30 tháng 4, 2015

KINH TẾ BIỂN XANH NHÌN TỪ ĐẤT CHÍN RỒNG

                                                                   Trần Hữu Hiệp
ĐBSCL là vùng duy nhất của cả nước tiếp giáp 3 mặt biển: Đông, Tây, Nam với bờ biển dài 750 km, chiếm 23% bờ biển quốc gia; hơn 360 ngàn km2 vùng biển và đặc quyền kinh tế, có gần 200 đảo và quần đảo; trong đó có đảo lớn nhất nước là Phú Quốc. Đất Chín Rồng không chỉ là vựa lúa, trái cây, thủy sản của cả nước, một trung tâm sản xuất hàng hóa lớn trong chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu, mà còn có tiềm năng kinh tế biển to lớn cần được đầu tư phát triển.

Thành tựu và thách thức từ nông nghiệp
Thành tựu 30 đổi mới, 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ở ĐBSCL nổi bật là nông nghiệp. Đó là kỳ tích của hạt gạo, trái cây, thủy sản. Chỉ sau 2 thập niên, sản lượng lúa của vùng đã được nhân lên gấp đôi, từ 9,48 triệu năm 1990 lên 21,5 triệu tấn năm 2010, đến năm 2014 đã đạt hơn 25 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu gạo luôn chiếm khoảng 90% cả nước, 20% thị phần gạo thương mại toàn cầu. Kỳ tích hạt gạo ĐBSCL đã đưa nước ta từ một nước thiếu đói vào những năm 1980, chỉ sau 2 năm đổi mới đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới và giữ vững ngôi vị á quân đến nay. Sau cây lúa, ĐBSCL là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước, chiếm 70% diện tích, 58% sản lượng; riêng con tôm chiếm 80% sản lượng và đóng góp hơn 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Cá tra tạo ra kỳ tích với khoảng hơn 5.000 ha mặt nước đã tạo ra khoảng 1,8 tỷ USD giá trị kim ngạch xuất khẩu. Trong lĩnh vực sản xuất trái cây, ĐBSCL là vùng nguyên liệu lớn nhất nước, với khoảng 300.000ha, chiếm 38% diện tích, nhưng cung cấp tới 70% sản lượng. Nhiều loại trái cây đặc sản của vùng như bưởi Năm Roi, vú sữa Lò Rèn, xoài cát Hòa Lộc … nổi tiếng thế giới.
Nhưng, từ nền kinh tế nông nghiệp số lượng chuyển sang giá trị và chất lượng đang là một thách thức lớn của vùng đất Chín Rồng cần được tập trung giải quyết. Hiện có đến 90% sản phẩm nông nghiệp được bán ở dạng thô và 60% bán với giá thấp. Việc tiếp cận thông tin thị trường của hầu hết nông dân còn rất hạn chế (chỉ có 25%). Bên cạnh đó, ngành nuôi thủy sản tự phát đang “quá nóng”, thiếu đồng bộ; đầu tư cho phát triển chưa tương xứng; cơ sở hạ tầng yếu kém đang là thách thức cho phát triển thủy sản bền vững, đảm bảo môi trường. Hiện vẫn còn nhiều tồn tại trong sản xuất và tiêu thụ trái, giống và quản lý giống còn nhiều bất cập; thách thức về lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; sự liên kết “4 nhà” chưa đáp ứng tốt yêu cầu một ngành hàng chủ lực của vùng. Đối với nông dân ĐBSCL, với tư cách của người sản xuất hàng hóa, họ đang rất cần được giải phóng bằng kiến thức của nhà kinh doanh, cần được đào tạo nghề nông nghiệp thực chất hơn là đào tạo nghề xã hội chung chung như cách làm vừa qua; đào tạo nghề phi nông nghiệp để tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn. Đó là cách thức giúp nông dân không chỉ đứng vững trên đồng ruộng mà còn có thể làm giàu từ nông nghiệp, nông thôn.
Ba thách thức kinh tế biển ĐBSCL
Thách thức đầu tiên trong phát triển kinh tế biển ĐBSCL cần được khắc phục đó là cách tiếp cận, tư duy triển kinh tế biển thời gian qua chủ yếu dựa vào “thói quen” của kinh tế nông nghiệp truyền thống. Vì vậy, chưa giải quyết được căn cơ mối quan hệ giữa phát huy lợi thế bậc nhất về nông nghiệp (sản xuất lúa gạo, thuỷ sản, trái cây) với kinh tế biển (vận tải biển, hậu cần logistic, du lịch biển, đảo, phát triển kinh tế biển để khai thác lợi thế và phục vụ nông nghiệp …). Hai là, vấn đề qui hoạch, tổ chức không gian phát triển và đầu tư còn hạn chế. ĐBSCL là vùng giàu tiềm năng, nhưng nguồn lực đầu tư, đặc biệt là từ ngân sách và doanh nghiệp thấp, nội lực cho đầu tư phát triển thấp. Tài nguyên, nguồn lợi tự nhiên từ biển chủ yếu được “khai thác sẵn có”, nhiều rủi ro, trình độ thấp, hạ tầng yếu kém, thiếu liên kết vùng. Ba là, thách thức trước biến đổi khí hậu, nước biển dâng và yều tố “cạnh tranh phát triển” ở biển Đông, biển Tây. Không gian phát triển mới, cách tiếp cận mới, khác căn bản cách tiếp cận phát triển kinh tế “đất liền”. Kinh tế biển ĐBSCL cần được đầu tư, khai thác gắn với chiến lược kinh tế biển của nước ta để ĐBSCL không chỉ là vựa lúa, trái cây mà còn là vùng mạnh về biển.

Chiến lược nào cho kinh tế biển xanh ĐBSCL?
Yêu cầu đặt ra là làm sao giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển theo hướng hiện đại, bền vững. Phát triển kinh tế biển vùng ĐBSCL cần sự tiếp cận chuỗi - hệ thống tổng thể và thể chế, chính sách. Cần được tổ chức triển khai một cách đồng bộ, từ chất lượng và hiệu quả đầu tư, hợp tác quốc tế, vấn đề chủ quyền, đảm bảo quốc phòng – an ninh, tăng cường liên kết vùng, liên kết chính quyền, doanh nghiệp – thị trường … Với nguồn lực có hạn, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm, lựa chọn điểm đột phá, khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán trong đầu tư phát triển kinh tế biển, gây lãng phí và kém hiệu quả ... là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, cần có cơ chế, chính sách mạnh mẽ hơn cho kinh tế biển ở ĐBSCL bởi cho đến nay, vẫn chưa có gì đặc biệt thoát ra khỏi khung chính sách khuyến khích đầu tư chung.
Liên kết vùng là đòi hỏi cấp bách không chỉ trên đất liền mà cả trên biển và yêu cầu phát triển kinh tế biển xanh ở ĐBSCL. Liên kết vùng cần một cơ chế pháp lý rõ ràng và mạnh mẽ hơn là sự “khuyến khích” hay các hình thức ký kết hợp tác chung chung giữa chính quyền các tỉnh với nhau thời gian qua. Việc liên kết cần được tổ chức theo cơ chế, mô hình, có phân công, phân vai rõ ràng giữa các địa phương, từ đầu tư các công trình trọng điểm vùng như cảng biển, khu kinh tế ven biển, phát triển kinh tế biển, du lịch biển đảo đến kết nối các công trình đầu tư và phát triển kinh tế biển của các tỉnh, thành, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí.

Để kinh tế biển ĐBSCL phát triển, cần tiếp tục ưu tiên đầu tư, phát triển đảo Phú Quốc trở thành “đặc khu kinh tế biển mang tầm cỡ quốc tế” như định hướng của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, cần tiếp tục đầu tư “Tứ giác động lực” – Cần Thơ – Cà Mau – Kiên Giang – An Giang, gắn kết yêu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp với công nghiệp, kinh tế biển, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng; có chú ý phát triển hài hòa hành lang ven biển và các đô thị ven biển trong vùng. Phát triển toàn diện ngành hải sản, thành tiểu vùng kinh tế hải sản trọng điểm của cả nước. Xây dựng Cần Thơ thành trung tâm hậu cần logistic của vùng, Kiên Giang thành trung tâm nghề cá và dịch vụ lớn của cả nước. Ngoài ra, vấn đề  xây dựng, hoàn thiện và vận hành cơ chế tổ chức liên kết vùng ĐBSCL trong qui hoạch đầu tư phát triển, liên kết các ngành kinh tế biển, liên kết thị trường hiệu quả cũng là một yêu cầu cấp bách… Đây chính là bước chuyển dịch căn bản để vùng đất phù sa này vượt qua khỏi cái bóng của nông nghiệp lúa nước truyền thống từ ngàn đời nay để ĐBSCL có thể giàu lên từ biển.

Nhớ đèn ết đa thời đã xa

Trần Hiệp Thủy

Quê tôi xưa chỉ thắp đèn dầu, bây giờ nhà nhà sáng điện. Điện khí hóa đưa ánh sáng đèn điện về quê, không chỉ là thành tựu lớn của 40 năm giải phóng miền Nam mà còn là ánh sáng văn minh từ thuở cha ông xưa đi khai phá đất phương Nam.

Tên gọi đèn “ết đa” chắc là do dân quê tôi phiên âm từ thương hiệu đèn Aida phổ biến thời đó. Thật ra, loại đèn này còn những thương hiệu khác như Petromax hay Star Max, chất liệu ban đầu bằng đồng thau, sau được dùng phổ biến bằng inox. Đèn “ết đa” còn được gọi là đèn măng xông do đọc trại ra từ tên gọi manchon trong tiếng Pháp, chỉ cái tim đèn. Ông tôi kể, cây đèn này có nguồn gốc tận bên Tây. Nghe nói sự xuất hiện của nó vào đầu thế kỷ XIX được coi là một phát minh quan trọng trong lịch sử hải đăng thế giới. Nó cũng nhanh chóng vào xứ Nam kỳ thuộc địa của Pháp.
Ngày xưa ở quê tôi, chỉ mấy nhà khá giả mới sắm nổi cây đèn “ết đa”, giá ước tính tròm trèm gần trăm giạ lúa. Đèn cũng chỉ được người ta mang ra dùng mỗi khi có đám tiệc. Thời đó, mỗi lần trong xóm có đám cưới, đám giỗ, thì bọn trẻ chúng tôi kéo nhau đến xem, thức đến khuya. Nhiều đứa ước ao ba mẹ có đủ tiền sắm cây đèn như vậy để thắp sáng cho con nít cả xóm qua chơi. Bên ánh đèn “ết đa”, người lớn nhâm nhi ly rượu với sáu câu vọng cổ hay mấy bản vắn “ba Nam, sáu Bắc” nghe ngọt lịm.
Thắp đèn “ết đa” cũng là một kỹ thuật phức tạp mà không dễ mấy người được giao nhiệm vụ. Việc châm dầu, bơm hơi, chỉnh béc, luộc lưới măng xông đều cần kỹ năng thành thạo sao cho không hư sồi bơm, gãy kim, hỏng béc phun dầu và măng xông. Nó chỉ là một tấm lưới làm bằng cotton, nhưng bắt lửa không bị cháy mất mà còn phát ra ánh sánh trắng dễ coi hơn mọi thứ đèn thời đó. Măng xông mới dùng lần đầu thì dễ, khi đã đốt qua một lần, phải được giữ kỹ, con nít không được xớ rớ, dễ hóa thành tro.
Đèn “ết đa” đã xa rồi trong dĩ vãng, nay không còn mấy người dùng, nhưng dường như nó vẫn tỏa sáng trong trái tim của nhiều người hoài cổ.


Nông dân vẫn còn nghèo trên "Vựa lúa Quốc gia": Bài 2: Người trồng lúa đang nghèo trên vựa lúa

Vài lời: Tứ của 2 bài viết này đã được người khác thể hiện trước qua các bài báo năm … 2011. Tên bài viết, tiểu tựa và ý tứ là từ các bài viết: “Hạt gạo cắn chia làm tám” (Lao Động ngày 9-11-2011), “Trăn trở từ vựa lúa quốc gia”(Nông nghiệp VN ngày 02-5-2014), “Nghèo trên vựa lúa” (Tuổi Trẻ ngày 30-5-2013), “Ly nông và giải pháp tam nông” (Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 14/3/2014).
SĨ NGUYÊN
Danh xưng là “Vựa lúa Quốc gia”, là “chén cơm” của thế giới, vậy mà nông dân vẫn còn nghèo. Chúng ta tự hào xuất khẩu gạo đứng nhất, nhì thế giới, nhưng nông dân chưa được trả công xứng đáng.
Tự hào “Vựa lúa Quốc gia”
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ngày càng khẳng định vị thế là vùng chủ yếu bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hàng hóa của cả nước. Sản xuất 52% sản lượng lúa, đóng góp 90% sản lượng gạo xuất khẩu. Vào những năm 1930, diện tích lúa mùa toàn vùng ĐBSCL khoảng 570 ngàn ha, đến năm 1980 diện tích này giảm xuống còn 300 ngàn ha và từ năm 1990 trở lại đây hầu như không còn lúa mùa nữa, thay vào đó là các giống lúa mới, ngắn ngày, năng suất cao được gieo trồng 2-3 vụ/năm.
Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), trong 20 năm qua, ĐBSCL đã gia tăng diện tích vụ đông xuân gấp 8 lần, vụ hè thu tăng 4,3 lần và vụ mùa giảm 3,4 lần. Từ 1 vụ lúa mùa của năm 1976 đã được nâng dần 2 vụ, rồi 3 vụ.

Việc gia tăng diện tích đất lúa của vùng còn xuất phát từ công cuộc khai hoang mở đất. Từ những năm 1980, các nhà khoa học Việt Nam đã vào cuộc khai hoang khu vực Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. Cùng với chính sách di dân của các địa phương, vùng đất hoang hóa, người thưa ngày nào đã đông đúc và phong trào gia tăng sản xuất cũng được thúc đẩy.
Theo ông Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), chỉ riêng lĩnh vực sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL từ năm 2000 - 2010, sản lượng lúa luôn tăng. Nếu năm 2000, sản lượng lúa đạt 16,702 triệu tấn thì đến năm 2010 sản lượng đã đạt 21,569 triệu tấn. Năm 2012, sản lượng lúa của toàn vùng ĐBSCL đạt khoảng 24,6 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn so với năm 2011.
Đến năm 2013, tổng sản lượng lúa toàn vùng ĐBSCL ước đạt 24,8 triệu tấn, tăng 550 ngàn tấn so với năm 2012 và đến năm 2014, sản lượng đạt 25,5 triệu tấn, tăng 700 ngàn tấn so với năm 2013. Trong đó, sản lượng lúa của vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên chiếm 40% sản lượng lúa toàn vùng ĐBSCL, chiếm giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực rất lớn cho vùng.
Năng suất và sản lượng năm sau cao hơn năm trước và giữ vững vị thế ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất Việt Nam; đồng thời sản lượng lúa ĐBSCL tăng hàng năm cũng góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực Quốc gia, vừa bảo đảm sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm của Việt Nam.
Còn nghèo do nhiều yếu tố
Báo cáo kết quả sản xuất lương thực trong năm 2014, ông Cao Văn Hóa, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, tổng sản lượng lương thực cả năm của tỉnh ta ước đạt 1,37 triệu tấn (đạt 103% kế hoạch đề ra). Trong đó, đối với cây lúa, diện tích gieo trồng cả năm 230.605 ha, năng suất bình quân 58,77 tạ/ha (tăng 1,53 tạ/ha so với năm 2013), sản lượng 1,35 triệu tấn.
Diện tích, sản lượng đều tăng nhưng số lượng nông dân nghèo không giảm nhiều. Ông Hồ Thanh Sơn, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, hiện nay trên địa bàn tỉnh còn 22.644 hộ nghèo, 22.429 hộ cận nghèo mức 1 và 5.136 hộ cận nghèo mức 2.
Trong 22.644 hộ nghèo thì thiếu vốn sản xuất có 6.770 hộ, thiếu đất sản xuất là 4.513 hộ, thiếu phương tiện sản xuất là 1.077 hộ, có lao động nhưng không có việc làm là 1.183 hộ, có lao động nhưng không biết làm ăn là 981 hộ, hộ bảo trợ xã hội là 4.338 hộ, số hộ nghèo thuộc diện chính sách là 398 hộ.
Trao đổi qua điện thoại, GS.TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ cho biết, người trồng lúa nghèo triền miên vì làm nông nghiệp không có vốn, nông dân phải vay tiền. Đến mùa thu hoạch, người dân chen chúc ở ngân hàng nông nghiệp để trả nợ. Xong nợ cũ lại vay mới để đầu tư làm vụ kế tiếp.
Có tới 95% nông dân phải vay ngân hàng để sản xuất theo kiểu ăn trước trả sau. Ngoài yếu tố trên, nông dân trồng lúa vẫn còn nghèo là do quá bảo thủ, mạnh ai nấy làm, tự “đấu đá” lẫn nhau về kỹ thuật; gieo sạ quá dày, dẫn đến sâu bệnh nhiều, chi phí cao.
Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp, trong đó chính sách cho sản xuất lúa gạo là không ít như: Quyết định 80/2002/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng; Nghị định 109/2010/NÐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo; Nghị quyết 63/NQ-CP của Chính phủ về bảo đảm an ninh lương thực; Quyết định 63/QÐ-TTg ngày 15-10-2010 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch; Chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo...
Hầu như những chính sách này chưa đi vào đời sống và cũng không giúp được nhiều cho nông dân. Thị trường luôn chịu cảnh bấp bênh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến người nông dân. “Từ những yếu tố trên, nông dân luôn nghèo là do bản thân họ và một phần của Nhà nước” - GS.TS Võ Tòng Xuân nói.
Còn theo Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, nông dân còn nghèo là do không có đất, thiếu đất sản xuất; người có đất nhưng thiếu vốn, thiếu kiến thức, không biết cách làm ăn; sản xuất kém hiệu quả, gặp rủi ro cao.
Cũng có người thiếu sự phấn đấu để vươn lên thoát nghèo. Có cả nguyên nhân chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa hợp lý, cách làm cứng nhắc, thiếu lồng ghép các chính sách phát triển kinh tế với việc giải quyết vấn đề xã hội, khiến việc hỗ trợ của Nhà nước chưa đến được người nghèo một cách thiết thực, hiệu quả.
Kỳ tích của ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực, chỉ sau vài năm tham gia xuất khẩu trở lại đã chiếm vị trí thứ 2 xuất khẩu gạo trên thế giới. Mặc dù đời sống của nông dân trồng lúa có phần khấm khá hơn lên, nhưng thu nhập của họ được xem là thấp so với các lĩnh vực khác. Cũng chính từ đó, một bộ phận không nhỏ đã tìm một hướng đi mới, thoát khỏi cảnh “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” với đồng ruộng.
(Còn tiếp)


29 tháng 4, 2015

“Xông vào nhà mới gõ cửa”

Trần Hữu Hiệp
Phép lịch sự mà trẻ con cũng biết là trước khi vào nhà người khác phải xin phép, ít nhất là gõ cửa. Nhưng các tin nhắn rác tự động nhảy vào di động người ta lại bảo chủ nhà “để từ chối quảng cáo, nhắn lại số ...”. Vô duyên giống như việc xông vào nhà người khác rồi mới bảo: “Nếu không muốn cho tôi vào, thì phải bảo không”. Đó là tình trạng mà người dùng điện thoại phải gồng mình chịu đựng cảnh “quăng rác nhà mình”.
Nỗi khổ của "thượng đế"!

Thông tin mua bán sim số điện thoại, tiếp thị nhà đất, sex … từ quấy rối người dùng, đến lừa đảo. Kẻ gian công khai quảng cáo hàng gian trên mạng: “Nhận làm bằng đại học, cao đẳng, trung cấp, cấp III, đảm bảo uy tín, kín đáo, giao hàng tận nơi …”. Gần đây, lại xuất hiện tin nhắn xưng danh Cục cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thông báo người dân cảnh giác, báo cho cơ quan công an gần nhất hành vi giả danh cơ quan công an để quyên tiền phục vụ điều tra. Người dùng điện thoại không biết đâu mà lường.  
Nhiều nhà mạng chẳng những không có biện pháp hữu hiệu bảo vệ khách hàng, mà qua các chương trình khuyến mãi như “1.000 đồng nhắn tin cả ngày không giới hạn”, “nhắn tin miễn phí thoải mái” ... đã “tiếp tay cho các “quảng tặc” phát tán tin rác. Thậm chí, nhà mạng còn đua nhau “xả rác” theo kiểu “dội bom” lên đầu “thượng đế”. 
Theo Trung tâm An ninh mạng Akav, năm 2014, có khoảng 13,5 triệu tin nhắn mỗi ngày. 90% người dùng thường xuyên bị tin nhắn rác làm phiền. Riêng tôi bị “đổ rác” không dưới 15 lần/ngày vì tội có số thuê bao đẹp. Ước cước phí trung bình 300 đồng/tin nhắn, thì các nhà mạng đã thu về khoảng trên 4 tỉ đồng/ngày, hơn 120 tỉ đồng/tháng, chưa kể nguồn thu từ lợi nhuận của các chủ thể phát tán tin nhắn rác chia sẻ cho nhà mạng. Một món lợi không nhỏ.
Năm 2013, Việt Nam được xếp thứ 4 khu vực Đông Nam Á, thứ 14 khu vực châu Á - Thái Bình Dương và 88/157 quốc gia về Chỉ số phát triển công nghệ thông tin – truyền thông. Theo Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam năm 2014, cả nước có gần 123,8 triệu thuê bao di động, đạt tỉ lệ 137,93% dân số; 6,8 triệu thuê bao cố định; gần 33,2 triệu người dùng internet, đạt 37% dân số. Ngành viễn thông, CNTT là một điển hình về tốc độ phát triển và hiệu quả cạnh tranh, người dùng hưởng lợi, nhưng cũng đầy bác nháo khi thiếu hạ tầng dùng chung, các nhà mạng đầu tư cắt khúc, mạnh ai nấy làm, mạng chồng mạng. Hàng triệu triệu người đang bị “tra tấn” bởi tin nhắn rác, nay kẻ gian còn thách thức khi công khai quảng cáo làm hàng gian “uy tín, kín đáo”.
Việc “bảo vệ môi trường mạng” cũng cần thiết như đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 77/2012/NĐ-CP ngày 05.10.2012 về chống thư rác. Pháp luật hiện hành cũng quy định rõ ràng về quảng cáo, bắt buộc chủ thuê bao phải đăng ký sim có giới hạn. Nhưng sim rác vẫn tràn lan, tin nhắn rác vẫn đổ đầy, người xả rác còn lộng hành tiếp thị, quảng cáo hàng gian công khai qua tin nhắn. Mạng gmail, yahoo mail đã có các giải pháp chống “spam” hiệu quả. Mặc dù các nhà mạng di động trong nước công bố các giải pháp chặn tin nhắn rác, nhưng vẫn đổ thừa khó chặn rác. Khó do kỹ thuật hay lợi ích?

Thực tế cho thấy, tình trạng quảng cáo khoan cắt bê tông tràn lan, các kiểu “câu view” trên báo đài, khi bị cơ quan chức năng xử lý nghiêm, đúng luật, thì cũng dẹp được. Cùng với việc chế tài “người lạ xông vào nhà người khác”, cũng cần xử lý nhà mạng - người gác cổng – chễnh mãn nghĩa vụ bảo vệ chủ nhà – khách hàng của mình. 
COMMENTS:

  • Nguyễn Văn Lúa 21:21 29/04/2015
    Tôi xài điện thoại 2 sim của hai nhà mạng vina và viettel. Công việc chính của tôi hàng ngày là xóa tin nhắn rác !
  • Quốc Việt 12:36 29/04/2015
    Phải hiểu thật đúng là nhà mạng ép khách hàng chứ không phải không lịch sự với khách hàng. Nếu chúng ta không thích quảng cáo chúng ta có thể thông báo chặn và chúng ta sẽ không nhận được thông tin quảng cáo nào và đồng thời chúng ta cũng không nhận được bất kỳ thông báo khuyến mãi giãm giá 50% hay 100% nào từ nhà mạng. Trong thời gian qua các nhà mạng sử dụng chiêu này để bắt khách hàng nhận thông tin quảng cáo cả thông tin trò chơi có thưởng. Có điều các thông tin này quá tệ, quá trẻ con đôi lúc như lừa gạt khách hàng làm cho moi người bức xúc và không ấn tượng tốt nhà cung cấp dịch vụ của mình. Đây là cơ hội cho các nhà mạng biết kiềm chế, biết cách sử dụng dịch vụ thật hiểu quả để thể hiện đẳng cấp của mình với khách hàng.
  • Đăng Khoa 15:15 29/04/2015
    Vấn nạn tin nhắn rác là nổi nhức nhối của người dùng điện thoại. Đừng nói nhà mạng không đủ khả năng ngăn chặn tin rác. Mà nên hiểu rằng họ có muốn chặn hay không thôi....?
    Nếu thực sự nhà mạng muốn làm thì không khó. Chỉ cần nhà mạng mở 1 hộp thư để nhận tất cả những phản hồi về tin nhắn rác. Người bị bom rác chỉ cần chuyển tiếp trọn vẹn nội dung tin nhắn vào số tổng đài. Căn cứ vào những nội dung này có thể xử lý 1 cách dễ dàng và chính xác.
    Vấn đề là các ông có muốn làm hay không thôi. Ở góc độ người tiêu dùng thì chúng tôi ủng hộ hai tay hai chân luôn. Nhưng nếu các ông chịu làm thì sẽ mất đi một phần doanh thu từ những tin nhắn rác này đó nhé!
  • duy 20:34 29/04/2015
    Mình ở Úc được hai năm và chưa bao giờ phải nhận tin nhắn RÁC nhé!
  • Đạt 10:13 30/04/2015
    Ngày nào cũng nhận được tin nhắn với tiêu đề "Viettel". Ngày nào cũng như ngày nào, bạn bè, gia đình còn nhắn tin không nhiều bằng Viettel.
  • Nguyễn Phú 14:14 30/04/2015
    Tôi sử dụng mạng mobiphone nhưng nhà mạng này "xả rác" nhiều nhất. Rác của nhà mạng này dụ khách hàng với những trò trúng thưởng lừa khách hàng vào mê hồn trận với giải thưởng khủng.
  • phạm tuấn khương 11:37 30/04/2015
    Nói thẳng và nói toẹt ra là chính nhà mạng tung ra và tiếp tay hoặc là nói theo cách hiện đại gọi là tăng ca 3.
  • thanh 23:04 29/04/2015
    Tôi dùng Mobiphone. Tôi rất ghét 9241, mỗi ngày đổ bao nhiêu tin rác vào máy tôi. Còn tài khoản trên web Mobiphone thì cho đăng ký nhưng không bao giờ vào được (lừa đảo?).
  • haigia 17:02 30/04/2015
    Tôi cũng thích dùng 2s nhưng dùng chỉ được ít hôm rồi cũng phải bỏ bớt 1s. Nhận và xóa tin rác mệt quá.Tôi ước ĐT không sim nào.
  • Thanh Long 23:25 29/04/2015
    Em mới bị bọn Viettel chơi một vố các bác ạ. Là như vậy: Hôm 9/4 em có nạp cho người nhà cái thẻ 50k, qua đầu số *103* nhưng người nhà em không nhận được. Em gọi điện phản ánh thì bên tổng đài báo là Viettel mới thay đổi cách nạp tiền *103* nhưng lại không thông báo, trên trang web của Viettel cũng không có vì web lỗi mấy ngày. Nhân viên tổng đài bảo báo kỹ thuật xử lý nhưng không được, thấy nhân viên bên Viettel gọi cho em mấy lần mà cũng không lấy lại được cái thẻ 50k của em. Lần cuối gọi bảo là ngày 9/4/2015 em không nạp thẻ cho số nào qua *103* cả rồi mất tăm. Trong khi đó tin nhắn rác của Viettel gửi cho em thì đầy ra, đủ loại.

Mở nút thắt cho ĐBSCL

Trần Hữu Hiệp
Sau khi phát lệnh khởi công năm 2009, tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận đã “đứng yên” do khó khăn về vốn, chủ đầu tư trả lại dự án; nay theo thông tin từ ngành chức năng, sẽ khởi công lại vào tháng đầu năm 2015.
Tổng công ty Đầu tư phát triển và quản lý dự án hạ tầng giao thông Cửu Long (chủ đầu tư) đã báo cáo Bộ GTVT về tiến độ dự án. Phương án được chủ đầu tư đề xuất là chọn nhà đầu tư thứ cấp, theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Đoạn cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận dài 54km, tổng mức đầu tư hơn 17.000 tỷ đồng, có 4 làn xe, chỉ dành riêng cho xe cơ giới, dự kiến sẽ được tiếp tục mở rộng lên 6 làn xe trong giai đoạn sau. Đây là một trong 3 hợp phần độc lập của tuyến cao tốc TPHCM - Cần Thơ gồm 3 đoạn: TPHCM - Trung Lương, Trung Lương - Mỹ Thuận và Mỹ Thuận - Cần Thơ; trong đó đoạn TPHCM - Trung Lương dài 40km đã được đưa vào sử dụng từ tháng 2-2010.

“Vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản quốc gia” miền Tây Nam bộ trong nhiều năm liền chỉ có tuyến quốc lộ (QL) 1A độc đạo gồng mình quá tải. Gần đây, đã hình thành thêm các tuyến: N1 (dọc biên giới), N2, đường Hồ Chí Minh giai đoạn 2 nối từ Chơn Thành (Bình Phước) đến Cà Mau. Cầu Rạch Miễu đã nối đôi bờ sông Tiền, phá thế độc đạo của xứ dừa Bến Tre. Trục chiến lược ven biển Đông nối TPHCM với phần ven biển của các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau được hình thành. Các QL 53, 54, 60, 80… đã được nâng cấp, mở mới tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp, Nam Sông Hậu. Cùng với hệ thống các cầu lớn (Cần Thơ, Mỹ Thuận) đã được xây dựng, các cầu Cổ Chiên, Vàm Cống, Cao Lãnh đang triển khai, bức tranh giao thông ĐBSCL có nhiều khởi sắc. Tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận nếu được triển khai, không chỉ điểm thêm dấu son vào bức tranh giao thông đường bộ của đồng bằng, mà còn là động thái “mở nút thắt cổ chai” tại điểm nút Trung Lương, tạo đà nối mạng cho tuyến cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ trong tương lai.
Sinh thời, khi bàn về giải pháp “đột phá” cho giao thông ĐBSCL, Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi đó từng lo ngại, nếu tuyến cao tốc TPHCM - Trung Lương chỉ dừng lại ở đó, dù có mở rộng QL1 đến Cà Mau, thì giao thông bộ vẫn bị nghẽn “nút thắt cổ chai”. Tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận được đầu tư nhằm “mở nút thắt” đó.
Mong rằng, cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận không lỗi hẹn như lần trước!


Đào tạo nhân lực ĐBSCL: 40 năm ươm mầm phát triển

Trần Hữu Hiệp
Phần lớn nhân lực ĐBSCL hiện nay trong các ngành, lĩnh vực lớn lên trong môi trường giáo dục và đào tạo sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng. Thành tựu 40 năm của nền giáo dục cách mạng ở vựa lúa, 30 năm đổi mới, đặc biệt là 10 năm trở lại đây mang đậm dấu ấn của nhân lực đồng bằng.

 Vươn lên từ vùng trũng
Nhớ những năm đầu sau giải phóng, Đại học (ĐH) Cần Thơ (CTU) - cơ sở giáo dục đại học duy nhất ở ĐBSCL thời đó - đã đi tiên phong trong việc gắn “nhà trường với nhà nông”. Năm 1978, trong lúc cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam còn nóng bỏng, “vựa lúa gạo” miền Tây Nam Bộ phải vất vả chống chọi với cơn lũ dữ và dịch rầy nâu hại lúa chưa từng có. Nhiều gia đình phải ăn độn khoai lang, khoai mì và bo bo. Thầy và trò CTU không vào giảng đường mà đồng loạt ra đồng. Hơn 2.000 sinh viên của trường đã ra quân đến các địa phương đang có rầy nâu xuất hiện. Mỗi sinh viên mang 1kg lúa giống IR36 để cấy ra 1.000m2, trái với tập quán của nông dân là phải cần 8 - 10kg lúa giống... Chỉ trong 2 vụ lúa, giống mới IR36 đã phủ khắp các vùng lúa cao sản, đánh đuổi giặc rầy nâu, chấm dứt thảm họa của nông dân. Sống trong không khí của ruộng đồng, cùng học cùng làm với nông dân, nhiều thế hệ thầy và trò trường đại học Cần Thơ đã tạo dựng nên thương hiệu CTU, đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ĐBSCL.
Không chỉ có CTU, nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học ở ĐBSCL đã ươm mầm nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển vùng đất này như Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam. Ngày nay, mặc dù còn những hạn chế, yếu kém, nhưng không thể phủ nhận thành tựu của giáo dục - đào tạo (GDĐT) và dạy nghề vùng ĐBSCL trong việc quyết định nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực. Nhiều chương trình đầu tư kiên cố hóa trường lớp học, liên kết vùng trong đào tạo do BCĐ Tây Nam Bộ phối hợp các bộ, ngành trung ương, địa phương triển khai thực hiện thời gian qua. Chương trình Mê Kông 1.000 đào tạo sau đại học ở nước ngoài là kết quả nỗ lực liên kết vùng trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, trở thành điểm sáng trong vùng.
ĐBSCL có khoảng 18 triệu dân; trong đó, hơn 10,3 triệu lao động trong độ tuổi. Thời gian qua, vùng này đã hình thành và phát triển nhanh mạng lưới đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp đến cao đẳng, đại học. Nếu như năm 2000, toàn vùng chỉ có Trường ĐH Cần Thơ, thì nay đã có 42 trường đại học, cao đẳng và 30 trường trung cấp chuyên nghiệp; trong đó có 17 trường đại học. Nhiều chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng trường học, xoá đói giảm nghèo, dạy nghề, giải quyết việc làm, đào tạo nghề lao động nông thôn, tín dụng chính sách, xây dựng nông thôn mới... đã được triển khai có hiệu quả.

Tuy nhiên, so với các vùng, miền khác, ĐBSCL vẫn “còn trũng” về nhân lực, cần được quan tâm đầu tư phát triển. Toàn vùng mới đạt tỉ lệ 169 sinh viên/vạn dân so cả nước đạt khoảng 280 sinh viên/vạn dân. Hiện có khoảng một phần tư dân số đang học tại một cơ sở GDĐT và dạy nghề; song tỉ lệ lao động qua đào tạo 46% và lao động qua đào tạo nghề còn thấp hơn nhiều, nằm trong những vùng có tỉ lệ thấp của cả nước.
Nhiều bất cập trong cơ chế, chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Trong khi cả nước và từng tỉnh đã xây dựng chiến lược nguồn nhân lực quốc gia và địa phương, thì đến nay vẫn chưa có một chiến lược cho vùng. Đào tạo nghề nhưng chưa gắn được với tạo việc làm bền vững, có tình trạng “học nghề cũng ngồi nhầm lớp”. Một số nơi, việc thực thi chính sách rập khuôn, cứng nhắc trong áp chuẩn nghèo và chính sách đào tạo dẫn đến một số hệ luỵ.

Tăng tốc và liên kết vùng đào tạo nhân lực
Cuộc chiến chống lại nghèo khó ở vựa lúa gạo, thuỷ sản và vươn lên thoát khỏi vùng trũng về chất lượng nhân lực rất cần được tăng tốc với cách làm hiệu quả hơn. Nghèo khó và chất lượng nhân lực ở vựa lúa miền Tây có “cái chung”, nhưng cũng có “cái riêng” khác nhiều nơi, nên cần có cơ chế, chính sách riêng, phù hợp.
Từ xuất phát điểm thấp, nhiều khó khăn, BCĐ Tây Nam Bộ đã “đi tiên phong” trong việc chủ động phối hợp với các trường ĐH, cơ sở đào tạo nhằm “tăng tốc” trong cuộc “rượt đuổi” các vùng, miền khác về phát triển nhân lực. Cơ quan này đã chủ động phối hợp với Bộ GDĐT xây dựng chính sách ưu tiên cho con em đồng bào 22 huyện nghèo vùng biên giới, hải đảo trong vùng ĐBSCL (không thuộc 62 huyện nghèo). Các đề án đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành cho Tây Nam Bộ của các trường ĐH Kiến trúc TPHCM, ĐH Kinh tế TPHCM, ĐH Y dược TPHCM và Cần Thơ đã được xây dựng công phu, áp dụng từ 4 năm qua. Các hoạt động liên kết đào tạo không chỉ tạo điều kiện cho con em miền Tây được “rộng đường” vào ĐH mà còn phải đảm bảo chất lượng, giữ “thương hiệu” cho các trường, gắn chặt với địa phương trong việc xác định nhu cầu, trách nhiệm bố trí, sử dụng các em sau khi học.
Tuy nhiên, nỗ lực liên kết vùng trong GDĐT của BCĐ Tây Nam Bộ và các tỉnh, các trường có thể chỉ mới là hoạt động “kết nối”, “lấp khoảng trống” do các qui định hành chính tạo ra, nhưng bước đầu cũng có tác dụng thiết thực hỗ trợ ĐBSCL tăng tốc để nâng cao chất lượng nhân lực. Thực tế đòi hỏi cần phải quan tâm lồng ghép, kết nối, tập hợp để tạo ra chuyển biến tốt hơn từ nhiều chương trình, tạo ra cuộc vận động lớn, thiết thực và hiệu quả hơn. Về lâu dài, việc đào tạo nhân lực cho miền Tây cần chính sách căn cơ hơn. Cùng với chiến lược nguồn nhân lực quốc gia và các tỉnh, rất cần một chiến lược nguồn nhân lực cho vùng ĐBSCL. Qui hoạch phát triển hệ thống các trường ĐH, cao đẳng, trường nghề, trường phổ thông… phải dựa trên chiến lược này. Cần “hướng cầu” là thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị trong vùng làm động lực phát triển hơn là chủ yếu dựa trên năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất của các trường.

Những “cơ chế đặc thù” trong GDĐT ưu tiên cho vùng khó khăn như ĐBSCL là cần thiết để tăng tốc, đuổi kịp các vùng, miền khác. Nhưng vùng này cần phải đi lên bằng chính “đôi chân” của mình chứ không thể dựa vào sự hỗ trợ “đặc thù”. Hệ thống GDĐT từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, ĐH đến các trường nghề, hệ thống giáo dục xã hội trong vùng cần được quan tâm đầu tư để đủ sức tạo ra “sản phẩm nhân lực” tốt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, chứ không phải trông chờ vào chính sách ưu tiên “điển sàn, điểm chuẩn” hay tăng chỉ tiêu đào tạo, chỉ tạo ra “lợi thế ảo”. Hoạt động liên kết vùng ĐBSCL trong phát triển nguồn nhân lực cần được tiếp tục tăng cường về chất; nội dung, phương thức phù hợp hơn nữa. Phải thật sự gắn kết được lợi ích, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động trong đào tạo nhân lực của vùng, kèm theo là các chính sách khuyến khich thích hợp. Liên kết vùng trong phát triển nguồn nhân lực không chỉ là cách làm, yêu cầu đặt ra mà còn là mệnh lệnh của phát triển vùng trong thời kỳ mới.

28 tháng 4, 2015

Những cung đường trên đất “Chín Rồng”

Huy Phong
40 năm sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hệ thống hạ tầng giao thông ở ĐBSCL đã được chú trọng đầu tư mạnh mẽ, hoàn chỉnh cả về đường bộ, đường thủy, hàng hải, hàng không. Đây là bàn đạp vững chắc, nhằm tăng năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường cho vùng đất “Chín Rồng” vốn nhiều tiềm năng, thế mạnh.

Vùng trũng khởi sắc
Đi trên tuyến đường Nam Sông Hậu dài 147km, nối liền TP Cần Thơ với các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, nhiều người ấn tượng trước sự “thay da đổi thịt” mạnh mẽ của những vùng đất khuất nẻo trước đây. Đó là Khu đô thị mới Nam Cần Thơ, quy mô gần 2.000ha ngày càng sung túc; các khu công nghiệp mọc lên thu hút nhiều dự án đầu tư; trung tâm điện lực Sông Hậu, Long Phú đang hình thành; hàng hóa nông thủy sản của người dân làm ra được lưu thông thuận tiện...
Cầu Cổ Chiên vừa hợp long, chuẩn bị thông xe kỹ thuật vào tháng 5 tới.
Nông dân Nguyễn Văn Phát, 60 tuổi, ở xã Phong Nẫm, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phấn khởi nói: “Mấy năm qua, nông dân chúng tôi bán chôm chôm, vú sữa, măng cụt, bưởi năm roi rất thuận tiện, không còn bị thiệt vài trăm đồng, thậm chí vài ngàn đồng/kg sản phẩm như trước đây vì giao thông đã thuận tiện và nhanh chóng hơn rất nhiều. Trước đây, thương lái phải đưa xe tải nhỏ men theo đường nông thôn, từ TP Cần Thơ về tới đây hơn 80km, mất 5 - 6 giờ mới xong 1 chuyến và cũng chỉ chở được 1,5 - 2 tấn là cùng”. Khu công nghiệp sông Hậu có vị trí đặc biệt thuận lợi khi một mặt giáp đường Nam sông Hậu, mặt còn lại tiếp giáp sông Hậu, thu hút nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước. Ông Chu Văn An, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, nói: “Nếu không có đường Nam sông Hậu thì chúng tôi không thể nào mở nhà máy, tạo việc làm cho 2.000 công nhân ở đây được”.
Theo Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long Trần Văn Rón, cầu Cần Thơ và cầu Mỹ Thuận có vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nhất là thu hút đầu tư. Hiện Khu công nghiệp Hòa Phú (giai đoạn 1 đã lấp đầy) và lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long  vừa làm việc với 2 đoàn nhà đầu tư lớn đến từ Hà Lan và Hoa Kỳ xúc tiến xây dựng nhà máy thức ăn chăn nuôi nông thủy sản; trại thực nghiệm quy mô, hiện đại về thủy sản phục vụ cho cả khu vực ĐBSCL và dự án xây dựng nhà máy chế biến rau quả tại các khu công nghiệp.
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, nhận định: “Hệ thống giao thông trong vùng đã thật sự khởi sắc, phục vụ đắc lực cho việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa và du lịch. Nhiều công trình trọng điểm ở ĐBSCL đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng, góp phần “giải phóng” hàng hóa nông sản của vùng.
Kết nối liên hoàn
Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Nguyễn Phong Quang cho biết: “Đến nay toàn vùng thu hút hơn 1.600 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn trên 416.000 tỷ đồng. Cùng với đó là 836 dự án nước ngoài (FDI) với tổng vốn 11,8 tỷ USD. Các tỉnh thành trong vùng đang mời gọi đầu tư 178 dự án trọng điểm với tổng vốn 171.000 tỷ đồng và 1,5 tỷ USD. Ngoài việc cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, xúc tiến đầu tư thì hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, nên có vai trò rất lớn trong việc kéo nhà đầu tư đến ĐBSCL và cần phải tiếp tục được quan tâm đầu tư hoàn thiện hơn nữa.”
Theo Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, lượng hàng hóa xuất khẩu từ các cảng ở TPHCM có 30% của ĐBSCL, chủ yếu là gạo, tôm, cá… Trong khi đó, 75% nguồn hàng ở ĐBSCL xuất khẩu qua các cảng ở TPHCM được vận chuyển bằng đường thủy và đường bộ. Chỉ có 25% xuất trực tiếp qua các cảng ở ĐBSCL; trong đó 10% xuất đi các nước ASEAN bằng tàu nhỏ vì tàu lớn không thể vào được và 15% ra miền Bắc để xuất sang Trung Quốc. Thống kê của Cảng vụ Hàng hải Cần Thơ, hệ thống 15 cảng biển trên sông Hậu chỉ khai thác chưa đến 50% công suất; nhiều cảng hoạt động cầm chừng... Việc khơi thông luồng Định An được các địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế xác định là vấn đề cấp bách hiện nay. Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ cho thấy, trung bình mỗi tấn hàng hóa trung chuyển từ ĐBSCL lên các cảng ở TPHCM, Đông Nam bộ tốn chi phí thêm từ 7 - 10 USD... Ông Phan Thành Tiến, Giám đốc Cảng Cần Thơ, khẳng định: “Phương thức vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy và đường biển là tối ưu nhất hiện nay. Dùng tàu càng lớn thì giá thành rẻ, tăng khả năng cạnh tranh”.
Trong chuyến kiểm tra các công trình giao thông trọng điểm tại ĐBSCL mới đây, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng cho biết: Trong năm 2015, dự án nâng cấp mở rộng quốc lộ 1 sẽ hoàn thành, trong đó có đoạn từ TPHCM - Hậu Giang. Hoàn thành dự án cải tạo hệ thống đường thủy nội địa khu vực ĐBSCL và luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu. Cùng với các dự án khác đang triển khai, hệ thống giao thông ĐBSCL sẽ được thay đổi rất cơ bản, có sự kết nối liên hoàn, tạo thuận lợi cho người dân, góp phần phát triển sản xuất hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu”.

25 tháng 4, 2015

Môi trường đầu tư ĐBSCL qua góc nhìn PCI 2014

Trần Hữu Hiệp
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI năm 2014) đánh dấu quá trình 10 năm cộng đồng doanh nghiệp "xếp hạng" môi trường đầu tư và "chấm điểm" chính quyền địa phương. Tuy nhiên, với các địa phương trong vùng ĐBSCL, kết quả PCI năm 2014 không có nhiều tín hiệu vui bởi có đến 11/13 tỉnh, thành trong vùng tụt hạng.

* Tín hiệu cảnh báo từ "vùng sáng"
Nhiều năm liền, ĐBSCL được đánh giá là khu vực năng động, môi trường đầu tư thông thoáng với các chỉ số thành phần: thiết chế pháp lý tốt, chính quyền năng động, chi phí gia nhập thị trường, chi phí thời gian, chi phí không chính thức thấp. Đó chính là "phần mềm bù lỗ" cho những hạn chế về cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực mà nhiều địa phương đang nỗ lực khắc phục. Mặc dù ĐBSCL vẫn là "vùng sáng" trong bản đồ PCI cả nước, 3 tỉnh Đồng Tháp, Long An và Kiên Giang trong "Top 10", thuộc nhóm "rất tốt" và "tốt", 8 địa phương trong nhóm "khá"; nhưng bảng xếp hạng năm nay ghi nhận tình trạng 11 tỉnh, thành trong vùng đồng loạt tụt hạng là một chỉ báo cần được quan tâm.
Đồng Tháp và Long An là 2 tỉnh trong vùng tăng hạng. Đồng Tháp không chỉ tiếp tục khẳng định "phong độ" nhiều năm liền mà còn vươn lên vị trí thứ 2 cả nước, tăng 4 bậc. Nhiều chỉ số thành phần của Đồng Tháp đạt điểm số cao và tăng vọt như: gia nhập thị trường tăng từ 7.02 lên 9.37 điểm, chi phí thời gian từ 6.76 lên 8.45 điểm, thiết chế pháp lý từ 5.68 lên 7.91 điểm. Tỉnh "khuất nẻo" này lại được đánh giá cao về chỉ số cơ sở hạ tầng qua cảm nhận của doanh nghiệp (xếp thứ 6 cả nước), cao hơn Cần Thơ (thứ 14), Hà Nội (15) và Long An (19). Nói như Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Lê Minh Hoan: "Từ chỉ số PCI, nghĩ đến sức bật mới và giấc mơ khởi nghiệp". Đó là hành trình thay đổi tư duy - hành động, ứng xử theo kiểu "xin - cho" thành "đồng hành cùng doanh nghiệp", từ "suy nghĩ cho doanh nghiệp" đến "suy nghĩ như doanh nghiệp", từ "quản lý, điều hành" thành "kiến tạo môi trường tốt nhất cho hoạt động của doanh nghiệp".

"Thành tích" địa phương thứ hai trong vùng phải kể đến là Long An, xếp thứ 2 trong vùng, thứ 7 cả nước, tăng 12 bậc, các điểm số thành phần cũng rất ấn tượng: gia nhập thị trường tăng từ 7.32 lên 8.19 điểm, chi phí thời gian từ 6.51 lên 7.21 điểm, thiết chế pháp lý từ 5.8 lên 7.21 điểm.
Trường hợp của Kiên Giang, xếp thứ 3 trong vùng ĐBSCL, thứ 9 cả nước, tuy tụt hậu 6 bậc, nhưng các điểm số thành phần tương ứng cũng đạt khá: gia nhập thị trường tăng từ 7.34 lên 8.64 điểm, thiết chế pháp lý từ 6.4 lên 7.33 điểm; điểm tổng hợp sụt giảm do các điểm số thành phần như phí không chính thức, tính năng động, tiếp cận đất đai sụt giảm. 10 địa phương còn lại trong vùng đồng loạt tụt hạng, từ 5 đến 19 bậc. Cần Thơ - thành phố trung tâm, động lực của vùng, nếu như năm 2013 vươn từ vị trí thứ 14 lên thứ 9, tăng 5 bậc, thì năm nay rớt 6 bậc, xếp thứ 15 cả nước. Mặc dù điểm số thành phần gia nhập thị trường tăng từ 7.38 lên 8.48 điểm, thiết chế pháp lý tăng từ 5.0 lên 6.38 điểm, nhưng các chỉ số khác đều giảm sút, thậm chí thấp dưới ngưỡng như: tính năng động giảm từ 6.46 xuống 4.03 điểm, về chi phí không chính thức, điểm số giảm từ 7.63 xuống 5.61, tiếp cận đất đai cũng giảm từ 6.58 xuống 5.66 điểm.
"Điểm đen" của ĐBSCL được ghi nhận là việc 2 tỉnh rơi vào "nhóm thấp" và "tương đối thấp". Đó là trường hợp Cà Mau nhiều năm còn "lẹt đẹt" ở nhóm cuối, tiếp tục rớt 2 bậc, xếp hạng 58/63 tỉnh, thành cả nước; Tiền Giang "rơi tự do" từ nhóm khá năm trước, giảm 15 bậc xuống hạng 52, vào nhóm "tương đối thấp". Tương tự là Trà Vinh, từ "hiện tượng" phấn đấu của các năm trước, nay giảm 19 bậc, từ hạng 13 xuống 32 cả nước.
* Nên hướng đến giá trị "cốt lõi"
Năm nay là năm thứ 10 VCCI tổ chức công bố chỉ số PCI. Tuy chỉ có giá trị tham khảo, nhưng các tỉnh, thành vùng ĐBSCL rất quan tâm kết quả xếp hạng này. Lãnh đạo nhiều địa phương trong vùng ĐBSCL đã tổ chức họp đánh giá, phân tích nghiêm túc kết quả PCI, mổ xẻ mặt mạnh, điểm yếu của mình, "đặt hàng" bộ máy tham mưu phải có giải pháp, quyết tâm cải thiện thứ hạng, môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, chỉ cần địa phương nào lơ là, tự hài lòng, là tự rơi vào cái bẫy do mình giăng ra. PCI là một quá trình nỗ lực liên tục không ngừng. Kết quả tốt một tỉnh làm được, thì tỉnh khác cũng làm được và có thể làm tốt hơn. Cuộc cạnh tranh minh bạch, sòng phẳng và "fair play" giữa các địa phương là một vòng xoáy vô cùng, không có nhiều không gian, thời gian cho sự dừng lại để nghỉ ngơi. Mặt khác, PCI không phải là một loại "bằng khen" kết thúc một năm thi đua, mà nó chính là một công cụ đo lường điều hành kinh tế của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Để giải quyết được những khó khăn, thách thức về cơ sở hạ tầng, chống tiêu cực, nhũng nhiễu, thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo lao động, chính quyền địa phương cần tiến hành đồng bộ cải cách thể chế, điều hành năng động và nhiều việc phải làm hơn là nhắm vào thứ hạng. Việc "vượt lên chính mình" còn quan trọng hơn "vượt qua tỉnh bạn". Thứ hạng cao hơn so với năm trước cũng chẳng mang lại nhiều ý nghĩa nếu như các chỉ số đo "hàn thử biểu" - mức độ hài lòng của doanh nghiệp không tốt hơn, môi trường đầu tư không hấp dẫn hơn, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh không được nâng cao hơn.
Vì vậy, vấn đề "cốt lõi" là chính quyền địa phương cần nhìn môi trường đầu tư, chất lượng quản lý điều hành ở không gian rộng lớn hơn là "tư duy hành chính tỉnh". Đó là sự liên kết vùng để tạo ra môi trường đầu tư tốt hơn. Xét ở góc độ này, PCI của 10 năm qua chưa được tính đến. Trong 9 chỉ số thành phần CPI, chưa có chỉ số "liên kết vùng". Đó cũng chính là "đơn đặt hàng" cho các nhà làm PCI trong thời gian tới, là phương tiện để chính quyền địa phương "nắm tay nhau" cùng tiến bộ hơn là "cạnh tranh nhau" để có thứ hạng cao theo kiểu "xé rào thu hút đầu tư" đã từng xảy ra không lâu!