31 tháng 5, 2013

Doanh nhân hoá nông dân - Yêu cầu bức xúc

Trần Hữu Hiệp
Bài trang 24 - Tạp chí cộng sản - Hồ sơ & Sự kiện
Làm gì để hàng chục triệu nông dân ĐBSCL trở thành “doanh nhân nông nghiệp”làm giàu được bằng nghề nông? Đó là một trong những câu hỏi lớn đang đặt ra để hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo, thuỷ sản, cây ăn trái và xây dựng nông thôn mới ở vùng đất Chín Rồng.
 Phía sau kỳ tích
Từ một nước thiếu đói thập niên 80, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Chỉ sau hơn hai thập niên, sản lượng lúa ĐBSCL đã được nhân lên gần gấp ba lần, từ hơn 9 triệu tấn (năm 1990) lên 24,3 triệu tấn (năm 2012), luôn chiếm hơn 50% sản lượng, hơn 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước. Cùng với lúa gạo, thuỷ sản, trái cây vùng này cũng góp phần quyết định tăng trưởng ngành nông nghiệp và đảm bảo “sức khoẻ nền kinh tế” cả nước; tạo ra kỳ tích, mà công đầu thuộc về những người nông dân. Nhưng kỳ tích trong quá khứ chưa phải là bảo đảm cho thành công của tương lai. Một cách tiếp cận “làm như mọi khi” chắc chắn sẽ không hiệu quả trước yêu cầu và thách thức mới. Phía sau kỳ tích với ánh hào quang từ ngôi vị số 1, số 2 thế giới của xuất khẩu gạo, tôm, cá tra là thách thức lớn hơn phía trước, những ”nông dân sản xuất giỏi” cần phải vượt qua để trở thành ”doanh nhân kinh doanh giỏi”. Phát triển ”Kinh doanh nông nghiệp - Agribusiness” – như khuyến cáo của Nhóm chuyên gia Hà Lan khi xây dựng ”Kế hoạch châu thổ sông Cửu Long đến năm 2100” đã đề xuất, rất cần được nhận diện thách thức, cách thức tiếp cận chiến lược và thực thi hiệu quả. Trong đó, nông dân ĐBSCL là chủ thể chính.
“Thách thức kép”
Hai thách thức lớn đang đặt ra đối với nông dân ĐBSCL cần được giải quyết bằng sự tiếp cận đa ngành. Một là, từ tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, ảnh hưởng xấu từ thượng nguồn sông Mê Kông gây khô hạn, cùng với nhiều tác động tiêu cực khác của thị trường nông sản, điệp khúc “trúng mùa mất giá, được giá, hết hàng” chưa có lời giải căn cơ. Hai là, nội tại nền sản xuất nông nghiệp đang chuyển từ “tăng lượng” sang “đổi chất” còn nhiều bất cập. “Thách thức kép” như “hai gọng kiềm” mà ĐBSCL cần phải thoát ra nếu muốn giữ và phát huy vị thế của một trung tâm trong mạng lưới sản xuất nông sản toàn cầu. Thách thức càng lớn hơn khi điều kiện sản xuất của nông dân trong vùng hiện nay như ”Cây đòn gánh”. Đầu vào nặng trĩu vốn đầu tư, chi phí ngày càng cao. Đầu ra là tiêu thụ nông sản bấp bênh, giá thấp. Người nông dân vừa gánh, vừa bị “lắc lư” trong thế dễ ngã.
Một kết quả nghiên cứu được Viện Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn viện dẫn, tại An Giang, lợi nhuận bình quân từ trồng lúa niên vụ 2009-2010 chỉ hơn 300 ngàn đồng/người/tháng, trong khi ngưỡng nghèo là 400 ngàn đồng/người/tháng. Tương tự, nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL cho thấy; về lý thuyết, quy mô sản xuất lúa từ 3ha/người trở lên mang lại lợi nhuận tối ưu. Nhưng với đặc thù sản xuất manh mún hiện nay, bình quân chỉ khoảng 0,4ha/hộ, tức khoảng 0,1ha/người, thì nông dân khó làm giàu. Theo tính toán, kết quả “30% lợi nhuận” của người trồng lúa (nếu có) còn thấp hơn mức thu nhập 1 USD/người/ngày. Chuỗi giá trị lúa gạo nói riêng và các nông sản hàng hoá ở ĐBSCL hiện nay còn quá nhiều tầng nấc mà lại quá ít giá trị gia tăng. Người nông dân không được hưởng lợi bao nhiêu từ sự gia tăng đó. Cần thấy rằng, những mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, “công ty cổ phần nông nghiệp” được kỳ vọng thời gian qua, cũng chỉ chủ yếu giúp nâng cao giá trị các công đoạn làm ra hạt lúa (giống, kỹ thuật, tổ chức sản xuất, tác động chính sách đầu vào). “Chuỗi giá trị” quan trọng hơn, cần sự tác động tích cực hơn lại đang nằm ở các khâu từ hạt lúa trên đồng ruộng đến hạt gạo hàng hóa trên thương trường. Chính công đoạn này đang tác động mạnh mẽ vào “túi tiền” của người nông dân. Con đường làm giàu của nông dân đồng bằng không thể chỉ đi lên bằng ánh hào quang của kỳ tích đã tạo ra, mà phải cần sự tiếp cận đa ngành. Trong đó, việc thương mại hoá ngành sản xuất nông sản và doanh nhân hoá nông dân đang là yêu cầu bức xúc. 
Doanh nhân hoá nông dân
Khái niệm “công nhân nông nghiệp” đã xuất hiện ở vùng ĐBSCL hơn 2 thập niên trước, nhưng chưa có điều kiện phát triển. Gần đây, việc hình thành các cụm ngành hàng trong các lĩnh vực sản xuất lúa gạo, trái cây, thủy sản, thành công bước đầu của mô hình “cánh đồng mẫu lớn” và “thách thức kép” trong nông nghiệp đang đặt ra yêu cầu bức xúc cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới, hiện đại hoá nông nghiệp. Mặc dù Chính phủ đã triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới toàn diện, đào tạo nghề nông thôn trên cả nước với 3 trọng tâm là đào tạo nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp và nâng cao trình độ cán bộ cơ sở. Nhưng đòi hỏi từ vùng sản xuất nông sản hàng hoá lớn nhất nước này đang đặt ra yêu cầu “đổi về chất có trọng tâm” đối với nguồn nhân lực trong nông nghiệp, hơn là cung cấp kiến thức nghề chung chung. Đó không chỉ là trình độ sản xuất, canh tác để làm ra “nhiều lượng” mà rất cần kiến thức kinh doanh để tạo ra “nhiều giá trị lợi nhuận”. Để “kinh doanh nông nghiệp” hiệu quả, không thể thiếu “doanh nhân nông nghiệp”.
Thương trường là cạnh tranh, muốn cạnh tranh phải có nguồn lực và kiến thức. Đó không chỉ kiến thức của người làm ruộng, trồng cây, nuôi cá mà quan trọng hơn là tri thức doanh nhân, biết quản lý đồng vốn, quản trị doanh nghiệp, ... Đòi hỏi khắc nghiệt từ thương trường buộc những người nông dân ngày nay phải chuyển từ tư duy “làm ra nhiều nông sản” sang “làm ra nhiều giá trị từ nông sản”. Người nông dân cần được giải phóng gánh nặng bằng kiến thức của người kinh doanh.
Yêu cầu đặt ra là việc “doanh nhân hóa nông dân”phải được diễn ra trong điều kiện sản xuất nông nghiệp và không gian của nông thôn đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí phát triển toàn diện, nhưng điều kiện đảm bảo vững chắc cho nó chính là ”chất lượng nhân lực nông thôn”. Cần một cuộc tiến công mạnh mẽ vào lĩnh vực tam nông để khai thác hết tiềm năng đất Chín Rồng. Doanh nhân nông nghiệp và nông dân phải dựa sát vào nhu cầu, điều kiện của nhau để sản xuất, kinh doanh. Đó cũng chính là ”bản lề” để ”doanh nhân hoá nông dân” trong tiến trình xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL.

Đào tạo nghề nông nghiệp, tập trung nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng lúa, trái cây và nuôi thuỷ sản, tạo ra sản phẩm chủ lực vùng và quốc gia. Đào tạo nghề phi nông nghiệp để chuyển nghề và tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn... là những cách thức không chỉ giúp ”cây đòn gánh” của người nông dân được cân bằng mà còn phương thức làm giàu từ nông nghiệp. 

Nông sản chủ lực ĐBSCL chờ cơ chế đặc thù

TRẦN HỮU HIỆP
Bài trang 1 - Báo SGGP, thứ sáu, 31/05/2013, 06:03 (GMT+7)
Từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xây dựng ĐBSCL thành vùng kinh tế trọng điểm về sản xuất lúa gạo, thủy sản. Tiếp theo, Thủ tướng Chính phủ giao cho Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ chủ trì phối hợp các ngành chức năng và những tỉnh, thành trong khu vực đề xuất cơ chế đặc thù phát triển 3 sản phẩm chủ lực của vùng bao gồm: lúa gạo, thủy sản và cây ăn trái. Theo đó, chủ trương của Nhà nước là không trực tiếp bao tiêu sản phẩm mà thực hiện theo cơ chế thị trường, dựa trên các chính sách khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ với nhà nông. Ưu tiên mời gọi xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư có chọn lọc những dự án khai thác các lĩnh vực thế mạnh của vùng như: chế biến sản phẩm nông nghiệp, thủy hải sản…
Cá tra - sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL dù tạo ra kỳ tích, nhưng đnag đứng trước nhiều khó khăn
Đầu bài rõ, nhưng giải bài toán không dễ. Vấn đề quan trọng là “làm ra” cơ chế, chính sách gì và nó đi vào cuộc sống như thế nào để thực sự là cái mà nông dân, doanh nghiệp cần, tiếp thêm sức mạnh cho các sản phẩm chủ lực cạnh tranh trong môi trường hội nhập và phát triển bền vững?
Thời gian qua, đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nông dân, doanh nghiệp. Nhà nước đã quan tâm đầu tư từ cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông, quy hoạch vùng nguyên liệu, đến hỗ trợ nông dân từ khâu giống, cơ giới hóa trong nông nghiệp, hỗ trợ sau thu hoạch, đến tiêu thụ nông sản, hỗ trợ vay tín dụng. Nhưng, thực tiễn ở nhiều địa phương cho thấy, chính sách chưa đi vào trọng tâm, không đồng bộ, khó phát huy tác dụng, chậm hoặc khó đi vào cuộc sống.
Nhiều địa phương, doanh nghiệp, nông dân rất phấn khởi trước chính sách hỗ trợ “cơ giới hóa trong nông nghiệp”, nhưng do bị buộc mua máy móc nội địa hóa ít nhất 60%, nên họ đành “từ chối hỗ trợ” để chọn máy ngoại giá cả chấp nhận được, tiện dụng và chất lượng tốt hơn. Các doanh nghiệp hưởng ứng chủ trương xây kho tạm trữ lúa vừa qua, đến nay vẫn chưa được hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư do nhiều điều kiện, thủ tục khó đảm bảo. Tương tự, còn nhiều nông dân, doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay hỗ trợ khó khăn vì việc hỗ trợ vốn vay luôn kèm theo điều kiện “đòi thế chấp tiếp”. Chủ trương hỗ trợ phát triển hệ thống trạm bơm điện để chủ động tưới tiêu trong vùng nguyên liệu lúa, mía... là đúng đắn, đã có từ lâu, nhưng khó thu hút các thành phần kinh tế đầu tư do thực hiện thiếu đồng bộ vì cho đến nay Tập đoàn điện lực Việt Nam vẫn chưa có đề án phát triển lưới điện cung cấp điện cho các trạm bơm điện quy mô vừa và nhỏ cho vùng ĐBSCL. Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” được triển khai mấy năm qua, được nhiều người quan tâm cũng đang chờ tháo gỡ bằng các chính sách tiếp sức như đầu tư kênh mương thủy lợi, hỗ trợ giống, hỗ trợ đầu tư máy nông nghiệp, hệ thống sấy lúa...
Các chính sách hỗ trợ kinh tế thường “theo đuôi” các thiệt hại, như hỗ trợ người nuôi khi heo bị dịch bệnh lở mồm, long móng, cúm gia cầm, người trồng lúa khi lúa bị bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, hỗ trợ người trồng dừa khi dừa xuống giá, mua lúa tạm trữ, mua cá tra ... khi hàng tồn đọng nên dẫn đến bị động. Do vậy, tư duy làm chính sách cần được đổi mới, mang tính chủ động, dựa vào thế mạnh, tiếp cận theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực vùng. Để có được một cơ chế, chính sách đặc thù cần tư duy tiếp cận thực tiễn, thước đo hiệu quả của cơ chế chính sách và tính chủ động như vậy. Vấn đề còn lại là phải gắn lợi ích của nhà nước với định hướng và quy hoạch của nhà nước. 
Để tạo bước đột phá qua liên kết vùng và tham gia “4 nhà”, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã xây dựng đề án tổng thể với 5 dự án nhằm phát triển sản xuất lúa - gạo, cây ăn trái, cá da trơn, tôm nước mặn và nâng cao thu nhập nông dân qua đào tạo nghề. Cụ thể, cây lúa phải được quy hoạch và đầu tư theo vùng sản xuất; tạo điều kiện để liên kết về giống, quy trình sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, tổ chức sản xuất nông dân nối kết với doanh nghiệp. Mỗi tỉnh chọn ra 1 - 2 loại trái cây và 3 - 4 cây trồng phụ, qua đó, địa phương nào có lợi thế so sánh về cây trồng chủ lực sẽ tổ chức với địa phương khác để đầu tư sản xuất theo tiêu chuẩn Viet Gap và Global Gap. Đề án còn hướng đến mục tiêu lai tạo và chọn lọc những giống lúa, cây ăn quả, cá da trơn, tôm có năng suất, chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, có khả năng chống chịu dịch bệnh và thích ứng với điều kiện khí hậu của từng tiểu vùng sản xuất ở ĐBSCL; xác định các giải pháp kỹ thuật trong quá trình canh tác và sau thu hoạch để giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi; nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng lúa gạo, trái cây, cá da trơn và tôm, trong đó, việc nối kết nông dân với doanh nghiệp từ sản xuất đến tiêu thụ được đặc biệt chú trọng. Nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua việc huấn luyện và chuyển giao khoa học, công nghệ và kỹ năng quản lý nông nghiệp; chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp theo phương châm “ly nông bất ly hương”. Có thực hiện được các giải pháp trên mới có thể thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, xây dựng ĐBSCL trở thành vùng trọng điểm nông sản thật sự!

Thách thức trong phát triển công nghiệp xanh ở Việt Nam

15:42' 31/10/2012

(ThanhtraVietnam) – Việt Nam đã và đang đi theo con đường tăng trưởng không dựa chủ yếu vào việc sử dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên như trước đây, trong đó công nghiệp xanh là lĩnh vực được chú trọng. Tuy nhiên, phát triển công nghiệp xanh ở Việt Nam sẽ đứng trước những thách thức không nhỏ.

Nội dung này đã được thảo luận tại Hội thảo “Chính sách cơ cấu và công nghiệp xanh cho Việt Nam” diễn ra ngày 31/10 tại Hà Nội do Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức với sự hỗ trợ của Chương trình Cải cách kinh tế vĩ mô tại Việt Nam (GIZ).

Ông Phạm Hoàng Mai, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết 2 nhiệm vụ chiến lược của khung chính sách liên quan đến xanh hóa công nghiệp là: giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; xanh hóa sản xuất.

Theo ông Lê Minh Đức, Phòng Môi trường và Phát triển bền vững, Viện Chiến lược, Chính sách công nghiệp, 3 thách thức lớn của chính sách phát triển công nghiệp xanh ở Việt Nam là nhận thức, năng lực, thể chế. Mặt khác quá trình xanh hóa diễn ra chậm do xuất phát điểm thấp như ô nhiễm công nghiệp vẫn rất nghiêm trọng; sản xuất sạch hơn vẫn không đạt được kết quả như kỳ vọng; quản trị doanh nghiệp yếu kém, mới chỉ có rất ít doanh nghiệp đạt chứng chỉ ISO.

Về năng lực sản phẩm xanh, thực tế Việt Nam mới chỉ có 3 sản phẩm được cấp nhãn xanh so với thị trường Hàn Quốc là gần 9000; thiếu sách và nguồn nhân lực đối với sẩn phẩm xanh; lực cản thị trường lớn; sản phẩm chưa phù hợp, giá thành cao. Đặc biệt, năng lực công nghiệp môi trường của Việt Nam còn yếu kém, mới chỉ có 15% chất thải sinh hoạt và gần 6% nước thải đô thị được chế biến, xử lý.

Xử lý nước thải, chất thải là vấn đề quan trọng trong việc hướng tới nền công nghiệp xanh

Bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương cho biết Việt Nam đã bước đầu hình thành khung khổ thể chế hướng tới nền công nghiệp xanh như khung pháp luật, chính sách khuyến khích, hệ thông tiêu chuẩn định mức, cơ quan chịu trách nhiệm, tổ chức liên quan. Tuy nhiên, bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng cũng cho biết, thách thức về tài chính cho phát triển công nghiệp xanh ở Việt Nam hiện nay là hạn chế nguồn ngân sách để thực thi chiến lược phát triển công nghiệp xanh, doanh nghiệp khó khăn về nguồn vốn trong bối cảnh khó khăn kinh tế, chưa có những thể chế tài chính.

Trước những khó khăn, thách thức trên, theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ Việt Nam cần có sự tiếp cận và giải quyết đa ngành trong thể chế và phối hợp chính sách công nghiệp xanh; sự tiếp cận theo vùng, tăng cường liên kết theo vùng; cần đề cập đến vài trò của bên liên quan khác...

Tăng trưởng công nghiệp xanh ở Việt Nam là con đường đúng đắn và hợp lý, nhất là trong bối cảnh ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu đang diễn ra từng ngày và nguồn tài nguyên thiên nhiên dần bị cạn kiệt. Do đó, tăng trưởng xanh cần có khung chính sách hợp lý và lộ trình thực hiện cụ thể, khả thi./.

Hoàng Minh


Quốc hội và nền kinh tế

TTCT - Khi phần lớn các chỉ số kinh tế bản lề mà Quốc hội đề ra bị lệch so với thực tế, và lệch liên tục trong nhiều năm, thì nó cũng phản ánh việc Quốc hội có thật sự hiểu nền kinh tế của đất nước hay không.
Các công nhân may tại Công ty CP May Sài Gòn 2, TP.HCM - Ảnh: T.T.D.
Nếu Quốc hội không hiểu đủ sâu sắc về thực trạng kinh tế đất nước thì cũng khó có thể thực hiện tốt chức năng giám sát của mình. Và vì thế, bộ máy của Quốc hội cần được kỹ trị hóa.
Tại phiên họp thứ 18 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa qua, thực trạng yếu kém của nền kinh tế hiện nay lại được các thành viên đem ra mổ xẻ. Tại phiên họp này, không khí cấp bách của thời cuộc có thể được cảm nhận rõ qua các phát biểu quan trọng.
“Tình hình như thế này là nguy lắm rồi” là nhận định của Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan. “Tình hình này có thể nói kinh tế đang hết sức khó khăn, khó khăn hơn rất nhiều so với nhận định của Chính phủ và Quốc hội tại kỳ họp thứ 4” là nhận định của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân.

“Bức tranh vô cùng ảm đạm. Chỉ cần nhìn số lượng hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản và 65% số còn lại báo lỗ thì biết khả năng phục hồi kinh tế khó khăn đến mức nào” là nhận định của phó trưởng Ban Kinh tế trung ương Nguyễn Xuân Cường. “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%” và “lạm phát quá tốt chính do điều hành dở” là nhận định của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Chỉ tiêu và thực tế
Quốc hội có ba chức năng chính: lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Liên quan đến nền kinh tế, Quốc hội thực hiện chức năng lập pháp bằng cách soạn thảo, sửa đổi và thông qua hiến pháp, luật và các nghị quyết.
Với chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách nhà nước, và quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế. Với chức năng giám sát, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với việc thực hiện các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ.
Để quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội, Quốc hội thực hiện việc này bằng nhiều cách, trong đó quan trọng nhất là hằng năm Quốc hội thống nhất các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và giao các chỉ tiêu này cho Chính phủ thực hiện. Các chỉ tiêu này được xây dựng ít nhiều dựa trên các báo cáo của Chính phủ. Các chỉ tiêu này thường cũng không mang tính bắt buộc và chỉ có giá trị tham chiếu. Chính phủ không được “thưởng” khi thực hiện tốt các chỉ tiêu này và cũng không bị “phạt” nếu không đạt.
Các chỉ tiêu mà Quốc hội đề ra cho Chính phủ thực hiện nhiều khi đã không đi sát thực tế. Ví dụ trong ba năm trở lại đây, các chỉ tiêu bản lề của Quốc hội đề ra như tăng trưởng GDP hằng năm, tốc độ tăng giá tiêu dùng, nhập siêu tính bằng phần trăm của xuất khẩu, tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu, và tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đều bị chệch khá xa so với thực tế đạt được.
Có những thời điểm các chỉ số đề ra cách biệt khá xa so với thực tế (xem bảng). Ví dụ tăng GDP theo chỉ tiêu của năm 2011 là từ 7-7,5% nhưng thực tế đạt được chỉ có 5,89%. Chỉ tiêu lạm phát của năm này là 7% nhưng thực tế lên tới 18,58%. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội được đặt chỉ tiêu là 40% nhưng thực tế chỉ có 34,6%.
Lại cũng có những thời điểm, hạng mục, chỉ tiêu của Quốc hội lại quá khiêm tốn. Ví dụ tăng trưởng xuất khẩu theo chỉ tiêu của năm 2010 và 2011 là 6% và 10% trong khi thực tế đạt được là 25,5% và 33%. Tương tự, nhập siêu theo chỉ tiêu đề ra cho năm 2011 và 2012 là 18% và 11-12% nhưng thực tế đạt được lại tốt hơn rất nhiều (chỉ có 9,9% năm 2011 và thậm chí không có thâm hụt trong năm 2012).
Việc các chỉ tiêu mà Quốc hội đề ra vênh quá lớn so với thực tế đạt được có thể do Chính phủ. Ví dụ, chỉ tiêu tăng CPI của Quốc hội năm 2012 là 10% trong khi thực tế tăng CPI của năm 2012 là 6,81%. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng lạm phát khoảng 7-8% là được, còn 6,81% cũng là tốt, nhưng là “tốt quá” nên ảnh hưởng đến tăng trưởng. Theo ông, Chính phủ “điều hành như vậy là dở, nếu CPI trên 7% thì bây giờ tăng trưởng không thấp thế, cái này là do điều hành”.
Thế nhưng nhìn đi cũng phải nhìn lại, khi phần lớn các chỉ số kinh tế bản lề mà Quốc hội đề ra bị lệch so với thực tế, và lệch liên tục trong nhiều năm, thì nó cũng phản ánh việc Quốc hội có thật sự hiểu nền kinh tế của đất nước hay không. Ví dụ, chỉ tiêu tăng GDP của Quốc hội trong hai năm 2011 và 2012 đều ở “trên trời”. Chỉ tiêu lạm phát cho hai năm 2010 và 2011 cũng lãng mạn hơn nhiều so với thực tế đạt được.
Nếu Quốc hội không hiểu đủ sâu sắc về thực trạng kinh tế đất nước thì cũng khó có thể thực hiện tốt chức năng giám sát của mình.
Gần đây chức năng giám sát của Quốc hội được đẩy mạnh với việc tổ chức các phiên chất vấn công khai và sắp tới là bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu ra hoặc phê chuẩn.
Công bằng mà nói, việc chất vấn và trả lời chất vấn đang ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, dù nhiều quan sát viên cho rằng các chất vấn “ngô nghê, dài dòng, hay những câu chất vấn thì ít mà xin thì nhiều” của các đại biểu Quốc hội đã ít đi đáng kể, không phải đại biểu nào cũng thật sự có hiểu biết sâu sắc về nền kinh tế.

2010
2011
2012

Chỉ tiêu
Thực tế
Chỉ tiêu
Thực tế
Chỉ tiêu
Thực tế
Tăng trưởng GDP của năm
6,50%
6,78%
7-7,5%
5,89%
6-6,5%
5,03%
CPI
7%
11,75%
7%
18,58%
10%
6,81%
Bội chi ngân sách
6,2%
5,6%
5,3%
4,9%
4,8%
4,8%
Nhập siêu (% của xuất khẩu)

17,3%
18%
9,9%
11-12%
-
Tăng trưởng xuất khẩu
6%
25,5%
10%
33%
13%
18,3%
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội (% GDP)
41%
41,9%
40%
34,6%
33,5%
33,5%

Nên kỹ trị hóa Quốc hội
Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của đất nước, Quốc hội hiển nhiên là bộ máy tập trung sức mạnh trí tuệ và ý chí chính trị của toàn dân. Vì thế, việc Quốc hội chưa thể hiện hết được tầm vóc trong việc thực hiện các chức năng hiến định của mình rõ ràng là việc cần thay đổi.
Trong nhiều lý do, có hai lý do rất quan trọng: Thứ nhất là tỉ lệ các đại biểu kiêm nhiệm vẫn còn quá lớn. Các đại biểu kiêm nhiệm không thể thực hiện tốt chức năng của đại biểu Quốc hội trong khi vẫn là các quan chức cao cấp trong bộ máy hành pháp và phải dành chủ yếu thời gian của mình cho công tác điều hành hằng ngày.
Thứ hai, quan trọng không kém là cho dù các đại biểu Quốc hội không phải là đại biểu kiêm nhiệm thì họ cũng không có nguồn lực để thực hiện vai trò đại biểu Quốc hội.
Theo thông tin chính thức từ website của Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử, thuộc Ban Công tác đại biểu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hiện nay các đại biểu chỉ được hưởng một số chế độ đãi ngộ cơ bản như lương, phụ cấp. Một kiến nghị của vụ phó Vụ Công tác đại biểu còn viết “phấn đấu trong tương lai mỗi đại biểu đều có một thư ký giúp việc riêng”.
Không có đủ đội ngũ cố vấn, chuyên gia, chuyên viên phân tích, nhân viên văn phòng để giúp đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình, các đại biểu dù giỏi đến đâu cũng không thể thực hiện tốt chức năng đại biểu.
Chưa nói đến những việc phức tạp như soạn thảo các dự luật - điều mà lẽ ra thuộc về chức năng của các đại biểu quốc hội, mà chỉ đơn giản là việc nắm tình hình thực tế, nghiên cứu và tiêu hóa hết các thông tin về tình hình kinh tế xã hội để có những hiểu biết căn bản khi đi họp Quốc hội cũng là việc mà các đại biểu Quốc hội không thể làm được một mình. Điều này chắc chắn ảnh hưởng đến việc thẩm tra các dự án luật, đặt ra các chỉ tiêu kinh tế và giám sát, chất vấn về việc thực hiện nó.
Nói cách khác, bộ máy của Quốc hội cần phải được kỹ trị hóa. Bên cạnh việc giảm dần tỉ lệ đại biểu kiêm nhiệm, việc kỹ trị hóa này còn bắt đầu từ hai việc rất cụ thể. Thứ nhất là tăng ngân sách hoạt động cho các đại biểu một cách thật sự có ý nghĩa để mỗi đại biểu có thể có được một bộ máy giúp việc riêng thật sự mạnh.
Thứ hai, tăng trách nhiệm báo cáo trước dân của các đại biểu để họ có trách nhiệm sử dụng ngân sách này một cách hiệu quả phục vụ công tác đại biểu Quốc hội một cách đúng nghĩa.
DỰ TRẦN

Cần chiến lược phát triển kinh tế biển cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long

THỨ TƯ, 29 THÁNG 5 2013 11:15 TTXVN

Viết emailIn
Trong phát triển kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hướng ra biển là một trong 3 cánh cửa quan trọng mở mang phát triển Đồng bằng sông Cửu Long bên cạnh phát triển đường hàng không và kinh tế biển. 
Trong nhiều năm qua từng tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long đã xây dựng chương trình hành động về phát triển kinh tế biển nhưng sự liên kết giữa các địa phương còn rất yếu. Vấn đề đặt ra là cần có một chiến lược cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long với lợi thế về kinh tế biển.  
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ), để hiện thực hóa chiến lược phát triển kinh tế biển cả nước thì trước hết phải có chiến lược cho vùng và làm sao liên kết các địa phương với nhau. 

Trong khi đó từ trước đến nay, phát triển kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long cứ “quanh quẩn” chuyện lúa, cá trong nội địa mà chưa nghĩ đến những vấn đề rộng hơn. Từ trước đến nay Đồng bằng sông Cửu Long chỉ quan tâm phát triển biển Đông mà biển Tây hết sức quan trọng lại bỏ ngỏ, trong khi về điều kiện tự nhiên biển Tây không bị gió bão, với một “hòn ngọc quốc gia” đảo Phú Quốc. 
Cũng theo ông Hiệp, trong nhận thức của từng địa phương có nơi cũng chưa hiểu rõ phát triển kinh tế biển, thậm chí có vị lãnh đạo một địa phương từng phát biểu rằng do tỉnh không có bờ biển nên không thể phát triển kinh tế biển. Điều này chưa đúng, vì kinh tế biển không chỉ có phát triển thủy sản, công nghiệp năng lượng, dầu khí mà còn là phát triển kinh tế đảo, du lịch biển, dịch vụ hậu cần…
Kinh tế biển còn là khai thác các tour tuyến du lịch gắn với biển đảo. Tiềm năng du lịch đồng bằng sông Cửu Long rất lớn và có khả năng phát triển đa dạng, phong phú dựa vào lợi thế biển như biển đảo Hà Tiên, Phú Quốc (Kiên Giang), rừng U Minh, đất mũi Cà Mau…tất cả đều trở thành những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Mũi Cà Mau nhìn ra biển. Ảnh: hiepcantho
Để phát triển Phú Quốc, tạo “đòn bẩy” cho Đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh về kinh tế biển, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 178/QĐ-TTg phát triển đảo Phú Quốc trở thành trung tâm giao thương quốc tế, trung tâm du lịch sinh thái biển-đảo của các nước và khu vực.
Đến năm 2020 hoàn thành cơ bản xây dựng Phú Quốc là trung tâm giao thương quốc tế, ngành du lịch trở thành mũi nhọn phát triển ở trình độ cao, trở thành trung tâm du lịch sinh thái biển – đảo của cả nước, khu vực và quốc tế.
Từ nay đến năm 2015, Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang cũng ưu tiên tập trung nhiều nguồn lực để hoàn thiện hạ tầng cho đảo Phú Quốc. Những mục tiêu này sẽ tạo động lực mạnh mẽ đưa Phú Quốc phát triển thời gian tới, tạo ra sức bật mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế biển Đồng bằng sông Cửu Long.
Trên thực tế, có nhiều tỉnh dù không có khu vực bãi biển để khai thác hải sản nhưng vẫn có thể phát triển công nghiệp chế biến thủy hải sản gắn với khai thác, đánh bắt, nuôi trồng, hậu cần logistics...
Chẳng hạn như Cần Thơ không có bờ biển nhưng đã đầu tư phát triển hậu cần logistics gắn liền với cảng Cái Cui. Sau khi được đầu tư giai đoạn 1 hiện nay cơ quan chủ quản Tổng công ty Hàng hải đang đầu tư cảng Cái Cui giai đoạn 2 với hệ thống vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa hiện đại, công suất bốc dỡ có thể đạt 2,5 triệu tấn hàng hóa/năm.
Theo quy hoạch, cảng biển Cái Cui thuộc nhóm cảng biển số 6 của nước ta và là cảng chính của cụm cảng Cần Thơ, trực tiếp phục vụ khu công nghiệp Hưng Phú - Cần Thơ đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh phía Tây sông Hậu gồm An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Có thể nói hạ tầng công trình cảng đã được đầu tư nâng cấp khá tốt, dịch vụ kinh doanh hàng hải cũng đa dạng phong phú nhất là hình thức kinh doanh hậu cần logistics.
Theo đánh giá của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, vận tải biển là lợi thế quan trọng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, được xác định là mũi nhọn để thúc đẩy giao thương, trao đổi hàng hóa của Đồng bằng sông Cửu Long với các quốc gia trên thế giới, đảm bảo sự phát triển bền vững cho Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một giải pháp căn cơ để giải quyết nhu cầu bức xúc cho các cảng biển trong vùng với công suất hiện nay hoạt động rất thấp. Khảo sát của một công ty tư vấn nước ngoài cho thấy, nếu Đồng bằng sông Cửu Long giải quyết được tàu lớn vào các cảng biển như Trà Nóc, Cái Cui thì mỗi tấn hàng hóa giảm chi phí từ 6-8USD.
Như vậy, với mức nhu cầu vận chuyển 35 triệu tấn hàng hóa hàng năm của Đồng bằng sông Cửu Long có thể tiết kiệm được khoảng 250-300 triệu USD.
Theo ông Doãn Mạnh Dũng, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hội Khoa học kỹ thuật và Kinh tế biển Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng bằng sông Cửu Long chưa phát huy được hệ thống cảng biển do luồng không ổn định thường xuyên bị bồi lắng, chỉ cho phép tàu trọng tải 5.000 tấn ra vào sông Hậu. Mặt khác, hệ thống logistic của các cảng biển Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chưa đáp ứng đúng mức kể cả hàng xuất và hàng nhập.
Thống kê của Cảng vụ hàng hải Cần Thơ cũng cho thấy, có đến 15 bến cảng hiện nay tại đồng bằng sông Cửu Long chỉ mới khai thác từ 20% đến dưới 50% công suất, trong đó có nhiều cảng chỉ hoạt động cầm chừng. Đặc biệt là lượng hàng hóa qua các cảng Trà Nóc, cảng Cái Cui (thuộc nhóm cảng biển số 6) liên tục sụt giảm từ 1,3 triệu tấn năm 2011 xuống còn 1,2 triệu tấn năm 2012 mà nguyên nhân chính là luồng bị mắc cạn.
Tuyến luồng hàng hải Định An-Cần Thơ dài 121km có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động hàng hải của 13 cảng khu vực Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ với lượng hàng hóa thông qua hơn 4 triệu tấn/năm. Để tìm giải pháp ổn định và lâu dài cho luồng Định An, phương án đào kênh tắt Quan Chánh Bố nối luồng Định An tại huyện Trà Cú thông ra cửa biển thuộc huyện Duyên hải tỉnh Trà Vinh đã được triển khai vào năm 2009 nhưng hiện công trình đang giãn tiến độ do thiếu kinh phí.
Trong thời gian chờ triển khai dự án luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu qua kênh Quan Chánh Bố của Bộ Giao thông Vận tải hoàn thành thì luồng Định An vẫn phải được tiếp tục nạo vét. Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay mỗi năm Cục Hàng hải đều chi 18-30 tỷ đồng nạo vét luồng Định An - tuyến huyết mạch cho tàu biển lớn ra vào sông Hậu. Tuy nhiên công tác nạo vét thời gian qua chưa thật sự hiệu quả, chỉ sau nạo vét vài tháng luồng lại bồi lắng.
Ông Trần Hữu Hiệp cho biết, vừa qua Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức, khảo sát, đánh giá hiệu quả của việc nạo vét thời gian qua để đề xuất giải pháp trước mắt cho việc khơi thông luồng Định An trong khi kênh Quan Chánh Bố chưa hoàn thành. Thủ tướng cũng đã giao cho Bộ Giao thông Vận tải chủ trì phối hợp với Ban chỉ đạo Tây Nam bộ cùng với các tỉnh thành trong vùng tiến hành khảo sát, đánh giá, đặc biệt là đề xuất giải pháp khơi thông luồng Định An trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chậm nhất là ngày 30/5/2013. Đây là một nỗ lực lớn của Chính phủ trong chỉ đạo tập trung nhằm nâng cao hiệu quả khai thác các hệ thống cảng biển ở Đồng bằng sông Cửu Long./. 
Việt Âu - TTXVN

30 tháng 5, 2013

Nghèo trên vựa lúa: Để xóa nghèo bền vững


30/05/2013 02:40 (GMT + 7)
TT - Tiếp theo loạt bài “Nghèo trên vựa lúa”, Tuổi Trẻ đã trao đổi với thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ - cơ quan được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ theo dõi, chỉ đạo, tham mưu đề xuất và kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong vùng. Ông Hiệp nói:
- Cần phải khẳng định là vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo. Trong 62 huyện nghèo của cả nước, toàn vùng không có địa phương nào. Tăng trưởng về kinh tế, đặc biệt là phát triển nông nghiệp, nông thôn ở ĐBSCL và ổn định xã hội đã mang lại sự cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của số đông người dân. Số hộ nghèo trong vùng đã liên tục giảm, từ khoảng 50% (so với tiêu chí đối chiếu tương ứng) đầu thập kỷ 1990 xuống còn khoảng 10% hiện nay, thấp hơn Tây Bắc và Tây nguyên. Song, một nghịch lý là vẫn tồn tại sự nghèo khó ngay trên vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản và vùng sản xuất nông sản hàng hóa sôi động nhất của cả nước.
* Vậy ông nhìn nhận thế nào khi người dân ĐBSCL sống ngay trên vựa lúa, trái cây, thủy sản lớn nhất nước mà cuộc sống vẫn khốn khó?
- Có nhiều nguyên nhân nghèo khó: do người dân không có đất, thiếu đất sản xuất, người có đất nhưng thiếu vốn, thiếu kiến thức, không biết cách làm ăn, gặp rủi ro, thiếu phấn đấu vươn lên... Kể cả chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa hợp lý, cách làm cứng nhắc khiến nhiều hỗ trợ của Nhà nước chưa đến được người nghèo; thiếu lồng ghép các chính sách phát triển kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội... Thực trạng đó đang đặt ra bài toán cần lời giải tổng thể từ cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội, các giải pháp, cách thức thực thi hiệu quả, thiết thực hơn.
* Có ý kiến cho rằng cái gốc để giải quyết vấn đề nghèo đói ở ĐBSCL là vấn đề văn hóa. Phải tập trung nâng cao dân trí, đào tạo nghề, tạo công ăn việc làm?
- Theo tôi là cả văn hóa lẫn kinh tế, thể chế chính sách và thực thi cần được quan tâm và giải quyết đồng bộ. Nhưng gốc rễ vẫn là vấn đề kinh tế. Trong đó, cần giải quyết các vấn đề xã hội trong kinh tế, nhất là phải quan tâm yếu tố đặc thù riêng của ĐBSCL. Ở vùng này, ít nhất là trong nhiều thập niên qua, không còn tình trạng nghèo đói mà chỉ có nghèo khó. Nghèo khó ở vựa lúa miền Tây khác nhiều nơi.
Vùng này không có huyện nghèo để được nhận hỗ trợ, đầu tư và nhiều chính sách an sinh xã hội khác theo chương trình hỗ trợ các huyện nghèo của cả nước. Không có ai đói nhưng nghèo đều, cận nghèo nhiều; là vùng trũng về giáo dục - đào tạo, chất lượng nhân lực... Cần có chính sách giảm nghèo phù hợp đặc thù nghèo của vùng này, không thể quá cứng nhắc với chuẩn, diện nghèo chung, đặc biệt là mở lối thoát nghèo, làm giàu từ phát triển kinh tế.
Tôi quan tâm đến một số bức xúc của vùng ĐBSCL và cần cơ chế đặc thù. Làm sao để hạt gạo không bị cắn chia làm tám phần, con cá tra, cây mía không bị chặt làm nhiều khúc, phần của người nông dân, người cận nghèo được nhận phải tương xứng với công sức họ bỏ ra.
Thu nhập của những người làm ra kỳ tích cho nền nông nghiệp VN vẫn đang bấp bênh theo giá cả thị trường. Một kết quả nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL cho thấy với bình quân đất sản xuất 0,4 ha/hộ, nông dân khó làm giàu. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ nên 30% lợi nhuận của nông dân (nếu có) chia cho số nhân khẩu trong hộ còn thấp hơn mức thu nhập 1 USD/người/ngày! Nghịch lý khi tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng chưa được giảm tương ứng với tỉ lệ tăng theo sản lượng lúa được cha mẹ chúng làm ra cũng như tình trạng học sinh bỏ học vẫn còn là vấn nạn.
Yêu cầu nâng cao chất lượng - quản lý quy hoạch, thông tin dự báo thị trường, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị... để nâng cao thu nhập của người nông dân, yêu cầu “doanh nhân hóa nông dân”, làm ra chén cơm ngon thay cho chén cơm đầy... vẫn đang đặt ra nhiều thách thức hơn là chiếm vị trí số 1, số 2 thế giới về xuất khẩu gạo. Đó là vấn đề căn cơ, lâu dài để giảm nghèo, làm giàu ở miền Tây.
* Theo ông, chính sách về chuẩn hộ nghèo, tín dụng, đào tạo nghề nông thôn... của Nhà nước thời gian qua đã hợp lý chưa?
- Cần khẳng định những năm qua nhiều chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tín dụng chính sách, xây dựng nông thôn mới, đào tạo nghề lao động nông thôn, hỗ trợ xây dựng nhà ở, đất ở, đất sản xuất... đã được thực thi, mang lại hiệu quả. Nhưng cũng cần thẳng thắn nhìn nhận còn nhiều bất cập trong cơ chế, chính sách và thực thi trong công tác giảm nghèo, cần rà soát điều chỉnh như: đào tạo nghề nhưng chưa gắn được với tạo việc làm bền vững, có tình trạng học nghề cũng ngồi nhầm lớp.
Một số nơi việc thực thi chính sách rập khuôn, cứng nhắc, như việc áp chuẩn nghèo mà vụ việc một người dân ở Cà Mau phải tìm đến cái chết vì chính quyền địa phương máy móc trong bình xét hộ nghèo mới đây là một ví dụ điển hình. Vì vậy, cần nhận thức “chuẩn” và “diện” cũng chỉ là quy định có tính kỹ thuật, hoàn toàn có thể thay đổi. Khó có quy định nào phù hợp với tất cả các trường hợp. Bộ máy thực thi là con người, không phải là máy móc, đòi hỏi phải đáp ứng yêu cầu chung, nhưng phải đảm bảo được yêu cầu, cán bộ không thể “vô cảm” trước nghèo khó, túng quẫn thật sự của người dân cần được hỗ trợ.
Tiêu chí hộ nghèo không ổn
Hơn một năm sau khi đưa tin về những trường hợp được địa phương loại khỏi danh sách hộ nghèo (Tuổi Trẻ, ngày 17-1-2012), chúng tôi trở lại nhà anh Lê Văn Phúc, nằm lọt thỏm giữa vùng đất sình ấp Bình Đông A, xã Châu Bình, Giồng Trôm (tỉnh Bến Tre).
Ông Lê Văn Ban (cha của anh Phúc) cũng ở trong ấp này nói sau khi báo đưa tin về việc Phúc thoát nghèo thì địa phương có tới thăm hỏi rồi thôi. Hiện anh Phúc vẫn kiếm sống bằng đủ thứ nghề: lột vỏ dừa, hái cacao, đào mương được khoảng 100.000 đồng/ngày. Vợ anh cũng phải đi làm bất cứ việc đồng áng nào người ta thuê. Căng sức và may mắn không đau ốm, vợ chồng anh kiếm được khoảng 3 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên những tháng không thu hoạch trái cây hay dừa bị “treo” thì may lắm cũng chỉ được vài trăm ngàn đồng/tháng. Quan sát căn nhà của vợ chồng anh Phúc một vòng, vẫn như năm trước, trống hoác từ trước ra sau.
Bà Nguyễn Thị Hồng Hà, nguyên phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Tiền Giang, là một trong số ít lãnh đạo đã đi hết 163 xã, phường của Tiền Giang khi còn đương chức. Bà cho rằng tiêu chí dựa vào thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/tháng trở xuống mới gọi là hộ nghèo, từ 401.000-500.000 đồng/tháng gọi là hộ cận nghèo thì chưa thỏa đáng. “Gần như các hộ cận nghèo đều thê thảm như hộ nghèo, nhưng quyền lợi thì chênh lệch lớn. Tiêu chí xét hộ cận nghèo lại do địa phương xét nên có không ít tiêu cực. Thực tế có nhiều trường hợp cán bộ xã, ấp đưa người thân vào danh sách hộ nghèo và bỏ những hộ nghèo thật ra” - bà Hồng Hà nói.
“Giá cả tăng trong thời gian qua nên tiêu chí hộ nghèo đã lạc hậu. Cần nâng chuẩn nghèo lên thêm vài trăm nghìn đồng nữa chứ như hiện nay thì những hộ không nằm trong diện nghèo cũng không sống nổi mà họ không được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước” - bà Hà kiến nghị.
S.LÂM

Đồng bằng sông Cửu Long: Ách tắc... đường ra biển

Thời báo Doanh nhân, 30/5/2013 
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nông nghiệp, thủy sản lớn nhất nước. Hàng năm, nơi đây xuất khẩu hơn 10 triệu tấn hàng hóa như gạo, thủy sản, trái cây… Tuy nhiên, 75% sản lượng hàng hóa xuất khẩu của ĐBSCL không đi qua các cảng của ĐBSCL mà phải qua các cảng TP. Hồ Chí Minh. Điều này làm chi phí vận chuyển tăng và năng lực cạnh tranh hàng hóa nông sản của ĐBSCL giảm. Nguyên nhân chính của ách tắc này là luồng lạch ĐBSCL bị mắc cạn.

Những nghịch lý…
ĐBSCL là vùng sông nước, đây là lợi thế lớn để phát triển vận tải thủy. Thế nhưng nhiều năm qua, luồng lạch vào sông Hậu mắc cạn, tàu hơn 5.000 tấn không thể ra vào ĐBSCL. Do đó, để xuất khẩu gạo, tôm, cá… đi các nước, các doanh nghiệp phải vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ hoặc đường thủy đến TP.HCM, rồi đóng hàng vào container xếp lên tàu. “Hiện nay hàng hóa ĐBSCL chiếm khoảng 30% tổng sản lượng hàng hóa qua các cảng TP.HCM. Chỉ có 25% sản lượng hàng hóa của ĐBSCL là xuất khẩu trực tiếp qua các cảng của ĐBSCL, còn lại 75% sản lượng hàng hóa của ĐBSCL vận chuyển bằng đường bộ hoặc đường thủy đến các cảng TP.HCM. Điều đó, không chỉ tăng chi phí mà còn làm tăng nguy cơ ách tắc giao thông cho các cảng này” - Ông Phan Thành Tiến, Giám đốc cảng Cần Thơ lo ngại. 
Thực trạng trên đã kéo theo chi phí xuất khẩu hàng nông sản ĐBSCL tăng thêm đáng kể. Ít nhất mỗi tấn hàng vận chuyển từ khu vực ĐBSCL đến TP.HCM tốn thêm 8-10 USD tấn. Tính ra, hàng năm ĐBSCL mất đi cả trăm triệu USD. Ông Gilbert - một thương nhân Philippines muốn mua hàng hóa nông sản của ĐBSCL, sau khi được một công ty hàng hải tại Việt Nam báo giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa xuất khẩu đi Philippines: TP.HCM - Manila North là 300 USD cho container 20 DC, 600 USD cho container 40 DC, TP.HCM - Cebu là 500 USD/container 20 DC và 600 USD/container 40 DC, TP.HCM - Davao là 630 USD/container 20 DC, 1.100 USD/container 40 DC; vận chuyển kéo container 20 DC từ cảng Sài Gòn - Cần Thơ và ngược lại (đóng hàng container tại Cần Thơ) là 9.800.000 đồng +VAT), thắc mắc: “Vì sao giá vận chuyển từ Cần Thơ đến TP.HCM tốn nhiều hơn từ TP.HCM đi Philippines?”
Một nghịch lý khác là hàng hóa xuất nhập khẩu ĐBSCL ngày càng nhiều nhưng các cảng khu vực ĐBSCL thì ngày càng vắng tàu thuyền, sản lượng qua cảng sụt giảm mạnh. Theo số liệu của Cảng vụ hàng hải Cần Thơ, sản lượng hàng hóa cảng Cần Thơ năm 2010 là 1,2 triệu tấn, năm 2011 là 1,4 triệu tấn và năm 2012 chưa đạt được 1 triệu tấn. Tại cảng Trà Nóc, cảng chuyên về xuất khẩu lương thực, tổng lượng hàng hóa năm 2012 chỉ được hơn 1,1 triệu tấn…
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Kinh tế - Ban chỉ đạo Tây Nam bộ quan tâm nhiều đến cảng biển, luồng lạch ĐBSCL, trăn trở: “Số liệu thống kê cho thấy, khoảng hơn 70% hàng hóa xuất khẩu của ĐBSCL phải trung chuyển lên các cảng khu vực TP.HCM đã làm phát sinh chi phí, giảm lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, hàng năm còn một lượng lớn phân bón, nguyên - nhiên liệu nhập khẩu vào vùng phải qua trung gian. Việc giải quyết luồng cho tàu vào cảng Cái Cui nói riêng và cụm cảng ĐBSCL nói chung đổ hàng, ăn hàng vẫn đang là nỗi băn khoăn lớn của các cảng và nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu, vận tải trong vùng…”
Bao giờ thông luồng?
“Cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông trong thời gian qua được quan tâm đầu tư nhưng chưa tương xứng và vẫn còn hạn chế. Đặc biệt cấp bách hơn là việc nạo vét luồng cho tàu lớn vào hệ thống cảng trên sông Hậu. Hàng năm, ĐBSCL xuất khẩu 7 triệu tấn gạo, chỉ cần 1/3 lượng gạo này xuất khẩu tại Cần Thơ khi đã thông luồng tàu lớn 10.000-20.000 tấn vào ăn hàng, sẽ tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp xuất khẩu và tăng thu ngân sách mỗi năm cả trăm triệu triệu USD” - Ông Lê Minh Trượng, Giám đốc Công ty lương thực Sông Hậu, một doanh nghiệp chuyên kinh doanh xuất khẩu gạo và kinh doanh dịch vụ cảng biển bức xúc.
Mặc dù nhiều năm qua, luồng lạch vào sông Hậu bị mắc cạn, tổn thất cho ĐBSCL cả trăm triệu USD, nhưng đầu tư nạo vét duy tu cho luồng Định An - cửa chính vào luồng sông Hậu chưa xứng tầm. Từ năm 2009 đến nay, mỗi năm Cục Hàng hải đầu tư nạo vét duy tu từ 18-30 tỷ đồng, duy trì độ sâu 3,2-4 m, với mớn nước sâu này, tàu trọng tải hơn 5.000 tấn khó vào luồng sông Hậu. Hơn nữa, từ cửa Định An đến Cần Thơ dài khoảng 121 km nhưng đoạn mắc cạn chỉ từ phao số 0 đến 14. Tuy đoạn sông ngắn nhưng làm ách tắc hàng hóa xuất nhập khẩu ĐBSCL.
 Mới đây, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải đã phối hợp Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, UBND các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Đồng Tháp và các đơn vị có liên quan thành lập đoàn khảo sát luồng Định An. Đoàn khảo sát kiến nghị tập trung đầu tư nạo vét để khai thác có hiệu quả luồng Định An… Đồng thời khảo sát diện rộng để xác định, thiết lập hướng tuyến luồng tận dụng độ sâu tự nhiên, cập nhật kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến để đề xuất cụ thể phương án nạo vét; khuyến khích doanh nghiệp tham gia xã hội hoá công tác nạo vét, luồng hàng hải, tận thu sản phẩm theo các hình thức PPP, BOT hoặc các hình thức khác, không sử dụng ngân sách nhà nước trên cơ sở bảo đảm đúng quy định của pháp luật, hài hoà lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư.
Năm 2013, Cục Hàng hải sẽ đầu tư 25 tỷ đồng nạo vét, duy tu luồng Định An, đảm bảo chuẩn tắc luồng, phục vụ tàu thuyền hàng hải trên luồng, phương tiện thi công: sử dụng tàu hút bùn tự hành để thi công nạo vét và vận chuyển bùn đất đến vị trí đổ đất nạo vét quy định. Các thông số kỹ thuật của luồng tàu: bề rộng đáy luồng B = 100m, cao độ đáy nạo vét luồng H = -3,9m, máy dốc nạo vét m = 20. Tổng khối lượng nạo vét khoảng 219.621 m3. “Việc nạo vét cửa Định An trong giai đoạn hiện nay và duy tu để sử dụng lâu dài là cần thiết. Nếu luồng Quan Chánh Bố hoàn thành thì cũng không đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng của khu vực ĐBSCL” - Ông Lê Minh Kháng, Giám đốc Cảng vụ Hàng hải Cần Thơ nhận định.
Song song với việc nạo vét duy tu luồng Định An, cuối năm 2009, tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, đã khởi công Dự án xây dựng luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu. Mục tiêu dự án là xây dựng luồng cho tàu có trọng tải 10.000 tấn và tàu non tải 20.000 tấn ra vào các cảng trên sông Hậu, nhằm phục vụ vận chuyển hơn 20 triệu tấn hàng hóa xuất nhập khẩu của ĐBSCL. Dự kiến đến cuối năm 2011 sẽ đưa vào khai thác. Tổng dự toán ban đầu cho dự án là 200 triệu USD, nay lên đến 10.042 tỷ. Tuy nhiên, do kinh tế gặp nhiều khó khăn, dự án đào kênh Quan Chánh Bố trì hoãn, giãn tiến độ, đến nay vẫn chưa hoàn thành. Sau gần 3 năm bị đình hoãn, tính đến cuối tháng 4/2013, tổng kinh phí thực hiện công trình mới đạt 932 tỷ đồng. Mặc dù, khởi đầu đầu tư của Dự án kênh Quan Chánh Bố bị ách tắc nhưng theo Bộ Giao thông - Vận Tải, vấn đề này sẽ sớm được tháo gỡ. “Bộ Giao thông - Vận tải đã có văn bản kiến nghị ngân sách cấp 2.790 tỷ đồng để năm nay tiếp tục triển khai dự án luồng cho tàu lớn vào sông Hậu hiện đang bị trì hoãn, giãn tiến độ do thiếu kinh phí, để triển khai phân đoạn đầu tiên - Ông Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải khẳng định.
Với những động thái tích cực như trên, luồng Định An sẽ được nạo vét duy tu, dự án kênh Quan Chánh Bố tiếp tục được đầu tư. Kỳ vọng đến năm 2015, sông Hậu sẽ được thông luồng, hàng hóa xuất nhập khẩu ĐBSCL sẽ thông thương, cánh cửa ra biển lớn cho hàng nông, thủy sản ĐBSCL sẽ rộng mở, nhiều cơ hội cạnh tranh, hội nhập với kinh tế thế giới.
Biển Ca