30 tháng 9, 2013

PHÓ CHỦ TỊCH QH NGUYỄN THỊ KIM NGÂN: Việt Nam có một luật rất lạ mà thế giới chưa có...

(LĐO) - Thứ bảy 21/09/2013 07:20
P.T. (Báo Lao Động)
    Việt Nam có một luật rất lạ mà thế giới chưa có...
    Phát biểu tại phiên họp sáng 20.9 về kết quả triển khai thi hành các luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII thông qua, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân bình luận: “Ở VN có một luật rất hay, rất lạ mà thế giới chưa có là luật phổ biến giáo dục pháp luật. Có nghĩa, luật ban hành ra rồi vẫn không làm, đến khi ra thêm luật phổ biến giáo dục pháp luật cũng... chưa làm”.

    Nhiều đại biểu đã “giật mình” sau khi nghe báo cáo về tình trạng yếu kém trong ban hành văn bản hướng dẫn luật.
    Bộ nào cũng “nợ”
    Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, tình trạng nợ đọng các văn bản luật vẫn rất phổ biến. Nếu năm 2001 có 60 văn bản nợ, năm 2002 là 80, năm 2003 là 50, năm 2006 vọt lên 165 văn bản do quá trình gia nhập WTO, 2007 còn 52, 2010 nợ 45, năm 2011 có 58 văn bản thì đến thời điểm hiện tại của năm 2013 là nợ 93 văn bản. 

    Trong đó, bộ nợ nhiều văn bản chi tiết luật nhất là Bộ Lao động-Thương binh Xã hội với 28/42 văn bản. Bộ Giáo dục-Đào tạo về nhì khi còn nợ 14/15 văn bản (mới ban hành được 1 văn bản). Bộ Tài chính nợ 12/19 văn bản và cá biệt, Bộ Công Thương phải ban hành 10 văn bản thì nợ cả 10/10, trong đó có Luật Điện lực.   

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng bức xúc: “Hết nhiệm kỳ nào cũng báo cáo rất tiến bộ, làm tốt cả, giờ mới thấy hóa ra không phải thế. Lâu nay cứ tưởng thế, nhưng giờ nhìn lại là đủ ớn”. Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu phải quy trách nhiệm cho rõ địa chỉ, như trách nhiệm của người trình, người thẩm tra, người đề nghị và cả trách nhiệm của đại biểu và người thông qua để tăng cường quy trình làm luật.
    Toàn thạc sĩ, tiến sĩ luật mà tính thực tế của luật vẫn hạn chế
    Ủy viên Thường vụ Quốc hội Phùng Quốc Hiển dẫn báo cáo của Chính phủ cho biết, có  55,6% các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực nhưng chưa có quy định nội dung chi tiết, tức chỉ có 44% luật có đủ điều kiện triển khai. 

    Tuy nhiên, tỉ lệ nợ đọng văn bản quy định chi tiết pháp luật theo báo cáo thanh tra của UB Pháp luật Quốc hội còn lên đến gần 67%. Đáng chú ý là trong số các văn bản chưa được ban hành thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì có đến 46 văn bản quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính và 10 văn bản quy định chi tiết Bộ luật Lao động (sửa đổi), mà đây lại là hai trong số văn bản luật có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội.  

    Ông Hiển lý giải điều này có nghĩa luật hiệu lực thì có, nhưng không được thực hiện đúng thời điểm. “Riêng về số lượng đã là đáng quan ngại, chứ chưa nói về chất lượng” – ông nhận định. 

    Ông dẫn ra nguyên nhân là do chất lượng xây dựng luật chưa tốt, còn tình trạng luật khung, luật ống hay luật chờ nghị định thông tin, luật khẩu hiệu (luật nghị quyết). Ông Hiển cho rằng mấu chốt vấn đề là “ý thức trách nhiệm, sự cương quyết tổ chức thực hiện chưa tốt”.

    Ông Ksor Phước - Chủ tịch  Hội đồng Dân tộc Quốc hội - bày tỏ sự thông cảm với Chính phủ, bởi cán bộ nguồn nhân lực chưa tương xứng. Ông băn khoăn: “Vụ pháp chế của các bộ gồm toàn cử nhân luật, thậm chí thạc sĩ và tiến sĩ luật cũng rất nhiều, nhưng không hiểu sao tri thức thực tiễn để xây dựng luật vẫn hạn chế”. 

    Ông cho rằng cần phải có cách mạng cải cách về cách làm và hoạt động của các vụ pháp chế để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Đó là chưa kể “cùng một bộ mà thứ trưởng này phát biểu thế này, thứ trưởng khác nói khác”.

    Luật vừa ban hành đã... kịp lạc hậu
    Ông Ksor Phước cho biết khi ông đi giám sát, vấn đề bị kêu nhiều nhất là văn bản dưới luật để hướng dẫn rất chậm, mà nội dung thì khó hiểu. Khi ra được luật thì thực tiễn đã vượt qua luật rồi. 

    “Khi luật được ban hành, Chủ tịch Quốc hội đã ký, Chủ tịch Nước công bố thì bản thân luật đã lạc hậu. Nhưng nghị định và văn bản hướng dẫn lại còn chậm hơn, nên ra đời xong thì đã phải sửa lại luật. Có những luật từ khi ban hành cho đến khi chưa có hiệu lực đã phải bổ sung, sửa đổi” - ông nói.

    Bà Nguyễn Thị Nương - Trưởng ban Công tác đại biểu QH - “giật mình” trước thực tế triển khai văn bản quy định chi tiết luật “rất yếu”. 

    Một lý do thường được nêu ra để lý giải cho tình trạng này là do nguồn lực hạn chế. Song bà Nương cho rằng, nếu cứ mãi phân tích và kêu ca về nguồn lực theo hướng này thì “còn lâu nữa mới khắc phục được”. Bà Nguyễn Thị Nương đề nghị UB Pháp luật báo cáo kinh phí xây dựng luật từ đầu nhiệm kỳ đến nay là bao nhiêu, trong đó chi bao nhiêu cho việc triển khai thực thi các văn bản chi tiết và triển khai luật xuống cuộc sống để các đại biểu Quốc hội đánh giá.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nói: “Ở VN có một luật rất hay, rất lạ mà thế giới chưa có là Luật Phổ biến giáo dục pháp luật. Có nghĩa, luật ra rồi vẫn không làm, đến khi phải ban hành thêm Luật Phổ biến giáo dục pháp luật cũng... chưa làm”. 

    Bà Kim Ngân tóm tắt 5 nguyên nhân chủ yếu là do: “Nợ; chậm tiến độ; chưa nghiêm túc; chất lượng kém và nội dung chưa phù hợp”. Bà cho biết, bình quân một luật có 6-7 văn bản luật mới thực hiện được.

    Liên quan đến kiến nghị của Chính phủ về việc “Nâng cao nhận thức bộ ngành, địa phương và đề cao trách nhiệm cá nhân của bộ trưởng”, bà Kim Ngân cho rằng “các bộ, ngành, địa phương mà còn không có nhận thức về thi hành pháp luật thì yếu quá”. 

    “Đây là bộ phận tinh túy xã hội, phải lựa chọn để tìm được người vào bộ máy chính trị mà còn phải đi nâng cao năng lực cho họ thì không hiểu ra sao” - Phó Chủ tịch Quốc hội đặt câu hỏi. Theo bà, vấn đề phải là kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm và cách xử lý như thế nào. 

    “Trong thực tế, chúng ta chưa từng xử lý một bộ, ngành nào chưa nghiêm túc triển khai thực hành pháp luật, thì giờ ta phải siết chặt kỷ luật, chứ không phải là nâng cao nhận thức cho họ nữa” - bà nhấn mạnh.
    Cuộc sống của người dân vùng đầu nguồn khó khăn khi lũ nhỏ.
    Trần Lưu

      Hắt hiu mùa lũKhi những dòng phù sa ngầu đục từ thượng nguồn Campuchia đổ về cũng là lúc người dân vùng ĐBSCL tất bật đón mùa nước nổi. Năm nay, nước lũ tuy cao hơn so với cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn ở mức thấp. Các sản vật mùa lũ ít hẳn, khiến cuộc mưu sinh của người dân vùng đầu nguồn khó khăn...
      Chòng chành con nước...
      Đã bước sang những ngày cuối tháng tám âm lịch, nhưng mực nước lũ tại vùng đầu nguồn 2 tỉnh An Giang, Đồng Tháp vẫn thấp hơn so với nhiều năm trước. Đăm chiêu nhìn ra phía bờ sông, ông Nguyễn Văn Năm (ấp Phú Lợi, xã Phú Hữu, huyện An Phú, An Giang) cho biết: Mùa lũ năm nay, ông đã chuẩn bị 200 chiếc lộp để đặt tôm, nhưng những ngày qua nước lũ về thấp, tôm càng xanh ít đi, mỗi ngày đánh bắt được khoảng 20 con, chỉ bằng 1/3 năm rồi. “Lặn ngụp từ 7h đến 2-3h chiều, trừ hết chi phí chỉ kiếm được 50.000 - 60.000 đồng”  - ông Năm thở dài ngao ngán.
      Rời huyện An Phú, chúng tôi đến 2 huyện Thanh Bình, Hồng Ngự rồi qua Tân Hồng (đều thuộc tỉnh Đồng Tháp). Loay hoay bên mớ lưới, lão nông Trần Thanh Sang (xã Tân Phước, Tân Hồng) bộc bạch: “Năm nay lũ nhỏ quá, chắc cư dân vùng lũ phải bỏ đi xứ khác mần ăn!”.

      Câu nói của ông Sang làm tôi nhớ đến lần ghé huyện Lai Vung (Đồng Tháp): Chị Lê Kim Lan - chủ cơ sở đóng xuồng ở ấp Long Hưng 2 (xã Long Hậu) - kể chuyện với giọng buồn buồn: “Năm 2011 lũ lớn, xuồng - ghe bán chạy nên năm rồi gia đình tui vay ngân hàng hơn 50 triệu đồng để mua cây, thuê nhân công đóng xuồng, hy vọng sẽ có thêm một mùa bội thu. Ai ngờ lũ nhỏ, chỉ vài thương lái tới đặt hàng, xuồng không bán chạy. Đến giờ nợ vẫn chưa trả hết!”.

      Chị Lan không phải là “nạn nhân” cá biệt của một mùa lũ... “không đẹp”. Sau mùa lũ năm 2012, nhiều cơ sở đóng ghe, xuồng nhỏ lẻ ở xã Long Hậu lâm vào cảnh nợ nần do không bán được xuồng hoặc phải bán với giá rất thấp.

      Những người có điều kiện đang cố bám trụ bên “cái bào, cây đục”, mong lũ năm nay sẽ “đẹp” để việc làm ăn khấm khá hơn. Nhìn những chiếc xuồng đang “ngoắc ngoải” chờ thương lái, những ngày qua chị Lan thấp thỏm theo dõi từng con nước đổ về...
      Đâu rồi “lũ đẹp”?
      Trước đây, mùa nước nổi ở vùng ĐBSCL luôn mang về nguồn lợi thủy sản; bồi đắp phù sa cho đất đai, ruộng vườn... Nói đến lũ, người ta nghĩ ngay đến một mùa người dân được hưởng bao thứ quý giá do thiên nhiên ban tặng. Nhưng rồi bắt đầu có những năm xuất hiện “lũ không đẹp”...
       
      Cá linh  - đặc sản mùa lũ  - ngày càng khan hiếm.
      Trước ngày miền Nam được giải phóng, nông dân ở đây chỉ trồng 1 vụ lúa/năm - gọi là lúa mùa. Đến khi gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu, nông dân trồng 2 rồi 3 vụ lúa/năm; kèm theo đó là xây dựng “đê bao ngăn lũ”, “đê bao an toàn”, “đê bao ăn chắc”.

      Có người ví dụ rằng: Một vùng đất có diện tích 1 triệu mét vuông, nước lũ dâng cao 2 mét. Khi xây dựng “đê bao khép kín” một nửa diện tích, nước lũ dồn sang phần đất còn lại và sẽ cao gấp đôi. Sự “thất thường” đó đâu phải do thiên nhiên?

      Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho biết, chúng ta đã có những nỗ lực rất lớn trong việc giúp người dân an cư tại các cụm - tuyến dân cư vượt lũ. Tuy nhiên, bất cập nhất hiện nay là vấn đề an sinh. Người dân không muốn rời xa nơi ở cũ do sợ bị thất nghiệp vì hầu hết bà con đều mưu sinh trên sông nước. Do vậy, ngành hữu quan cần có sự hoạch định để phân biệt ai “sống chung” và ai “không sống chung” với lũ, để từ đó có hướng giải quyết thỏa đáng.
      Những năm gần đây, lũ ở vùng ĐBSCL diễn biến thất thường, đã có không ít cảnh báo về chuyện sẽ  “thiếu lũ” trong thời gian tới. Ngay cả khi có một mùa “lũ đẹp” theo đúng cái nghĩa mong đợi của người dân, nguồn lợi thủy sản cũng đang giảm sút. Vậy có nên xem mùa lũ là mùa làm ăn chính trong năm hay chỉ là mùa “kiếm thêm” của cư dân vùng lũ?

      “Đó chỉ là vấn đề mang tính cục bộ, chúng ta nên có cái nhìn thoát ra khỏi tầm khu vực, điển hình là xem xét những tác động của con người đến dòng Mêkông thượng nguồn - nơi sản sinh nguồn lũ. Có như vậy mới mong những mùa “lũ đẹp” sẽ lại về” - thạc sĩ Trần Hữu Hiệp cho biết thêm.

      29 tháng 9, 2013

      Khi người lớn không làm gương về sự trung thực


      Lê Thanh Phong (Báo Lao Động)




      Một thông tin không phải quá bất ngờ, dù biết vậy nhưng buồn đến nát lòng. Con cái chúng ta nói dối cha mẹ đến nước này thì còn gì đạo lý?
      Khi người lớn không làm gương về sự trung thựcTỉ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp TH là 22%, cấp THCS là 50%, cấp THPT là 64%, sinh viên là 80% - GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hoá học lý luận và ứng dụng (Đại học Quốc gia TPHCM) - cho biết như vậy tại hội thảo “Thực trạng văn hoá học đường và nhu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học” diễn ra tại Đà Lạt ngày 24.9 vừa qua.

      Đây không phải là con số đoán mò mà là kết quả từ công trình điều tra xã hội học. Cho nên sau khi thông tin này được công bố, nhiều ý kiến ở các diễn đàn cho rằng đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, cần phải nỗ lực để cứu lấy nhân cách con cái chúng ta và đó cũng là cứu lấy xã hội này.

      Có quá nhiều mỹ từ để ca ngợi về xây dựng con người trong thời đại ngày nay. Nào là lớn lên dưới mái trường này, mái trường kia, nhưng rồi học sinh nói dối cha mẹ tăng theo cấp học như vậy đó. Với cha mẹ mà còn nói dối, thì còn chỗ nào nữa để trung thực.

      Phải trả lời được câu hỏi vì sao con cái chúng ta nói dối kinh khủng như vậy? Việc này cũng cần đến những nghiên cứu của các nhà khoa học, nhưng có thể thấy ngay một điều, lỗi là ở người lớn. Sự trung thực ở người lớn quá hiếm hoi và thay vào đó quá nhiều dối trá.

      Tuy ở lứa tuổi học sinh, nhưng các em hiểu được những gì mà người lớn làm, đúng hay sai, trung thực hay giả dối.

      Người lớn đó có thể là cha mẹ hay những chân dung khác trong cộng đồng xã hội. Những quan chức tham nhũng, phá hoại là những chân dung điển hình của dối trá, gian lận, đạo đức giả. Các em gặp nhiều những gương mặt như vậy trên các phương tiện truyền thông.

      Thế giới ngày càng rộng mở về thông tin, có những kiến thức các em được học đôi lúc lại không giống như những điều mà các em khám phá. Vậy sự thật nằm ở đâu, sự hoài nghi và nhu cầu tìm kiếm sự thật dẫn đến việc phát hiện ra sự dối trá. Hậu quả của nó thật khôn lường.

      Mà có phải các em nói dối đâu nhỉ? Nếu như làm cuộc điều tra xã hội học đối với người “sau sinh viên”, có lẽ tỉ lệ nói dối còn cao hơn sinh viên. Ví dụ vài chuyện thôi, 99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ (?), Đồ Sơn không có gái mại dâm(?) và nhiều con số khác nữa.

      Đến mức, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan phải thốt lên: “Tôi không dám tin số liệu thống kê”. Còn Trưởng ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ thì hoài nghi báo cáo tăng trưởng rằng: “GDP các tỉnh tăng mạnh mà cả nước chỉ 5,5%, không biết GDP chạy đi đâu?”.

      Người lớn mà không trung thực thì làm sao con trẻ không nói dối!

      27 tháng 9, 2013

      Thư viện VideoClip: Kiểm tra công tác chuẩn bị MDEC-Vĩnh Long 2013 - THVL1

      Ai lãng phí nhất?

      Trần Hiệp Thuỷ
      Lãng phí  được hiểu là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, thời gian, lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả. Nhiều ý kiến cho rằng, các công trình đầu tư công đang gây thất thoát, lãng phí từ 20 - 30%. Nhưng bức xúc hơn, có những công trình như chợ xây xong không ai vào mua bán, cầu hoàn thành không có đường đi, kênh mương thuỷ lợi làm cho có... thì lãng phí đến 100%. Trả lời Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng về dự án Luật Đầu tư công, Bộ trưởng Bộ KHĐT Bùi Quang Vinh khẳng định: "Lãng phí nhất, thất thoát nhất chính là chủ trương đầu tư”.
      Hỏi ai có quyền ra chủ trương đầu tư công? Là chủ tịch tỉnh, bộ trưởng, thủ tưởng cơ quan ngang bộ... Việc phê duyệt chủ trương, quyết định đầu tư tràn lan, dàn trải, không tính đến khả năng cân đối vốn, dẫn đến thi công kéo dài, nợ đọng xây dựng cơ bản, gây lãng phí. Tình trạng trên còn được “tiếp tay” bởi cơ chế “ứng trước vốn kế hoạch”, “địa phương xây dựng công trình trước, trung ương trả vốn sau”. Người ra chủ trương đầu tư sai, không hiệu quả, không dùng được là người lãng phí nhất. 
      Nguyên nhân của tình trạng này được nhận diện là do thiếu “cơ chế giám sát tốt và chế tài trách nhiệm” rõ ràng. Theo Bộ trưởng KHĐT, nếu Luật Đầu tư công được ban hành theo hướng siết chặt lại chủ trương đầu tư, quy trình, thẩm định, phê duyệt... chắc chắn sẽ “phanh” lại được vấn nạn đầu tư tràn lan, gây lãng phí. Một đạo luật về đầu tư công là cần thiết, nhưng nó không phải là “đũa thần”; càng ít tác dụng khi nó chỉ là “những nguyên tắc chung chung”. Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng đã qui định trách nhiệm của người quyết định đầu tư, nghiêm cấm việc bố trí dàn trải vốn, gây nợ đọng khối lượng xây dựng, qui trách nhiệm của người có liên quan trong việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án đầu tư vi phạm, gây lãng phí thì phải bị xử lý kỷ luật.
      Nhưng vẫn khó xử lý người quyết định đầu tư sai. Cũng đã có nhiều đạo luật rất hay, nhiều qui định ban hành ra để đó, dùng được rất ít như Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Thậm chí, Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật, nhiều qui định hay cũng bị lờ đi. Đó là qui định cơ quan trình dự án luật phải chuẩn bị dự thảo nghị định, trình dự thảo nghị định phải có dự thảo thông tư... để văn bản pháp luật nhanh chóng đi vào cuộc sống. Nhưng cuộc sống vẫn phải chờ luật, “nợ đọng văn bản” vẫn gây bức xúc.
      Để không tiếp tục lãng phí đầu tư công, cần một đạo luật tốt, nhưng cần hơn và thực hiện nghiêm pháp luật ngay từ khi Luật Đầu tư công chưa ra đời.

      Sức bật cho Phú Quốc vươn tầm: Cần chiếc áo hoàn toàn mới cho hòn đảo ngọc ngà này

                                                                                                      Huy Bình - Hiệp Thủy
      Hội thảo khoa học “Xây dựng Khu hành chính - kinh tế đặc biệt Phú Quốc” (gọi tắt là đặc khu – ĐK) diễn ra đầu tuần qua ngay tại Phú Quốc, đã xới lên nhiều suy nghĩ cho các nhà chiến lược phát triển, về tương lai hòn đảo ngọc ngà này - vốn có diện tích “nhỉnh” hơn hẳn quốc đảo Singapore - đang khát một cơ chế đầu tư để tự đánh thức.
      Một góc Phú Quốc

      Thời gian qua, Chính phủ đã dành nhiều ưu tiên cho Phú Quốc. Hàng ngàn tỷ đồng đã được đổ vào hòn đảo lớn nhất và đẹp nhất Việt Nam này. Kinh tế Phú Quốc hiện đạt mức tăng trưởng 22%, có sân bay hiện đại hơn và tần suất bay cũng cao hơn sân bay quốc tế Cần Thơ – “thủ phủ” miền Tây…

      Đặc khu Phú Quốc, hay tỉnh Phú Quốc?
      Tuy nhiên, theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng vụ Kinh tế trực thuộc Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, thì “Nhiều mỹ từ trong Quyết định 178 của Chính phủ ban hành tháng ngày 5/10/2004 về Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc đến năm 2020, đã được đưa ra, nhưng rất tiếc, không thể dùng làm “đũa thần” đưa Phú Quốc sánh vai với Jeju (Hàn Quốc), Phuket (Thái Lan), hay Bali (Indonesia)… Càng không thể hình thành một ĐK Phú Quốc theo kiểu lập ra “tỉnh thứ 64” của Việt Nam. Tất cả các cơ chế chính sách hiện có không thể biến Phú Quốc trở nên xứng tầm với những gì nó đang sở hữu.
      Thực trạng hiện nay của Phú Quốc, đầu tư thì chưa thấy rõ, nhưng đầu cơ thì đã thấy rõ rồi, là suy nghĩ của nhiều người dân ở thị trấn Dương Đông, khi nhóm tác giả thực hiện bài viết này tiếp xúc. Trường hợp Bãi Trường là một ví dụ. Trước đây chỉ có một Khu du lịch tư nhân Ngàn Sao (Thousand Star resort), làm hàng trăm cái tum trên bờ rồi nghiễm nhiên lấn xuống bãi biển như của riêng mình. Nay hàng trăm mảnh đất chạy theo Bãi Trường của tư nhân “băm” nát bờ biển bằng hàng rào lấn chiếm, lại cấm du khách mon men bãi cát sát mép nước… Tình hình đó khiến vị giáo sư già Nguyễn Ngọc Trân, một chuyên gia kỳ cựu về biến đổi khí hậu - phải thốt lên là “Phú Quốc lo”. Ông tỉ mỉ tìm đến nhiều góc trên đảo để ghi nhận, chụp ảnh và gửi phản ảnh của mình cho báo chí.

      Một vấn đề khác của Phú Quốc hiện nay là điện thế nào, kéo cáp ra sao? Nước sinh hoạt thì nguồn nước ngọt tại chỗ là hữu hạn; từ Bắc đến Nam đảo phát triển thế nào để không phá vỡ cảnh quan, những nét tự nhiên chỉ Phú Quốc mới có. Dù được quan tâm của Chính phủ với nhiều cơ chế đặc thù (Quyết định 178/2004/QĐ-TTg), song nhìn chung tốc độ phát triển của huyện đảo vẫn chậm. Vẫn chỉ là làng chài nghèo, những CSSX nước mắm, đồ trang sức, mỹ nghệ truyền thống nhỏ lẻ, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội lạc hậu. Các chính sách hiện hành chưa đủ để tạo ra bước đột phá trong phát triển huyện đảo. Do vậy, việc nghiên cứu xây dựng cơ chế quản lý và chính sách đặc thù áp dụng cho đảo Phú Quốc là rất bức thiết.
      PGS.TS Nguyễn Minh Phương, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước Bộ Nội vụ, cho biết: Việc nghiên cứu thành lập ĐK Phú Quốc trực thuộc TƯ không chỉ cần thiết đối với sự phát triển KT-XH của Phú Quốc hoặc tỉnh Kiên Giang, mà còn có ý nghĩa quan trọng góp phần cung cấp luận cứ khoa học để thiết lập chính quyền địa phương theo yêu cầu Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng “Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo”.

      Phú Quốc chưa phát triển được: Do thể chế?
      TS. Trần Du Lịch nói: “Phú Quốc chưa phát triển được là do thể chế. Nếu có thể chế tốt, không sợ thiếu tiền để đầu tư phát triển huyện đảo. Trước mắt cần tháo gỡ cái vướng lớn nhất của đảo là tình trạng đầu cơ đất; giá đất ở đây đang thoát ly rất xa giá trị thực tế của nó. Không triệt đầu cơ đất, Phú Quốc không phát triển được”. TS Trần Du Lịch còn dẫn chứng một nghịch lý khác ở huyện đảo là, chi phí điện chiếm rất cao trong hoạt động SXKD, đơn cử chi phí điện chiếm 20% tổng chi phí hoạt động của khách sạn. Vấn đề bức thiết khác là Phú Quốc đang lãng phí tài nguyên nước ngầm khá lớn. Để giải quyết khó khăn trước mắt, trong thời gian chờ Đề án được phê duyệt, TƯ cần cho đảo ứng kinh phí mua lại đất, đầu tư hạ tầng và đưa ra giá cạnh tranh, tránh tình trạng “loạn” giá như hiện nay; hỗ trợ Phú Quốc đầu tư các công trình, dự án hạ tầng thiết yếu...
      Theo dự thảo Đề án xây dựng ĐK Phú Quốc, xây dựng “Phú Quốc trở thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, trung tâm công nghệ, tài chính, thương mại, giải trí, giao thương quốc tế hiện đại của cả nước và quốc tế…”. PGS.TS Nguyễn Minh Phương cho rằng với mục tiêu này, dự thảo Đề án cần làm rõ hơn các tiềm năng, lợi thế để đảo Phú Quốc phát triển thành đặc khu hành chính - kinh tế trực thuộc TƯ. Tính đến khả năng thu hút đầu tư, cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế; các tác động ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội khi thành lập đặc khu.
       “Đặc khu hành chính” là mô hình đã được các nhà khoa học, nhà quản lý đề xuất từ nhiều năm qua, nhưng chưa thể thí điểm. Do vậy, việc xây dựng đề án này vừa là cơ hội, vừa là thách thức trong bối cảnh các phương án khác nhau về chính quyền địa phương được đề xuất trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung đều có quy định: “Việc thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, đơn vị hành chính ở hải đảo do luật định”. TS. Nguyễn Xuân Cường, Phó trưởng Ban kinh tế TƯ cho rằng, Đề án đưa ra mô hình hành chính đặc biệt khá mới mẻ, nước ta chưa có tiền lệ. Do vậy, ban soạn thảo đề án cần nghiên cứu sâu hơn mô hình kinh tế đặc thù của các quốc gia đã thành công (Trung Quốc, Hàn Quốc). Đã xác định là ĐK thì quy hoạch phải mang tầm quốc tế. Bởi năm 2015, các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực sẽ tác động mạnh đến sự phát triển của nước ta, nên cần quy hoạch phù hợp, tính đến tính thời đại, khả thi, hấp dẫn. Yêu cầu của ĐK là các thiết chế hoạt động phải đạt công nghệ cao, đời sống ở mức cao nhất, môi trường ở mức sạch cao nhất… Cần làm rõ nội hàm đặc khu hành chính trực thuộc TƯ.
      Theo TS.Trần Du Lịch, khi xây dựng ĐK phải hiểu là xây dựng “quốc gia trong quốc gia”, ở đó thậm chí áp dụng hệ thống pháp luật riêng. Đây là triết lý phát triển khi xây dựng ĐK. Vấn đề ĐK Phú Quốc đã bàn nhiều năm nay, nhưng chưa làm được, nếu chấp nhận như thế thì mô hình mới phát triển được. Dường như trong đề án chưa đề cập rõ nội dung này, mà chỉ cố gắng tạo ra một số chính sách đặc thù so với mặt bằng thể chế và chính sách hiện hành của chúng ta. ”Muốn cạnh tranh, phải so sánh với bên ngoài, không nên so ta với ta!”. TS Trần Du Lịch nhấn mạnh. Ông cũng cho rằng, xây dựng mô hình tổ chức chính chính quyền ĐK trực thuộc TƯ, nhưng chính quyền phải là 1 cấp, thực hiện vai trò tự chủ. Chính quyền ĐK có tư cách pháp nhân, nhưng cần làm rõ là một “pháp nhân công quyền”, tuy có các đặc điểm về pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự, nhưng khác với các pháp nhân dân sự, vì thực thi một phần quyền lực của nhà nước. Đây là điểm đột phá về địa vị pháp lý của chính quyền địa phương nhằm đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương. Cần làm rõ 4 lĩnh vực của chính quyền ĐK: thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tài chính công; bộ máy tổ chức và nhân sự; quản lý nhà nước phải phân định rõ phần việc nào của TƯ, phần nào của chính quyền ĐK để tăng tính chịu trách nhiệm, tự chủ, xóa cơ chế xin cho.

      Phú Quốc phải “lột xác” để nắm bắt cơ hội!
      Các chuyên gia đồng tình rằng, cần thể chế riêng cho ĐK hành chính, thoát khỏi cơ chế ràng buộc cũ; bởi có như vậy, Phú Quốc mới phát triển toàn diện. Vấn đề là cần rà soát lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để xây dựng thể chế phù hợp. Đồng thời, phải tính đến cơ chế thu hút các ngành công nghệ đặc thù, công nghệ cao; nguồn nhân lực cho sự phát triển. Chia sẻ về vấn đề này, PGS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Cần Thơ cho biết: “Con người là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của mô hình chính quyền ĐK. Trường ĐHCT sẽ đồng hành cùng Phú Quốc trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển mới”…
      Cơ chế, mô hình hiện nay (theo QĐ 174) không còn phù hợp để phát triển Phú Quốc. Trong 10 năm qua, tổng mức đầu tư cho huyện đảo trên 15.000 tỷ đồng, nhưng không đủ để làm bàn đạp cho Phú Quốc phát triển, vì CSHT vẫn còn lạc hậu, nghèo nàn. Phú Quốc ngoài tiềm năng kinh tế biển, du lịch… còn có vị trí đặc biệt về an ninh quốc phòng trên biển Tây; và nếu được đầu tư tốt, không chỉ phát triển cho Kiên Giang mà cho toàn vùng ĐBSCL và cả nước. Tuy nhiên, “Cơ chế, chính sách để phát triển Phú Quốc là vấn đề trăn trở của địa phương. Hiện đa phần diện tích trên đảo được quy hoạch phát triển du lịch, để tạo nguồn thu cho huyện, nhưng phần lớn là đất nông nghiệp!”. Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang Nguyễn Thanh Sơn băn khoăn.
      “Phú Quốc nhiều tiềm năng, nhưng chưa phát huy được hết, và cần có bộ cơ chế, chính sách đặc biệt: đột phá trong tổ chức cấp chính quyền, thống nhất thể chế hoạt động!”. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, nhấn mạnh như vậy, và khuyến nghị tỉnh Kiên Giang cần chủ động phối hợp cùng Tổ công tác nghiên cứu các đóng góp của các nhà khoa học và đề xuất cơ chế.
      Huyện đảo Phú Quốc có tổng diện tích tự nhiên 59.305ha, gồm 27 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong Vịnh Thái Lan, trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc (diện tích 56.700ha). Phú Quốc có diện tích mặt giáp biển với các nước ASEAN, rất gần với các trung tâm du lịch phát triển và công nghiệp như: Thái Lan, Malaysia, Singapore


      Ai quản “đầu vào” nông sản?

      Trần Hiệp Thuỷ
      Uỷ ban Thương mại Hoa Kỳ vừa ra phán quyết không áp thuế chống trợ cấp tôm Việt Nam nhập khẩu vào nước này, “cởi trói” cho con tôm Việt khỏi quyết định bất công của Bộ Thương mại Mỹ.
      Xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường nông sản (NS), tránh phụ thuộc vào những áp đặt của các quốc gia nhập khẩu là việc làm căn cơ, lâu dài để giải quyết “đầu ra”. Nhưng “làm sạch” “đầu vào” cho sản xuất các loại NS hiện nay cũng đang là đòi hỏi cấp bách. Nạn phân bón giả, vật tư nông nghiệp (NN) kém chất lượng hoành hành gây bức xúc lớn, đang rất cần một cơ chế quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn.
      Hội thảo về thị trường phân bón tổ chức tại TPHCM gần đây, nhiều ý kiến bức xúc trước nạn sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng. Các vụ vi phạm quy mô lớn hơn, xảy ra ở nhiều địa bàn, có nhiều đối tượng tham gia. Theo qui định, việc sản xuất các mặt hàng này là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Đơn vị sản xuất phải trải qua hàng chục thủ tục hành chính như xin giấy phép, khảo nghiệm, nghiệm thu, điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực, hệ thống quản lý chất lượng..., nhưng gần như khâu phân phối, lưu thông bán hàng đến người tiêu dùng bị buông lỏng. Nông dân dùng phân gì, loại thuốc bảo vệ thực vật hay chăn nuôi thú y nào, không phải theo “kê toa” của kỹ sư NN hay bác sĩ thú y mà theo hướng dẫn của chủ cửa hàng vật tư NN kiêm chủ nợ cung hàng đầu vụ, thu tiền cuối vụ.
      Thực trạng đó được nhận diện là do thiếu cơ chế quản lý hiệu quả. Quy định xử phạt hiện hành đối với hành vi sản xuất, mua bán phân bón, vật tư NN, thuốc thú y chăn nuôi, thuỷ sản giả, kém chất lượng đã trở thành “chiếc áo pháp lý” quá chật. Để “may chiếc áo mới” cần có quy định mang tính bắt buộc, sử dụng các mặt hàng này phải được kê toa như loại dược phẩm trị bệnh, khắc phục tình trạng sử dụng tràn lan, hàng giả, kém chất lượng, ảnh hưởng năng suất, chất lượng sản phẩm, tổn hại lợi ích của nông dân và sức khỏe người tiêu dùng. Các “bác sĩ nông học” phải là những kỹ sư trồng trọt - chăn nuôi, kỹ thuật viên có trình độ nhất định làm nhiệm vụ hướng dẫn kỹ thuật, tư vấn cho nhà nông về kỹ thuật canh tác, phòng, trị bệnh cây trồng - vật nuôi; tránh được dịch bệnh lây lan, tạo ra sản phẩm NN sạch, mở đường cho nhiều NS vào siêu thị, xuất khẩu uy tín, làm NN có lãi. Những đòi nâng cao chất lượng “đầu vào” NS đang đặt ra yêu cầu bức thiết quản “đầu vào” NS sạch.

      25 tháng 9, 2013

      Vụ đi máy bay mất hành lý: Tòa Tân Bình đã thụ lý vụ kiện


      Theo yêu cầu của tòa, bà L. đã nộp tiền tạm ứng án phí hơn 600 ngàn đồng.
      Như Pháp luật TP.HCM đã thông tin, ngày 13-2, bà L. đi trên chuyến bay của hãng hàng không Vietjetair từ Đà Nẵng vào TP.HCM. Về đến sân bay Tân Sơn Nhất (quận Tân Bình), bà không nhận được va li của mình nên báo nhân viên phụ trách tìm kiếm hành lý thất lạc. Ngày 19-2, bà được thông báo không tìm thấy hành lý, tài sản xem như bị mất. Qua điện thoại, hãng hàng không nói sẽ bồi thường 50.000 đồng/kg hành lý. Bà L. không chấp nhận mà đề nghị hãng bồi thường theo quy định tại Luật Hàng không dân dụng nhưng không được đáp ứng. Bà khởi kiện ra TAND quận Tân Bình đòi bồi thường khoảng 25 triệu đồng.
      Ngày 6-5, TAND quận Tân Bình thông báo không thụ lý đơn kiện và chuyển hồ sơ đến TAND quận Ba Đình (TP Hà Nội) theo thẩm quyền vì nơi đây đặt trụ sở của hãng hàng không. Bà L. khiếu nại vì cho rằng khoản 1 Điều 66 Luật Hàng không dân dụng quy định vé hành khách, hành lý và phiếu nhận hành lý là chứng từ vận chuyển hành khách, hành lý bằng tàu bay và là bằng chứng về việc ký kết hợp đồng... Sân bay Tân Sơn Nhất là một trong những nơi thực hiện hợp đồng. Đồng thời, theo Điều 36 LTTDS, thẩm quyền của tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết. Do vậy, bà khởi kiện ra TAND quận Tân Bình là phù hợp, tòa không thụ lý đơn kiện là không đúng quy định. Đến cuối tháng 7, TAND quận Ba Đình đồng ý với đề nghị của bà L. và đã chuyển hồ sơ lại cho TAND quận Tân Bình.
      HOÀNG YẾN

      23 tháng 9, 2013

      "Bổ đề" thống kê

      1% cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ. 
      Trong khi 30% sáng cắp ô đi tối cắp ô về

      30% dân số thoát nghèo. Trong khi 41,5%
      số hộ không hài lòng về cuộc sống.

      100% trẻ con được khám chữa bệnh không mất tiền. 
      Trong khi không có phong bì thì sơ sinh vẫn ngã như thường.

      Mỗi năm tạo việc làm mới cho hơn 1 triệu người. 
      Nhưng 50% trong độ tuổi 15-34 đang thất nghiệp.


      Đăng ký thất nghiệp giảm 20 ngàn người. 
      Hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng 16 ngàn.

      Cai nghiện được hưởng chế độ 900k/tháng. 
      Người cao tuổi được trợ cấp 180k /tháng


      Chi bộ đừng hỏi đó là cái gì. Bổ đề cơ bản Việt chứ gì nữa. Giờ mình mới hiểu từ độ về Việt Nam, GS Ngô Bảo Châu cấm có dám làm toán mà chuyển sang chém gió về văn.


      (từ FB)

      Liên kết vùng để phát triển nguồn nhân lực

      Trần Hữu Hiệp
       Thời gian qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã chủ động, tích cực tăng cường các hoạt động liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thông qua hoạt động liên kết giữa 13 tỉnh, thành trong vùng với nhau, với Tp Hồ Chí Minh, các vùng, địa phương khác và bộ, ngành Trung ương. Nhiều hoạt động liên kết như Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL được tổ chức hàng năm, chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, phối hợp đảm bảo quốc phòng – an ninh, vận động an sinh xã hội; thông tin tuyên truyền và đào tạo nguồn nhân lực … đã được tiếp cận theo vùng, bước đầu phát huy hiệu quả thiết thực.

      Liên kết vùng đã thể hiện ngày càng rõ nét vai trò “nhạc trưởng” – “đầu mối chỉ đạo, điều phối” của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban trong việc tham mưu, đề xuất cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương, địa phương (đều là Thành viên kiêm nhiệm Ban Chỉ đạo). Hoạt động liên kết không chỉ được chú trọng trên lĩnh vực quốc phòng an ninh, các liên kết kinh tế, mà ngày càng nổi rõ hơn trong các hoạt động đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ĐBSCL.  
       
      Lấp bớt “khoảng trống” trong giáo dục - đào tạo
      Liên kết vùng ĐBSCL trong giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, khắc phục tình trạng “chia cắt” theo địa giới hành chính, “mạnh ai nấy làm”. Nhìn ở cấp độ chiến lược nguồn nhân lực của vùng và thị trường lao động, gắn với thị trường hàng hoá – dịch vụ, thì thời gian qua, nhiều cơ sở đào tạo chưa gắn kết tốt với nhu cầu sử dụng, thường bị đóng khung bởi những “qui định hành chính” xơ cứng.
      Lâu nay, vựa lúa gạo, trái cây, thuỷ sản Miền Tây được xem là “vùng trũng”, nhiều chỉ tiêu giáo dục – đào tạo thấp kém hơn so các vùng, miền và cả nước. Song, việc thực thi chính sách chung còn nhiều bất cập do “cơ chế, chính sách” chưa sát với đặc thù vùng này. Thí dụ vấn đề “nghèo khó” ở vựa lúa Miền Tây cũng khác nhiều nơi. Với đặc thù “nghèo đều”, hộ nghèo xấp sỉ bình quân chung cả nước, nhưng hộ cận nghèo cao, vùng này không có huyện nào nghèo “theo thống kê” để được nhận hỗ trợ, đầu tư và nhiều chính sách an sinh xã hội khác theo chương trình hỗ trợ 62 huyện nghèo của cả nước. Tất nhiên, cũng không có “chính sách đặc thù” trong phát triển nguồn nhân lực, nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Để tháo gỡ khó khăn trong GD-ĐT, phát triển nguồn nhân lực vùng ĐBSCL, thời gian qua, Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã chủ động phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chính sách ưu tiên cho con em đồng bào 20 huyện nghèo vùng biên giới, hải đảo trong vùng (không thuộc diện hưởng chính sách 62 huyện nghèo) được hưởng chính sách ưu tiên “giảm 1- 2 điểm sàn” khi được xét tuyển vào các trường đại học có nhu cầu xét tuyển. Các đề án đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành cho vùng ĐBSCL của các Trường ĐH Kiến trúc TP Hồ Chí Minh (kỹ sư qui hoạch, kiến trúc sư), ĐH Y dược Tp Hồ Chí Minh (bác sĩ đa khoa, chuyên ngành) và ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh (cao học chính sách công) đã được xây dựng công phu, bắt đầu áp dụng từ 3 năm qua cho con em “vùng trũng GD-ĐT”. Các hoạt động liên kết đào tạo này không chỉ đạo điều kiện cho con em Miền Tây được “rộng đường” vào đại học, học cao học mà còn phải đảm bảo chất lượng đào tạo, giữ được “thương hiệu” cho các trường, gắn chặt với địa phương trong việc xác định nhu cầu và “chia sẻ” kinh phí, đặc biệt là trách nhiệm bố trí, sử dụng các em sau khi học, địa chỉ sử dụng. Tương tự, nhiều cán bộ công chức thuộc các cơ quan Trung ương đang công tác ở địa bàn Tây Nam Bộ lâu nay luôn bị “thiệt thòi” về chỉ tiêu, điều kiện được đào tạo. Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã phối hợp với Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Học viện khu vực IV mở các lớp đào tạo cao cấp l‎ý luận chính trị - hành chính và các lớp chuyên ngành. Nỗ lực liên kết vùng trong giáo dục – đào tạo của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ có thể chỉ mới là hoạt động “kết nối”, “lấp khoảng trống” trong chính sách đào tạo do các qui định hành chính tạo ra, nhưng bước đầu cũng có tác dụng thiết thực hỗ trợ “vùng trũng” ĐBSCL tăng tốc để nâng cao chất lượng nhân lực.
      Cần những quyết sách căn cơ
      Thực tiễn đã chứng minh, liên kết vùng ĐBSCL là cần thiết, không chỉ trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh, ứng phó biến đổi khí hậu, quản lí nguồn nước, phòng chống dịch bệnh, liên kết kinh tế … mà rất cần trong lĩnh vực GD-ĐT, phát triển nhân lực. Cùng với việc xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược nguồn nhân lực quốc gia và các tỉnh, rất cần một Chiến lược nguồn nhân lực cho vùng ĐBSCL mà đến nay vẫn chua có. Các qui hoạch phát triển hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, trường phổ thống … phải dựa trên Chiến lược quan trọng này, cần “hướng cung” là nhu cầu thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp và cơ quan, đơn vị, trước hết là trong vùng ĐBSCL.
      Những “cơ chế đặc thù” trong GD-ĐT ưu tiên cho vùng khó khăn như ĐBSCL là cần thiết để tăng tốc, đuổi kịp các vùng, miền khác. Nhưng cũng cần phải thấy, đó chỉ là “chính sách nhất thời”. Vùng này cần phải đi lên bằng chính “đôi chân” của mình chứ không thể dựa vào sự hỗ trợ “đặc thù”. Hệ thống giáo dục – đào tạo từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, đại học đến các trường nghề, hệ thống giáo dục xã hội trong vùng cần được quan tâm đầu tư để đủ sức tạo ra “sản phẩm nhân lực” tốt hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xã hội, chứ không phải trông chờ vào chính sách ưu tiên “điển sàn, điểm chuẩn” hay tăng chỉ tiêu đào tạo chỉ tạo ra “lợi thế ảo” không căn cơ. Hoạt động liên kết vùng ĐBSCL trong phát triển nguồn nhân lực cần được tiếp tục được tăng cường về chất, nội dung, phương thức phù hợp hơn nữa trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của vựa lúa gạo, trái cây, thuỷ sản Miền Tây thời kỳ hội nhập.             

      22 tháng 9, 2013

      Cần chiến lược tổng thể

      Báo người Lao Động

      Để ĐBSCL thoát khỏi nghịch lý “nông dân nghèo sản xuất giỏi”, cần có chính sách tổng thể, nhất quán cho khu vực này
      Những năm gần đây, ngành nông nghiệp đã cứu nguy cho cả nước khi kinh tế suy thoái kéo dài, trong đó nông sản của ĐBSCL góp công rất lớn. Thế nhưng, mọi mặt của nông nghiệp, nông thôn, nông dân ĐBSCL không được phát triển và thụ hưởng  tương xứng với tiềm năng.
      Khắc phục điểm yếu liên kết 
      Theo TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, từ một nước nghèo đói, Việt Nam đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Trong thành quả này, công lao của nông dân ĐBSCL xứng đáng được ghi nhận vì góp tới 90% lượng gạo xuất khẩu. Cá tra cũng vậy, Việt Nam - trong đó chủ lực là ĐBSCL - chiếm đến 99% sản lượng cá tra toàn cầu, xuất sang hơn 130 nước. Đây còn là vùng trồng cây ăn trái lớn nhất nước với diện tích khoảng 260.000 ha, sản lượng hằng năm trên 3 triệu tấn, cây trái có quanh năm.
      Thế nhưng, chính sách đầu tư phát triển ĐBSCL còn nặng tính “ban phát”, khi thực hiện thì hết sức méo mó, không đến được với người dân. Điển hình là chính sách mua lúa tạm trữ. Nông dân thì bán lúa, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo thuộc Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) được Nhà nước hỗ trợ lãi suất vốn vay (thực hiện mua tạm trữ) thì chỉ mua gạo. Thế là thương lái đục nước béo cò, nhảy vào ép giá nông dân.
      Nhiều nhà vườn trồng và xuất khẩu trái cây không chịu nổi yêu cầu khắt khe
      của chứng nhận GlobalGAP nên đã bỏ cuộc. Ảnh: NGỌC TRINH
       
      Thời điểm thu mua lúa cũng thường bất hợp lý: Vào cao điểm thu hoạch thì không mua, chờ khi nông dân kẹt tiền, lúa tràn bồ thì mới thu gom. Khi ấy giá xuống thấp, các doanh nghiệp thuộc VFA hưởng lợi to! “Bộ Tài chính công bố giá thành sản xuất lúa từ 4.000-4.100 đồng/kg, nếu bảo đảm cho nông dân có lãi tối thiểu 30% thì giá lúa phải ở mức trên 5.000 đồng/kg. Trong khi từ đầu vụ đông xuân cho đến nay, giá lúa dưới 5.000 đồng/kg” - TS Lê Văn Bảnh bức xúc.
       
      Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Xã hội, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, nói: “Lâu nay, nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước chỉ là “theo đuôi thiệt hại”, rất lẻ mẻ và rời rạc. Khi tôm chết hàng loạt; heo lở mồm long móng; gà, vịt bị cúm gia cầm; giá lúa gạo, cá tra xuống thấp; cam, quýt bị bệnh vàng lá gân xanh… thì Nhà nước đều hỗ trợ nhưng chỉ là để giải quyết phần đuôi”.
       
      Cũng theo ông Hiệp, đến nay, ĐBSCL vẫn chưa có quy hoạch về cây ăn trái; việc xây dựng vùng chuyên canh dù được quan tâm nhưng chỉ dừng lại ở quy mô nông hộ nhỏ và trồng tạp; liên kết giữa nghiên cứu với ứng dụng, sản xuất, tiêu thụ hàng hóa còn lỏng lẻo dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp... “Ngày nào không phát triển được liên kết, đặc biệt là liên kết vùng, liên kết phát triển chuỗi sản xuất và liên kết nông dân với doanh nghiệp thì ngày đó nông dân ĐBSCL còn nghèo” - TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL, đánh giá.     
      Đánh giá lại mô hình sản xuất
      Nhiều loại trái cây ở ĐBSCL như bưởi, xoài, vú sữa, chôm chôm… đã được cấp chứng nhận thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (GlobalGAP) hoặc tiêu chuẩn Việt Nam về an toàn chất lượng, truy nguyên nguồn gốc (VietGAP) để xuất sang nhiều thị trường khó tính. Tuy nhiên, đến nay, nhiều nông hộ đã chán những chứng nhận này và xin rút lui khỏi hợp tác xã (HTX) để tự làm riêng. HTX Bưởi Năm Roi (xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh - Vĩnh Long) có vùng trồng bưởi đặc sản được cấp GlobalGAP đầu tiên ở ĐBSCL. Chứng nhận này đã hết hạn gần 2 năm nay nhưng HTX không có tiền để được tái công nhận. Ông Nguyễn Văn Nghĩa, Chủ nhiệm HTX Bưởi Năm Roi, cho biết: “HTX không có đủ 9.000 USD để xin cấp lại GlobalGAP, trong khi bưởi không cần chứng nhận này vẫn xuất sang Hà Lan được”.
      Nhiều nhà vườn tại HTX Vú sữa Lò Rèn (Tiền Giang) cũng hành động tương tự. Giai đoạn 2008-2009, với chứng nhận GlobalGAP, HTX này xuất khẩu được khoảng 10 tấn vú sữa. Năm 2012, HTX chỉ thu hoạch được hơn 5 tấn vú sữa có chứng nhận Global GAP và do không bảo quản được lâu nên trong năm vừa qua, vú sữa Lò Rèn không xuất khẩu được.
      Trở ngại lớn nhất hiện nay là quy mô sản xuất của các HTX có các chứng nhận GAP đều rất nhỏ (vú sữa Lò Rèn chỉ có 55 ha, bưởi Năm Roi 24 ha, chôm chôm Chợ Lách 26 ha…), hằng năm cho sản lượng ít nên rất khó có “cửa” vào siêu thị và ký kết những hợp đồng xuất khẩu lớn. TS Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Cây ăn trái miền Nam, khẳng định: “Với quy mô vài chục hecta thì dù có chứng nhận GAP đi nữa, nông dân vẫn không có lãi. Vì vậy, ngoài việc duy trì đạt chuẩn GAP, các HTX cần phát triển lên vài trăm hoặc vài ngàn hecta/mô hình. Khi khả năng cung ứng trái cây cho các siêu thị tăng lên thì giá bán sẽ cao hơn”.
      Cánh đồng mẫu lớn phải thật lớn!
      Để giải quyết bài toán về sản xuất - tiêu thụ lúa gạo, năm 2009, Bộ NN-PTNT đề ra mô hình cánh đồng mẫu lớn để giúp nông dân làm giàu từ cây lúa. Theo TS Lê Văn Bảnh, hiệu quả của cánh đồng mẫu lớn ai cũng thấy nhưng thực tế số lượng ứng dụng vẫn chỉ là mô hình. Theo thống kê của Bộ NN-PTNT, trong vụ hè thu 2012, tổng diện tích cánh đồng mẫu lớn là 32.110 ha, còn quá ít ỏi so với 1,5 triệu ha sản xuất lúa ở ĐBSCL. Những nơi áp dụng mô hình này là Công ty Bảo vệ Thực vật An Giang, Công ty Phân bón Bình Điền, Công ty CP Gentraco... theo đúng mô hình khuyến cáo nhưng mỗi nơi chỉ làm khoảng 2.000 - 3.000 ha. Trong khi đó, hầu hết các công ty lương thực, kể cả Tổng Công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2), lại đứng ngoài cuộc. “Nên đề ra quy định mỗi doanh nghiệp phải có vùng nguyên liệu 5.000 ha làm theo mô hình cánh đồng mẫu lớn. Việt Nam có hơn 100 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo, như vậy sẽ có 500.000 ha; nếu 1 ha cho năng suất là 6 tấn lúa thì ĐBSCL mỗi vụ có 3 triệu tấn lúa đạt chuẩn, chất lượng đồng đều, bảo đảm yêu cầu xuất khẩu, nông dân sẽ có lợi tức khá”.

      NHÓM PHÓNG VIÊN

      “Nếp nhăn” trên thảm đỏ vào ĐBSCL

      (DĐDN) - Sau loạt bài phản ánh những bất cập về hệ thống cầu đường cũng như quy định, biển báo tải trọng cầu đường các tỉnh ĐBSCL, gây thiệt hại lớn cho DN vận tải cũng như sự phát triển của ĐBSCL, đại diện các cơ quan ban ngành ĐBSCL và TP Cần Thơ, “thủ phủ” của ĐBSCL đã lên tiếng về những vấn đề này.
      Ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng, Vụ Kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam bộ :

      Nút thắt” của ĐBSCL

      Hiện hệ thống giao thông toàn vùng đã hình thành được các trục dọc, ngang xuyên suốt giúp rút ngắn khoảng cách với các địa phương trong và ngoài vùng. Tuy nhiên bước đầu chỉ đảm bảo được vận tải hành khách chứ chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa xuất nhập khẩu cho TP. Cần Thơ và cả vùng.

      Bằng nguồn vốn trung ương, thời gian qua, TP. Cần Thơ và các địa phương trong vùng đã hình thành được các trục dọc như quốc lộ I, xây dựng mới tuyến đường cao tốc TP.HCM – Trung Lương và nâng cấp, mở rộng tuyến quốc lộ này đảm bảo hệ thống giao thông xuyên suốt toàn vùng từ TP HCM cho đến đất Mũi Cà Mau. Về tuyến ngang là những quốc lộ, tỉnh lộ tuy chưa hoàn chỉnh nhưng cũng đã hình thành được các tuyến N1,N2, nối các tỉnh, thành địa phương trong vùng. Trong đó tuyến quốc lộ 91, 91b đi từ TP. Cần Thơ đến An Giang để vào cửa ngõ biên giới Tây Nam thông qua cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên hết sức quan trọng bởi đây là vùng kinh tế biên giới với hơn 70% kim ngạch mậu biên của toàn vùng. Và cũng trên các tuyến này, nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều công trình lớn vượt sông Tiền, sông Hậu được như cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu, Hàm Luông và một loạt các dự án lớn đang triển khai như cầu Vàm Cống, cầu Cao Lãnh... Sự đầu tư này đã tạo được diện mạo mới để ĐBSCL cất cánh trong hội nhập. Tuy những cây cầu này đã được đầu tư nâng cấp mở rộng với sức chịu tải trên 30 tấn thì vẫn còn tồn tại nhiều cây cầu cũ trên các tuyến, trục này được xây dựng từ rất lâu nên chưa thể phát huy hết công năng của toàn tuyến, toàn trục, ảnh hưởng đến vận tải hàng hóa và đây được xem là “nút thắt” trong phát triển kinh tế toàn vùng cũng như khó khăn trong thu hút kêu gọi đầu tư.

      Ông Huỳnh Thế Năng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang :
      Đừng kêu gọi đầu tư riêng từng tỉnh

      Nhà đầu tư nhìn thấy tiềm năng, lợi thế của ĐBSCL, nhưng họ đến đầu tư không phải chỉ để cung ứng sản phẩm cho những người dân đang sinh sống tại vùng ĐBSCL mà còn cho các tỉnh bên ngoài, cung cấp ra các nước trong khu vực và thế giới, nhưng với điều kiện giao thông như hiện nay thì rất khó để hấp dẫn các nhà đầu tư. Giải pháp để thu hút đầu tư - đó là, thay vì các tỉnh kêu gọi đầu tư riêng cho tỉnh mình thì hãy cùng kêu gọi đầu tư chung cho cả vùng ĐBSCL, và quan trọng nhất lúc này, ĐBSCL cần đầu tư một hệ thống giao thông thuận lợi. Chỉ như vậy, ĐBSCL mới có thể bứt phá.

      Ông Nguyễn Minh Toại - Giám đốc Sở Công Thương TP Cần Thơ : 
      Lãng phí đầu tư

      Việc đầu tư không đồng bộ giữa cầu và đường vẫn chưa phát huy được công năng của những cây cầu mới xây dựng. Vì trên toàn tuyến lộ, chỉ cần có một cây cầu bị hạn chế tải trọng ở mức 15 tấn thì cả tuyến lộ và các cầu trên đó chỉ còn 15 tấn. Những cây cầu được đầu tư xây dựng trên 30 tấn đều bị “vô hiệu”.  Và như vậy thì đã gây lãng phí trong đầu tư. Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng ở cấp thành phố mà liên đới tới các địa phương lân cận khi lưu thông hàng hóa ngược xuôi qua cửa ngõ TP Cần Thơ.

      Ông Võ Thành Thống - Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ : 
      Cần đẩy mạnh tiến độ các dự án

      Vấn đề tải trọng cầu đường không đảm bảo lưu thông hàng hóa không chỉ bức xúc trong DN, chủ nhà xe mà ngay cả các cấp chính quyền địa phương của thành phố cũng bức xúc. Chúng tôi đã có những kiến nghị với Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện đối với các dự án đã được phê duyệt. Đặc biệt là các dự án giao thông kết nối giữa các tỉnh thành trong vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL. Những khó khăn về vốn đầu tư cần có những chính sách thông thoáng thu hút vốn đầu tư kết cấu hạ tầng thông qua hình thức BT, BOT, PPP… nhằm tạo lực đẩy không chỉ cho Cần Thơ mà cả vùng. Nếu không bị “nghẽn” vì hệ thống giao thông, sức năng động của cả vùng ĐBSCL sẽ có những đóng góp lớn hơn đối với sự phát triển kinh tế của cả nước.
      Ông Huỳnh Việt Dũng - Phó trưởng Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp thành phố Cần Thơ : 
      Khó thu hút đầu tư

      Thời gian qua dù thành phố cũng như các địa phương trong vùng “trải thảm đỏ” trong thu hút kêu gọi đầu tư cùng với nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh … nhưng vẫn khó thu hút đầu tư. Qua phản ánh của nhà đầu tư cũng như các DN nội tại thì nguyên nhân vẫn là do hệ thống hạ tầng giao thông hiện tại chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa của DN kể cả đường bộ, đường thủy và đường biển. Các DN khi xuất khẩu hàng hóa phải vận chuyển lên TP HCM, làm đội chi phí và giảm khả năng cạnh tranh nên nhà đầu tư rất cân nhắc khi đến đầu tư. Đơn cử như tuyến vận tải từ cảng Cát Lái (TP.HCM) đi Cần Thơ và ngược lại, DN vận tải đang phải chịu chi phí cầu đường bộ lên đến 19%/tổng giá cước cho một chuyến hàng. Những khoản chi phí tăng thêm này đều sẽ được tính vào giá thành sản phẩm, làm ảnh hưởng đến việc cạnh tranh hàng hóa giữa các vùng với nhau cũng như giữa VN với các nước trên thế giới.
      Ông Nguyễn Hoàng Tùng - Trưởng phòng Ban An toàn giao thông , Sở Giao thông vận tải TP Cần Thơ :
      60% cây cầu xây dựng trước năm 1990

      Hiện tại vẫn còn tồn tại hơn 60% cây cầu trên các tuyến lộ trục dọc, ngang được đầu tư xây dựng vào những thập niên 90 đã được các ngành chức năng kiểm định lại sức chịu đựng của từng cây cầu để cắm biển báo tải trọng của cầu nhằm đảm bảo an toàn lưu thông toàn tuyến. Ngoài những cây cầu do địa phương quản lý (tỉnh lộ - PV) đang có kế hoạch nâng cấp, nâng tải trọng cầu.  Đối với các quốc lộ nằm trong địa bàn thành phố như quốc lộ 1, quốc lộ 91, 91b, 80… Sở Giao thông Vận tải đã tham mưu cho UBND TP Cần Thơ và cũng đã trực tiếp làm việc với Bộ Giao thông vận tải, Cục Quản lý đường bộ đề nghị khẩn trương nâng cấp các cây cầu xuống cấp này. Thông tin lúc này mà phía Bộ Giao thông Vận tải đưa ra là khó khăn về nguồn vốn đầu tư, dù rằng trước đó, năm 2008 đã có dự án đầu tư nâng cấp các cây cầu này.
      Q.Chánh - N.Thủy ghi

      21 tháng 9, 2013

      Luật phá sản bị phá sản từ khi nào?

      Luật Phá sản 2004 thi hành được 9 năm nhưng nó là một sản phẩm pháp luật “chết”, bởi vì không áp dụng được cho các DN có nhu cầu được phá sản. Cho nên có thể khẳng định, Luật Phá sản đã bị phá sản từ khi nó được ban hành!

      Nói như thế không ngoa, bởi vì luật có 95 điều, nhưng có đến 57 điều được các tòa án, cơ quan, tổ chức liên quan kiến nghị sửa đổi, bổ sung. Chưa kể, mỗi năm có hàng chục ngàn DN dừng hoạt động và giải thể, chỉ riêng năm 2012 có 54.261 DN, nhưng tổng cộng 9 năm, tòa án chỉ mở thủ tục phá sản cho 236 trường hợp, tuyên bố phá sản được 83 trường hợp.

      Luật Phá sản bị phá sản trong đời sống như vậy là thất bại của người làm luật, là sự lãng phí tiền bạc của nhân dân đóng thuế trả lương cho việc làm luật. Sản phẩm được làm ra không sử dụng được có nghĩa là tiền của bị vứt đi, người làm luật đã không hoàn thành nhiệm vụ của dân giao phó.

      Nhưng thiệt hại của nó không chỉ dừng lại ở sự lãng phí tiền bạc cho hoạt động soạn luật, mà còn gây hậu quả rất lớn cho nền kinh tế đất nước và cho xã hội. 9 năm thi hành mà đa số DN muốn phá sản không phá sản được có nghĩa là nền kinh tế đang tồn tại hàng ngàn những “xác chết biết đi”. DN “chết” nhưng không được “chôn”, gây ra bao nhiêu phức tạp, rủi ro, hệ lụy với các chủ nợ, người lao động và ngay chính DN cần được phá sản.

      Bởi vì, đối với DN làm ăn thất bại không có nghĩa là chấm hết, là tận thế. Phá sản ở đây không có nghĩa là tán gia bại sản, là bị tống cổ vào tù. Đừng nhìn DN kinh doanh thua lỗ theo con mắt hình sự, mà phải xem đó là chuyện bình thường trong đời sống DN. Những DN làm ăn thất bại cần được thực hiện phá sản theo quy định của pháp luật để họ có điều kiện tìm cơ hội tổ chức đầu tư, lập công ty mới, phục hồi kinh doanh.

      Chính vì Luật Phá sản 2004 bị phá sản nên nó phải được sửa đổi, bổ sung và trình dự thảo tại phiên họp UBTVQH ngày 13.9. Và, một quy định được bổ sung mới toanh là DN nợ đến hạn trên 200 triệu đồng trong vòng 3 tháng sẽ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Quy định mới này bị nhiều ý kiến phản biện, bởi vì với 200 triệu đồng tiền nợ mà gọi là phá sản thì 99% số doanh nghiệp phải phá sản. Có nhiều DN, tập đoàn quy mô vốn lên tới hàng chục ngàn tỉ đồng, chẳng lẽ nợ đến hạn 200 triệu đồng trong vòng 3 tháng thì xem đó là căn cứ xác định phá sản sao?

      Hãy coi chừng! Hãy xem xét dự thảo Luật Phá sản sửa đổi bổ sung cho thật kỹ. Bởi nếu không, nó lại bị phá sản ngay sau khi ban hành như tình trạng của luật cũ trước đây.
      Lê Thanh Phong

      Thi hành Luật Phá sản: 9 năm, 83 doanh nghiệp phá sản

      (SGGP).- Sáng 13-9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận về dự án Luật Phá sản (sửa đổi). Chiều cùng ngày, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
      Thảo luận tại phiên họp về dự án Luật Phá sản (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng, cần xem xét lại đối tượng áp dụng của luật. Tham gia hoạt động kinh doanh thì phải thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phá sản, nhưng dự thảo luật chỉ mới gói gọn đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp, hợp tác xã mà chưa quy định về các đối tượng là cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh là chưa bao quát hết.

      Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện lại cho rằng quy định đối tượng áp dụng như dự thảo luật là phù hợp với tình hình của Việt Nam, nhất là trong tình trạng quá tải của tòa án như hiện nay. Ông nhận định, tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào phá sản là cực kỳ quan trọng và là một trong những vấn đề then chốt để thụ lý và giải quyết các vụ án liên quan đến phá sản.
      Theo ông Hiện, có những doanh nghiệp tiền vốn chỉ vài chục triệu đồng, vài trăm triệu đồng nhưng cũng có những doanh nghiệp lên đến hàng ngàn tỷ đồng, trăm ngàn tỷ đồng, do đó việc đưa ra tiêu chí doanh nghiệp, hợp tác xã “không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn từ 200 triệu đồng trở lên trong thời gian 3 tháng, kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” là không thực tế. Thay vào đó, cần xem xét trên cơ sở tỷ lệ nợ đến hạn không trả được của doanh nghiệp so với tổng vốn đăng ký kinh doanh.
      Chia sẻ quan điểm này, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển nói rằng, định nghĩa phá sản trong dự thảo còn đơn giản và không thực tế, bởi nếu áp dụng theo đúng định nghĩa của dự thảo luật thì “99% doanh nghiệp hiện nay của Việt Nam sẽ nằm trong diện phá sản”! Bên cạnh đó, cần quy định chặt chẽ việc kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp làm thủ tục phá sản, bởi nếu không sẽ dễ xảy ra việc tẩu tán tài sản. Về việc phá sản doanh nghiệp nhà nước, ông Hiển cho rằng không nên có sự phân biệt về thủ tục mở phá sản giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để đảm bảo sự bình đẳng. 
      Liên quan đến thẩm quyền của tòa án, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện đề nghị nghiên cứu bổ sung theo hướng quy định Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại huyện.
      Theo tờ trình của Chính phủ, năm 2012 có 54.261 doanh nghiệp dừng hoạt động và giải thể (44.906 doanh nghiệp dừng và 9.355 giải thể). Trong khi đó, qua 9 năm thi hành Luật Phá sản 2004, tòa án đã thụ lý tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong đó, tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 236 doanh nghiệp (chỉ 83 doanh nghiệp được tòa quyết định tuyên bố phá sản, còn 153 vụ việc chưa ra quyết định tuyên bố phá sản). Cơ quan soạn thảo dự luật nhận định, số lượng đơn yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản so với số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động là rất thấp. Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng trong đó có nguyên nhân quy định pháp luật phá sản chưa phù hợp với tình hình kinh tế và xã hội, không tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức yêu cầu tuyên bố phá sản.
      ANH PHƯƠNG

      Tác động của nhóm lợi ích trong xây dựng chính sách?

      Doanhnhansaigon
      Từ câu chuyện giảm thuế xuất khẩu trong ngành than kể từ đầu tháng 9 này một lần nữa lại đặt ra những e ngại trong dư luận cũng như cộng đồng doanh nghiệp rằng liệu có hay không sự tác động của các nhóm lợi ích trong việc xây dựng chính sách.

      Băn khoăn của giới kinh doanh từ sau khi Thông tư 124/2013 của Bộ Tài chính được ban hành, theo đó kể từ ngày 1/9/2013, các mặt hàng than đá, than bánh, than quả bàng và nhiên liệu rắn tương tự sản xuất từ than đá sẽ chịu thuế xuất khẩu là 10%, thay vì mức 13% như trước đó. Điều bất ngờ là mức thuế 13% này mới chỉ được áp dụng trong hai tháng 7 và 8.
      Vì sao một quyết định thay đổi thuế suất chỉ tồn tại có đúng hai tháng? Hãy nghe Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) trần tình “chỉ sau hai tháng áp dụng thuế xuất khẩu mới (từ 10% lên 13%), sản lượng than xuất khẩu giảm 2 triệu tấn, tức mỗi tháng giảm 1 triệu tấn so với mức bình quân sáu tháng. Và nếu tiếp tục duy trì mức thuế này dự kiến sản lượng tiêu thụ cả năm sẽ giảm đến 20 triệu tấn so với năm 2012, tức là chỉ còn khoảng 36-37 triệu tấn.
      Còn Bộ Tài chính giải thích “việc giảm thuế xuất khẩu than đá nhằm chia sẻ khó khăn của Chính phủ với doanh nghiệp sản xuất than trong nước nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh”.
      Lý lẽ này xem ra chưa thuyết phục.
      Trước hết, phải thừa nhận một thực tế là trong hai tháng 7 và 8/2013, trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất hiện rất nhiều thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Vinacomin, trong đó, chủ yếu là những thông tin về khó khăn của tập đoàn này.
      Chẳng hạn như do tình hình tiêu thụ than chậm, lượng hàng tồn kho tăng cao nên gần đây, nhiều lao động ngành than đã phải nghỉ việc luân phiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và việc làm của người lao động. Hay một bản tin khác cho biết Vinacomin đang gặp khó khăn trong cân đối tài chính do sản lượng tiêu thụ đạt thấp.
      Và tập đoàn này còn “dọa” rằng nếu họ không được giảm thuế thì tồn kho đến cuối năm có thể lên đến 10 triệu tấn, đồng thời nếu không được tăng giá bán than cho ngành điện thì ngành than sẽ phải bù khoảng 6.000 tỉ đồng cho ngành điện.
      Liệu rằng các vị giám đốc của các doanh nghiệp nhỏ có dám “lớn tiếng” như vậy không nếu doanh nghiệp của họ cũng gặp khó khăn, không chỉ bằng mà còn nặng nề hơn cả Vinacomin?
      Câu trả lời là không, bởi họ khác về cơ bản với Vinacomin, vì họ là doanh nghiệp tư nhân còn Vinacomin là tập đoàn kinh tế nhà nước, một doanh nghiệp nhà nước lớn nắm trong tay vị thế độc quyền nguồn cung cấp than.
      Trong khi đó, với vai trò là người quản lý túi tiền quốc gia, Bộ Tài chính trước khi ban hành một chính sách gì, đặc biệt là những quyết định liên quan đến thuế, ắt hẳn đã phải cân nhắc rất cẩn thận, kỹ càng về mọi phương diện. Nhưng trong trường hợp này lập luận trên dường như không đúng, vì
      sao?

      Thứ nhất, quyết định giảm thuế lần này nếu được cho là nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp thì quyết định tăng thuế trước đó chỉ hai tháng cũng của Bộ Tài chính được hiểu ra sao? Nó ra đời trên cơ sở nào? Nhằm tăng thu ngân sách? Nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên?
      Nếu Bộ vì “chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp” mà tạm thời bỏ qua hai mục tiêu trên thì không chỉ một mình Vinacomin mà tất cả các doanh nghiệp đều mong được Bộ Tài chính chia sẻ như vậy.
      Để xem sắp tới, Bộ Tài chính sẽ ứng xử ra sao khi mới tuần qua Hiệp hội Cao su Việt Nam cũng đã có kiến nghị không tăng thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng cao su tự nhiên, đang được hưởng mức thuế 0%, với lý do giá cao su thế giới đang giảm, việc bán hàng không thuận lợi.
      Liệu Bộ Tài chính có một lần nữa chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp không?
      Thứ hai, quan trọng hơn, việc thay đổi chính sách xoành xoạch kiểu như vậy đang làm xấu đi hình ảnh môi trường kinh doanh tại Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn những năm qua, niềm tin của doanh nghiệp đã sa sút rất nhiều, chỉ cần “bồi thêm” vài “cú hích” kiểu này sẽ khiến cho những niềm tin mong manh còn lại cũng ra đi nốt.
      Thứ ba, với kiểu làm chính sách như trên khiến người ta không thể không đặt câu hỏi là có hay không sự tác động của nhóm lợi ích trong việc xây dựng chính sách.
      Nhớ lại, mới đây thôi, khoảng gần cuối tháng 8 vừa qua, trong phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, vấn đề lợi ích nhóm, tham nhũng chính sách trong công tác xây dựng pháp luật... đã được các đại biểu Quốc hội mang ra chất vấn Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường.
      Một số đại biểu đã đặt câu hỏi rất thẳng thắn “tình trạng tham nhũng xảy ra trong nhiều lĩnh vực, vậy có hay không tình trạng tham nhũng trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật tức là tham nhũng chính sách?” hoặc “có hay không tình trạng ban hành văn bản pháp luật để phục vụ lợi ích nhóm?”.
      Lúc đó, Bộ trưởng Hà Hùng Cường khẳng định “không thể có lợi ích nhóm” nhưng vẫn để ngõ một trường hợp là “trừ việc xây dựng thông tư, thông tư liên tịch là chưa có sự kiểm soát tốt. Nhưng nguyên nhân của việc này là do quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật”.
      “Với quy trình chặt chẽ trong việc ban hành văn bản, có thể nói vấn đề lợi ích nhóm được kiểm soát, nhưng cũng không loại trừ khả năng có văn bản này khác có thể có sơ hở”, Bộ trưởng Hà Hùng Cường nói tại phiên họp.
      Quay trở lại với trường hợp của ngành than, rõ ràng là Vinacomin đang thực sự gặp khó do thị trường, giá cả xuất khẩu không còn thuận lợi như những năm trước.
      Đồng thời, phần than lộ thiên đã đem bán hết, nay điều kiện khai thác khó khăn hơn, chi phí khai thác tăng… đó là những nguyên nhân khách quan khiến tập đoàn này phải liên tục xin giảm thuế (và đã được giảm từ 20% xuống còn 10%) và tăng giá bán (đã tăng giá bán than cho ngành điện kể từ ngày 20/4/2013 vừa qua).
      Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan mới là yếu tố quyết định trong trường hợp này, bởi lâu nay dư luận vẫn nghi ngờ về khả năng quản trị của các doanh nghiệp nhà nước.
      Quả thực, tình trạng xuất lậu than mà cho đến nay Vinacomin vẫn chưa dẹp hết vẫn là vấn đề cần được giải quyết trước hết để gỡ khó cho doanh nghiệp này về dòng tiền.
      Chưa hết, nếu gặp khó khăn, sao doanh nghiệp này vẫn có tiền để tiếp tục đổ vào mua cổ phần của các công ty con, công ty liên kết.
      Việc Vinacomin viện dẫn lý do vì đời sống của hàng ngàn lao động trong ngành than và gia đình họ để xin giảm thuế nhằm giảm bớt khó khăn chẳng khác nào họ xem người lao động là cái phao để bám vào khi sắp bị chết đuối.
      Không lẽ chỉ có Vinacomin mới có hàng ngàn lao động, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là trong ngành da giày, dệt may, cũng đang giải quyết việc làm cho một số lượng lao động tương đương và cũng đang gồng mình vượt qua khó khăn mà chẳng dám kêu ai.
      Có thể khẳng định tài nguyên khoáng sản là sở hữu toàn dân, do đó phải được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phải hạn chế tối đa và tiến tới hoàn toàn dừng xuất khẩu tài nguyên thô.
      Trong bối cảnh đó thì các loại thuế, quy định sử dụng tài nguyên càng phải được thắt chặt, không những không giảm mà còn phải có xu hướng tăng lên để có thể sử dụng tiết kiệm tài nguyên cũng như tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

      DO ĐÃ CÓ TIỀN LỆ
      Vấn đề lợi ích nhóm ẩn mình trong các văn bản pháp luật mà dư luận đặt ra không chỉ diễn ra trong ngành than như đã được đề cập trong bài trên mà nó còn là đề tài nóng trong ngành sản xuất và lắp ráp ôtô.
      Mới đây, hồi tháng 7/2013, được sự hậu thuẫn của UBND tỉnh Quảng Nam, sự hỗ trợ của Bộ Tài chính, Công ty cổ phần Ôtô Trường Hải đã được Chính phủ cho phép gia hạn nộp hơn 1.200 tỉ đồng thuế nhập khẩu trong vòng một năm, kể từ ngày 1/7/2013 đến ngày 30/6/2014.
      Lý do được Trường Hải đưa ra để xin giãn thuế là vì lượng hàng tồn kho lên đến 3.300 tỉ đồng và hiện đang nợ các tổ chức tín dụng khoảng 5.600 tỉ đồng. Tình hình sản xuất được mô tả là đang cầm chừng, lao động bị nghỉ việc luân phiên, trong khi triển vọng thị trường không sáng sủa gì.
      Điều đáng ngạc nhiên là, theo kết quả kinh doanh sáu tháng đầu năm 2013 do Trường Hải công bố, lợi nhuận sau thuế của quý II/2013 thuộc về công ty mẹ là 267 tỉ đồng, tăng gần 400% so với quý II/2012 và kết quả này còn cao hơn cả mức lãi ròng 242 tỉ đồng của cả năm 2012. Lũy kế sáu tháng, ôtô Trường Hải đang lãi ròng 362 tỉ đồng.
      Chưa hết, ngày 12/9, Trường Hải sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ tức năm 2012 bằng tiền mặt với tỷ lệ 10% và việc chi trả sẽ được thực hiện vào ngày 26-9. Vậy Trường Hải có thực sự khó khăn như đã “kêu cứu” không?
      Và việc cho Công ty Trường Hải giãn nộp thuế đã “mở đường” cho việc hàng loạt các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô khác cũng có những kiến nghị tương tự. Tuy nhiên, kết quả có được tốt đẹp như Trường Hải hay không còn chưa biết.
      Mới nhất là việc Công ty cổ phần Ôtô Xuân Kiên (Vinaxuki) vừa có văn bản gửi Thủ tướng, xin giảm 70% thuế tiêu thụ đặc biệt từ 1/1/2014, cho các dòng xe chiến lược do đơn vị này sản xuất. Ngoài ra, Vinaxuki đề nghị được vay 250 tỉ đồng trong ít nhất là bảy năm theo chương trình cơ khí trọng điểm quốc gia, từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
      Cùng với đó, Vinaxuki xin được vay vốn dài hạn hoặc hoãn nộp thuế từ tháng 10-2013 (tổng trị giá tương đương 750 tỉ đồng) để tập trung vốn vào đầu tư nghiên cứu, thiết kế, chuyển giao công nghệ, trang bị dây chuyền đúc nhôm thân vỏ động cơ và nhập khẩu thiết bị gia công.
      Trước đó, Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) cũng đã xin Chính phủ gia hạn đóng thuế vì lý do phải dồn sức cho việc phát triển ngành công nghiệp ôtô trong bối cảnh khó khăn. Các doanh nghiệp khác như Công ty cổ phần Tập đoàn Thành Công, Công ty cổ phần Ôtô TMT, Công ty TNHH Hoàng Trà và Công ty TNHH Ôtô Đông Phương cũng có những kiến nghị tương tự.
      Theo Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn, người nộp thuế có quyền được gia hạn nộp thuế, tiền phạt còn nợ nếu không có khả năng nộp thuế đúng hạn do gặp khó khăn đặc biệt. Thẩm quyền gia hạn do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ Tài chính.

      QUỲNH NHƯ/DNSGCT