quốc" xa xứ như mình học được nhiều ngôn ngữ bình dân, lăn lóc giữa chợ đời nước đức ... Bài viết này trên Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần (số ra ngày 20-7-2002), sau hơn 3 năm chia tay nước Đức về Việt Nam như những dòng nhật ký một thời ...


Tàu điện ngầm (U-Bahn) ở Đức
 Chợ trời Đức (Flohmart) không cố định mà luân phiên tổ chức ở nhiều điểm khác nhau trong một thành phố. Chợ bày bán đủ thứ thượng vàng hạ cám, giá cả cũng trên trời dưới đất chẳng thua kém ở Việt Nam.

Xem chỉ tay, tướng số chính hiệu "Made in Germany" đây. Mại dzô
Nói đến kinh doanh chợ trời, chắc Việt Nam chẳng hề thua kém họ, nhưng cách kinh doanh tiếp thị và cách họ kích cầu thì thương nhân Việt Nam phải học tập. Đức có cả một mạng lưới những công ty tầm cỡ đứng ra tổ chức flohmarkt, như Công ty TNHH Milan chuyên tổ chức kinh doanh chợ trời ở các bang phía tây nước Đức và Berlin. Vì flohmarkt được nhóm họp tại nhiều điểm khác nhau trong thành phố vào dịp cuối tuần, nên thông tin chợ trời rất được các nhà tổ chức chú trọng chuyển tải đến người tiêu dùng. Họ tiếp thị quảng cáo ngoài đường phố, ở trạm chờ xe, trên Internet, trên báo chí từ địa phương đến liên bang.

Đi chợ trời bằng vé Wochenende Ticket (WT) - Vé cuối tuần cũng sướng, giá rẻ  không ngờ. Tuy Đức có nhiều hãng kinh doanh vận tải cạnh tranh nhau nhưng họ có mối liên kết chặt chẽ phục vụ người tiêu dùng. Hành khách đi từ điểm A có nhu cầu ghé lại điểm B rồi mới đi đến điểm C, thì chỉ phải mua một lần vé sử dụng cho cả đoạn đường AC, được sử dụng từ hai phương tiện giao thông khác nhau của hai hãng khác nhau trở lên.
Luật pháp Đức cũng có quy định chặt chẽ bảo vệ người tiêu dùng và các công ty nhỏ. Tại các cửa hiệu, người bán hàng phải chịu trách nhiệm bảo hành các loại hàng tiêu dùng trong thời gian tối thiểu 6 tháng (nhưng hầu hết bảo hành trên một năm để cạnh tranh). Khách hàng dù mua ở bất kỳ thành phố nào thì cả hệ thống cửa hiệu đó trên toàn liên bang vẫn phải có trách nhiệm bảo hành. Mua hàng xong, trong một tuần lễ (nhiều cửa hàng cho phép trong một tháng), khách hàng có thể đổi lại hoặc hoàn trả hàng, nhận lại tiền. Nếu không có hàng ưng ý để đổi, cửa hàng sẽ cấp một hảo phiếu trị giá tương đương để khách hàng có thể thanh toán trong những lần sau. Dĩ nhiên, khi mua hàng ở Flohmarkt thì không có "Quyền hậu mãi"). Đó cũng là điểm khác biệt.
Những năm đầu mở cửa, nhiều người Việt ra nước ngoài thường thắc mắc, giá hàng hoá ở ngoại quốc luôn có con số lẻ, đại loại 1,99 USD, 3,98 USD ... , còn ghi hẳn giá trị thuế VAT như lời nhắc "nghĩa vụ người mua" đóng cho Nhà nước, chứ không bỏ tiền vào túi người bán. Có người cho rằng, đó là cách mà người bán muốn tạo tâm lý giá cả thấp hơn giá trị thực mà người mua phải trả (cảm giác chỉ hơn 1 hoặc 3 USD). Nhưng cũng có người giải thích, đó là cách để họ duy trì tiền xu trong quan hệ thanh toán. Dân bán hàng cũng không quên dùng chiêu này, nhưng không cần ghi rõ trị giá VAT. Ở các nước phương Tây, đồng bạc cắc không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày. Người ta thường dùng thẻ tín dụng, nhưng không quên phòng thân tiền bạc cắc để mua nước uống, mua vé tàu từ các máy tự động khi cần ở bất kỳ nơi công cộng nào. Không như ta, tiền xu ra đời chỉ tội cho người dùng, nhất là trẻ em. Đã có một đề tài nghiên cứu khoa học về “Hiện tượng tiền với nguy cơ ung thư vòm cổ họng ở trẻ con” do lỡ nuốt đồng xu, nhiều trường hợp đi cấp cứu. Mười năm trước, một lần đến Dortmund – nơi có nhà bảo tàng bia nổi tiếng “5.000 năm văn hoá bia Đức” – tôi được thăm một ngôi chùa nhỏ. Nhiều Việt kiều tranh thủ dịp cuối tuần, ngày rằm thường đến làm công quả, làm từ thiện. Tấm biển gần cửa ra vào chùa khuyên: “Tăng ni, phận tử có lòng hảo tâm cúng dườn, xin vui lòng chuyển khoản qua tài khoản Nhà chùa số ...hoặc liên hệ địa chỉ e-mail: ...@yahoo.com.de”. Thời hội nhập, nhà sư cũng cần hộp thư điện tử, nhà chùa cũng cần mở tài khoản ngân hàng! Nước Đức có những tập đoàn kinh doanh tầm cỡ quốc tế như Mercedes Benz, Bayer AG, Siemens ...với cung các quản lý kinh doanh hiện đại, góp phần tạo dựng tư cách trụ cột của họ trong WTO. Nhưng nước Đức cũng có hệ thống Flohmarkt – thị trường phục vụ người tiêu dùng thu nhập thấp không kém phần béo bở cho các doanh nghiệp nếu biết khai thác. Nước Đức có những ngân hàng nổi tiếng như Deutsche Bank, Ngân hàng tái thiết Đức, Postbank ..., hầu hết người dân đều mở tài khoản, có thẻ tín dụng, nhưng họ vẫn phải dùng tiền bạc cắc, nhà chùa cũng cần tài khoản để giao dịch. Vậy mới biết, ta tham gia hội nhập, không chỉ lo cạnh tranh ở “sân chới lớn”, mà còn phải biết học người ta từ việc đi lại, xài tiền ... đến kinh doanh, phải tận dụng cả “sân nhỏ” miễn sao mang lại hiệu quả cao!.

NÔNG DÂN ĐBSCL: HẠT GẠO CẮN LÀM TÁM

TTCT - Hai tuần trước, Bộ NN&PTNT vui mừng tuyên bố “xuất khẩu gạo thắng lớn” với lượng gạo xuất khẩu năm 2011 ước đạt 7,5 triệu tấn, giá trị xuất khẩu ước đạt 3,7 tỉ USD. Tuần sau là những thông tin đáng lo về một đối thủ cạnh tranh mới: gạo giá rẻ Ấn Độ. Tất cả một lần nữa gợi lại câu chuyện ưu tư lâu nay về người nông dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - chủ nhân thật sự của bát cơm châu Á - về cuộc sống mãi vẫn chưa giàu của họ.


Sắc hoa trên đồng
 Theo TS Nguyễn Văn Sánh - giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, hạt gạo của nông dân hiện nay đang bị “cắn chia làm tám phần” nên lợi nhuận của người trồng lúa bị teo tóp. Bốn phần đầu cho “bốn nhà”: nhà băng (vay vốn, đóng lãi, kể cả phải vay lãi cao bên ngoài), nhà vật tư (mua chịu phân bón, thuốc trừ sâu đầu vụ, cuối vụ trả lãi cao) chiếm khoảng 65% chi phí, nhà mình (gánh nặng chi tiêu ăn uống, chữa bệnh, học hành con cái, các khoản đóng góp...) chiếm khoảng 21% và... nhà hàng xóm (đám tiệc, giỗ quải, giao tế xã hội...). Phần thứ năm là nhà xuất khẩu gạo mà hiệu quả kinh doanh gần như quyết định giá lúa hằng năm. Phần thứ sáu là lúa gạo phải làm nhiệm vụ bình ổn giá tiêu dùng (CPI) cho xã hội.
Có người ví việc sản xuất lúa gạo của nông dân hiện nay như cây đòn gánh: đầu này nặng trĩu những nguyên liệu, vật tư, phân bón, chi phí ngày càng cao, đầu kia là tiêu thụ lúa gạo bấp bênh, giá thấp. Người nông dân vừa gánh vừa bị “lắc lư” trong thế dễ ngã.
Đồng xanh
Chỉ sau hai thập niên qua, sản lượng lúa ĐBSCL đã được nhân lên hơn gấp đôi, từ 9,48 triệu tấn (năm 1990) lên hơn 21 triệu tấn (năm 2010), kim ngạch xuất khẩu gạo luôn chiếm khoảng 90% cả nước. Nhưng những người chủ của “bát cơm châu Á” vẫn chưa chuyển được căn bản từ vị thế của người làm ra “chén cơm đầy” để chống đói hôm qua, đến vị trí của người sản xuất ra “chén cơm ngon” để bán được giá, làm giàu.
Thách thức từ đồng ruộng
Theo Bộ NN&PTNT, chỉ có 25% nông hộ tiếp cận được thông tin thị trường, 90% sản phẩm nông nghiệp được bán ở dạng thô và 60% bị bán với giá thấp; trong khi có đến 40-50% chi phí của gạo xuất khẩu liên quan đến nguyên liệu đầu vào nhập khẩu.
Một nghiên cứu về “An ninh lương thực ở VN và chuỗi giá trị lúa gạo” của nhóm chuyên gia thuộc Ngân hàng Thế giới cách đây không lâu cho rằng trong điều kiện xấu nhất VN vẫn đảm bảo an ninh lương thực, nhưng tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em ở vùng lúa này đã không giảm tương xứng tốc độ gia tăng sản lượng gạo mà cha mẹ chúng làm ra (xếp thứ 7/8 khu vực cả nước về tỉ lệ giảm suy dinh dưỡng trong thập niên qua).
Sản xuất nhiều gạo hơn không hẳn là giải pháp cho an ninh lương thực, giúp nông dân làm giàu mà cần cách tiếp cận đa ngành. Tuy hỗ trợ của Chính phủ tiếp tục được thực thi, những vị lãnh đạo cao nhất đã cam kết bảo vệ bằng được 3,81 triệu ha đất lúa... nhưng để hiện thực hóa chủ trương đó, rất cần có sự phân biệt rõ ràng giữa đáp ứng cho mục tiêu chính trị - xã hội - công cộng và kinh tế - thương mại - lợi nhuận của người trồng lúa.
Thành công trong quá khứ của ngành sản xuất lúa gạo ĐBSCL chưa phải là bảo đảm cho thành công của tương lai. Một cách tiếp cận “làm như mọi khi” chắc chắn sẽ không hiện thực hóa được tiềm năng của ngành này.
Từ đồng ruộng ra thương trường
Làm gì để giúp hàng chục triệu nông dân ĐBSCL trở thành “doanh nhân sánh vai”, để “doanh nhân hóa nông dân” - một trong những yêu cầu đặt ra để hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo vùng đất chín rồng?
Thương trường là cạnh tranh, muốn cạnh tranh phải có nguồn lực và kiến thức, không chỉ kiến thức làm ruộng, trồng cây, nuôi cá mà cả kiến thức quản lý đồng vốn, quản trị doanh nghiệp, về thị trường, hệ thống phân phối tiêu thụ... Đòi hỏi khắc nghiệt từ thương trường buộc những người nông dân ngày nay phải chuyển từ tư duy “làm ra nhiều nông sản” sang “làm ra nhiều giá trị từ nông sản”, với chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Người nông dân cần được giải phóng gánh nặng bằng kiến thức của người kinh doanh. Đào tạo nghề nông nghiệp, tập trung nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng lúa, đào tạo nghề phi nông nghiệp để chuyển nghề và tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn... là những cách thức giúp đòn gánh kể trên của người nông dân được cân bằng.
Doanh nhân hóa nông dân ĐBSCL phải được diễn ra trong không gian của nông thôn đồng bằng, trong những đặc thù của nông nghiệp, nông dân. Cần đưa thương hiệu gạo ĐBSCL vào chương trình thương hiệu quốc gia để quảng bá. Một nhãn hiệu “made in Mekong Delta” cho lúa gạo đồng bằng là cách tiếp cận hiệu quả với thị trường lúa gạo thế giới, cũng chính là tài sản - thương hiệu chung cho các doanh nghiệp kinh doanh gạo xuất khẩu. 
“Đảm bảo cho nông dân lãi 30%”
Điều này chắc chắn cần được thực thi bằng bài toán kinh tế nhiều hơn là quyết tâm chính trị. Thời gian qua, một số cơ quan chức năng địa phương đã lấy giá lúa thời điểm trừ “chi phí đầu vào” theo cách tính riêng của mình để công bố mức lãi 30-40% của nông dân như một kiểu báo cáo thành tích.
Nhưng ai cũng biết để tạo giá trị cho một sản phẩm như lúa gạo phải bao gồm cả “hao mòn” giá trị đất đai, công cụ lao động, sức khỏe - sức lao động của người nông dân trong môi trường sản xuất nông nghiệp hiện tại (sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu...). Chắc chắn còn nhiều “chi phí” đầu vào đang bị bỏ sót trong hạch toán giá thành hạt lúa với góc độ một ngành sản xuất hàng hóa.
Theo kết quả nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, về lý thuyết, quy mô sản xuất lúa từ 3ha/người trở lên mang lại lợi nhuận tối ưu. Nhưng với đặc thù sản xuất manh mún hiện nay, bình quân chỉ khoảng 0,4ha/hộ thì nông dân không làm giàu được. Theo tính toán, kết quả của “30% lợi nhuận” được giữ lại cho người nông dân vừa qua (nếu có) còn thấp hơn mức thu nhập 1 USD/người/ngày. Chuỗi giá trị lúa gạo hiện nay quá nhiều nấc mà lại quá ít giá trị gia tăng, người nông dân không được hưởng lợi bao nhiêu từ sự gia tăng đó.
Cần nói ngay rằng những mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, “công ty cổ phần nông nghiệp” mới chỉ cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao giá trị các công đoạn làm ra hạt lúa (giống, kỹ thuật, tổ chức sản xuất, tác động chính sách đầu vào).
“Chuỗi giá trị” quan trọng hơn, cần sự tác động tích cực hơn lại đang nằm ở các khâu từ hạt lúa trên đồng ruộng đến hạt gạo hàng hóa trên thương trường (chống thất thoát sau thu hoạch, kho chứa, xay xát, đặc biệt là kinh doanh xuất khẩu gạo). Nên ngày càng thấy những tiếng nói bức xúc hơn về việc phải liên kết chuỗi giá trị lúa gạo, liên kết vùng ĐBSCL một cách thật sự mà trọng tâm là “vành đai lúa” gồm khoảng 30 huyện nằm ở các tỉnh trọng điểm gồm An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và một phần các tỉnh còn lại trong vùng.
Song song là đổi mới toàn diện cơ chế xuất khẩu gạo – hiện là khâu cuối cùng đang tác động mạnh mẽ vào “túi tiền” của người nông dân - trong điều kiện cạnh tranh gay gắt khi xuất hiện doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn từ năm 2012. Nên từ “chén cơm đầy” đến “chén cơm ngon”, người nông dân ĐBSCL không thể một mình đi hết chặng đường.

Thời kỳ mới trong điều hành giá xăng dầu đang đến?

Trần Hữu Hiệp

Việc 2 Bộ Tài Chính, Công thương "cãi nhau” nảy lửa trong một cuộc hội thảo liên quan đến điều hành giá xăng dầu được dư luận cả nước quan tâm, đó là điều đáng mừng. Ông Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Bộ Tài chính có lẽ là thành viên ấn tượng nhất của Chính phủ mới, đã dám "rung chuông” cho một thời kỳ mới của hoạt động quản lý, điều hành nền kinh tế đất nước: minh bạch, tranh luận thẳng thắn, thái độ cương quyết, mạnh mẽ. Hy vọng sự "dám rung chuông” đó không chỉ trong lĩnh vực xăng dầu mà ngay cả trong qui hoạch, quản lý đất đai, phân bổ vốn đầu tư, giá điện... và nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác.
Xăng dầu không chỉ là mặt hàng chiến lược, còn là "máu” của nền kinh tế mà chỉ có Nhà nước mới có thể điều tiết bằng các công cụ quyền lực, nhất là trong điều kiện nước ta đang chập chững vào "kinh tế thị trường” trong thời điểm nước sôi lửa bỏng kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, giữ yên lòng dân. Lâu nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc trao đổi không chính thức, người ta thường bàn đến "Nhóm lợi ích” đang có xu hướng chi phối chính sách đầu tư, qui hoạch và điều hành giá xăng dầu chắc không phải là một ngoại lệ. Vấn đề là cần minh bạch hóa những vấn đề có tầm ảnh hưởng lớn, liên quan lợi ích toàn dân như điều hành giá xăng dầu, buộc các nhóm lợi ích phải minh bạch và có trách nhiệm giải trình để dân giám sát, trong đó, báo chí, truyền thông có vai trò rất quan trọng. Và trên hết là một cơ chế pháp lý hữu hiệu để loại trừ khả năng câu kết với các nhà hoạch định chính sách nhằm tìm kiếm lợi ích riêng (nếu có, nếu muốn cũng không được). Là người dân quan tâm đến thế sự, tôi đang theo dõi và hy vọng một thời kỳ mới trong điều hành giá xăng dầu cũng như trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác.

CẦN THƠ - "ĐẦU TÀU" VÙNG ĐBSCL

Trần Hữu Hiệp
Đường 30 tháng 4, TPCT
Qua hơn 6 năm thực hiện Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Cần Thơ đã đạt được những kết quả nổi bật. Thành phố mệnh danh Tây Đô đã trở thành trung tâm động lực, thu hút và lan toả để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ cho vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Điểm sáng trên bản đồ phát triển vùng
6 năm qua, Cần Thơ đã thực sự vươn lên với tốc độ tăng GDP bình quân cao nhất vùng, 15,24%/năm và đứng thứ 2 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Hội, TP. HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ). Chất lượng tăng trưởng ngày  càng cao, giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố tăng từ 8.546 tỉ đồng (giá so sánh 1994) năm 2005, xếp thứ 3 trong vùng lên 17.290 tỉ đồng năm 2010, xếp thứ 2 trong vùng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ vị trí thứ 2 (sau An Giang) chỉ đạt 7.350 tỉ đồng năm 2005 lên thứ 1 trong nhiều năm liền, đạt 26.282 tỉ đồng năm 2010, tăng hơn 3,5 lần.
Giữ vai trò quan trọng trong “Tứ giác động lực” – vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, từ năm 2005 đến nay, thành phố luôn giữ vững vị trí dẫn đầu về giá trị sản xuất ngành công nghiệp, năm 2010 đạt 19.286 tỉ đồng, góp 15,6% tổng giá trị công nghiệp toàn vùng. Là nơi tập trung đông doanh nghiệp nhất vùng, riêng lĩnh vực công nghiệp có hơn 7.800 cơ sở đang hoạt động, thu hút hơn 73.700 lao động tập trung. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tăng từ gần 10.500 tỉ đồng (giá thực tế) năm 2005 lên 32.200 tỉ đồng năm 2010, chiếm 11,4% tổng giá trị bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ toàn vùng. Đặc biệt, hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố hoạt động sôi động nhất vùng, hiện có 49 tổ chức tín dụng hoạt động với mạng lưới 213 điểm giao dịch, 47 chi nhánh các ngân hàng. Đến cuối năm 2010, tổng vốn huy động trên địa bàn đạt gần 25.400 tỉ đồng, tổng dư nợ cho vay đạt gần 36.900 tỉ đồng, đứng đầu khu vực.
Một góc Cần Thơ
Cần Thơ là địa phương duy nhất trong vùng có 2 trung tâm công nghệ phần mềm, hàng năm đào tạo hàng ngàn kỹ sư, lập trình viên, kỹ thuật viên cho vùng. Cần Thơ cũng là địa bàn có nhiều trường đại học, cao đẳng, các viện, trung tâm nghiên cứu các chuyên ngành nhiều nhất vùng; thành phố chiếm 44% tổng số sinh viên, 34,4% số giảng viên đại học và cao đẳng toàn vùng, xếp thứ 3 trong 5 thành phố lớn và thứ 6/63 tỉnh, thành. Ngoài ra, thành phố còn có các bệnh viện lớn như Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện ung bướu, Bệnh viện tâm thần, Nhi đồng Cần Thơ, Bệnh viện phụ sản quốc tế Phương Châu, Trung tâm truyền máu và huyết học... là những trung tâm khám, điều trị sức khỏe và chuyển giao kỹ thuật khám, điều trị sức khỏe cho nhân dân trong vùng.            
Cần thêm sự nỗ lực
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển, thành phố vẫn còn nhiều hạn chế. Cơ sở hạ tầng KT-XH còn yếu và thiếu đồng bộ. Ngành công nghiệp chế biến chiếm hơn 98% trong cơ cấu công nghiệp thành phố. Tăng trưởng công nghiệp của thành phố trong các năm qua chủ yếu là các ngành có trình độ công nghệ thấp, các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo; công nghệ sinh học và công nghệ cao chưa phát triển. Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thành phố chỉ xếp thứ 4 trong vùng (thấp xa Long An, thua kém Kiên Giang, Cà Mau). Hiện mới có 51 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 756 triệu USD, vốn bình quân thấp 14,8 triệu USD/dự án. Chưa thu hút được nhiều dự án FDI chỉ ảnh hưởng phần nào tăng trưởng kinh tế trước mắt, nhưng sai lầm về chiến lược đầu tư, đưa các dự án vào vùng đất nhạy cảm về môi trường, thì cái giá phải trả không thể tính nổi.
Trên đường đến vị trí trung tâm thật sự của ĐBSCL, Cần Thơ còn phải nỗ lực phấn đấu về nhiều mặt. Nhiều công trình đầu tư cấp vùng trên địa bàn thành phố hoàn thành như cầu Cần Thơ, sân bay quốc tế Cần Thơ, cảng Cái Cui, Trung tâm điện lực Ô Môn, sắp tới đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Cần Thơ (đoạn nối Trung Lương – Mỹ Thuận và Mỹ Thuận – Cần Thơ)... đã mở ra nhiều triển vọng mới để Cần Thơ vững bước trên đường đến vị trí Tây Đô. Để đủ sức lan tỏa, chi phối cả vùng, Cần Thơ rất cần thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, sự hỗ trợ mạnh mẽ của Trung ương và sự liên kết vùng với các chuỗi giá trị mà thành phố là hạt nhân cùng nguồn lực nội sinh để Cần Thơ vượt lên chính mình.  

Chín Rồng kết nối không gian du lịch

Trần Hữu Hiệp
Bài trên báo ĐẠI ĐOÀN KẾT ngày 14-9-2011
Đảo ngọc Phú Quốc
2011, ĐBSCL đón hơn 10 triệu lượt du khách, tăng hơn 7% so cùng kỳ năm 2010; trong đó có khoảng 800 ngàn lượt khách nước ngoài. Du khách đến các điểm du lịch trong vùng tăng vọt hơn cùng kỳ, Đất Mũi Cà Mau tăng hơn 10 lần, Phú Quốc, Bà Chúa Xứ - Núi Sam, Châu Đốc … đều tăng. ĐBSCL đang là điểm đến được nhiều nhà đầu tư và khách du lịch quan tâm.
Đất Chín Rồng chuẩn bị cuộc chơi chung
Đề án Phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 được Bộ VHTTDL phê duyệt, xác định mục tiêu biến vùng sông nước Tây Nam bộ – cửa ngõ ra biển Đông của dòng Mê Kông huyền thoại thành điểm đến sôi động, hấp dẫn với những sản phẩm đặc thù, mở ra khả năng kết nối nội vùng, liên vùng, liên quốc gia và quốc tế để trở thành một trong những trung tâm du lịch trên nền sông nước, biển đảo độc đáo, quy mô lớn của quốc gia và thế giới. Tầm nhìn chiến lược đã vạch rõ vị thế du lịch đồng bằng, nhưng để vào cuộc chơi chung, Đất Chín Rồng phải tìm ra cách làm và bước đi phù hợp.
Với đặc thù miệt vườn sông nước, hệ thống kênh rạch dài hơn 28.000km, là vùng duy nhất trong nước vừa giáp biển Đông, vừa giáp biển Tây với bờ biển dài hơn 750km, có các đảo nổi tiếng như Phú Quốc, Mũi Cà Mau và hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển độc đáo..., ĐBSCL là vùng đất giàu tiềm năng du lịch, không chỉ về vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là kho tàng văn hóa giàu bản sắc, có thể khai thác phát triển nhiều loại hình, từ du lịch sinh thái miệt vườn, cảnh quan sông nước, môi trường, bảo tồn thiên nhiên, du lịch nghiên cứu – nghỉ dưỡng, văn hóa, lễ hội - làng nghề truyền thống... đến du lịch biển đảo chất lượng cao và kết nối tour, tuyến với TP.HCM, các vùng, miền trong nước, hợp tác quốc tế với các nước tiểu vùng sông Mê Kông. Một không gian du lịch đặc thù với sự liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng và TP.HCM không chỉ cho ĐBSCL, mà còn cho TP. Hồ Chí Minh, miền Đông Nam Bộ, với vùng khác và là cơ sở tạo ra sức mạnh để tăng cường hợp tác du lịch trong Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, hướng đến một thị trường chung trong ASEAN.
Sông nước miền Tây. Ảnh hiepcantho
Các tỉnh, thành Tây Nam Bộ đã nhận thức được liên kết là chìa khóa phát triển. Hiệp hội Du lịch ĐBSCL được thành lập đã có nhiều nỗ lực thúc đẩy sự liên kết này. Các tỉnh, thành và các bộ, ngành đã có tiếng nói chung, thông qua nhiều hoạt động như: Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL hàng năm, các hội nghị, hội thảo xúc tiến du lịch vùng thay cho các hoạt động riêng lẻ, chồng chéo của các tỉnh, thành.
Dòng Mê Kông – kết nối không gian du lịch
Chảy qua 6 nước, dòng Mê Kông mang theo những giá trị kinh tế, lịch sử, văn hóa, thiên nhiên... nhiều màu sắc. Sự kỳ vĩ của đất nước Chùa Tháp, nét hoang sơ của mảnh đất Triệu Voi, sự bí ẩn của xứ sở những ngôi đền cổ tích Myanmar và một dãy đồng bằng của Đất Chín Rồng với nền "văn minh sông nước, miệt vườn” lại có núi non, biển đảo tạo nên sự đa dạng, hấp dẫn, giàu sắc thái cho những tour du lịch "Bốn quốc gia – một điểm đến”. Theo Hội đồng Lữ hành & Du lịch thế giới, doanh thu dịch vụ du lịch các nước tiểu vùng sông Mê Kông năm 2010 đạt hơn 22,1 tỉ USD. Con số này chắc chắn sẽ được tăng cao hơn nữa nếu các nước trong khu vực sông Mê Kông tăng cường liên kết, khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch của mỗi nước, đồng thời tạo ra không gian du lịch sống động hơn với nhiều "sản phẩm dùng chung” như "Con đường di sản Mê Kông”, "Con đường tơ lụa” trên Vịnh Thái Lan, "Tam giác du lịch”. Thương hiệu "Du lịch Mê Kông” hình thành như một điểm hấp dẫn trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới. Hợp tác trong tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng không chỉ có ý nghĩa trong việc tiếp thị điểm đến, kết nối sản phẩm, mà còn góp phần bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ trực tiếp dòng sông, yếu tố chính khởi tạo nên cả vùng.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): ĐIỂM SÁNG CÁC TỈNH ĐBSCL

Trần Hữu Hiệp
Bức tranh PCI ở ĐBSCL

Cầu Cần Thơ - lợi thế dùng chung của vùng ĐBSCL

VCCI công bố CPI 5 tỉnh của ĐBSCL (Đồng Tháp, Trà Vinh, Hậu Giang, Vĩnh Long, Bến Tre) nằm trong “Top 10”, 13/13 tỉnh nằm trong nhóm khá trở lên, không có địa phương nào thuộc nhóm trung bình và tương đối thấp của bảng xếp hạng. Đặc biệt, Đồng Tháp  là 1 trong 3 địa phương được xếp hạng “rất tốt” (nhóm cao nhất) với 67,22 điểm, theo sát Lào Cai xếp hạng nhì với 67,95 điểm và Đà Nẵng ở ngôi đầu bảng với 69,77 điểm. Trong nhóm 5 thành phố trực thuộc Trung ương, TP Cần Thơ chỉ đứng sau Đà Nẵng. ĐBSCL có 8 tỉnh, thành tăng hạng. Trong nhóm 10 tỉnh, thành của cả nước có mức độ cải thiện cao nhất so năm 2009, thì ĐBSCL có 3 tỉnh, gồm Trà Vinh, tăng 13 bậc so năm trước, vươn lên vị trí thứ 4/63 tỉnh, thành với 65.80 điểm; Bạc Liêu tăng 29 bậc, từ vị trí 59 lên 30 và thoát từ nhóm trung bình lên nhóm khá; Sóc Trăng tăng 24 bậc, từ hạng 41 lên 17, thuộc nhóm tốt; TP. Cần Thơ cũng tăng 8 bậc, xếp thứ 13/63. 
Cơ sở hạ tầng (CSHT) vẫn được các doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách nhìn nhận là một rào cản lớn nhất đối với đầu tư và tăng trưởng của vùng ĐBSCL. Đây là năm thứ 3 liên tiếp có sự đánh giá và công bố xếp hạng về chất lượng CSHT. Chỉ số này gồm 4 chỉ số thành phần là khu - cụm công nghiệp, đường giao thông, các dịch vụ hạ tầng công ích, tiếp cận và ứng dụng CNTT truyền thông. Không lạ khi Cần Thơ – trung tâm vùng ĐBSCL là địa phương đứng đầu trong vùng, thứ 15 cả nước về chỉ số CSHT. Nhưng chỉ có Cần Thơ nằm trong nhóm 15 địa phương của cả nước được đánh giá có CSHT tốt nhất. Điều đó cho thấy, cần tiếp tục quan tâm đầu tư nâng cấp CSHT các tỉnh trong vùng cùng với chất lượng lao động và tính minh bạch, cũng như khả năng tiếp cận thông tin. Các thứ hạng kế tiếp của các địa phương khác trong vùng là Đồng Tháp (16), An Giang (25), Trà Vinh (26). Các tỉnh thuộc nhóm có chỉ số này còn thấp là Sóc Trăng (60), Bến Tre (58), Bạc Liêu (55), Cà Mau (53). Tuy nhiên, nếu đặt chỉ số CSHT trong mối quan hệ với chỉ số năng động trong điều hành kinh tế của chính quyền địa phương, thì vùng ĐBSCL có nhiều điểm nổi trội để chọn cho mình hướng đi phù hợp. 
Theo biểu đồ “Bánh Chưng” của Nhóm nghiên cứu có 4 khu vực, thì vùng ĐBSCL có 5 địa phương là điểm sáng gồm: Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh và Long An đều nằm trong “Khu vực hạ tầng phát triển, PCI cao” – là khu vực khá lý tưởng cho nhà đầu tư, vừa có CSHT thuận lợi, vừa có chất lượng điều hành kinh tế được đánh giá cao. Ngoài ra, còn có 5 tỉnh trong vùng là Hậu Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Bến Tre và Sóc Trăng nằm trong khu vực “vượt khó”. Đáng khích lệ là 5 địa phương này đã vượt lên những khó khăn từ các điều kiện truyền thống ban đầu để phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư. Đặc biệt, Vùng ĐBSCL không có địa phương nào nằm trong “Khu vực phát triển dưới mức tiềm năng” – là những tỉnh tuy điều kiện hạ tầng phát triển, nhưng điều hành kém năng động, chỉ số PCI thấp. Chỉ có Bạc Liêu và Cà Mau còn “nằm lại” trong khu vực “Hạ tầng kém phát triển”, cần tăng tốc để thoát khỏi khu vực yếu kém. 
Làm gì để giữ vững và cải thiện thứ hạng?
Năm nay là năm thứ 6 VCCI tổ chức công bố chỉ số PCI. Tuy chỉ có giá trị tham khảo, nhưng các tỉnh, thành vùng ĐBSCL rất quan tâm chỉ số này. Nhiều vị lãnh đạo tỉnh đã “đặt hàng” bộ máy tham mưu phải có giải pháp và quyết tâm cải thiện thứ hạng. PCI không phải là một loại “bằng khen kết thúc một năm phát động thi đua” mà ngày càng chứng minh là công cụ đo lường điều hành kinh tế của chính quyền địa phương cấp tỉnh, cung cấp những kết quả đánh giá phân tích sâu sắc, đáng tin cậy, có giá trị hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo chính trị, quản lý điều hành và các doanh nghiệp định hướng các cải cách hiện tại và trong tương lai, cũng như hỗ trợ xác định các ưu tiên nguồn lực để giải quyết nhu cầu và vướng mắc bức thiết cho nhà đầu tư và doanh nghiệp. Chỉ số PCI rất đáng được xem như một “hàn thử biểu” đo lường thái độ của doanh nghiệp đối với chính quyền, để chính quyền “bốc thuốc” và “dùng thuốc” phù hợp cho những trường hợp “nóng sốt” cần điều trị và phòng ngừa giúp cơ thể - môi trường đầu tư của địa phương mình phát triển lành mạnh, hấp dẫn nhà đầu tư. 
Để duy trì và cải thiện chỉ số PCI, các tỉnh, thành vùng ĐBSCL không chỉ “thi đua” nhau giành thứ hạng cao trong bảng xếp hạng mà còn cần liên kết chặt chẽ để cùng tiến, phải nhìn rộng ra không gian vùng để vừa liên kết vùng, liên vùng – mà trọng điểm là thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam bộ, đồng thời với việc mở rộng kết nối với các nước ASEAN. Liên kết với nhau tạo ra tiếng nói chung và thế mạnh từng vùng như: liên kết hợp tác để phát triển nông nghiệp toàn diện, nhất là nông nghiệp kỹ thuật cao; xây dựng vùng nguyên liệu tập trung (lúa gạo, cá tra, basa, tôm, trái cây...); xây dựng các cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư đặc thù riêng của vùng, của tiểu vùng từng tỉnh, thành để thu hút đầu tư vào ĐBSCL, để mở rộng quan hệ hợp tác thương mại – du lịch qua biên giới Campuchia-Thái Lan và các nước trong khu vực. Qua đó, chỉ số PCI các tỉnh khu vực ĐBSCL không chỉ “đóng dấu” quốc gia mà còn vươn ra tầm khu vực và quốc tế.

Cá hồi phương Tây du lịch tới thành phố hoa

TRẦN HỮU HIỆP

Bài trên báo ĐẠI ĐOÀN KẾT ngày 28-12-2007

Cá hồi
Bài trên báo Đại Đoàn kết
Cá hồi là một loài cá ngon nổi tiếng, loại thực phẩm bổ dưỡng, sống trong môi trường "nước động", nhiệt độ thấp, đẻ trứng ở dòng nước ngọt, cá con chỉ sống một thời gian ngắn trong dòng sông rồi bơi ra biển. Đến khi trưởng thành lại quay trở về sông cũ để đẻ trứng. Ai đã thấy cá hồi nhảy vượt ngược dòng thác để về quê cũ đều kính phục lòng dũng cảm và sức mạnh bản năng của chúng. Nhà sinh vật học người Mỹ Hasler, trải qua hơn 20 năm nghiên cứu cá hồi cho rằng: Chúng cũng giống như con người “nghe mùi rơm rạ, nhớ đồng quê thời thơ ấu”. Thật vậy, những con cá hồi đã theo dấu vết cũ từ mùi vị rong rêu riêng của mỗi dòng sông để trở về nơi sinh ra mình.
Câu chuyện khoa học này nói về bí ẩn của con cá hồi chỉ có ở châu Mỹ, châu Âu. Vậy mà 2 năm trước, chúng được đưa về nuôi thử nghiệm thành công ngay chân thác Bạc (độ cao 1.700m), dưới "nóc nhà Đông Dương" - đỉnh Phanxipăng, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Rồi tiếp tục vượt dãy Trường Sơn về phố núi Đà Lạt nhờ sự thành công của dự án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh của tỉnh Lâm Đồng. Điều này không chỉ mở ra một hướng đi mới từ mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, mà còn có thể kết hợp phát triển du lịch tham quan trang trại, suối rừng cảnh quan thơ mộng của thành phố sương mù Đà Lạt.
Đầu năm 2006, UBND tỉnh Lâm Đồng đã quyết định chi hơn 1 tỉ đồng, cùng với hơn 4 tỉ đồng của Công ty Hoàng Phố và Công ty Hà Quang, TP. Hồ Chí Minh, được sự hỗ trợ của Viện Nuôi trồng thủy sản I để nuôi thử nghiệm cá hồi và cá tầm Nga. Kết quả rất thành công, tỉ lệ sống từ cá hồi bột lên cá giống và từ cá giống lên cá hồi thương phẩm đạt từ 77% đến 91%. Sau một năm nuôi, trọng lượng trung bình đạt 1,2 kg/con, sản lượng đạt 17-18 tấn, năng suất khoảng 30 tấn/ha, giá thành từ 63.000 – 67.000 đồng/kg.
Giá bán tại hồ nuôi khoảng 150.000 đồng/kg, lãi khoảng 56,6%; cá tầm Nga đạt trọng lượng khoảng 1,8 – 2,2 kg/con, tăng trọng bình quân 0,4 – 0,6 kg/tháng. Theo các chuyên gia, với độ cao lý tưởng (Đà Lạt 1.500 m, Lạc Dương khoảng 1.800 m), cộng với biên độ thời tiết ổn định hơn so với Sa Pa, điều kiện sinh thái phù hợp, nên khả năng thích nghi và sinh trưởng của 2 loài cá nước lạnh này ở Đà Lạt rất tốt. Công ty Hà Quang còn đầu tư nhập trứng từ Phần Lan và ấp nở các giống cá tầm Nga tại Đà Lạt đạt kết quả tốt, tỉ lệ nở đạt 90%, sau 2 tuần tỉ lệ sống 70%.
Du lịch Đà Lạt thêm hấp dẫn...
Một góc Tuyền Lâm. Ảnh: hiepcantho
Thành công của mô hình nuôi cá nước lạnh mở ra triển vọng phát triển mới cho nghề nuôi thủy sản tỉnh Lâm Đồng. Đến nay, diện tích thủy sản của tỉnh vùng cao này mới đạt 2.000 ha, cho sản lượng 4.000 tấn/năm, giá trị sản xuất ngành thủy sản còn rất nhỏ bé, chỉ khoảng 70 tỉ đồng/năm. Tỉnh Lâm Đồng định hướng đến 2010, chuyển mạnh sang phát triển các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, sản phẩm đặc thù; tiến hành qui hoạch vùng nuôi cá nước lạnh hơn 180 ha ở địa bàn Lạc Dương và một phần ở khu vực hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt, gắn với phát triển du lịch - dịch vụ, tiếp tục thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư có năng lực, tài chính, kỹ thuật – công nghệ, thị trường tiêu thụ, thực hiện các dự án đầu tư khép kín. Tuy nhiên, tỉnh khuyến cáo không nhân rộng mô hình này trong dân như kiểu “nuôi phong trào” mà khuyến khích hình thành các trang trại, có khả năng liên kết chặt chẽ, áp dụng quy trình sản xuất đồng bộ.
Để có thể phát triển bền vững nghề nuôi cá nước lạnh còn rất mới mẻ ở vùng cao nguyên này, còn phải tiếp tục thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, từ qui hoạch, đầu tư, giải quyết khâu giống đến đảm bảo qui trình công nghệ, kỹ thuật nuôi đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Được biết, Tập đoàn bán sỉ hàng đầu thế giới Metro Cash & Carry Vietnam đang có kế hoạch khảo sát các mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao của Lâm Đồng để bàn khả năng liên kết, hợp tác hình thành chuỗi các vệ tinh chân rết và xây dựng siêu thị ở phố núi này. Cuối tháng 11 vừa qua, thêm một nhà hàng đặc sản cá hồi Đà Lạt, qui mô “hoàng tráng” vừa được khai trương phục vụ thực khách.  
Loài cá hồi bí ẩn ngược dòng trở về sông cũ ở châu Âu, nay đã vượt đại dương đến vùng phố núi. Tuy chưa nhiều, chưa phổ biến, nhưng ngày nay du khách đến Đà Lạt, có thể kết hợp tham quan những mô hình nuôi cá nước lạnh ở hồ Tuyền Lâm hay ở vùng cao bên đỉnh Langbiang huyền thoại tại huyện Lạc Dương. Trong những phút thư giãn, chọn một nhà hàng của Đà Lạt, rồi như một thực khách người Nhật với món shu-bi, người Nga với món cá tầm truyền thống, bạn có thể ngồi nhấm nháp món cá hồi nổi tiếng thế giới được nuôi từ chính suối, hồ của thành phố cao nguyên này như một thứ tiêu khiển của văn hóa du lịch ẩm thực đặc sắc.