25 tháng 3, 2016

Cây lúa trước cơn hạn, mặn thế kỷ

Trần Hữu Hiệp
(TBKTSG) - Thiên tai là điều khó tránh, cũng như lũ lụt, hạn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long không nằm ngoài dự báo. Người dân nơi đây không có con đường nào khác là phải hướng đến mục tiêu dài hạn để thích ứng.
Từ “chống lũ”, rút ra kinh nghiệm “né lũ”, rồi hình thành triết lý “sống chung với lũ” đến hạn mặn, cũng phải chủ động thích nghi. Nhưng làm sao để nông dân ĐBSCL có thể kiếm sống và làm giàu trước thách thức của thiên tai và nhân tai?
Lời giải cho bài toán này cần có sự tiếp cận đa ngành, cần quy mô sản xuất lớn hơn, cần tích tụ ruộng đất nhiều hơn để thích nghi với phương thức sản xuất chuyên nghiệp hơn, chuyển đổi từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh doanh nông nghiệp” bằng các bài toán kinh tế: chi phí và lợi ích.
Kênh dẫn nước vào ruộng lúa khô cạn vì hạn, mặn

Từ “thoát lũ” sang “trữ ngọt”
Lâu nay, chúng ta xây dựng hệ thống thủy lợi chủ yếu là để “thoát lũ”, phải chăng nên chuyển sang “trữ ngọt” và dùng nước tiết kiệm. Từ xưa, cùng với lũ, thiên nhiên đã hình thành các “túi nước tự nhiên” khổng lồ ở vùng Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên để trữ nước. Từ bao đời nay, người dân ven biển đã biết dùng lu, khạp để trữ ngọt mùa mưa dùng cho mùa khô. Tư duy đó cần được nâng tầm lên bằng việc rà soát, cập nhật, điều chỉnh quy hoạch tổng thể vùng, từng tiểu vùng, ngành, nhất là quy hoạch sản xuất, hạ tầng thủy lợi, giao thông… như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ mới đây về phòng, chống xâm nhập mặn. Thực tế, trong một số tiểu vùng ở Trà Vinh, Hậu Giang, có những ruộng lúa thiếu nước chết khô, thì vẫn có nhiều nông dân “né hạn” nhờ chủ động lịch thời vụ, sử dụng giống ngắn ngày, có những rẫy màu chủ động được nước ngầm tưới nước, nên tránh được thiệt hại.
Cây lúa và an ninh lương thực
Trong điều kiện hiện nay và chắc chắn sẽ còn lâu hơn nữa, an ninh lương thực vẫn là vấn đề mang tính toàn cầu và Việt Nam vẫn là quốc gia đóng góp có trách nhiệm cho thế giới. Chúng ta xác định lúa gạo là vấn đề chiến lược và đã có nhiều chính sách tốt. Song, trước thách thức của biến đổi khí hậu, thiên tai và nhân tai, buộc chúng ta phải nghĩ đến một “hệ điều hành” mới, sao cho vẫn giữ vững nguyên tắc “hai bảo đảm” - an ninh lương thực quốc gia và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa. Về lâu dài, không nên phát triển cây lúa bằng mọi giá, ngăn mặn một cách cứng nhắc mà bỏ qua yếu tố kinh tế: chi phí và lợi ích. 
An ninh lương thực không chỉ là việc đảm bảo an toàn, chắc chắn cho nhu cầu dinh dưỡng của người dân trong mọi tình huống, mà còn phải được tiếp cận về kinh tế, nhu cầu sinh kế của người dân. Vì vậy, nhận thức về an ninh lương thực không chỉ dừng lại ở góc độ dinh dưỡng, nhu cầu sinh học mà còn bao gồm cả yếu tố giúp nông dân làm giàu mới đủ sức đảm đương nhiệm vụ của “người lính” trên mặt trận này. Theo đó, đề nghị những nhà hoạch định chính sách quan tâm mấy việc: 
Một là, tiếp cận linh hoạt hơn đối với quy hoạch sử dụng đất trong việc thực hiện chủ trương giữ 3,81 triệu héc ta đất trồng lúa. Cần ưu tiên đầu tư vào một “vùng lõi lúa gạo” của ĐBSCL chỉ với khoảng 30 huyện, nhưng hiện chiếm hơn 50% sản lượng lúa của vùng. “Thung lũng lúa gạo” này được nhận diện nằm ở Tứ Giác Long Xuyên và lưu vực phù sa sông Tiền, sông Hậu. Phân biệt khu vực trồng lúa “trọng yếu” và “không trọng yếu” dựa trên sự phù hợp về sinh thái nông nghiệp, năng suất, tác động của biến đổi khí hậu.
Điều đáng mừng là Chính phủ vừa trình Quốc hội thông qua điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia. Theo đó, đề nghị cho phép chuyển đổi khoảng 400.000 héc ta đất lúa sang cây trồng, vật nuôi khác phù hợp, hiệu quả hơn cây lúa, nhưng vẫn được bảo vệ để không làm mất các điều kiện phù hợp để khi cần thiết vẫn trồng lúa trở lại. Đó là cách tiếp cận linh hoạt cần thiết.
Hai là, áp dụng phân vùng theo không gian, có chính sách hỗ trợ khác nhau ở vùng lõi, vành đai và các khu vực trồng lúa bình thường khác, có xem xét mục tiêu sản xuất lúa cho an ninh lương thực hay lúa hàng hóa. Tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược xuất khẩu gạo mang tính xã hội và tính thương mại để có chính sách rõ ràng, phân biệt giữa hai mục tiêu, để tăng cường hỗ trợ nhóm thực hiện mục tiêu chính trị - xã hội, giải phóng một phần gánh nặng để tăng lợi nhuận, đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm cho nhóm thương mại. Định hướng lại trọng tâm, chuyển từ các chức năng thương mại sang tập trung vào các mục tiêu xã hội, hàng hóa công và quản trị rủi ro.
Ba là, tiếp tục tăng cường chiến lược đa ngành, lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu như xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, chống suy dinh dưỡng trẻ em... để cùng đảm đương nhiệm vụ an ninh lương thực và chống suy dinh dưỡng chứ không đặt hết gánh nặng lên vai người trồng lúa. 



20 tháng 3, 2016

Chén cơm đã đầy rồi, giờ nên là chén cơm ngon

TT - Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp (ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ) nhận định như vậy và đồng tình ý kiến của GS.TS Võ Tòng Xuân về việc “không nên phát triển cây lúa bằng mọi giá”.

Ông Trần Hữu Hiệp Ảnh: Chí Quốc
Những trận hạn, mặn lịch sử đang xâm thực “vựa lúa quốc gia” buộc chúng ta phải nhận thức lại về vai trò cây lúa, an ninh lương thực (ANLT) và cần một tư duy kinh doanh nông nghiệp thời hội nhập để bước qua dấu chân lấm bùn của nền nông nghiệp lúa nước truyền thống rất đáng tự hào, nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức lớn.
Trong điều kiện hiện nay và chắc chắn sẽ còn lâu hơn nữa, ANLT vẫn là vấn đề mang tính toàn cầu và VN vẫn là quốc gia đóng góp có trách nhiệm cho thế giới. Chúng ta xác định lúa gạo là vấn đề chiến lược và đã có nhiều chính sách tốt. Song, trước thách thức của biến đổi khí hậu, thiên tai và nhân tai buộc chúng ta phải nghĩ đến một “hệ điều hành” mới, sao cho vẫn giữ vững nguyên tắc “2 bảo đảm” - ANLT quốc gia và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa. Về lâu dài, không nên phát triển cây lúa bằng mọi giá, ngăn mặn một cách cứng nhắc mà bỏ qua yếu tố kinh tế: chi phí và lợi ích.
ANLT cần cách tiếp cận mới so với cách tiếp cận một cách cứng nhắc là “đủ gạo ăn” như lâu nay. Lương thực không chỉ có “gạo ăn” mà còn bao gồm cả các loại thực phẩm khác cho nhu cầu dinh dưỡng. Vì vậy, đảm bảo ANLT không chỉ có ngành lúa gạo phải gánh vác mà cần phải tiếp cận đa ngành. Mặt khác, cơ cấu bữa ăn của người Việt cũng đã có bước “dịch chuyển” đáng kể trong vài chục năm qua, từ lượng cơm là chính sang tăng lượng thực phẩm từ trứng, thịt, cá và rau, củ, quả. Lượng gạo tiêu thụ bình quân đầu người trong hộ gia đình VN cũng đã giảm đáng kể.
Thực tế vừa qua các địa phương đều có “chỉ tiêu” sản lượng lúa và việc xem tăng sản lượng lúa như một thành tích của phát triển đã “đẩy” ngành lúa gạo theo hướng tăng trưởng theo chiều rộng, chú trọng số lượng, ít giá trị gia tăng, nông dân lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, tăng lúa vụ 3... để tăng năng suất, sản lượng, làm tăng chi phí đầu vào sản xuất lúa, giảm lợi nhuận, dẫn đến các hệ lụy về môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm và không đảm bảo phát triển bền vững.
ANLT không chỉ là việc đảm bảo an toàn, chắc chắn cho nhu cầu dinh dưỡng của người dân trong mọi tình huống, mà còn phải được tiếp cận về kinh tế, nhu cầu sinh kế của người dân. Vì vậy, nhận thức về ANLT không chỉ dừng lại ở góc độ dinh dưỡng, nhu cầu sinh học mà còn bao gồm cả yếu tố giúp nông dân làm giàu mới đủ sức đảm đương nhiệm vụ của “người lính” trên mặt trận này.
Danh xưng “Vựa lúa quốc gia” dành cho ĐBSCL đã có từ lâu đời, nhưng đã đến lúc cần nhận thức lại. Vựa lúa không phải là mục tiêu ưu tiên mà phải chuyển từ trồng lúa để ăn sang trồng lúa để bán, từ “chén cơm đầy” sang “chén cơm ngon”, thương mại hóa ngành lúa gạo, cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập cư dân nông thôn.

HOÀNG TRÍ DŨNG ghi

6 tháng 3, 2016

Sai số liệu, ‘bóp’ nhỏ thiệt hại

Rất nhiều chuyên gia chỉ ra những điều không bình thường, sai lệch nghiêm trọng trong Báo cáo tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông.
TIN LIÊN QUANBáo Thái Lan lên án gay gắt dự án xây đập của Lào trên dòng MekongĐập thủy điện sông Mekong đe dọa dữ dội an ninh lương thực Việt NamLào mời đoàn thị sát đến Xayaburi
Những phân tích, đánh giá được đưa ra tại Hội thảo khoa học tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông, do Trường ĐH Cần Thơ, Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (ĐH Cần Thơ) phối hợp Trung tâm phát triển sáng tạo xanh - GreenID (Hà Nội) tổ chức ngày 4.3. 

Cá lau kiếng là loài thủy sản quan trọng!?
Theo chuyên gia độc lập Nguyễn Hữu Thiện, MDS cho rằng cá lau kiếng là một trong 10 loài thủy sản quan trọng mang tính chủ lực của ĐBSCL. Thế nhưng, trên thực tế, loại cá này là sinh vật ngoại lai được người dân nhập về để nuôi làm cảnh và rất nguy hại với môi trường tự nhiên.
Theo các chuyên gia, Báo cáo tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông (MDS) là công trình nghiên cứu cấp quốc gia do Bộ TN-MT, Ủy ban sông Mê Kông VN chủ trì thuê tư vấn nước ngoài thực hiện. Tổng kinh phí thực hiện 4,3 triệu USD (tương đương gần 100 tỉ đồng), trong thời gian 30 tháng. Đơn vị thực hiện là Công ty DHI của Đan Mạch và HDR của Mỹ.

Mô hình nghiên cứu như chơi game

GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước, nhận xét: "Ở VN tôi chưa thấy có một công trình nghiên cứu khoa học nào có kinh phí khổng lồ như thế. Chỉ đáng tiếc là chúng ta bỏ ra một số tiền quá lớn mà chất lượng nghiên cứu lại rất kém". Yếu kém, theo GS Trân, ngay từ yếu tố cơ bản, đầu tiên và quan trọng nhất là “mục tiêu nghiên cứu” liên tục thay đổi thứ tự. Điều này thể hiện sự không nghiêm túc trong công tác nghiên cứu khoa học. Phương pháp luận không đầy đủ, một chiều, thiếu tính hệ thống.
Bên cạnh đó, số liệu đầu vào không chính xác dẫn đến sai sót mang tính hệ thống. Những tác động được các chuyên gia thực hiện MDS tính toán chỉ theo thời điểm nhất định mà không theo quá trình tích lũy thời gian... “Trong tài liệu họ dẫn ra những tiêu chuẩn quốc tế trong nghiên cứu khoa học, nhưng trong thực tế thực hiện không làm theo các tiêu chuẩn ban đầu đó. Còn việc sử dụng số liệu không chính xác rồi đem số liệu đó đi chạy mô hình thì chúng ta có thể hình dung nó giống như một trò chơi game trên máy tính vì thiếu việc đối chiếu thực tế. Hiểu biết về ĐBSCL là điểm yếu cơ bản của nhóm nghiên cứu này”, GS Trân kết luận.
Cụ thể hơn, chuyên gia độc lập Nguyễn Hữu Thiện chỉ rõ: MDS nói mũi Cà Mau hiện nay đang vươn ra 20 - 100 m/năm là không đúng với thực tế. Hay kết luận về tổn thất kinh tế tổng cộng 2,2% GDP cho ĐBSCL và 0,3% GDP cả nước, tương đương 85 triệu USD do giảm xuất khẩu gạo... không dựa trên kết quả tính toán cụ thể có tính thuyết phục. Đối với nông nghiệp, MDS chọn đối tượng chính là cây lúa và cây bắp cũng không hợp lý, vì giá trị kinh tế chính ở đây phải là lúa và cây ăn trái. “Báo cáo thiên về đơn giản hóa vấn đề và đánh giá thiếu, thấp các tác động đối với ĐBSCL”, ông Thiện lo lắng.
Nhiều dòng sông ở ĐBSCL đang giảm mực nước trông thấy - Ảnh: Đình Tuyển
Nhiều dòng sông ở ĐBSCL đang giảm mực nước trông thấy - Ảnh: Đình Tuyển


PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (ĐH Cần Thơ), bổ sung: “Số liệu về phù sa của MDS thấp hơn 10 lần so với số liệu được công bố chính thức của Ủy hội sông Mê Kông. Trong phần tính toán của mình, MDS sử dụng bảng số liệu 8 điểm, đến khi đưa lên sơ đồ địa hình ĐBSCL lại ra 11 điểm và kết quả đầu ra đến... 13 điểm. Trong phần đánh giá tác động từ thượng nguồn phía Trung Quốc, MDS chỉ xem xét 6 - 7 đập trong khi Trung Quốc có tổng cộng tới 14 đập và dự án thủy điện”.
TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (ĐH Cần Thơ), nhận xét: “Các kết quả trong báo cáo này nhỏ hơn rất nhiều, nhỏ hơn một cách lạ lùng so với những gì đã nghiên cứu. Ví dụ: Bộ NN-PTNT công bố thiệt hại do hạn - mặn có thể lên đến 340.000 ha, tương đương 1,7 triệu tấn lúa nhưng theo MDS, sản lượng gạo chỉ giảm 500.000 tấn, trong một phần khác thì báo cáo lại nói sản lượng lúa ảnh hưởng không đáng kể”.
“Tự mua đá đập vào đầu mình”
Theo TS Ni, MDS là công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước; nó không chỉ là cơ sở khoa học được dùng để chúng ta đi “nói chuyện” với bạn bè quốc tế mà nó còn là cơ sở pháp lý. “Các bộ ngành sẽ dựa vào nghiên cứu này để lập các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Ở góc độ rộng hơn, giả sử sau này Lào xây dựng các đập thủy điện gây thiệt hại nghiêm trọng đến VN, chúng ta đi kiện thì họ sẽ dựa vào MDS này để chứng minh với thế giới là thủy điện của họ không gây thiệt hại gì đáng kể cho ĐBSCL. Vì MDS - cơ sở khoa học chính thức đã chỉ ra thiệt hại lớn nhất của chúng ta chỉ là 500.000 tấn lúa. Có chăng họ chỉ bồi thường thiệt hại cho mình chừng ấy thôi. Mình tự đặt mình vào thế khó”, TS Ni nói. Còn ông Thiện thì chua chát: “Tôi có cảm giác chúng ta bỏ ra một số tiền rất lớn để mua một cục đá thật to, rồi tự đập vào đầu mình”.
Lý giải về việc MDS đã được Bộ TN-MT nghiệm thu cách đây hơn một tháng nhưng giờ mới hội thảo góp ý, TS Ni bức xúc: “Chúng tôi chủ động tham gia góp ý dự án này ngay từ đầu với tâm thế là những nhà khoa học có am hiểu về ĐBSCL và là một người dân VN sống ở ĐBSCL. Nhưng từ những cái đầu tiên đến những bản báo cáo cuối cùng đều không thấy tiếp thu, chỉnh sửa. Chúng tôi cũng đề nghị Bộ TN-MT, Ủy ban sông Mê Kông VN cho phép chúng tôi gặp nhóm chuyên gia quốc tế để trao đổi thảo luận trực tiếp nhưng đều không được đáp ứng. Họ cũng “bí mật” những nghiên cứu này và những tài liệu mà chúng tôi có đều phải “đi cửa sau”, tận dụng các mối quan hệ mới có được và khi đó cũng là lúc đề tài đã nghiệm thu”.
“Thậm chí, chúng tôi gửi văn bản góp ý cho họ nhưng ròng rã cả 10 tháng trời cũng không thấy hồi âm. Họ chỉ tổ chức 2 lần tham vấn trực tiếp, một lần ở Hà Nội kéo dài 3 tiếng đồng hồ và một lần ở TP.HCM kéo dài 3 tiếng rưỡi. Trong khi đó, tài liệu dày cả ngàn trang họ chỉ gửi cho chúng tôi trước 1 tuần để đọc. Điều quan trọng là trong những dịp đó khi chúng tôi góp ý thì họ không có thái độ cầu thị, tiếp thu”, GS Trân bổ sung và kiến nghị Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội phải yêu cầu Bộ TN-MT giải trình về MDS.
Theo TS Lê Anh Tuấn, nếu MDS này được thông qua thì về lâu dài nó sẽ tác hại vô cùng lớn với ĐBSCL và VN.

Chí Nhân - Đình Tuy

4 tháng 3, 2016

Đồng bằng sông Cửu Long mùa hạn mặn khốc liệt Bài cuối: Liên kết, lồng ghép phát triển

Liên kết, lồng ghép là một trong những giải pháp có tầm nhìn dài hạn giúp Đồng bằng sông Cửu Long phát triển an toàn, trù phú và bền vững trước tác động xấu của thiên tai.
Lường trước và hóa giải những khó khăn sẽ giúp vùng đất này lấy lại thế “thiên thời – địa lợi”. 
* Lồng ghép phát triển
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu – Trường Đại học Cần Thơ, hạn hán năm 2016 không còn mang ý nghĩa là năm hạn về mặt khí tượng nữa.
Năm nay lượng nước cung cấp thấp hơn trung bình nhiều năm đã thể hiện rõ cái “hạn” về nông nghiệp. Khô hạn làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng diễn ra phổ biến.
 Ngoài ra, còn nhiều biểu hiện mang dấu ấn của “năm hạn” như: thiếu nước sinh hoạt ở mức báo động gây ngưng trệ nhiều nguồn sản xuất, sinh kế; nhiều thảm họa thiên tai phải huy động các nguồn lực cứu trợ khẩn cấp. 
Trước tình hình hạn mặn năm nay, lo ngại về việc các vùng canh tác lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị thu hẹp, năng suất và sản lượng sụt giảm đáng kể đã dần hiện hữu.
Tuy nhiên, với nhiều nỗ lực, bước đầu các nhà khoa học nông nghiệp đã lai tạo ra những giống lúa mới có khả năng thích nghi tốt hơn với nước mặn. Nhiều giống lúa có khả năng kháng mặn cao đang được thử nghiệm tại nhiều vùng đất nhiễm mặn khác nhau. 
Nhận thức sớm các nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng lên là việc làm cấp bách để có những chính sách nhằm ứng phó; bao gồm cả giảm thiểu và thích ứng với tình trạng nóng lên toàn cầu ảnh hưởng đến Việt Nam , đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây thực sự là mối đe dọa lớn cho an ninh lương thực và sinh kế của người dân khu vực này.
Theo đó, tại khu vực này cần đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn; xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Việc lồng ghép hay gắn kết, tích hợp các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu có ý nghĩa lớn nhằm đảm bảo tính phát triển bền vững trong việc hoạch định và thực thi kế hoạch.
Việc lồng ghép biến đổi khí hậu phải được thực hiện qua sự phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực và có sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức, ban ngành liên quan, kể cả việc rà soát các thể chế, chính sách hiện tại có phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội dưới điều kiện có biến đổi khí hậu trong tương lai hay không.

* Liên kết phát triển
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, yêu cầu cấp thiết với ngành nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long là phải tăng cường liên kết để đưa ra những cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Tạo được liên kết vùng vững chắc sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí nhất là trong tình hình cấp bách như hiện nay.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, sự phát triển thành công của khu vực này trong thời gian qua là nhờ yếu tố quan trọng là nguồn nước ngọt phù sa màu mỡ của sông Mê Kông chạy qua với trung bình khoảng 120 triệu tấn phù sa. 
Tuy nhiên, việc ngăn đập, kiểm soát lũ chặt chẽ đã làm mất đi bồi đắp phù sa tự nhiên. Diện tích vùng ngập lũ bị thu hẹp, cùng đó là sạt lở bờ sông ngày một tăng.
Đặc biệt, phát triển sản xuất và thâm canh nông nghiệp trong mùa khô đã gây ra bất cập quản lý nước ngọt và nước mặn nơi đây. Cùng đó, việc sử dụng quá mức nước ngầm cũng làm trầm trọng hơn về xâm nhập mặn, sinh kế người dân sống ven biển ngày càng bị tổn thương. 
Xâm nhập mặn, hạn hán, lũ lụt, mất đất nông nghiệp, giảm khả năng sản xuất nông nghiệp và thủy sản, ảnh hưởng sinh kế người dân nông thôn diễn ra ngày càng khốc liệt. Điều này đe dọa an ninh lương thực quốc gia và tiềm năng sản xuất, tiêu thụ nông, lâm, thủy sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai không xa.
Do đó, các cấp cần có sự quan tâm hơn trong đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và sản phẩm nông nghiệp nói riêng trên ba cấp độ, nhằm góp phần tăng cơ hội sinh kế cho người dân, giúp sử dụng tài nguyên hợp lý trước tác động biến đổi khí hậu cũng như thời tiết cực đoan và tái cơ cấu nông nghiệp vùng trong giai đoạn ngắn hoặc trung hạn.
Ở cấp độ 1, đầu tư về giải pháp sinh học là tạo giống cây con thích ứng thời tiết cực đoan, có thị trường tiêu thụ. Ở cấp độ 2, cần thực hiện sâu rộng hệ thống canh tác theo vùng sinh thái gắn chuỗi giá trị ngành hàng. Cấp độ 3 chính là đẩy nhanh đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, thiên tai diễn ra trên địa bàn. 
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Tăng Đức Thắng, Phó giám đốc Viện khoa học thủy lợi Việt Nam, để giải quyết vấn đề hạn hán, xâm nhập mặn trước mặt, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chủ động tạo nguồn nước ngọt, đặc biệt là các vùng khan hiếm nước. 
Các địa phương cần cấp bách xây dựng hồ chứa, ao chứa, đập tạm trên kênh mương để tích trữ nước ngọt bất cứ lúc nào; làm các đập tạm tích nước mưa, nước kênh rạch ngay trong mùa mặn ở vùng ven biển khi độ mặn giảm thấp, nước ngọt xuất hiện. 
Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, ông Nguyễn Phong Quang cho rằng, những nơi nước mặn trực tiếp xâm nhập cần giải quyết vấn đề nước ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho người dân. 
Về lâu dài, Chính phủ Việt Nam cần làm việc với chính phủ các nước có chung dòng Mê Kông về việc ngăn đập làm ảnh hưởng nước ở hạ lưu – ông Quang kiến nghị.
Cùng với đó, đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, các bộ, ngành liên quan cần xem xét nên ngăn đê bao có trọng điểm để phục vụ sản xuất khép kín cho từng khu vực; tránh làm đê bao tràn lan như thời gian qua./.