21 tháng 11, 2016

Kinh doanh xuất khẩu gạo: nên bỏ các điều kiện bất hợp lý


TBKTSG, thứ năm  17/11/2016
Trung Chánh
(TBKTSG Online) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã gửi bản kiến nghị bỏ hàng loạt các điều kiện kinh doanh- trong đó có điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo- được bổ sung vào dự luật sửa đổi bổ sung danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua vào ngày mai 18-11. Doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo nói gì về vấn đề này khi quy định hiện hành là Nghị định 109 vẫn đang cản trở cơ hội xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp nhỏ.
Có nên tiếp tục duy trì hay nâng cấp nghị định 109 lên thành luật. Trong ảnh là nông dân đang thu hoạch lúa. Ảnh: Trung Chánh.
Nghị định 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo phải có một kho chuyên dụng sức chứa tối thiểu 5.000 tấn phù hợp quy chuẩn chung theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; có ít nhất một cơ cở xay xát lúa gạo công suất tối thiểu 10 tấn/giờ; phải xuất khẩu tối thiểu 10.000 tấn gạo/năm, nếu không bị rút giấy phép kinh doanh…
“Cắt đứt” cơ hội tiếp cận thị trường của doanh nghiệp 
Ông Võ Minh Khải, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thương mại và Sản xuất Viễn Phú, cho biết: "Thực tế thời gian vừa qua, với những quy định của Nghị định 109, nhất là quy định số lượng xuất khẩu (tối thiểu 10.000 tấn/năm) đã cản trở cơ hội tiếp cận thị trường của không ít doanh nghiệp và trao cơ hội cho các doanh nghiệp “đại gia” khác".
Theo ông Khải, thị trường là đa dạng nên đâu phải chỉ một vài doanh nghiệp lớn mới làm được, còn doanh nghiệp nhỏ, trung bình làm không được. “Vấn đề ở đây là giá xuất khẩu phải bằng và cao hơn giá sàn quy định, thì thị trường sẽ không bị hỗn loạn”, ông cho biết.
Ông Khải cho rằng phải làm sao tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp và không làm rối loạn thị trường, đặc biệt với những doanh nghiệp vừa xuất khẩu và tự sản xuất, thì càng phải khuyến khích, mở hơn nữa. “Việc Nhà nước sợ rối loạn thị trường thì kiểm soát bằng giá sàn, chứ không nên quy định số lượng bán ra. Anh có thể bán 3.000 tấn, 5.000 tấn hay 10.000 tấn gì đó không biết, nhưng không được thấp hơn mức giá quy định”, ông nói.
Không còn phù hợp thì nên bỏ
Ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Thịnh Phát, cho rằng khi Nhà nước đề ra một quy định gì đó, nếu có tác động tích cực thì ủng hộ, còn không thì không nên cho tồn tại tiếp, bởi không khéo sẽ trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp.
Theo ông Tuấn, trước đây Nghị định 109 về kinh doanh xuất khẩu gạo có điều kiện ra đời là để doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc nhằm có đủ điều kiện hoạt động cho chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng gạo; khuyến khích doanh nghiệp gắn bó lâu dài, bởi có đầu tư thì mới gắn bó lâu dài với ngành lúa gạo. Một lý do nữa là lúc bấy giờ vẫn đặt nặng vấn đề an ninh lương thực, tức khi doanh doanh mua bán phải có kho để khi ký hợp đồng có sẵn "chân hàng", tránh chuyện biến động giá cả. Lúc đó trong mấy trăm đơn vị xuất khẩu, thậm chí có những đơn vị bán chỉ 1-2 container gạo, nhưng cũng có doanh nghiệp bán mấy trăm ngàn tấn/năm, nên có quy định xuất khẩu tối thiểu 10.000 tấn/năm (thấp hơn sẽ bị rút giấy phép) nhằm tránh bán phá giá, gây khó khăn cho những doanh nghiệp bán số lượng lớn đi đàm phán.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, hiện nay tất cả những yếu tố đó đã thay đổi nên sự tồn tại của Nghị định 109 là không cần thiết.
Cụ thể, theo ông, thứ nhất Việt Nam đã tham gia một số hiệp định thương mại tự do, đi vào nền kinh tế thị trường nên không cần phải ràng buộc cấm hay không cấm nữa, mà nên buôn bán tự do; thứ hai, khái niệm về an ninh lương thực cũng nên thay đổi. Ví dụ, ngày xưa đặt mục tiêu an ninh lương thực để sản xuất nhiều và xuất khẩu lúc bấy giờ 7-8 triệu tấn gạo/năm để cuối cùng lo an ninh lương thực luôn cho cả khu vực. Nhưng điều này không đem lại thu nhập cao cho nông dân và bây giờ lúa gạo cứ ba tháng có một vụ nên không nhất thiết đặt nặng an ninh lương thực như vậy nữa.
Ông Tuấn cho rằng bây giờ nên tự do hóa, không nên giữ nghị định đó nữa bởi có nhiều doanh nghiệp buôn bán thì người sản xuất (nông dân) mới có lợi. Việc bắt buộc doanh nghiệp một năm phải bán 10.000 tấn nếu không sẽ rút giấy phép sẽ tạo ra áp lực và doanh nghiệp bằng mọi cách phải bán, bán huề, bán lỗ chút đỉnh cũng phải bán để duy trì giấy phép. “Thành ra, nói ngắn gọn lại, nếu duy trì nghị định này nó sẽ trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp”, ông khẳng định.
Duy trì, nhưng sửa những quy định không còn phù hợp
Ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An, cho rằng đưa xuất khẩu gạo vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện là đúng. Nhưng, có một số quy định không phù hợp thì phải chỉnh sửa, chứ bãi bỏ hoàn toàn thì không nên.
Theo ông Bình, những điểm không phù hợp là khi doanh nghiệp đã đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, tức đã có kho chứa, có nhà máy, thì lẽ ra họ được quyền xuất khẩu gạo đi bất cứ nơi đâu và chỉ cần kê khai qua hải quan theo luật định thôi. Nhưng, quy định lại bắt buộc phải đăng ký qua Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) là một điều vô lý. “Đăng ký qua VFA là một điều vô lý. Không lẽ VFA quyết định xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp hay sao? Đây là cái bất hợp lý”, ông nói.
Theo ông Binh, có một số doanh nghiệp muốn bãi bỏ Nghị định 109 vì không muốn xây dựng vùng nguyên liệu, không chịu liên kết, muốn xuất theo kiểu phá giá, cho nên, kinh doanh gạo có điều kiện là cần thiết và phải nhìn vào tổng thể của ngành, chứ không thể nhìn vào một vài doanh nghiệp được.
Một lần nữa ông Bình khẳng định, kinh doanh xuất khẩu gạo thời gian tới vẫn phải là ngành có điều kiện, không thể thả nổi. “Nhưng, Nghị định 109 có một số điều quy định bất hợp lý, thì nên xem xét bãi bỏ cho hợp lý”, ông cho biết.
Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, cho rằng phải nhìn nhận ở hai góc độ là tại sao có Nghị định 109 và quá trình thực hiện có bất cập gì?
Theo ông, điều đầu tiên phải thấy sự cần thiết để ban hành Nghị định 109 vì trong suốt một thời gian dài có sự lộn xộn trong kinh doanh xuất khẩu gạo, cần phải sắp xếp lại và sau đó đã có hơn 100 doanh nghiệp được xác định là đầu mối xuất khẩu gạo trực tiếp, đáp ứng được những điều kiện quy định trong Nghị định 109.
Thế nhưng, một số vấn đề được đặt ra, đó là điều kiện về kho bãi, vùng nguyên liệu, điều kiện hợp đồng…, thì thực tiễn không đáp ứng được điều đó. Có trường hợp, những hợp đồng là để hợp thức hóa điều kiện, cho nên, để thay đổi một chính sách cần phải rà soát, đánh giá, tổng kết thật sâu, nhất là khi nó nâng lên thành luật.
Theo ông Hiệp, nếu không có công cụ quản lý, thì trở nên bát nháo, nhưng "bó" quá thì cũng sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Mời xem thêm:
Doanh nghiệp cần được kinh doanh trên quê hương mình http://www.thesaigontimes.vn/153914/Doanh-nghiep-can-duoc-kinh-doanh-tren-que-huong-minh.html


14 tháng 11, 2016

Còn hạn điền, tích tụ ruộng đất bằng cách nào?

Trung Chánh
TBKTSG, thứ Bảy, 12/11/2016
Một trong những “điểm nghẽn” của sản xuất hàng hóa nông nghiệp lớn thời gian qua là nông dân chưa được phép tích tụ đất đai đủ lớn do “vướng trần” hạn điền. Ảnh Trung Chánh
(TBKTSG) - “Tích tụ ruộng đất” là cụm từ xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều khi bàn về phát triển nông nghiệp, tái cơ cấu nông nghiệp và sản xuất hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn. TBKTSG trao đổi với ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, về ý nghĩa của việc này cũng như bàn luận, phác thảo cách thức, lộ trình thực hiện.

TBKTSG: Tích tụ ruộng đất đang được thảo luận như là lời giải cho bài toán sản xuất hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
- Ông Trần Hữu Hiệp: Tôi nghĩ rằng, đặt vấn đề tích tụ ruộng đất là đúng nhưng nếu chỉ nói khơi khơi như vậy mà không kèm với việc giải quyết một số rào cản đang tồn tại thì những điểm nghẽn của sản xuất hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn liên quan đến đất đai vẫn chưa thể được giải quyết.
Để sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên đất đai, chúng ta đã thực hiện “dồn điền, đổi thửa”. Mặc dù chính sách này có tác dụng nhất định nhưng cũng không mấy thành công. “Dồn điền, đổi thửa” chỉ là đổi thửa đất này qua thửa đất khác, hợp lý hóa vị trí và nhu cầu sử dụng chứ chưa thay đổi được quy mô đất đai, không làm thay đổi về chất.
Một trong những “điểm nghẽn” của sản xuất hàng hóa nông nghiệp lớn thời gian qua là doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn và nông dân chưa được phép tích tụ đất đai đủ lớn do “vướng trần” hạn điền trong luật.
Theo dõi kỳ họp Quốc hội, tôi rất tâm đắc với ý kiến đề xuất của ông Nguyễn Xuân Cường (Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đó là nên xem xét bỏ “hạn điền”.
Cách đây năm năm, tôi cùng một vài người nghiên cứu cũng đã đề xuất nên tháo “nút thắt” đất đai, cần chọn đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tổ chức thí điểm “bỏ hạn điền” để có cơ sở thực tiễn, tổng kết, bổ sung lý luận và đề xuất chủ trương chính sách mới liên quan đất đai, nhưng đáng tiếc là điều này chưa được thực hiện.
Điều đáng mừng hiện nay là đã có nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội đồng tình “bỏ hạn điền”. Chúng ta cũng đã có một số mô hình thành công trong thực tiễn về việc tích tụ ruộng đất như mô hình “cánh đồng lớn” hay mô hình của nhiều doanh nhân nông nghiệp như ông Võ Quan Huy ở Long An và các tỉnh khác...
Ý kiến của ông Nguyễn Xuân Cường cũng đã nói rất rõ, bây giờ tích tụ ruộng đất lớn, người ta lo ngại nông dân mất đất sản xuất, nhưng thực sự thì sao? Đồng ý là khi tích tụ ruộng đất sẽ có không ít người mất đất sản xuất và tất nhiên ta phải có phương án tính toán cho đối tượng bị mất đất...
TBKTSG: Ông cho rằng “trần hạn điền” là rào cản của tích tụ ruộng đất hiện nay nhưng vượt trần hẳn vẫn còn những e ngại?
- Trần hạn điền theo Luật Đất đai năm 2013 đối với mỗi hộ gia đình chỉ từ hai đến ba héc ta thôi, tùy vùng. Hai héc ta đất đối với hộ sản xuất nông nghiệp, trồng lúa không phải là tài sản lớn. Giá trị quyền sử dụng đất như vậy đâu phải quá lớn mà mình cứ phải áp dụng cái trần đó? Trong khi, những người làm ở những ngành nghề khác có khối tài sản lớn hơn rất nhiều.
Tất nhiên, anh phải chú ý đến đối tượng dễ bị tổn thương, như nông dân nghèo, ít đất hoặc không có đất sản xuất, người làm thuê... họ sẽ bị ảnh hưởng trong quá trình chuyển hóa đó. Đó là một vế của vấn đề, cần có chính sách.
Quan trọng là, đối với đất đai, chúng ta đã có các quy định ràng buộc. Dù thừa nhận giá trị quyền sử dụng đất là một loại tài sản, nhưng vì nó là loại tài sản đặc biệt nên Nhà nước có những quy định ràng buộc về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt nó.
Ví dụ, phần đất cho quốc phòng an ninh, phần đất cho lợi ích công cộng, thì luật vẫn quy định Nhà nước có quyền thu hồi trong những trường hợp, điều kiện nhất định, tương đối rõ ràng. Hay một người tích tụ ruộng đất mà không sử dụng, tích tụ rồi bỏ không, trong khi có nhiều người thiếu đất, thì Nhà nước với vai trò quản lý đất đai (thuộc sở hữu toàn dân) vẫn có quyền can thiệp, điều chỉnh.
Nếu như mình quá cứng nhắc sẽ không có tích tụ đất đai được, còn buông lỏng quá, thì nó sẽ trở thành những vấn đề xã hội. Ý tôi là như vậy.
Tóm lại, muốn phát triển nông nghiệp phải làm sao dỡ bỏ được rào cản về hạn điền, phải nhận thức được hạn điền “một mặt muốn bảo vệ những người nông dân, tránh tình trạng mất đi tư liệu sản xuất, nhưng hiện nay đặt trong bối cảnh hội nhập, nó đã khác trước đây, thì phải thay đổi cho phù hợp”.
Cái quá trình thay đổi đó, ông Nguyễn Xuân Cường nói những người nông dân sẽ trở thành công nhân nông nghiệp để tham gia vào cánh đồng lớn, tham gia vào kinh doanh nông nghiệp. Nhưng tôi lại nghĩ, nó phải hơn ở chỗ đó, vì những người nông dân thành công nhân nông nghiệp, thì dù sao vẫn là những người đi làm thuê.
Nông dân phải làm sao trở thành doanh nhân nông nghiệp để thực sự trở thành những người chủ, chứ không phải đi làm thuê. Những doanh nhân nông nghiệp đó có thể có cổ phần trong công ty cổ phần nông nghiệp bằng đất đai, vốn hay họ tự tổ chức thành một doanh nghiệp trong nông nghiệp.
TBKTSG: Nhưng muốn tích tụ ruộng đất thành công, phải thay đổi Luật Đất đai, thưa ông?
- Thực ra, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cũng đã nói điều đó rồi, mức hạn điền đó nằm trong luật, mà luật là do Quốc hội quyết. Như vậy, muốn làm điều này (bỏ hạn điền), thì chỉ Quốc hội mới làm được, chứ không phải Chính phủ.
Muốn thay đổi thì phải xem xét thay đổi điều luật về hạn điền. Còn nếu như anh thấy còn “lăn tăn”, thì tổ chức thí điểm, khoanh một vùng nào đó mà theo tôi ở ĐBSCL là hợp lý, bởi ý nghĩa của ĐBSCL là vùng nông nghiệp sản xuất lớn, nơi mà thực tiễn sôi động.
Vừa qua, có rất nhiều mô hình như cánh đồng lớn cũng ở ĐBSCL, thì từ thực tiễn này, cho thêm thời gian hai, ba năm để anh có đủ cơ sở thực tiễn để tổng kết lý luận, anh đưa vào sửa luật, cái đó là trong trường hợp còn “lăn tăn”. Còn nếu như muốn đột phá mạnh mẽ như ý kiến của ông Nguyễn Xuân Cường thì đề nghị làm ngay. Nếu thấy rõ ràng nó có lợi, làm ngay càng tốt.
Mời xem thêm

Quá khứ cơ cực ăn cơm độn khoai sắn của đại gia Việt


Chẳng có con đường thành công nào trải đầy hoa hồng, các đại gia Việt cũng làm nên huyền thoại cuộc đời mình từ nghèo khó, cơ cực.
Chẳng có con đường thành công nào trải đầy hoa hồng, các đại gia Việtcũng làm nên huyền thoại cuộc đời mình từ những nghèo khó, cơ cực.
Ông Trần Trinh Trạch, cha của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy
Theo Vietnamnet, ông Trạch khoảng 10 tuổi đi làm công cho một gia đình điền chủ có quốc tịch Pháp. Hàng ngày, ông chăn trâu cắt cỏ làm lụng như một đày tớ để rồi được trả công bằng những chén cơm thừa canh cặn.
Qua khu co cuc an com don khoai san cua dai gia Viet
 
Cuộc sống lam lũ như thế dần trôi được 2 năm. Đến năm 1881, chính quyền thực dân Pháp ra một quyết định, con những người Tây gốc Việt phải đọc và nói được tiếng Pháp. Trường dạy tiếng Pháp được mở ra nhưng con ông điền chủ lại không mặn mòi với việc học. Ông điền chủ gọi ông Trạch lên đưa cho ông mấy bộ đồ mới tinh bảo ông mặc vào và đi học thay cậu chủ. Công việc chăn trâu giao cho người khác. Ông tư chất thông minh hơn người nên học rất giỏi, đọc và nói trôi chảy tiếng Pháp. Ông tốt nghiệp primaire (tiểu học) và sau đó, ông trở thành công chức của tòa hành chánh tỉnh Bạc Liêu.
Sau đó, ông kết hôn với bà Phan Thị Muối là con gái thứ tư của bá hộ Phan Hộ Biết, người có nhiều ruộng nhất trong vùng và được mệnh danh là vua lúa gạo Nam kỳ.
Thầy ký Trạch xin thôi việc ờ tòa hành chánh tỉnh trở về làm địa chủ. Ông tiếp tục mua thêm nhiều ruộng đất và lấn sang lãnh vực ruộng muối. Theo tài liệu để lại, toàn tỉnh Bạc Liêu có 13 sở muối thì trong tay ông Trạch đã có tới 11 sở. Nhờ vào tài trí hơn người, vào thập niên 1920 -1930, ông Trạch trở thành người giàu có nhất vùng khi sở hữu diện tích khoảng 200.000ha ruộng ngọt và mặn.
Bầu Đức - cậu bé chăn trâu với bữa cơm chẳng đủ no phải độn khoai độn sắn
Người ta biết đến bầu Đức bởi Hoàng Anh Gia Lai, bởi chân sút số một Đông Nam Á Kiatisak Senamuang, bởi phi cơ riêng hay danh hiệu người giàu nhất sàn chứng khoán Việt năm 2008... nhưng ít ai biết một đại gia Đoàn Nguyên Đức từng hàng ngày chăn trâu trên cánh đồng bên cạnh sân bay Phù Cát, tỉnh Bình Định; từng ăn những bữa cơm chẳng đủ no phải độn khoai độn sắn.
Ông Đoàn Nguyên Đức sinh năm 1962 trong một gia đình nghèo 9 anh em tại xã Nhơn Mỹ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Kinh tế cả gia đình đều phụ thuộc vào sào ruộng, cuộc sống cơ cực khiến cậu bé chăn trâu Đoàn Nguyên Đức năm ấy khao khát được đổi đời, bước chân ra khỏi cái bần hàn của ruộng lúa, cơm khoai.
Qua khu co cuc an com don khoai san cua dai gia Viet-Hinh-2
 
Năm 1982, học hết lớp 12 cậu xin phép mẹ vào TP HCM thực hiện ước mơ từ thủa thơ ấu. Thế nhưng, con đường học vấn không mở ra trước mắt. Năm ấy, Đức trượt đại học.. Không nản lòng, cậu lại vùi đầu vào sách vở. Nhưng dù cố gắng đến mấy, cả 4 lần đi thi cánh cửa Đại học đều đóng chặt.
Năm 1990, Đoàn Nguyên Đức khởi nghiệp bằng việc trực tiếp điều hành một phân xưởng mộc nhỏ, chuyên đóng bàn ghế cho học sinh tại xã. Ông tự tay cưa, bào đục đẽo để làm ra sản phẩm đầu tiên là chiếc bàn cho học sinh. Sau đó ông mở rộng hoạt động kinh doanh sang sản xuất đồ nội thất rồi nhiều lĩnh vực khác.
Năm 1993, ông thành lập xí nghiệp tư doanh Hoàng Anh Pleiku. Đến năm 2006, nó trở thành Công ty Cổ Phần Hoàng Anh Gia Lai với nhiều lĩnh vực kinh doanh như khoáng sản, gỗ, cao su, thủy điện, địa ốc và bóng đá. Công ty bắt đầu niêm yết chứng khoán Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) vào năm 2008 với mã HAG. Tính đến thời điểm tháng 11 năm 2010 tổng vốn hóa thị trường của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đạt 22.524,09 tỷ đồng.
Ông trở thành người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam năm 2008.
“Thằng nhỏ” Trầm Bê quanh năm chỉ 1 bộ đồ dính da
Theo VTC, trước khi trở thành đại gia quyền lực trong giới ngân hàng, ông Trầm Bê từng trải qua một tuổi thơ cơ cực bao cậu bé quê mùa nào khác.
Ông sinh ra và lớn lên tại xã Hàm Giang, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Những người lớn tuổi đang sống ở Trà Cú ngày nay đều biết chuyện ổng nuôi từng con gà, con heo... đợi lớn mang ra chợ bán, kiếm tiền nuôi ba má. Quanh năm chỉ có một bộ đồ dính da.
Qua khu co cuc an com don khoai san cua dai gia Viet-Hinh-3
 
Tuổi thơ nghèo khó của đại gia Trầm Bê cũng được ông Thạch Song Sơn – nguyên Đại biểu Quốc Hội Việt Nam khóa X, nguyên Phó trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ.
"Tôi biết Trầm Bê có được ngày hôm nay, là cả một quá trình phấn đấu gian khổ. Theo tôi biết, Trầm Bê từng phải đi ở đợ cho hào phú, sáng sáng dắt bầy trâu ra đồng... Chở củi mướn. Có lần, đang chở củi cho người ta, gặp sóng to, gió lớn, chìm xuồng tưởng chết. Cực khổ trăm bề, khi thành đại gia, Trầm Bê vẫn không quên nguồn cội nghèo khó của mình, luôn hướng về quê hương.
Hai người được đại gia Trầm Bê nhớ ơn, đó là bà Hai Phiến, cô ruột của anh Mười và cô giáo Giàu, người đã dạy ông Trầm Bê những con chữ đầu tiên.
Mới 8 tuổi, cậu bé Trầm Bê ở đợ nhà bà Hai Phiến và giao chăn đàn vịt tàu. Tuổi thơ hiếu động, mải chơi mà cậu quên chăn vịt. Đến lúc sực nhớ, đàn vịt tàu hơn trăm con đã “tràn” sang một cánh đồng lúa chín gần đó, phá nát một khoảnh lớn. Nhìn đàn vịt mổ, rỉa lúa, cậu chỉ biết đứng khóc ròng, sợ hãi… Nghĩ là chủ ruộng sẽ mắng bà Hai Phiến và đánh đòn cậu, Trầm Bê đã bỏ trốn, không dám về nhà.
Ít ngày sau, bà Hai Phiến nhắn cho một người bạn của cậu: “Chuyện lỡ rồi, dì Hai đã đền bồi thiệt hại cho người ta. Trầm Bê đang ở đâu, cứ đi về, dì Hai không đánh đòn và la mắng gì đâu”. Và cậu bé Trầm Bê đã quay về, tiếp tục công việc chăn vịt của mình.
Người thứ hai có ấn tượng sâu đậm trong ký ức của đại gia Trầm Bê là cô giáo Giàu, người đã dạy cho cho cậu bé Trầm Bê thuở ở đợ,… những con chữ đầu tiên. Nhà nghèo nên Trầm Bê không thể đến trường, cô giáo Giàu thấy Trầm Bê hay đứng ngoài cửa lớp xem các bạn học nên đã động lòng, cho cậu vào lớp ngồi và dạy dỗ. Vừa đi làm vừa phải đi học nên cậu học thất thường.
Anh Mười, người sống gần nhà cô giáo Giàu cho biết: “Cô Giàu thương ông Bê lắm. Ngày đó ông Bê nghèo quá đỗi, đi chưn đất, quần áo rách nát, có một bộ mặc hoài. Được cái ổng sáng dạ nên cô dạy vài lần là ổng nhớ mặt chữ. Học được vài năm, ổng theo má lên Sài Gòn mần mướn….”
Khi Trầm Bê lên Sài Gòn lập nghiệp không có tiền đi xe, hai má con của ông phải năn nỉ một chủ xe đò, cho quá giang. Lên đến Sài Gòn, cậu bé Trầm Bê đến ở đợ tiếp cho một nhà giàu, năm đó ông khoảng chừng 13 tuổi. Lớn lên một chút, ông đi làm bốc vát ở một nhà máy bột mì, “bán” sức khỏe kiếm tiền nuôi mẹ.
Khi trở nên giàu có, ông đã bỏ tiền ra xây dựng chợ Hàm Giang, biến đổi hàng trăm con đường đất ở Trà Vinh thành những con đường nhựa khang trang, xây nhiều trường học, cất hàng ngàn ngôi nhà cho bà con nghèo.
Bà Dương Thị Bạch Diệp, Giám đốc Công ty Đầu tư Kinh doanh Địa ốc Diệp Bạch Dương
Bà cũng là một nữ doanh nhân đi lên từ củ khoai củ sắn. Theo Người đưa tin, bà Dương Thị Bạch Diệp sinh ra tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định nhưng năm 1954 bà là một trong số con em cán bộ miền Nam được chọn ra miền Bắc học tập. Sau này, bà lấy chồng và sinh con ở miền Bắc, trong cái đói khủng khiếp, nhà không có gạo, phải ăn củ sắn, khoai lang thay cơm.Thời bao cấp, bà đã có nhiều năm tiếp cận nghề buôn bán Kinh doanh trong khối doanh nghiệp Nhà nước. Năm 1971, bà tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội và về công tác tại Chi nhánh Thủ công Mỹ nghệ Hải Phòng. Đầu năm 1975, bà phải rời miền Bắc, rời gia đình để đi B với nhiệm vụ theo tàu biển chở vũ khí, súng đạn và một số nhu yếu phẩm chuẩn bị cho chiến trường miền Nam.
Qua khu co cuc an com don khoai san cua dai gia Viet-Hinh-4
 
Sau giải phóng, bà Bạch Diệp đoàn tụ với gia đình ở miền Nam nhưng phải đối diện với hàng loạt sóng gió trong cuộc đời kinh doanh, thuyên chuyển công tác nhiều lần. Đến đầu những năm 80, bà xin nghỉ chế độ chính sách. Lúc đó, tài sản của gia đình bà chỉ có vài vật dụng cũ cùng căn hộ chung cư ở quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
Năm 1984, bà bén duyên với ngành kinh doanh bất động sản, bắt đầu bằng việc sửa sang và bàn lại căn hộ của chính mình và vẫn kinh doanh lĩnh vực này đến tận bây giờ.
Theo Vietq

9 tháng 11, 2016

Ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm với Phú Quốc


Trần Hữu Hiệp
(TBKTSG) - Con đường từ công trường đến "thiên đường du lịch" đang mở ra với Phú Quốc, nhưng để đến đích, không chỉ là tăng tốc đầu tư mà cần làm mát, làm sạch môi trường đảo ngọc. Phú Quốc được nhận diện, không chỉ là một đặc khu kinh tế, mà cần được xây dựng, phát triển theo mô hình hòn đảo thông minh, trở thành điểm đến khác biệt, hấp dẫn, an toàn.

Lấp lánh đảo ngọc quốc gia
Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất Việt Nam (tổng diện tích tự nhiên gần 60.000 héc ta, tương đương đảo quốc Singapore, với 27 hòn đảo lớn, nhỏ), nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á, có lợi thế quan trọng trong mối liên kết giao thông hàng hải, hàng không với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, nhất là chuỗi các điểm du lịch nổi tiếng như Singapore, Phuket, Bali, Hồng Kông, Nhật Bản, Jeju... Phú Quốc là một mắt xích quan trọng để kết nối các chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch, giải trí tầm cỡ quốc tế.
Trong ba nơi được dự định xây dựng thành đặc khu kinh tế là Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc, thì hòn đảo này được đánh giá có nhiều lợi thế và tính đặc thù hơn; nằm ở khu vực chiến lược biển Tây Nam, giàu tiềm năng, độc lập với đất liền, có điều kiện áp dụng các cơ chế đặc biệt, năng động.
Thời gian qua, việc đầu tư phần cứng trên đảo như sân bay quốc tế Phú Quốc; cảng biển quốc tế tổng hợp An Thới, Bãi Thơm đã hoàn thành và Dương Đông đang xây dựng; các đường trục Bắc - Nam, vòng quanh đảo và tuyến xương cá đang hoàn thiện. Theo chân đường cáp ngầm xuyên biển đầu tiên ở nước ta, dài nhất Đông Nam Á, đưa điện quốc gia vượt biển ra đảo ngọc, thì đường cáp quang viễn thông cũng đã đưa thế giới xa ra đảo ngọc. Cáp treo dài nhất thế giới vượt biển ra Hòn Thơm đang chuẩn bị đưa vào sử dụng. Kéo theo nhiều công trình hạ tầng lớn trên đảo là nhiều dự án đầu tư tầm cỡ quốc gia và quốc tế, nhất là các dự án du lịch lớn.
Đến nay, đảo ngọc đã thu hút được khoảng 200.000 tỉ đồng vốn đầu tư, tương đương 9 tỉ đô la Mỹ. Phú Quốc cũng là huyện đảo có nguồn thu ngân sách lớn nhất. Chỉ chín tháng đầu năm 2016 đã thu hơn 1.800 tỉ đồng, dự kiến năm 2016 thu vượt mốc 2.000 tỉ đồng, tăng 27%, chiếm khoảng 40% nguồn thu của tỉnh Kiên Giang.
Từ đầu năm đến nay, đã có khoảng một triệu lượt khách đến Phú Quốc, tăng hơn 100% so cùng kỳ, gấp chín lần dân số trên đảo. Bán lẻ, doanh thu dịch vụ trên đảo đạt khoảng 20.000 tỉ đồng, tăng gần 29%.
Phát triển nóng, cần làm mát môi trường
Tương lai của Phú Quốc ra sao phụ thuộc vào cách ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm của con người đối với nó trong hiện tại!
Hầu hết các tập đoàn lớn trong nước đã hiện diện đầu tư tại đảo ngọc: Vingroup, Bim Group, Sun Group, CEO Group... Về đầu tư nước ngoài, có khách sạn Novotel Phú Quốc Resort 400 phòng thuộc dự án Tổ hợp du lịch Sonasea Villas & Resort, có tổng vốn đầu tư 4.500 tỉ đồng trong gói đầu tư dự định triển khai khoảng 10.000 tỉ đồng (đây là dự án resort đầu tiên trên thế giới của chuỗi thương hiệu khách sạn Novotel toàn cầu). Dự án Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp Bãi Khem “Mặt Trời Phú Quốc” với tổng vốn 6.200 tỉ đồng, có khách sạn 5 sao JW Marriott đang hoàn thiện các công đoạn cuối cùng.
Cũng vì vậy mà trong vài năm gần đây Phú Quốc như một đại công trường. Thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng 50.000 lao động là ngư dân từ khắp mọi miền đất nước đến Phú Quốc, hơn 20.000 lao động làm việc ở các công trình, có nơi hàng ngày thu hút trên 2.000 công nhân.
Phát triển nóng như vậy đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý của địa phương (bộ máy công quyền đang quá tải). Đặc biệt, tình hình an ninh trật tự ở Phú Quốc có nhiều diễn biến phức tạp do các lực lượng lao động phổ thông đổ về đây rất lớn. Chỉ riêng số vụ tai nạn giao thông, huyện đảo này chiếm 50% so với toàn tỉnh Kiên Giang. Số vụ trọng án cũng xảy ra nhiều hơn.
Phú Quốc bao đời nay là nơi rất bình an, đêm đến nhiều nhà dân ngủ không đóng cửa; nhưng ngày nay đang có nguy cơ trở thành túi chứa tệ nạn. Người bể hụi, trốn nợ, trốn lệnh truy nã... chạy ra Phú Quốc. Tội phạm ở đâu cũng có, nhưng Phú Quốc là đảo ngọc, khách du lịch đến đây sẵn sàng trả phí cao hơn trong đất liền, nên họ có quyền đòi hỏi được cung cấp “sản phẩm dịch vụ chất lượng cao”.
Những gì đang diễn ra ở Phú Quốc trong thời gian qua rất đáng lo ngại. Cần làm sạch môi trường xã hội, quản lý tốt hơn và xây dựng một cộng đồng dân cư sạch. Văn hóa bản địa, ý thức, niềm tự hào, ham muốn làm giàu từ đảo ngọc sẽ biến mỗi người dân trở thành một “đại sứ tiếp thị” cho Phú Quốc. Họ sẽ là yếu tố kết nối văn hóa đảo ngọc với cộng đồng khác trong nước và quốc tế. Cùng với văn hóa, xã hội là yêu cầu đầu tư, bảo vệ môi trường. Sự phát triển quá nóng của Phú Quốc gần đây đã mang đến thực tế: ô nhiễm môi trường. Ngoài các dự án đầu tư cục bộ, thì hệ thống xử lý nước thải, rác thải, Phú Quốc chưa có gì cả.

Phú Quốc - thành phố biển đảo, du lịch, dịch vụ ngoài khơi trong tương lai cần được định hình dài hạn, cần một không gian xanh, sạch, đẹp, kiểu mẫu gắn với cảnh quan biển, với chức năng đô thị được xây dựng trong mối quan hệ với đồng bằng sông Cửu Long, cả nước và trong mối quan hệ gắn bó với các đô thị lớn của các nước ASEAN và trên thế giới. Tương lai của Phú Quốc ra sao phụ thuộc vào cách ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm của con người đối với nó trong hiện tại!

Hợp tác xuyên biên giới từ góc nhìn vùng Tây Nam Bộ

Trần Hữu Hiệp
TCCSĐT - Biên giới và vấn đề hợp tác xuyên biên giới trước đây thường được tiếp cận theo nghĩa “biên giới cứng”. Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hóa, các khái niệm này không còn được hiểu đơn thuần theo nghĩa truyền thống (ranh giới giữa các quốc gia) do nó luôn bị tác động trực tiếp hay gián tiếp bởi các yếu tố của “biên giới mềm”. Vì thế, vấn đề biên giới và hợp tác xuyên biên giới giờ đây nên được nhìn nhận theo nghĩa rộng hơn. Hợp tác xuyên biên giới không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế - thương mại - đầu tư mà nó còn biểu hiện đa dạng trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường và các yếu tố an ninh phi truyền thống khác.
Ngã ba biên giới (VN-Lào-CPC) tại Kon Tum

Vấn đề “hợp tác xuyên biên giới” từ góc nhìn lý luận và thực tiễn vùng Tây Nam Bộ
Theo Tổ chức Di cư quốc tế, thì biên giới (border) là đường chia cắt lãnh thổ trên đất liền hay trên biển của hai quốc gia hoặc các phần lãnh thổ của quốc gia. Ba yếu tố quan trọng liên quan biên giới theo nghĩa này là:
- Biên giới trên bộ: Được xác định trên đất liền, đảo và quần đảo, sông, hồ, kênh, rạch ... Theo đó, Việt Nam tiếp giáp và có chung đường biên giới trên bộ với 3 nước Trung Quốc, Lào và Campuchia. Biên giới trên bộ của nước ta trải dài liên tục 25 tỉnh, 103 huyện với tổng chiều dài 4.653,5km. Trong đó, vùng Tây Nam Bộ có 4/13 tỉnh, thành chung biên giới với các tỉnh bạn Campuchia là Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang, với 340 km/1.137km, chiếm gần 30% biên giới trên bộ Việt Nam - Campuchia và 7,3% tổng chiều dài biên giới trên bộ quốc gia. Vùng này có 6 cửa khẩu quốc tế và 12 cửa khẩu phụ.
- Biên giới trên biển: Là đường phân định vùng lãnh hải của quốc gia với vùng biển tiếp liền mà quốc gia ven bờ có chủ quyền hay với vùng nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác có bờ biển đối diện, liền kề. Theo đó, biên giới trên biển của nước ta, bao gồm khu vực đã phân định chủ quyền lãnh hải và vùng chồng lấn, còn tranh cãi với các nước Trung Quốc, In - đô - nê- xi- a, Ma - lay - xi - a, Bru - nây, Phi - lip - pin và Đài Loan (vùng lãnh thổ). Các vùng vịnh Bắc Bộ, biển Đông, biển Nam - Tây Nam, vịnh Thái Lan và tiếp giáp hải phận quốc tế. Trong đó, vùng Tây Nam Bộ có 740km/3.200km bờ biển, chiếm hơn 23% đường bờ biển quốc gia, có hơn 360 ngàn km2 vùng biển và đặc quyền kinh tế, có gần 200 đảo và quần đảo, đặc biệt là đảo Phú Quốc lớn nhất nước. Tây Nam Bộ là vùng duy nhất của cả nước tiếp giáp Biển Đông và Biển Tây, là cửa ngõ ra biển Đông của sông Mê Kông, thuận tiện giao thương với các nước Đông Nam Á và đường hàng hải quốc tế. Theo Quyết định số 1943/QĐ-BGTVT ngày 22-6-2016 về công bố danh mục bến cảng biển Việt Nam, vùng Tây Nam Bộ có 7 cảng biển: Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long, Năm Căn (Cà Mau), Kiên Giang, bao gồm 31 bến cảng, trong đó 14 bến cảng tổng hợp và 17 bến cảng chuyên dùng.
- Biên giới trên không và biên giới lòng đất: Được xác định trên cơ sở dựa trên đường biên giới trên bộ, trên biển theo chiều thẳng đứng. Vùng Tây Nam Bộ hiện có 4 sân bay, gồm 2 sân bay quốc tế (Cần Thơ, Phú Quốc) và 2 sân bay nội địa (Rạch Giá, Cà Mau).
Trên cơ sở tiếp cận đó, việc “qua lại biên giới” (border crossing) được Tổ chức Di cư quốc tế định nghĩa là hành động qua lại biên giới kể cả tại cửa khẩu được thiết lập hay nơi nào khác dọc theo biên giới(2). Vấn đề biên giới được hiểu theo nghĩa “biên giới truyền thống” hay còn gọi là “biên giới cứng”. Tuy nhiên, ngày nay, trong quá trình toàn cầu hóa và “thế giới đang trở nên phẳng”, thì khái niệm biên giới không còn đơn thuần như đã nêu nữa mà nó được phát triển lên ở một cấp độ khác. Đó là “biên giới mềm”. Vì vậy, các vấn đề hợp tác xuyên biên giới đang diễn ra thường xuyên, đa dạng, phức tạp dưới góc độ “biên giới mềm”.
Vùng Tây Nam Bộ, mặc dù không có đường biên giới “cứng” tiếp giáp với Trung Quốc, Thái Lan, nhưng các vấn đề xuyên biên giới vẫn đang và sẽ tiếp tục diễn ra trên nhiều lĩnh vực như: vấn đề nước xuyên biên giới, thương mại - đầu tư xuyên biên giới, các yếu tố văn hóa, lao động, hội nhập AEC (Cộng đồng Kinh tế các nước Đông Nam Á), MRC (Ủy hội sông Mekong), công nghệ thông tin, Internet, thế giới mạng … Việc Trung Quốc, Thái Lan, Lào và các quốc gia đầu nguồn sông Mê Kông xây dựng các đập thủy điện, chuyển nước sông Mê Kông; các vấn đề hợp tác xuyên biên giới thuộc nhóm Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) trong lĩnh vực tài nguyên nước, năng lượng, thương mại xuyên biên giới, phát triển cơ sở hạ tầng khu vực ... đã, đang và sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến vùng Tây Nam Bộ. 
Chính sách về hợp tác xuyên biên giới đối với vùng Tây Nam Bộ
Vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) gồm 13 tỉnh, thành phố là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ. Đây là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm của cả nước, liền kề với thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích 40.576km2, dân số hơn 17,5 triệu người, chiếm 19,3% dân số cả nước(3). Vùng này đóng góp khoảng 17% GDP cho cả nước, chiếm hơn 48% diện tích trồng lúa, hằng năm, sản xuất hơn 50% sản lượng lúa quốc gia, hơn 90% lượng gạo xuất khẩu; cung cấp gần 70% sản lượng trái cây, 70% diện tích nuôi thủy sản, hơn 40% sản lượng thủy sản, 60% kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản của cả nước, trong đó, lượng tôm xuất khẩu khoảng 80%. Theo Kết luận số 28-KL/TW ngày 14-08-2012 của Bộ Chính trị và Quyết định số 1581/QĐ-TTg ngày 09-10-2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch xây dựng đồng bằng sông Cửu Long, vùng này được xác định là “Vùng nông sản lớn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu”;  “vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển công nghiệp năng lượng, công nghiệp thực phẩm, phát triển du lịch và là vùng sản xuất lương thực trọng điểm quốc gia”.
Tốc độ tăng trưởng (GRDP) bình quân toàn vùng năm 2015 đạt khoảng 7,8%, cao hơn bình quân cả nước là 6,8%. Cơ cấu kinh tế khu vực I chiếm 33,1%, khu vực II chiếm 25,25%, khu vực III chiếm 41,65%. GRDP bình quân đầu người ước đạt 40,27 triệu đồng. Tổng sản lượng thủy sản khoảng 3,89 triệu tấn, tăng 21% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt đạt 13,2 tỷ USD, tăng 4,4% so cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 693,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14,7% so cùng kỳ. Tình hình lưu chuyển hàng hóa trên thị trường khá sôi động, sức mua hằng năm tăng cao. 
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh tuyến biến giới bằng nhiều chủ trương, cơ chế chính sách, tạo hành lang pháp lý thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, cửa khẩu, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân hai bên biên giới liên kết, hợp tác phát triển sản xuất, kinh doanh. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành các Kết luận, Quyết định, Chỉ thị về hoạt động đối ngoại như: Kết luận số 73-TB/TW ngày 28-02-2012 của Bộ Chính trị về tăng cường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới; Quyết định 295-QĐ/TW ngày 23-3-2010 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế thống nhất các hoạt động đối ngoại; Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 15-4-2010 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ngoại giao kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai đoạn 2011 - 2015; Chỉ thị 04-CT/TW ngày 06-7-2011 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới,... Ngoài các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ ngành liên quan các địa phương trong vùng có tuyến biên giới đất liền chung với Campuchia đã ban hành rất nhiều văn bản khác nhằm hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hợp tác xuyên biên giới.
Hợp tác xuyên biên giới và một số vấn đề đặt ra
Nhu cầu hợp tác xuyên biên giới
Nhu cầu hợp tác xuyên biên giới của vùng Tây Nam Bộ thể hiện trên nhiều mặt, nhưng tập trung 3 lĩnh vực quan trọng là: (1) Hợp tác quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, hợp lý tài nguyên nước sông Mê Kông phục vụ nông nghiệp, thủy sản, du lịch; (2) Hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật - xã hội, giao thông, thủy lợi, năng lượng, đào tạo; (3) Hợp tác qua các cơ chế đa phương và song phương như: Cộng đồng Kinh tế các nước Đông Nam Á (AEC), (Ủy hội sông Mekong (MRC), nhóm Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS)
Một số vấn đề đặt ra nhằm thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới vùng Tây Nam Bộ
Nhìn ở tầm khu vực, việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác kinh tế qua biên giới giữa quốc gia trong khu vực. Riêng với Việt Nam, AEC đã và đang tạo ra nhiều cơ hội hợp tác kinh tế theo tuyến biên giới trên bộ với các nước láng giềng như: Campuchia, Lào, Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực kết nối giao thông, thương mại. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, hợp tác xuyên biên giới của vùng Tây Nam Bộ trong bối cảnh ra đời AEC cùng với những tác động cộng hưởng của hội nhập - cạnh tranh khi các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, cũng đang đặt ra một số vấn đề đáng quan tâm:
- Cơ sở hạ tầng: Chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là lĩnh vực giao thông, năng lượng và thương mại. Hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại lạc hậu, chắp vá, manh mún, nhiều chợ tạm, không đủ không gian buôn bán và tập kết hàng hoá. Thiếu các chợ đầu mối, các trung tâm bán buôn nông sản, nguyên liệu, hàng công nghiệp và tiêu dùng.
- Nông nghiệp, thương mại và du lịch: Nông nghiệp chưa phát huy hết tiềm năng, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Hoạt động thương mại biên giới còn yếu, phổ biến là buôn bán nhỏ, quản lý giao thương còn nhiều bất cập. Các dịch vụ bổ trợ như: Môi giới, tư vấn, sơ chế, đóng gói, xếp dỡ và vận chuyển… logistics chưa phát triển. Du lịch thụ động, sản phẩm chưa đa dạng, chưa khai thác thế mạnh của tuyến du lịch Việt Nam - Campuchia - Lào - Thái Lan. Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Campuchia gặp khó khăn về thủ tục đưa sản phẩm về nước. Chính phủ Campuchia đang có những chính sách tạm ngưng cho doanh nghiệp nước ngoài sở hữu đất đai. Yếu tố Trung Quốc, Thái Lan đang tác động mạnh mẽ, tiêu cực nhiều hơn tích cực thông qua các “tác động xuyên biên giới mềm” như thu mua nông sản của thương lái Trung Quốc; các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu hàng loạt các công trình giao thông trọng điểm, các nhà máy nhiệt điện nhưng thi công cầm chừng, chậm tiến độ; công nhân Trung Quốc núp bóng du khách, lao động bất hợp pháp… Hàng Thái tràn ngập thị trường Tây Nam Bộ, có mặt tích cực là động lực thúc đẩy cạnh tranh, nhưng cũng nguy cơ “tiêu diệt” hàng Việt.
Ngoài ra, việc các quốc gia phía thượng nguồn sông Mê Kông như Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia với các công trình thủy điện và kế hoạch chuyển nước dòng chính sông Mê Kông… cũng là những tác động xuyên biên giới to lớn đáng quan ngại. Những nhân tố này đã, đang và sẽ tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, thủy sản, sinh kế người dân vùng Tây Nam Bộ.
Từ thực tế đó, để xác định đúng cách tiếp cận chiến lược phát triển hợp tác xuyên biên giới cho phù hợp với điều kiện của vùng Tây Nam Bộ, cần quan tâm các vấn đề sau:
Một là, rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về hợp tác xuyên biên giới cho phù hợp với tình hình mới. Vừa quan tâm đến việc ứng phó, thích nghi trước tác động tiêu cực, khai thác yếu tố tích cực nhìn ở 2 góc độ: “biên giới truyền thống” và “biên giới mềm”. Cần ưu tiên rà soát, ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp, tiếp tục xây dựng tuyến biên giới “hòa bình, hữu nghị, hợp tác”. Quan tâm các lĩnh vực như: chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bảo quản và vận chuyển hàng hóa, nông sản sau thu hoạch, hậu cần logistics. Có cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp và cư dân biên giới 2 bên qua lại mua bán dễ dàng (chính sách về thuế, thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu…). Có cơ chế thúc đẩy hơn nữa giao thương ở các cửa khẩu theo hướng tăng cường chính ngạch, hạn chế tiểu ngạch. Thực hiện các dự án đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, khu dân cư, khu chợ biên giới, chợ cửa khẩu, đường giao thông…
Hai là, có chiến lược dài hạn, kế hoạch đầu tư trung hạn, đối phó ngắn hạn (các vấn đề thương mại đầu tư với Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia). Vấn đề hợp tác xuyên biên giới Tây Nam Bộ phải nằm trong chiến lược, chính sách tổng thể về các yếu tố hợp tác xuyên biên giới của quốc gia (Chiến lược phát triển tuyến biên giới, MRC, GMS ...). Tây Nam Bộ có tiềm năng, thế mạnh và vai trò đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, là “nguồn cung” mang tính quyết định cho thị trường nông sản, kể cả nguồn cung lao động. Theo đó, cần tăng cường liên kết vùng, hợp tác, đầu tư, thương mại, du lịch theo các chuỗi giá trị có ý nghĩa to lớn.
Ba là, tiếp tục nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho các nhà đầu tư. Thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, du lịch đạt hiệu quả thiết thực. Ngoài nỗ lực của các địa phương, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, đề nghị các bộ, ngành Trung ương nghiên cứu, đề xuất Chính phủ có cơ chế, chính sách thu hút đầu tư đặc thù cho vùng Tây Nam Bộ, thực hiện có hiệu quả Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế thí điểm liên kết vùng, hợp tác xã kiểu mới, khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa việc tăng cường hợp tác đầu tư, thương mại, du lịch.
Bốn là, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long, hợp tác quản lý nông nghiệp thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm, triển khai các mô hình sản xuất nông nghiệp tiêu biểu, ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi giá trị; phối hợp chuyển giao kỹ thuật trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh du lịch... Tăng cường hợp tác cụ thể để thực hiện các đề án về phát triển du lịch. Thực hiện có hiệu quả đề án “Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng đồng bằng sông Cửu Long”, hình thành các tuyến trải nghiệm du lịch đặc thù của đồng bằng sông Cửu Long./. 
---------------------------------------------
(1), (2) Tổ chức Di cư quốc tế, Giải thích thuật ngữ về di cư số 25-2011
(3) Tổng cục Thống kê (2014), Niên giám Thống kê 2014