30 tháng 4, 2016

ĐBSCL: Trước bước chuyển lịch sử

                                                                                                                             Trần Hữu Hiệp
Kỷ niệm 41 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhìn lại thành tựu hơn 30 năm qua, càng thấy rõ ý nghĩa lớn lao của sự nghiệp Đổi Mới, đã tạo ra thế và lực mới cho nông nghiệp ĐBSCL.
Sau hơn 30 năm đổi mới, vùng ĐBSCL đã đạt được những thành tựu quan trọng. Từ một nước thiếu lương thực, vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu gạo, nhiều sản phẩm nông nghiệp của vùng đã vươn xa, tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.
Tiếp nối Đổi Mới, hội nhập đang mở ra nhiều cơ hội mới, nhưng cũng nhiều thách thức. Hệ quả tích cực hay tiêu cực của hội nhập quốc tế phụ thuộc vào việc tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức của vùng này trong thời gian tới.

Điểm tựa tầm nhìn
Hội nhập kinh tế quốc tế đang tỏa nhiệt khi hàng ngoại “đổ bộ” vào thị trường nội với quy mô lớn, tạo ra sức ép cạnh tranh mạnh mẽ. Việc thực thi các cam kết Cộng đồng kinh tế ASEAN, sắp tới là TPP và các Hiệp định song phương Việt Nam - EU, Việt Nam - Hàn Quốc… đang tạo ra cơ hội lớn, nhưng cũng nhiều rủi ro.
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng không còn là “câu chuyện trăm năm”, mà nó đang hiển hiện ngay trước mắt khi ĐBSCL phải đối mặt trước tình trạng khô hạn, xâm nhập mặn khắc nhiệt nhất 100 năm qua... đang đặt vùng này trước bước chuyển lịch sử.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết XII của Đảng xác định các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu là: “Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh” trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nghị quyết cũng xác định chủ trương “khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển các vùng sản xuất qui mô lớn với hình thức đa dạng phù hợp với điều kiện của từng vùng và đặc điểm của từng sản phẩm. Gắn sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản trên cơ sở phát triển các hình thức hợp tác, liên kết đa dạng giữa hộ gia đình với các tổ chức và doanh nghiệp. Khuyến khích liên kết giữa hộ nông dân sản xuất với tổ chức tín dụng, tổ chức khoa học, công nghệ và doanh nghiệp”. "Hoàn thiện quy hoạch vùng, lấy quy hoạch làm cơ sở quản lý phát triển vùng… Tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng, giữa các vùng, tạo không gian phát triển thống nhất trong vùng và cả nước”.
Sau hơn 30 năm đổi mới, vùng ĐBSCL đã đạt được những thành tựu quan trọng, hình thành các yếu tố của các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, tiền tệ. Thị trường lao động và khoa học - công nghệ cũng đang hình thành và phát triển. Nông hộ từ “vòng vây” của ngăn sông cấm chợ trong nền kinh tế không có thị trường, đã vươn lên trở thành những đơn vị “kinh tế nông hộ” năng động. Nông dân ĐBSCL ngày càng tiếp cận và ứng dụng nhanh hơn với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ. “Cánh đồng lớn” đạt được thành công bước đầu quan trọng trong liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo. Mô hình này không chỉ giới hạn ở sản xuất lúa, mà còn được áp dụng ở nhiều ngành hàng khác như mía đường, chăn nuôi và thủy sản. Xây dựng nông thôn mới bước đầu tạo ra diện mạo mới, tạo ra không gian sống, lao động sản xuất và hưởng thụ vật chất văn hóa, tinh thần tốt hơn cho người dân. Tầm nhìn dài hạn cho một ĐBSCL phát triển an toàn, trù phú và bền vững trước “bước chuyển lịch sử”.
Chính sách, giải pháp gì tạo lực cho “bước chuyển lịch sử”?
Động lực của Đổi Mới trước đây từ các chính sách đất đai, phát huy vai trò kinh tế nông hộ… đã đem lại nhiều thành công; tạo ra diện mạo mới cho ĐBSCL. Nhưng đến nay, nó đang dần mất đi động lực khi nông hộ, nền nông nghiệp nhỏ lẻ đang đứng trước thách thức mới, thiếu kết nối sản xuất - thị trường, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu kém của hàng nông sản. Tác động tích lũy đáng lo ngại hơn trước biến đổi khí hậu, tình trạng khô hạn, xâm nhập mặn, an ninh nguồn nước sông Mekong đe dọa “Vựa lúa quốc gia”.
Để phát triển đồng bằng, rất cần những nguồn lực mới, những mô hình phát triển mới với hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao hơn. Động lực mới cho các mô hình mới này cần phải được bắt đầu chính từ nội lực của vùng, từ nguồn nhân lực bậc cao, từ khoa học và công nghệ và từ doanh nghiệp. Nó cần những chính sách mới năng động và quyết liệt để biến các nguồn lực từ yếu tố sản xuất, trở thành nội lực mới từ thị trường bằng mô hình tăng trưởng mới như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII đã nêu.
Khi gia nhập vào Cộng đồng kinh tế ASEAN và hội nhập quốc tế sâu rộng, sẽ có thêm nhiều áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh nông nghiệp từ bên trong; rất cần sự tham gia mang tính quyết định của nông dân và doanh nghiệp. Người nông dân và doanh nghiệp nông thôn phải ở vị trí trung tâm và vai trò chủ thể để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Nông nghiệp ĐBSCL từ “vườn nhà, đồng vàng” của Đổi Mới ra “chợ lớn” của hội nhập quốc tế đang rất cần quyết tâm và động lực mới.
Trên cơ sở đó, đề xuất quan tâm thực hiện các giải pháp sau:
Một là, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung - cần thị trường. Các địa phương cần tạo môi trường thuận lợi để tăng cường các mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người dân, giữa người dân với người dân, nhằm tổ chức, hình thành mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị.
Hai là, trên cơ sở điều 52 - Hiến pháp 2013 về “tăng cường liên kết kinh tế vùng” và Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XII về “xây dựng cơ chế điều phối liên kết vùng”, cần tổ chức triển khai sớm Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 6-4-2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, tập trung vào 3 lĩnh vực liên kết: (1) Sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu các nông sản chủ lực lúa gạo, trái cây và thủy sản. (2) Đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu; phòng chống lũ; kiểm soát mặn; quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước. (3) Xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông. Theo Quy chế, ngân sách trung ương cần đảm bảo hỗ trợ mức vốn tối thiểu 10% so với tổng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách trung ương phân bổ cho các địa phương trong vùng để thực hiện các chương trình, dự án liên kết vùng.
Ba là, đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc nông nghiệp ĐBSCL phải theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc cải tiến, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, ưu tiên cho chuỗi nông sản chủ lực lúa gạo, trái cây, tôm, cá tra.
Bốn là, tập trung cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, tạo các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao. Tăng cường năng lực hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng ĐBSCL với các vùng miền khác trong cả nước và quốc tế. Đưa nhanh các công nghệ mới vào tất cả các khâu: sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm. Gắn với xây dựng và thí điểm các khu nông nghiệp công nghệ cao dựa vào những tiến bộ khoa học - công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, các mô hình liên kết, quản lý theo tiêu chí hiện đại dựa vào tri thức mới.

Tầm nhìn dài hạn cho một ĐBSCL phát triển an toàn, trù phú và bền vững trước “bước chuyển lịch sử” đang đòi hỏi nhiều nỗ lực và quyết tâm. Phát triển bền vững vùng ĐBSCL trên cơ sở tăng cường liên kết vùng đang là đòi hỏi tất yếu khách quan.... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/dbscl-truoc-buoc-chuyen-lich-su-post162197.html | NongNghiep.vn

29 tháng 4, 2016

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: Liên kết phát triển mô hình “cánh đồng mẫu lớn”

Thời gian qua, nông dân mạnh dạn liên kết với nhau và liên kết với doanh nghiệp để xây dựng mô hình "cánh đồng mẫu lớn- CĐML, trong sản xuất lúa tại nhiều địa phương ở ĐBSCL đã nâng cao được hiệu quả sản xuất. Song, qua thực tiễn phát triển, mô hình CĐML tại ĐBSCL cũng bộc lộ một số khó khăn, hạn chế cần sớm được khắc phục để đáp ứng yêu cầu mới về hội nhập quốc tế và thích ứng biến đổi khí hậu.
* Khẳng định hiệu quả
CĐML (nay được nhiều nơi gọi là cánh đồng lớn-CĐL) là cách thức tổ chức sản xuất trên cơ sở hợp tác, liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, tổ chức đại diện của nông dân trong sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, có quy mô ruộng đất lớn, với mục tiêu tạo ra sản lượng nông sản hàng hóa tập trung, chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Theo tiến sĩ Nguyễn Quốc Dũng, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực IV, những năm gần đây ở ĐBSCL xuất hiện mô hình CĐML đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu cấp thiết về việc từng bước khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, sản phẩm thiếu tính đồng nhất, đi lên theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, có sự liên kết chặt chẽ "4 nhà" trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, từng bước nâng cao thu nhập và mức sống của nông dân. Mô hình CĐML ở ĐBSCL được manh nha vào năm 2009-2010 tại An Giang, với mô hình đầu tiên do Công ty cổ phần Vật tư nông nghiệp An Giang liên kết với nông dân thực hiện có các kết quả khá tốt như: chi phí sản xuất giảm, nâng cao chất lượng hạt lúa, đầu ra sản phẩm được bảo đảm và nông dân thu nhiều lợi nhuận hơn. CĐML từ thực tiễn đã trở thành phong trào được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát động ngày 26-3-2011 tại TP Cần Thơ, được các địa phương vùng ĐBSCL hưởng ứng mạnh mẽ và coi là một hướng đi quan trọng trong sản xuất lúa gạo nói riêng và sản xuất nông sản nói chung. Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26-11-2011 của Quốc hội khẳng định đây là giải pháp quan trọng lâu dài góp phần tái cơ cấu nền nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững. Theo báo cáo sơ kết của ngành nông nghiệp các địa phương vùng ĐBSCL, năm 2010 toàn vùng có 3.000ha tham gia CĐML, đến năm 2011 tăng lên 9.000 ha và tính đến vụ đông xuân 2012-2013 tất cả các tỉnh, thành ĐBSCL đều có CĐML với tổng diện tích hơn 71.000ha. Thực tiễn cho thấy, CĐML đã đem lại nhiều hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, từng bước đưa nền nông nghiệp ở khu vực ĐBSCL đi lên sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại. Qua đó, góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất, đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Theo số liệu tổng hợp của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, từ mô hình ban đầu khoảng 200ha tại An Giang, đến nay mô hình CĐML được nhân rộng lên 146.353 ha ở nhiều tỉnh, thành ĐBSCL. Mô hình CĐML đã giúp cả nông dân và doanh nghiệp đều tăng được lợi nhuận nhờ giảm được các chi phí sản xuất đầu vào và nâng cao năng suất, chất lượng, giá bán sản phẩm. Đặc biệt, khi các nông hộ nhỏ lẻ liên kết, hình thành "cánh đồng lớn" đã tạo không gian và điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh cơ giới hóa, thực hành các tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp tốt và ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đồng thời, việc tổ chức sản xuất kinh doanh khép kín theo chuỗi giá trị hạt gạo cũng giúp nông dân và doanh nghiệp chủ động kiểm soát và nắm chi phí phát sinh từng khâu của chuỗi, hạn chế đến mức thấp nhất các khâu trung gian. Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, Ủy viên Chuyên trách Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng: "Cánh đồng lớn (CĐL) không chỉ mang lại các hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường mà quan trọng hơn là đã tạo ra mô hình tổ chức sản xuất mới gắn kết thị trường, tạo liên kết chặt chẽ hơn giữa nông dân và doanh nghiệp. Phát triển CĐL phù hợp với mục tiêu, chương trình xây dựng nông thôn mới".
* Cần quy hoạch các vùng thực hiện CĐML
Thời gian qua, mô hình CĐML phát huy được vai trò tích cực trong thúc đẩy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp để phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa lớn và nó đã khẳng định được "sức sống" trong thực tế khi mang lại hiệu quả cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, việc phát triển CĐML tại nhiều địa phương hiện vẫn còn mang tính phong trào, chạy theo số lượng, do nhận thức còn hạn chế và chưa có sự gắn kết thật chặt chẽ giữa các bên có liên quan, nhất là giữa nông dân và doanh nghiệp nên tình trạng "bẻ kèo" các hợp đồng liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm còn thường xuyên xảy ra. Mặt khác, cơ sở hạ tầng, thủy lợi tại nhiều nơi cũng chưa đảm bảo cho việc xây dựng CĐML và các tác động của biến đổi khí hậu, mặn xâm nhập và nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm cũng tác động đến sự phát triển bền vững của mô hình CĐML. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng, tới đây cần quy hoạch lại các vùng thực hiện CĐML để giúp phát huy lợi thế cạnh tranh của các vùng có điều kiện sản xuất lúa gạo hàng hóa, chứ không nên phát triển mô hình CĐML theo kiểu "đại trà" nơi nào cũng làm dù các điều kiện sản xuất không phù hợp. Đồng thời, cần có các cơ chế chính sách và môi trường pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho CĐML ở ĐBSCL phát triển. " Biến đổi khí hậu ngày càng tăng, nhất là mặn xâm nhập và nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm cũng đã và đang đe dọa đến sự phát triển bền vững của ĐBSCL, đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp thích ứng kịp thời. Trong điều kiện đó, CĐL chỉ nên quy hoạch phát triển ở những nơi có điều kiện sản xuất lúa hàng hóa và chủ động được nước tưới tiêu, còn nếu không bảo đảm thì chuyển sang các loại cây trồng vật nuôi khác hoặc chỉ phát triển kinh tế hộ"-Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Khắc Thanh, Viện Kinh tế Chính trị học, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, lưu ý. Ông Lưu Minh Đức, Chủ doanh nghiệp tư nhân Trung thạnh, TP Cần Thơ, cũng cho biết: "Thời gian qua, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc mở rộng quy mô CĐL do thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi vì thủ tục còn phiền hà và còn thiếu các cơ chế chính sách ưu đãi. Đây là vấn đề mà nhà nước cần đặc biệt quan tâm hỗ trợ cho doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp phải chịu nhiều sức ép cạnh tranh do hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng".

Thời gian qua, nhờ được doanh nghiệp tham gia CĐL bao tiêu sản phẩm mà nhiều nông dân ở TP Cần Thơ bán lúa được giá cao hơn thị trường từ 100 - 200 đồng/kg so với cùng thời điểm. Ảnh: KHÁNH TRUNG 
Theo Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, Ủy viên Chuyên trách Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, CĐL cần được xây dựng trên một quy hoạch sản xuất lúa được tiếp cận theo lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh vùng. ĐBSCL có thể trồng lúa ở nhiều nơi, nhưng sản xuất lúa hàng hóa cạnh tranh chỉ nên tập trung ở một số nơi và nên quy hoạch thực hiện các CĐL tại đây. Còn những nơi khác nên ưu tiên cho các loại cây trồng, vật nuôi dành cho mục đích kinh tế khác hiệu quả hơn. Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp cho rằng: CĐL là một mô hình tốt, là "nguồn cung thực tiễn" sinh động để các cơ quan Trung ương và địa phương hoạch định cơ chế, chính sách. Nhưng thực tế "lối đi đến CĐL" vẫn còn gặp những trở ngại, đặt ra trách nhiệm không chỉ của doanh nghiệp, nông dân mà đang đòi hỏi các cơ chế, chính sách mới hơn, mạnh mẽ hơn từ các cơ quan hoạch định chính sách và thực thi để tháo gỡ, mang lại hiệu quả cao hơn.
Để nhân rộng và phát triển bền vững mô hình CĐL, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức gắn với việc phân chia hợp lý lợi ích giữa các bên có liên quan để tăng cường tính bền vững trong mối liên kết "4 nhà". Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gắn với kiến thiết lại đồng ruộng thuận lợi cho cơ giới hóa và đẩy mạnh công tác đào tạo nghề nhằm chuyển lượng lao động dư thừa ra khỏi nông nghiệp. Đặc biệt, cần tăng cường vai trò của nhà nước, nhất là vai trò "kết nối"và hỗ trợ cho các bên có liên quan cũng như thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, kịp thời "phân xử" các tranh chấp phát sinh giữa các bên có liên quan.
Khánh Trung


Thư viện VideoClip: HIỆU QUẢ KTXH CÁNH ĐỒNG LỚN Ở ĐBSCL

27 tháng 4, 2016

Mô hình cánh đồng mẫu lớn chỉ sống được khi hài hòa lợi ích giữa các bên

Ngày 26/4, Học viện chính trị khu vực IV tổ chức hội thảo khoa học, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường “Cánh đồng mẫu lớn ở khu vực ĐBSCL”.
Cánh đồng mẫu lớn.
Mô hình sản xuất trên “Cánh đồng mẫu lớn” (CĐML) ở ĐBSCL được manh nha tại An Giang năm 2009 – 2010, đây được xem là giải pháp quan trọng lâu dài góp phần tái cơ cấu nên nông nghiệp, nâng cao gia trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững. Từ đó mô hình được nhân rộng ra nhiều tỉnh ở vùng ĐBSCL diện tích không ngừng tăng theo từng vụ lúa, năm 2010 toàn vùng có 3.000 ha, đến nay đã lên tới 146.353 ha. Từ đó cho thấy việc sản xuất lúa theo mô hình CĐML đã đem lại nhiều hiệu quả kinh tế, xã hội môi trường cho nền sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung, từng bước đưa nền nông nghiệp ở khu vực ĐBSCL đi lên sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại.
Theo PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh, Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia TP HCM: Chúng ta nên học tập cách làm nông nghiệp của các nước tiên tiến trên thế giới. Cánh đồng lớn phải đạt được tiêu chí có lao động giỏi, phương thức sản xuất tiên tiến. Các cường quốc nông nghiệp đều hướng lên sản xuất lớn. Tôi ủng hộ cánh đồng lớn ở những nơi chủ động được nguồn nước tưới tiêu, những nơi có lực lượng lao động đáp ứng được công nghệ, ứng dụng được KHKT vào sản xuất, còn không đáp ứng được vấn đề này thì nên chuyển đổi sang sản xuất cây trồng khác…
Là doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào CĐML, ông Lưu Minh Đức, chủ doanh nghiệp Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ cho rằng nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khi tham gia vào CĐML: Là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên thời gian qua tham gia vào CĐML cũng gặp nhiều khó khăn, đầu ra chưa ổn định. Khi tham gia vào CĐML chúng tôi yên tâm vì có nguồn hàng ổn định nên tự tin ký hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài. Thời gian qua khi tham gian vào CĐML chúng tôi luôn đảm bảo giá cả cho người dân cho dù thị trường có lên xuống cỡ nào. Thời gian qua mặc dù nhà nước có đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào CĐML, nhưng trên thực tế doanh nghiệp vẫn chưa nhận được ưu đãi gì. Sắp tới hội nhập, doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư vào vùng này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó mà cạnh tranh nổi. Vì vậy nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này…ông Đức nói.
Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, Ủy viên Chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nhấn mạnh: Mô hình cánh đồng mẫu lớn chỉ là phương thức sản xuất theo chuỗi giá trị. Mô hình chỉ có sức sống, nếu nó giải quyết được lợi ích cho các bên tham gia, nông dân, doanh nghiệp và người tiêu dùng (thị trường). Đã có hiện tượng phong trào “Cánh đồng lớn”, nhiều nơi xây dựng CĐL nhưng đầu ra thì chưa có địa chỉ cụ thể. Thất bại của các tập đoàn HTX hay kinh tế trang trại một thời vẫn còn là một bài học đáng suy ngẫm cho cánh đồng lớn ngày nay và ngày mai…
Quốc Trung


25 tháng 4, 2016

Thịt heo, xúc xích… ngoại đổ bộ quán bình dân Sài Gòn

TÚ UYÊN
(PL)- Đang có sự cạnh tranh gay gắt giữa thịt nội với thịt ngoại và phần thua nghiêng về phía người chăn nuôi trong nước.
TIN LIÊN QUAN
Thịt heo Canada nhập khẩu vào Việt Nam đang tăng mạnh. Theo số liệu từ cơ quan chức năng, riêng trong năm ngoái, lượng thịt heo từ nước này vào Việt Nam tăng đến 230% so với năm trước đó.
Như vậy sau thịt bò Mỹ, bò Úc, thịt trâu Ấn Độ, thịt heo Brazil, xúc xích Pháp…, nay đến lượt thịt heo Canada dồn dập tấn công vào thị trường Việt Nam.
Thịt ngoại chất đầy
Hiện nay tại hệ thống siêu thị như Lotte Mart, Metro… thịt ngoại chất đầy ở các tủ đông. Trên mạng cũng tràn ngập các trang web quảng cáo bán thịt ngoại. Giá bán thịt ngoại khá đa dạng, như heo ba rọi Ba Lan giá 54.900 đồng/kg, khoanh giò heo 49.000 đồng/kg. Ba rọi Canada 75.000 đồng/kg, xương ống 15.000-18.000 đồng/kg.
Nhiều khách hàng cho biết họ thường mua thịt ngoại nhưng cũng có người không thích sử dụng loại thịt đông lạnh này. Chị Lê Ngọc Mai, nhà ở quận Bình Thạnh, TP.HCM đang đứng tại quầy thịt nhập khẩu Siêu thị Metro nhận xét hiện nay thịt ngoại bán rất nhiều nhưng thỉnh thoảng mới mua vì không biết chất lượng ra sao. “Hơn nữa, gia đình tôi thích sử dụng thịt tươi sống hơn là hàng đông lạnh” - chị Mai giải thích.
Đánh giá về việc thịt heo Canada nói riêng và thịt nhập ngoại nói chung đang tràn vào Việt Nam, ông Văn Đức Mười, Tổng Giám đốc Công ty Vissan, lý giải nguyên nhân là do giá thành chăn nuôi sản phẩm động vật của Việt Nam cao hơn mặt bằng chung của thế giới 25%-30%.
“Thế nên thịt nhập khẩu dù đã cộng thêm 15% thuế (chưa tính đến giảm thuế theo lộ trình của các hiệp định thương mại tự do) vẫn còn thấp. Điều này đe dọa ngành chăn nuôi trong nước khi giá cao, chất lượng không đồng đều và không truy xuất được nguồn gốc” - ông Mười nói.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ Âu Thanh Long bổ sung thêm: “Thịt gà nhập từ lâu đã chiếm thị phần đáng kể tại Việt Nam, hiện thịt gà nội chiếm 55%, gà nhập chiếm 45%. Còn thịt heo ngoại bắt đầu xuất hiện trên thị trường từ năm ngoái với giá cạnh tranh và hiện nay đang gia tăng ấn tượng về số lượng. Đang có sự cạnh tranh gay gắt giữa thịt nội với thịt ngoại về chất lượng, giá bán mà phần thua nghiêng về phía người chăn nuôi trong nước”.

Nước ngoài chớp thời cơ tốt
Trước sự đổ bộ của thịt ngoại, nhiều công ty cho rằng thói quen tiêu dùng thịt tươi sống, nóng là lợi thế của sản phẩm trong nước.
Tuy nhiên, ông Trần Hữu Hiệp, ủy viên chuyên trách kinh tế thuộc Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, phản biện: “Trên thực tế ngày càng có nhiều suất ăn công nghiệp, quán ăn dùng thịt đông lạnh nhập khẩu với số lượng lớn. Chưa kể có nhiều gia đình bắt đầu có thói quen đi siêu thị mua hàng một lần để cất trong tủ lạnh dùng cho nhiều ngày. Và các mặt hàng thịt đông lạnh nhập khẩu đang khai thác, đón đầu khá tốt xu hướng này”.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ Âu Thanh Long cũng nêu thực tế hiện nay ở các bếp ăn tập thể, quán cơm bình dân hay quán thức ăn nhanh, thịt đông lạnh đang được tiêu thụ với số lượng lớn nhất và tương đối ổn định. “Thực tế cho thấy ở những nơi này, người ăn không phải là người quyết định mua, bởi chủ quán đặt hàng chủ yếu căn cứ trên giá mua rẻ hay mắc và hiệu quả kinh tế. Nắm bắt được điều này, các nhà phân phối thịt đông lạnh đã đáp ứng khá tốt và nhanh”.
Ông Long dẫn chứng trước đây khi mới cung cấp thịt ngoại đông lạnh cho các bếp ăn tập thể, quán cơm bình dân, quán nhậu…, những công ty nước ngoài thường đóng trong thùng loại 30 kg/thùng. Điều này làm khó cho các bếp ăn nhỏ hay quán ăn bình dân, do rã đông xong là phải nấu hết ngay, để lại có thể sẽ hư hỏng. Nhưng hiện nay các công ty nước ngoài đã chuyển sang đóng gói chỉ 5 kg/thùng, từ đó tạo thuận lợi cho nơi mua.
Muốn được cạnh tranh công bằng
Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ cho rằng trong giai đoạn hiện nay, một số vấn đề khó khăn đã được các công ty trong nước có tiềm lực mạnh về tài chính, kinh nghiệm giải quyết.
Chẳng hạn các đơn vị này đã đầu tư công nghệ hiện đại, áp dụng mô hình sản xuất an toàn, nhập khẩu con giống năng suất cao, cải tạo đàn… để kéo giảm giá thành. Nhưng có những vấn đề thuộc về vĩ mô, thuộc trách nhiệm của các bộ, ngành cần phải được giải quyết cùng lúc.
“Chẳng hạn phí và lệ phí còn cao; các công ty đầu tư nước ngoài có hiện tượng liên kết giá, thao túng thị trường thức ăn chăn nuôi; các đơn vị phân phối thuốc, vaccine kiếm lợi nhuận “khủng” do độc quyền phân phối sản phẩm… Những vấn đề bất cập này khiến giá bán những sản phẩm trên tại Việt Nam cao hơn 25%-50% so với sản phẩm cùng loại tại nước sở tại hay các nước như Malaysia, Indonesia, Thái Lan” - ông Long nhấn mạnh.
Ông Long cũng chỉ ra rằng Việt Nam cho nhập thịt ngoại “tự do” trong khi lại không có hàng rào kỹ thuật chặt chẽ để kiểm soát chất lượng sản phẩm như các nước Malaysia, Indonesia, Thái Lan đang làm. Đơn cử đối với gà, thị trường Mỹ thường chỉ ăn ức chứ ít dùng thịt đùi, cánh gà. Từ đó dẫn đến sản phẩm này dư thừa, giá rẻ và họ bán thoải mái sang Việt Nam. Trong khi thị trường Việt Nam lại không thích ăn ức nên dư thừa, giá rẻ và muốn bán qua Mỹ nhưng bị nước này dựng hàng rào kỹ thuật nên không vào được. Chính điều này làm khó các doanh nghiệp Việt.
“Nếu chúng ta giải quyết được những bất cập trên, cộng với việc doanh nghiệp Việt có cơ hội cạnh tranh sòng phẳng với công ty ngoại thì ngành chăn nuôi có thể trụ được và có cơ hội xuất khẩu thịt” - ông Long nhận định.
Giấc mơ xuất khẩu thịt
Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM Trần Quang Thắng cho rằng việc hình thành thói quen tiêu dùng hàng đông lạnh sẽ là mối lo thật sự cho ngành chăn nuôi trong nước. Do vậy các công ty Việt phải nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh, bởi yếu thì có thể sẽ chết. Không chỉ vậy, cần biến ước mơ xuất khẩu thịt do Việt Nam sản xuất sang các nước thành hiện thực.
 Đồng quan điểm, ông Văn Đức Mười, Tổng Giám đốc Công ty Vissan, nhấn mạnh: “Không nên coi việc phải nhập khẩu ồ ạt thịt ngoại là tất yếu, là điều hiển nhiên mà phải nghĩ đến việc xuất khẩu ra nước ngoài”.
_____________________________
Cục Chăn nuôi thuộc Bộ NN&PTNT cho hay riêng trong sáu tháng đầu năm ngoái, Việt Nam nhập khoảng 50.000 tấn thịt gà gồm đùi, chân, gà thải loại nguyên con… Đối với bò Úc, riêng trong bảy tháng đầu năm ngoái Việt Nam nhập 210.000 con.


22 tháng 4, 2016

Cẩn trọng với thị trường gạo

VFPress, ngày 22/03/2016
Giá lúa gạo nội địa nhảy vọt, nhu cầu tăng, lẽ ra mừng nhưng lại lo cạnh tranh nguồn cung giữa xuất khẩu chính ngạch và tiểu ngạch, áp lực cạnh tranh về giá xuất khẩu, về nạn đầu cơ, trong khi sản lượng gạo Việt Nam sẽ sụt giảm mạnh do hạn hán, xâm nhập mặn. Thế nhưng, những chiến lược hợp lý cho ngành lúa gạo thì đến giờ vẫn loay hoay.
Diễn biến thị trường gạo Việt Nam những ngày gần đây nóng lên trước việc các doanh nghiệp (DN) và thương lái đua nhau gom hàng đã đẩy giá lúa gạo liên tục tăng cao, trong khi nguồn cung lúa gạo trong nước năm 2016 được dự báo sẽ sụt giảm mạnh do ảnh hưởng của hạn và xâm nhập mặn ở vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long (sẽ giảm ít nhất 300.000 tấn vụ đông xuân 2015-2016 so với cùng kỳ năm ngoái).
Nhiều mối lo
Trong khi đó, từ tháng 3/2016, lượng hợp đồng đăng ký xuất khẩu còn lại chờ giao là 1,392 triệu tấn, tăng 46% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó, hợp đồng tập trung là 365.000 tấn và hợp đồng thương mại là 1,027 triệu tấn.
Đó là chưa kể sự cạnh tranh quyết liệt về nguồn cung giữa xuất khẩu chính ngạch và tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc. Điều đáng nói là theo dự báo, Trung Quốc sẽ nhập đến 5 triệu tấn gạo nhưng chưa chắc đã tăng mua theo đường chính ngạch. Ngoài ra, giá lúa gạo bị đẩy lên cao còn bởi nạn đầu cơ do tâm lý hạn hán dẫn đến thiếu lúa gạo.
Giới chuyên gia nhận định điều này ảnh hưởng không nhỏ đến các hợp đồng đã ký kết với đối tác nước ngoài thời điểm giá còn thấp. Ngay trong cạnh tranh xuất khẩu, hiện giá gạo 5% tấm ở trong nước là 380-390 USD/tấn, trong khi Thái Lan chỉ 360 USD/tấn, nên rất khó bán cho thị trường thế giới.
Thực tế cho thấy áp lực cạnh tranh đối với gạo Việt hiện nay không chỉ là giá mà còn là chất lượng, thương hiệu sản phẩm. Hơn 200 doanh nghiệp của Việt Nam có quy mô trung bình và lớn tham gia vào hệ thống thương mại gạo sẽ đối mặt nhiều vấn đề còn tồn tại khi mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay.
Dự báo của Bộ Công Thương cho thấy xuất khẩu gạo trong năm 2016 sẽ vấp phải sự cạnh tranh từ các nước xuất khẩu gạo lớn như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan…, không chỉ về giá mà còn về chất lượng, thương hiệu.
Chỉ ra bất cập của vấn đề này, Gs Võ Tòng Xuân cho biết, trên cùng một cánh đồng có nhiều giống lúa, thương lái mua về rồi trộn chung lại để sơ chế, sau đó bán cho DN chế biến để xuất khẩu gạo, không thể truy nguyên nguồn gốc. Vì vậy, đến nay, Việt Nam vẫn chưa có được loại gạo nào có thương hiệu mạnh.
Áp lực cạnh tranh đối với gạo Việt hiện nay không chỉ là giá mà còn là chất lượng, thương hiệu sản phẩm
Băn khoăn chiến lược
Trong một tham luận gần đây, Ts Lê Văn Bảnh, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho rằng giải pháp phát triển thị trường lúa gạo có thể xem là biện pháp lâu dài để kích thích và ổn định sản xuất, giảm thiểu rủi ro cho nông dân và gia tăng lợi nhuận.
Ts Bảnh cho biết, trong quá trình tái cơ cấu trong sản xuất, ngành nông nghiệp có chủ trương giảm diện tích trồng lúa. Nhưng trồng cây gì lại là một vấn đề, từ khâu giống, canh tác, cơ giới hóa cho đến xử lý sau thu hoạch, vấn đề quan trọng là thị trường, thu nhập…
Cũng theo Ts Bảnh, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cần phải quan tâm liên kết vùng, tùy đất đai thổ nhưỡng từng vùng sinh thái chứ không phải nơi nào trồng lúa nước được thì dễ dàng trồng những loại cây khác, giá thành sản xuất và tiêu thụ ở đâu là vấn đề lớn.
Cũng nên nhắc thêm, ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, đã than phiền rằng danh xưng “Vựa lúa quốc gia” dành cho ĐBSCL đã có từ lâu đời, nhưng nay cần nhận thức lại. Đã đến lúc người miền Tây không cần tự hào về mỹ từ “vựa lúa”.

Hay nhìn rộng ra, theo ông Trần Hữu Hiệp, người Việt Nam chúng ta cũng không cần thiết phải tự hào là cường quốc số một, số hai thế giới về xuất khẩu gạo; không cần thiết phải tự hào về “Vựa lúa quốc gia” hay “Bát cơm châu Á”. Tự hào làm gì khi những người làm ra thật nhiều nông sản cung ứng cho toàn cầu mà vẫn còn nhiều khó khăn…
Còn nhóm nghiên cứu của Ts Nguyễn Đỗ Anh Tuấn và Ts Nguyễn Trung Kiên, Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, đã từng có lưu ý Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đang hoạt động như một cơ quan quản lý ngành hàng, nhất là quản lý việc kinh doanh xuất khẩu gạo dựa trên các biện pháp hành chính là chủ yếu. Điều này đôi lúc đã làm cho thị trường lúa gạo của nước ta bị bóp méo, cứng nhắc, thiếu sự năng động đối với thị trường trong và ngoài nước.
Cũng theo nhóm nghiên cứu này, VFA đã bỏ qua một số vai trò mà các hiệp hội ngành hàng phải tham gia như xây dựng chiến lược phát triển ngành hàng, xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển và ổn định nguồn cung trong nước, mở rộng hội viên theo liên kết dọc nhằm kết nối hợp tác và phát triển theo chuỗi giá trị ngành hàng hiệu quả hơn…
Những lưu ý này, liệu đến nay, các cơ quan quản lý và VFA có ghi nhận để thay đổi?


Giấc mơ thương hiệu “gạo Việt” (Kỳ 2)

Chỉ còn mấy ngày nữa là kết thúc năm 2015. Theo dự báo mới đây của Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ NN&PTNT, khối lượng gạo xuất khẩu cả năm nay của nước ta có khả năng đạt 6,8 triệu tấn. Với con số này, Việt Nam tiếp tục là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới về lượng; còn về giá trị xuất khẩu lại rất khiêm tốn.
Minh chứng là khối lượng gạo xuất khẩu 11 tháng năm 2015 ước đạt 6,24 triệu tấn với 2,65 tỷ USD, tăng 3,6% về khối lượng nhưng giảm 4,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.
Trò chuyện với PV Báo CAND mới đây, Chuyên gia kinh tế vĩ mô - TS Trần Du Lịch, cho biết mấy năm qua, hạt gạo xuất khẩu Việt Nam gặp khó khăn, song tiền thu được từ xuất khẩu gạo không đủ bù để nhập các loại nguyên liệu khác để sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước…  
Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn đang ở phân khúc trung bình và thấp. Năm qua, Việt Nam xuất khẩu gạo thơm với giá trung bình 600 USD/tấn, trong khi giá gạo Hom Mali của Thái Lan 1.065 - 1.075 USD/tấn và Basmati của Ấn Độ 1.515-1.525 USD/tấn. Gạo xuất khẩu có chất lượng cao chiếm tỷ trọng thấp (năm 2015, gạo trắng cao cấp và gạo thơm chiếm khoảng 47%), chất lượng gạo chưa đồng đều và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn yếu.

Cả nước hiện có hơn 200 DN tham gia vào hệ thống thương mại gạo nhưng việc sử dụng thương hiệu (TH) trên thị trường xuất khẩu còn rất hạn chế. Trong bối cảnh thị trường quốc tế, mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, áp lực cạnh tranh đối với gạo Việt không chỉ là giá mà còn là chất lượng, TH sản phẩm. 
Để tham gia có hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị gạo toàn cầu, theo TS Phạm Nguyên Minh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương), điều quan trọng đầu tiên là khẳng định sự cần thiết phải tăng cường năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. 
“Khi đó, chúng ta sẽ có được thông tin thị trường cần cái gì, cần vào thời điểm nào, cần bao nhiêu và giá cả ra sao, có thể thực hiện sản xuất và bán cái thị trường cần... Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng chính là đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tăng trưởng bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân” – TS Minh nói.
Việc quan trọng tiếp theo là xây dựng TH gạo quốc gia. Theo Đề án phát triển TH gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 5-2015, đến năm 2020 hình ảnh gạo Việt Nam được quảng bá, giới thiệu rộng rãi trong nước và đến ít nhất 20 thị trường xuất khẩu; TH gạo quốc gia được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận tại Việt Nam và ít nhất 50 quốc gia; phấn đấu đạt 20% sản lượng gạo xuất khẩu mang TH gạo Việt Nam. 
Đến năm 2030, các vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu ổn định, hiệu quả và bền vững, đưa gạo Việt Nam trở thành TH hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm, phấn đấu đạt 50% sản lượng gạo xuất khẩu mang TH gạo Việt Nam, trong đó 30% tổng sản lượng gạo xuất khẩu là nhóm gạo thơm và gạo đặc sản.
Đây là những mục tiêu rất cụ thể, song hạt gạo Việt hiện vẫn đang trong giai đoạn tái cấu trúc về sản phẩm, thị trường, bảo đảm sự phát triển bền vững, hiệu quả, trước mắt là cho “sân chơi” TPP. Hàng loạt vấn đề mà hạt gạo Việt đang phải đối mặt, trong đó nổi lên nhất vẫn là khâu xây dựng TH. GS.TS Võ Tòng Xuân kể tại các hội chợ lương thực quốc tế, gạo Việt không dám “xuất đầu lộ diện”. Người ta chỉ nhắc tới gạo Khao Dawk Mali và Hom Mali của Thái Lan, gạo Romduol của Campuchia, Paw San của Myanmar và gạo Basmati của Ấn Độ, chẳng ai biết gạo thơm Việt Nam là gì.
“Chưa nói tới việc tận dụng từ cơ hội TPP mang lại tới đây, do không có TH, gạo Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu thời gian qua”. 
Vẫn theo lời GS.TS Võ Tòng Xuân, tại ngân hàng giống lúa thuộc Trường ĐH Cần Thơ hiện đang lưu giữ tới 1.468 giống lúa vùng Tây Nam Bộ, vốn nổi tiếng thơm ngon như: Nàng thơm Chợ Đào, Nàng Hương, Châu Hạng Võ... chưa kể một số giống lúa cao sản cũng thơm ngon không kém như: Jasmine 85, ST, Nàng Hoa 9. 
“Có rất nhiều giống lúa tốt, cho gạo thơm ngon nhưng do nông dân ta chỉ thích trồng giống lúa nào cho năng suất thật cao, nên hạt gạo Việt đã bị láng giềng qua mặt” – GS.TS Võ Tòng Xuân nói.
Cùng giấc mơ về TH gạo Việt, TS. Đào Thế Anh - Phó Viện trưởng Viện Cây lương thực – Cây thực phẩm, cho biết hạt gạo Việt xuất khẩu tới trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng hiện vẫn chưa có TH gạo mang tên Việt Nam. Gạo Việt Nam vì thế khi vào các siêu thị, điểm phân phối chủ yếu là đóng bao và mang nhãn hàng của DN hay quốc gia nhập khẩu, rất ít TH gạo Việt Nam được người tiêu dùng biết đến.
Có một thực tế khiến cho TH gạo Việt vốn đã yếu, đã bị ảnh hưởng tiêu cực là thời gian vừa qua vẫn tồn tại kiểu làm ăn “chụp giựt” - trộn gạo thường với gạo thơm để bán. Ông Phạm Văn Dư – Phó cục trưởng Cục Trồng trọt Bộ NN&PTNT, bức xúc cho biết gạo thơm Jasmine 85 hiện được XK với tỉ trọng rất lớn, nhưng nhiều DN lại đem gạo này trộn với một số loại gạo khác thơm nhẹ hơn, giá rẻ hơn để xuất. Có DN trộn theo yêu cầu của khách hàng, có DN tự ý trộn để phá giá. 
“Riêng giống Jasmine 85, ta đã có tới 13 dòng với chất lượng khác nhau mà đem trộn với gạo khác nữa thì làm sao đảm bảo chất lượng. Người tiêu dùng nước ngoài ăn và đánh giá không tốt về gạo thơm Việt Nam. Hậu quả là cả ngành lúa gạo Việt Nam bị vạ lây” - ông Dư tâm tư. 
Cùng bức xúc về thực trạng vừa kể, GS. TS Võ Tòng Xuân băn khoăn: “Kiểu làm ăn này góp phần làm cho gạo Việt bị mang tiếng xấu khắp thế giới. Nói đến gạo Việt, người ta nói thẳng đó là gạo trộn. Quá xấu hổ!”.
Ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ nói với chúng tôi rằng nông sản nói chung, trong đó có hạt gạo Việt có phát huy lợi thế cạnh tranh hay không tùy thuộc rất lớn bằng chính tư duy, tầm nhìn và cách làm. Danh xưng “Vựa lúa quốc gia” dành cho ĐBSCL đã có từ lâu đời, nhưng đã đến lúc người miền Tây không cần tự hào về mỹ từ này nữa. Hay nhìn rộng ra, người Việt Nam không cần thiết phải tự hào là cường quốc số 1, số 2 thế giới về XK gạo; không cần thiết phải tự hào về “Vựa lúa quốc gia” hay “Bát cơm châu Á”. 
“Tự hào làm chi trong khi những người làm ra thật nhiều nông sản cung ứng cho toàn cầu mà nông dân ta vẫn còn nhiều khó khăn. Việt Nam đã chuyển từ trồng lúa để ăn sang trồng lúa để bán, từ “bát cơm đầy” sang “bát cơm ngon”. Do vậy, cần thương mại hóa ngành lúa gạo và sản xuất nông sản, cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập cư dân nông thôn để làm giàu” – ông Hiệp nói.
Thái Bình


ĐBSCL - Điểm đến đầu tư mới nổi tại Việt Nam

Ngày 16/03/2016 tại khách sạn Majestic, TPHCM đã diễn ra sự kiện giới thiệu ấn phẩm “Đồng bằng sông Cửu Long – Điểm đến đầu tư mới nổi tại Việt Nam” do Cơ quan hợp tác phát triển Đức (GIZ) trong khuôn khổ chương trình Quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICMP) phối hợp với Cơ quan chính phủ nước Đức, Úc, phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ và phòng Thương mại & Công nghiệp Đức tại Việt Nam (GIC/ AHK Vietnam) tổ chức thực hiện. 

Ấn phẩm “Đồng bằng sông Cửu Long – Điểm đến đầu tư mới nổi tại Việt Nam” cung cấp những thông tin và số liệu trọng yếu về khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vùng sản xuất công nghiệp lớn thứ ba cả nước với các lợi ích tiềm năng và môi trường đầu tư hoàn hảo. Ấn phẩm chú trọng đến cơ hội cho các nhà đầu tư, cũng như đề cập đến thách thức mà các doanh nghiệp nước ngoài có thể gặp phải khi đầu tư tại ĐBSCL (tham khảo thêm tại link: http://www.invest-mekong-delta.com/



Chương trình có sự tham dự của ông Đỗ Nhất Hoàng – Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông Christian Henckes – đại diện Cơ quan hợp tác phát triển Đức (GIZ/ICMP), ông Võ Hùng Dũng – Giám đốc VCCI Cần Thơ, ông Trần Hữu Hiệp – Vụ trưởng Vụ kinh tế thuộc Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, đại diện cơ quan xúc tiến thương mại Úc, các Hiệp hội Đức, Châu Âu và đại diện các cơ quan kinh tế hỗ trợ xúc tiến đầu tư của các nước Châu Âu tại Việt Nam. Đại diện Công ty CP Long Hậu, ông Bùi Lê Anh Hiếu – Q. GĐ Tiếp thị kinh doanh tham dự, trình bày giới thiệu về Khu công nghiệp Long Hậu và cùng trao đổi, trả lời các thắc mắc của các nhà đầu tư, khách mời tại sự kiện.




Trả lời câu hỏi của khách mời tham dự về các ngành nghề kinh doanh chủ yếu và tỷ trọng các doanh nghiệp nước ngoài đang hiện hữu tại Khu công nghiệp Long Hậu, ông Bùi Lê Anh Hiếu cho biết ngoài các yếu tố thuận lợi như KCN Long Hậu thuộc tỉnh Long An, khu vực ĐBSCL nhưng có vị trí tiếp giáp TPHCM giúp kết nối giao thương, dễ dàng thu hút lao động, KCN Long Hậu còn cung cấp môi trường đầu tư phát triển bền vững cho các doanh nghiệp nước ngoài lẫn trong nước. Sau gần 10 năm hoạt động, đến nay KCN Long Hậu đã thu hút khoảng 150 doanh nghiệp, trong đó có đến 50% là các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ổn định, tỷ lệ lấp đầy tương đương 80%. 


Các ngành nghề chủ yếu các doanh nghiệp lựa chọn đến KCN tập trung ở 4 lĩnh vực: may mặc, thời trang; sản xuất chế biến thực phẩm; logistics và cơ khí, máy móc thiết bị. Ngoài việc cung cấp môi trường sản xuất kinh doanh ổn định, KCN Long Hậu còn trang bị đầy đủ các dịch vụ chuyên nghiệp như hỗ trợ đào tạo, phòng khám chuyên khoa chăm sóc sức khỏe, khu lưu trú…đảm bảo môi trường sống cho người lao động, cùng với việc tổ chức thường xuyên các hoạt động gặp gỡ với các doanh nghiệp trong khu và tổ chức bên ngoài có liên quan.
Với vị trí chiến lược (chỉ cụm cảng Tân Cảng - Hiệp Phước, cảng SPTC 3km, cảng Cát Lái 25km và cách khu đô thị Phú Mỹ Hưng 12km, trung tâm Sài Gòn 19km) cùng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, dịch vụ tiện ích, KCN luôn sẵn sàng chào đón và giới thiệu môi trường đầu tư chuyên nghiệp của Khu công nghiệp đến với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

KHU CÔNG NGHIỆP LONG HẬU (LHC)
Hotline: 0906 938 599

(Nguồn: Phòng Tiếp thị Kinh Doanh – LHC)