Chuyển đến nội dung chính

Chén cơm đã đầy rồi, giờ nên là chén cơm ngon

TT - Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp (ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ) nhận định như vậy và đồng tình ý kiến của GS.TS Võ Tòng Xuân về việc “không nên phát triển cây lúa bằng mọi giá”.

Ông Trần Hữu Hiệp Ảnh: Chí Quốc
Những trận hạn, mặn lịch sử đang xâm thực “vựa lúa quốc gia” buộc chúng ta phải nhận thức lại về vai trò cây lúa, an ninh lương thực (ANLT) và cần một tư duy kinh doanh nông nghiệp thời hội nhập để bước qua dấu chân lấm bùn của nền nông nghiệp lúa nước truyền thống rất đáng tự hào, nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức lớn.
Trong điều kiện hiện nay và chắc chắn sẽ còn lâu hơn nữa, ANLT vẫn là vấn đề mang tính toàn cầu và VN vẫn là quốc gia đóng góp có trách nhiệm cho thế giới. Chúng ta xác định lúa gạo là vấn đề chiến lược và đã có nhiều chính sách tốt. Song, trước thách thức của biến đổi khí hậu, thiên tai và nhân tai buộc chúng ta phải nghĩ đến một “hệ điều hành” mới, sao cho vẫn giữ vững nguyên tắc “2 bảo đảm” - ANLT quốc gia và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa. Về lâu dài, không nên phát triển cây lúa bằng mọi giá, ngăn mặn một cách cứng nhắc mà bỏ qua yếu tố kinh tế: chi phí và lợi ích.
ANLT cần cách tiếp cận mới so với cách tiếp cận một cách cứng nhắc là “đủ gạo ăn” như lâu nay. Lương thực không chỉ có “gạo ăn” mà còn bao gồm cả các loại thực phẩm khác cho nhu cầu dinh dưỡng. Vì vậy, đảm bảo ANLT không chỉ có ngành lúa gạo phải gánh vác mà cần phải tiếp cận đa ngành. Mặt khác, cơ cấu bữa ăn của người Việt cũng đã có bước “dịch chuyển” đáng kể trong vài chục năm qua, từ lượng cơm là chính sang tăng lượng thực phẩm từ trứng, thịt, cá và rau, củ, quả. Lượng gạo tiêu thụ bình quân đầu người trong hộ gia đình VN cũng đã giảm đáng kể.
Thực tế vừa qua các địa phương đều có “chỉ tiêu” sản lượng lúa và việc xem tăng sản lượng lúa như một thành tích của phát triển đã “đẩy” ngành lúa gạo theo hướng tăng trưởng theo chiều rộng, chú trọng số lượng, ít giá trị gia tăng, nông dân lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, tăng lúa vụ 3... để tăng năng suất, sản lượng, làm tăng chi phí đầu vào sản xuất lúa, giảm lợi nhuận, dẫn đến các hệ lụy về môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm và không đảm bảo phát triển bền vững.
ANLT không chỉ là việc đảm bảo an toàn, chắc chắn cho nhu cầu dinh dưỡng của người dân trong mọi tình huống, mà còn phải được tiếp cận về kinh tế, nhu cầu sinh kế của người dân. Vì vậy, nhận thức về ANLT không chỉ dừng lại ở góc độ dinh dưỡng, nhu cầu sinh học mà còn bao gồm cả yếu tố giúp nông dân làm giàu mới đủ sức đảm đương nhiệm vụ của “người lính” trên mặt trận này.
Danh xưng “Vựa lúa quốc gia” dành cho ĐBSCL đã có từ lâu đời, nhưng đã đến lúc cần nhận thức lại. Vựa lúa không phải là mục tiêu ưu tiên mà phải chuyển từ trồng lúa để ăn sang trồng lúa để bán, từ “chén cơm đầy” sang “chén cơm ngon”, thương mại hóa ngành lúa gạo, cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập cư dân nông thôn.

HOÀNG TRÍ DŨNG ghi

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...