31 tháng 12, 2013

Câu chuyện doanh nghiệp ĐBSCL

Diễn đàn Doanh nghiệp ĐBSCL nằm trong khuôn khổ MDEC - Vĩnh Long 2013, được tổ chức sáng ngày 26-11 trong bối cảnh các doanh nghiệp (DN) đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Diễn đàn lần này một lần nữa nhằm đánh giá đúng thực trạng và tìm những giải pháp hiệu quả nhất cho hoạt động của DN trong vùng.

Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI) Chi nhánh Cần Thơ và Hội đồng Hiệp hội DN ĐBSCL tiến hành trong 6 tháng đầu năm 2013 đối với các DN vừa và nhỏ cho thấy rằng, tình hình sản xuất - kinh doanh (SXKD) vẫn tiếp tục khó khăn, có tới 65% DN có mức doanh thu giảm, nguyên nhân là do thị trường bị thu hẹp, lượng đơn đặt hàng ít, hàng tồn kho tăng cao… đã kéo theo lợi nhuận sụt giảm nghiêm trọng, DN hoạt động chủ yếu là duy trì sản xuất để bù khấu hao và trả lương cho người lao động.
Đây cũng là điều đương nhiên vì năm 2013 là năm thứ 6 của suy thoái và khủng hoảng kinh tế, sự kéo dài của nền kinh tế khó khăn khiến DN suy kiệt mọi nguồn lực. Đặc biệt là đối với các DN ở ĐBSCL chủ yếu là hoạt động SXKD trong lĩnh vực nông, thủy sản, không những chịu tác động chung của nền kinh tế trong nước mà còn chịu sự chi phối to lớn của thị trường tiêu thụ quốc tế.
Nhiều doanh nghiệp trong vùng còn khó khăn khi tiếp cận vốn vay.
Nhiều doanh nghiệp trong vùng ĐBSCL còn khó khăn khi tiếp cận vốn vay.
Theo VCCI Chi nhánh Cần Thơ, khó khăn tiêu biểu nhất của DN ĐBSCL tập trung vào: Nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của thị trường trong nước ngày càng kém đi gây ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến doanh thu, lợi nhuận và hoạt động SXKD của DN. Mặc dù năm 2013 mặt bằng lãi suất vay đã hạ xuống nhưng phần lớn DN vẫn kêu khó và không tiếp cận được vốn, chỉ có trên 36% DN tiếp cận được với mức trần lãi suất 15%/năm.
Có điều đáng lưu ý là cả phía ngân hàng và DN đều nỗ lực và mong muốn gặp nhau tuy nhiên những nỗ lực này vẫn chưa giải quyết được khó khăn về vốn hiện nay. Nguyên nhân chính là do nền kinh tế vẫn chưa phục hồi, tổng cầu thấp, tồn kho lớn; lòng tin của DN vào nền kinh tế bị giảm sút; các DN có đủ điều kiện vay thì không muốn vay, các DN cần vay thì không đủ điều kiện vay do còn nợ xấu; năng lực điều hành và quản trị của DN còn yếu.
Tuy nhiên, hàng tồn kho đang được xem là nút thắt khá lớn đối với DN. Theo kết quả khảo sát mới đây cho thấy rằng, có đến trên 82% DN có hàng tồn kho, với lượng hàng tồn kho lớn và tập trung vào một số ngành như: Xây dựng, bất động sản, công nghệ chế biến, thương mại, vận tải kho bãi.
Nguyên nhân của thực trạng này là do tổng cầu thấp, sự suy yếu của một số ngành trong nền kinh tế đã tác động lan tỏa đến các ngành khác. Hàng tồn kho lớn, DN không có doanh thu và lợi nhuận, hoạt động cầm chừng để duy trì SXKD và đảm bảo lương cho người lao động.
Ở góc nhìn khác, theo TS. Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Chi nhánh Cần Thơ, hầu hết DN trong vùng có quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Theo số liệu thống kê gần đây, có đến 28% là DN nhỏ, trên 68% là DN siêu nhỏ. Trong số DN siêu nhỏ có đến 93% có quy mô dưới 10 tỷ đồng. Từ các số liệu cho thấy, DN ở ĐBSCL thấp hơn mức trung bình của quốc gia và một số vùng khác.
Còn theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ kinh tế (Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ), DN ở ĐBSCL đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Do vậy, yếu tố nổi lên hiện nay là yêu cầu tăng cường liên kết DN, hợp tác xã, nông dân một cách thực chất, hiệu quả, chia sẻ lợi ích trên cơ sở phân khúc thị trường một cách hợp lý; hoàn thiện các chuỗi giá trị để vừa tạo ra sức mạnh, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, triệt tiêu lẫn nhau. Cùng với “liên kết chính quyền” đã được quan tâm thời gian qua, phải tăng cường hơn nữa “liên kết thị trường, liên kết DN” trên cơ sở hài hòa lợi ích.
Ông Bùi Ngọc Sương, Phó Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, cho rằng với tình hình dự báo trong những năm tới nền kinh tế nói chung, Việt Nam nói riêng vẫn còn khó khăn, các DN phải tiếp tục đương đầu với nhiều bài toán khó trong SXKD.
Do đó, muốn tồn tại và phát triển, cùng với các chính sách hỗ trợ của Chính phủ và nỗ lực của mỗi DN thì việc liên kết, hợp tác giữa các DN trong vùng với nhau và giữa các DN trong vùng ĐBSCL với khu vực Đông Nam bộ và đặc biệt là với TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội - 2 trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước, để khai thác tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương, của mỗi vùng kinh tế.
PHƯƠNG ANH

Doanh nghiệp ĐBSCL cần “hồi sức”

(HQ Online)- 

Tại Diễn dàn Doanh nghiệp (DN) diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế vùng ĐBSCL - MDEC 2013, 3 “nút thắt” lớn nhất đã được chỉ rõ là khó tiếp cận vốn tín dụng, hàng tồn kho cao và không có thị trường tiêu thụ. Nếu như không có giải pháp để tháo gỡ các nút thắt này và “hồi sức”, thì số DN ĐBSCL teo tóp và phá sản sẽ ngày càng gia tăng.


DN chế biến XK cá tra gặp nhiều khó khăn trong năm 2013. Ảnh: Q.D
65% DN giảm doanh thu
Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Chi nhánh Cần Thơ cho thấy từ đầu năm 2013 đến nay có tới 65% DN ĐBSCL giảm doanh thu, nguyên nhân là do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, lượng đơn đặt hàng ít, hàng tồn kho tăng cao… Doanh thu giảm đã kéo theo lợi nhuận sụt giảm nghiêm trọng. Qua phân tích, VCCI Cần Thơ cho rằng điều này có nguyên nhân là do năm nay là năm thứ 6 liên tiếp của suy thoái và khủng hoảng kinh tế, đã khiến cho DN suy kiệt mọi nguồn lực, đặc biệt đối với DN ĐBSCL chủ yếu hoạt động sản xuất kinh doanh lĩnh vực nông, thủy sản.
Ông Võ Hùng Dũng - Giám đốc VCCI Cần Thơ cho rằng, dù trong năm 2013, mặt bằng lãi suất cho vay đã hạ xuống như mong đợi của cộng đồng DN, tuy nhiên, chặng đường để DN và các tổ chức tín dụng “gặp nhau” dường như vẫn còn quá xa. Số đông DN chưa thể tiếp cận nguồn vốn vay sản xuất kinh doanh, do vậy không thể mở rộng đầu tư, thị trường và giải quyết hàng tồn kho.
Bên cạnh đó, khi được hỏi về các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong thời gian qua, thì chỉ tiêu về nhu cầu thị trường trong nước được nhiều DN vùng ĐBSCL cho rằng ngày càng kém đi (47,5%). Chỉ tiêu thứ 2 về giá thành sản xuất, có 30% cho rằng ngày càng kém đi. Chỉ tiêu thứ 3 về tiếp cận vốn, có 20% nhận định tình hình đang ngày một xấu đi.
Cần “hồi sức” cho doanh nghiệp
Theo ông Đoàn Duy Khương - Phó Chủ tịch VCCI Việt Nam, có một điều đáng lưu ý là cả hai phía ngân hàng và DN đều nỗ lực và mong muốn gặp nhau. Tuy nhiên, nỗ lực này vẫn chưa giải quyết được khó khăn về vốn hiện nay, nguyên nhân là do nền kinh tế của chúng ta vẫn chưa phục hồi, tổng cầu thấp. Ngoài ra, lòng tin của DN vào nền kinh tế bị giảm sút, các DN có đủ điều kiện vay thì không muốn đi vay, ngược lại các DN “xếp hàng” chờ vay thì lại không đủ điều kiện vay do nợ xấu và tài sản thế chấp.
Một số DN tại Diễn đàn thừa nhận DN vùng ĐBSCL thời gian qua hoạt động kém hiệu quả còn bắt nguồn từ việc chưa theo kịp quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vẫn còn loay hoay trên “sân nhà” mà chưa có sự chuẩn bị để cạnh tranh với một thị trường rộng lớn hơn đang phát triển. Thực tế cho thấy các DN không chủ động giải quyết được các khó khăn về thị trường, nguyên liệu đầu vào, bán phá giá và các hàng rào kỹ thuật, phi thương mại… Do quy mô DN còn nhỏ, manh mún, thiếu liên kết, liên doanh và không thể thực hiện được những yêu cầu chính nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế.
ThS Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ khuyến nghị trong khi chờ đợi các chính sách hỗ trợ DN phát huy tác dụng, việc tăng cường liên kết giữa các DN với nhau là nhu cầu tất yếu từ thực tiễn, các DN phải biết tận dụng thế mạnh của nhau để phát huy khả năng sản xuất kinh doanh. Từ đó tiến tới xây dựng và hoàn thiện các chuỗi giá trị, tập trung vào 3 cụm ngành lúa gạo, thủy sản và trái cây để có chiến lược quảng bá chung cho toàn vùng.
“Về lâu dài, Chính phủ cần ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào 3 cụm ngành trên. Lồng ghép các chương trình bình ổn giá, sự hỗ trợ, đóng góp của các địa phương, DN để hình thành nên Quỹ hỗ trợ DN Vùng ĐBSCL”, ThS Trần Hữu Hiệp đề xuất.
Đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết bên cạnh các giải pháp về lãi suất, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ vốn vay. Đồng thời điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt nhưng giữ nguyên nhóm nợ tạo điều kiện cho các khách hàng vay có thể tiếp cận khoản vay mới. Ngoài ra, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN ĐBSCL có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Quang Duy

ĐBSCL: Liên kết phát triển các dòng sản phẩm chủ lực vùng

(Thứ Năm, 26/12/2013 14:41)
Radiovietnam-Lúa gạo, trái cây và thủy sản là những sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, mối liên kết giữa các địa phương trong vùng để phát huy các thế mạnh trên còn lỏng lẻo.
Nghe nội dung chi tiết tại đây: 
Từ lâu, lúa gạo, trái cây và thủy sản là những sản phẩm chủ lực, là thế mạnh của vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, mối liên kết giữa các địa phương trong vùng để phát huy các thế mạnh nói trên còn lỏng lẻo. Ngoài ra, chưa có sự tách bạch trong khái niệm "vùng"; quy chế quản trị vùng, cơ chế phối hợp hạn chế; tình trạng cạnh tranh cục bộ dẫn đến phá vỡ quy hoạch chung… là những thách thức đối với các dòng sản phẩm chủ lực vùng ĐBSCL trong nhiều năm qua.
Nhiều vấn đề chồng chéo
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, thời gian qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã phối hợp với các địa phương trong vùng chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, tham mưu, đề xuất các chính sách phát triển các sản phẩm chủ lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội chung của vùng.
Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần hoàn thiện, đặc biệt là cần có cơ chế pháp lý về liên kết vùng hiệu quả, thiết thực. Vùng kinh tế, trong đó có vùng ĐBSCL không phải là đơn vị hành chính-kinh tế nên việc phân bổ ngân sách, nguồn lực đầu tư hoàn toàn do Trung ương đảm nhiệm. Sự đầu tư của Trung ương và các tỉnh, thành chủ yếu là để phát triển kinh tế-xã hội chung của địa phương, qua đó đóng góp cho vùng.
Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho biết: "Việc phân vùng kinh tế hiện nay mang tính chất tương đối, chủ yếu phục vụ yêu cầu chỉ đạo, định hướng chính sách. Đây là nguyên nhân khiến không gian kinh tế vùng bị chia cắt và thu hẹp. Nhiều cụm ngành kinh tế và các sản phẩm thế mạnh mà các địa phương có lợi thế chung không được liên kết hoặc lợi thế so sánh không được phát huy mà còn cạnh tranh cục bộ lẫn nhau, chuỗi giá trị ngành hàng bị cắt khúc. Đó là chưa kể tình trạng đầu tư trùng lắp, tính gia tăng giá trị thấp, suất đầu tư cao do không tận dụng được "lợi thế cùng chung" trên cơ sở phân công nội bộ vùng và liên vùng".
Tại Hội thảo khoa học "Giải pháp khai thác tiềm năng kinh tế - xã hội các tỉnh ĐBSCL theo hướng liên kết vùng", do Trường Đại học Cần Thơ tổ chức vừa diễn ra tại TP Cần Thơ, nhiều ý kiến cho rằng, cơ cấu kinh tế của các tỉnh, thành trong vùng có đặc điểm chung là hoạch định chiến lược theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, giảm nông-lâm ngư nghiệp. Nghĩa là hướng đến cơ cấu kinh tế tương tự nhau hơn là tận dụng lợi thế chung (hợp tác) và khai thác lợi thế so sánh (đặc thù) của từng địa phương…

Là một trong những thế mạnh của vùng ĐBSCL, song cây ăn trái vẫn chưa có những chính sách đồng bộ để phát triển ngành hàng này.
Dễ thấy nhất là tình trạng tỉnh, thành nào cũng có khu, cụm công nghiệp, chợ đầu mối hoặc có xu hướng chạy đua để xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, trung tâm giống… Kết quả là đầu tư dàn trải, chậm phát huy hiệu quả. Nhiều ý kiến cho rằng, thực trạng hiện nay là cấp tỉnh đang chi phối và quyết định sự phát triển kinh tế vùng.
Do đó, kinh tế ĐBSCL mặc dù có nhiều lợi thế về sản phẩm mũi nhọn nhưng chưa thể phát huy như mong muốn. Bên cạnh đó, ĐBSCL còn bộc lộ yếu kém trong sử dụng tài nguyên nông nghiệp theo lợi thế tiểu vùng sinh thái. Điều này được thể hiện qua việc quy hoạch và sử dụng quy hoạch sản xuất, thường được thực hiện cấp tỉnh hơn là cấp vùng.

Thêm vào đó, kế hoạch đầu tư theo kiểu đơn lẻ từng Bộ, ngành; từ trên xuống một chiều và theo cơ chế "xin-cho" vẫn còn diễn ra. Cách làm đơn lẻ này dẫn đến nhiều khó khăn trong việc tập trung vùng nguyên liệu để kêu gọi đầu tư chế biến nông, thủy sản; khó tổ chức nông dân khai thác lợi thế so sánh, tạo vùng nguyên liệu và nối kết với thị trường…
Các chuyên gia nhận định, bên cạnh tổ chức quản trị vùng và cơ chế phối hợp giữa các tỉnh còn hạn chế, thì cơ chế chính sách nhằm định hướng và hỗ trợ sự phát triển các sản phẩm chủ lực của vùng chưa có sự đồng bộ. Thống kê từ Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành hơn 400 văn bản đối với ba sản phẩm chủ lực của vùng: lúa gạo, thủy sản và cây ăn quả.
Trong đó, chính sách đưa ra nhiều nhất về lúa gạo chiếm 50%, thủy sản 40% và cây ăn trái chỉ chiếm 10%.
"Các chính sách thể hiện tầm nhìn chiến lược, góp phần làm tăng sản lượng và xuất khẩu. Tuy nhiên, mặt hạn chế của chính sách là nặng thúc đẩy phát triển sản xuất hơn là tiếp cận thị trường; thiếu đánh giá, phản hồi dẫn đến tình trạng chồng chéo và chậm cải tiến; thiếu lồng ghép về chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu và thiếu liên kết công cụ chính sách. Chẳng hạn, liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa theo mô hình "Cánh đồng lớn" chưa gắn với Nghị định 109/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, Quyết định 63/2010/QĐ-TTg và 65/2011/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông, thủy sản hoặc các cơ chế hỗ trợ tài chính, tín dụng để kết nối chuỗi…" - Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL nhận xét.
Tìm giải pháp thỏa đáng
Từ thực trạng trên, nhiều ý kiến cho rằng cần thống nhất, quán triệt chủ trương, xây dựng chương trình liên kết vùng, cơ chế chính sách, khung hợp tác cho vùng.
Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp cho biết: "Thủ tướng Chính phủ đã thống nhất chủ trương liên kết vùng ĐBSCL, Quy chế liên kết vùng cũng đã được dự thảo, đang lấy ý kiến đóng góp. Song, từ chủ trương đến hiện thực là cả một quá trình, đòi hỏi phải được quán triệt, chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả".

Theo ông Hiệp, trước hết, chương trình liên kết vùng ĐBSCL cần tập trung vào 3 sản phẩm mũi nhọn: lúa gạo, trái cây, thủy sản (tôm, cá tra); liên kết vùng trong đào tạo nghề cho nông dân để phát triển sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm trên.
Thời gian qua, nhiều chính sách của Chính phủ, chương trình, dự án trong và ngoài nước đầu tư vào vùng ĐBSCL, nhưng kết quả đạt được không như mong muốn. Vì vậy, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, thực hiện chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp tại ĐBSCL cần phải giải quyết các hạn chế đối với nông dân (sản xuất nhỏ và năng lực quản lý kém), nông nghiệp (giá trị kém và tính cạnh tranh thấp) và nông thôn (lạc hậu và tổn thương cao), biến đổi khí hậu cùng với tình trạng khan hiếm đất nông nghiệp.
Một số ý kiến đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào 3 sản phẩm chủ lực; tập trung hoàn thiện cơ cở hạ tầng kinh tế; khai thông các kênh tín dụng (vốn ngân sách, ODA, FDI, vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng ngân hàng) và đào tạo nguồn nhân lực để phát triển các sản phẩm chủ lực này…
Ông Trương Văn Kiệm, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã TP Cần Thơ, đề xuất: "Để khắc phục nhược điểm, rào cản đưa các sản phẩm chủ lực của vùng phát triển cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, liên kết trong sản xuất (nông dân-nông dân, nông dân-doanh nghiệp) với những những mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác, câu lạc bộ, "Cánh đồng lớn"… cần được nhân rộng.
Liên kết nông dân-nông dân nhằm thực hiện "hành động tập thể" và lợi ích từ "hành động tập thể" mang lại phải lớn hơn hành động riêng lẻ do từng cá nhân quyết định. Làm tốt liên kết giữa nông dân-nông dân cũng nhằm tạo ra điều kiện nội lực để thực hiện liên kết nông dân-doanh nghiệp"
 Ở lĩnh vực thủy sản, trước những bất cập trong hợp đồng tiêu thụ cá tra thời gian qua, các địa phương trong vùng cho rằng việc liên kết các bên trong chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra là điều cần thiết. Trong đó, cần giải quyết căn cơ từ góc độ quản lý Nhà nước đến quy trình quản lý kỹ thuật, ký kết hợp đồng và các chế tài kèm theo để phát huy được hiệu quả của việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng như Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành.
Thông tin từ Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, hiện Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Trường Đại học Cần Thơ, Viện Lúa ĐBSCL, Viện Cây ăn quả Miền Nam phối hợp với các bộ, ngành liên quan và 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL xây dựng Chương trình Phát triển bền vững các ngành hàng nông nghiệp chủ lực ở ĐBSCL thông qua liên kết vùng, với sự tham gia của "4 nhà".
Chương trình gồm 5 dự án: Phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo; phát triển sản xuất và tiêu thụ trái cây; hỗ trợ đề án cá tra và tôm qua tham gia "4 nhà"; liên kết đào tạo nghề nông thôn để thực hiện 3 dự án trên và nghề phi nông nghiệp theo yêu cầu địa phương; cơ chế, tổ chức và chính sách thực hiện các dự án nêu trên.
Nếu Chương trình trên được Chính phủ thông qua, tổ chức thực hiện một cách bài bản, đúng quy trình sẽ là nền tảng khoa học và thực tiễn vững chắc để phát triển, cải thiện năng lực cạnh tranh ngành hàng chủ lực. Qua đó tăng thu nhập cho nông dân trồng lúa, trái cây, nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu; góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và phát triển bền vững nông thôn vùng ĐBSCL...

Chuyện mục Theo dòng thời sự (Đài PT&TH Hậu Giang

27 tháng 12, 2013

Thẩm quyền

Giả dụ bạn không phải là thành viên của một hội đoàn nào đó nhưng bỗng dưng bị bắt nộp hội phí hay đoàn phí, có lẽ chẳng ai chịu nộp tiền một cách phi lý như vậy. Giả thử tiếp các tổ chức hay doanh nghiệp không có hoạt động của hội đoàn này bên trong tổ chức hay doanh nghiệp của mình nhưng lại bị buộc phải nộp hội phí hay đoàn phí thì sự phi lý càng bị nhân lên bội lần.
Người đạp xe lôi tóc dài
Thế nhưng theo Nghị định 191 vừa mới ban hành vào cuối tháng trước, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế không phân biệt là đã có hay chưa có tổ chức công đoàn cơ sở vẫn phải nộp kinh phí công đoàn. Thử tưởng tượng một doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ có 5, 7 công nhân nên không thành lập công đoàn cơ sở mà người chủ vẫn phải trích 2% quỹ lương để đóng phí công đoàn thì làm sao thuyết phục được họ (quỹ lương ở đây là quỹ lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động). Hay một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong năm đầu tiên hoạt động chưa tổ chức công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp của mình vì nhiều lý do, nay bắt nhà đầu tư phải trích 2% quỹ lương để nộp công đoàn phí, làm sao giải thích cho họ hiểu và chấp nhận nộp?

Nghị định 191 nói việc đóng kinh phí công đoàn này là dựa vào quy định tại khoản 2, điều 26 Luật Công đoàn. Nhưng khoản 2, điều 26 chỉ ghi: “Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động” chứ đâu quy định là buộc các nơi chưa thành lập công đoàn nộp công đoàn phí?

Theo Luật Công đoàn, “công đoàn được thành lập trên cơ sở tự nguyện” do đó vẫn có thể suy ra tại nhiều doanh nghiệp, người lao động tự nguyện không thành lập công đoàn là chuyện bình thường. Và một khi họ đã không thành lập công đoàn, làm sao bắt họ nộp kinh phí công đoàn cho được - đây là một quy định phi lý cần chỉnh sửa lại ngay. Điều này càng rõ hơn với hình thức hợp tác xã, nơi xã viên có sự bình đẳng với nhau chứ không phải dưới hình thức chủ-thợ nên hoạt động công đoàn hầu như không cần thiết và không phù hợp. Thế nhưng hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân đều là đối tượng phải nộp công đoàn phí bất kể có hay không có tổ chức công đoàn!

Chúng ta phải dự kiến trước những tình huống theo yêu cầu của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là công nhân có quyền tổ chức công đoàn của họ, lúc đó lại càng không thể bắt giới chủ nộp công đoàn phí theo như quy định tại Nghị định 191.

Trong thực tế, trước đây các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp 1% quỹ lương cho kinh phí công đoàn; kể từ khi Luật Công đoàn có hiệu lực từ đầu năm 2013, tỷ lệ này được nâng lên thành 2% và đã gặp nhiều sự phản đối từ các nhà đầu tư. Nay buộc cả doanh nghiệp không có tổ chức công đoàn mà vẫn phải nộp 2% thì càng khó hơn. Và trong thực tế, một phần kinh phí công đoàn thường được để lại cho công đoàn cơ sở; nay không có công đoàn cơ sở thì để cho ai? Nộp hết thì càng phi lý hơn.

Thiết nghĩ kinh phí công đoàn thuộc thẩm quyền quyết định của người lao động với nhau và với công đoàn cấp trên chứ không phải thuộc thẩm quyền hành chính. Nên rành mạch chỗ này mới thuyết phục được nhà đầu tư.

*                      *                      *

Theo một quy định vừa có hiệu lực của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì phụ nữ không được làm một số công việc, chủ yếu là loại công việc nặng nhọc, độc hại như “khoan thăm dò, khoan nổ mìn bắn mìn” hay “cậy bẩy đá trên núi”... Đây là một ý định tốt đẹp nhằm bảo vệ phụ nữ nói chung hay phụ nữ có thai hay đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, theo phản ảnh của báo chí, trong hàng triệu lao động nữ, có rất nhiều trường hợp đang làm đúng trong 77 loại công việc bị cấm làm này, chẳng hạn “khai thác tổ yến”, “mang vác trên 50 ki lô gam”, “vận hành máy hồ, máy nhuộm”...

Khi cấm sử dụng lao động nữ trong những công việc này (từ ngày 15-12-2013) tức sẽ có nhiều người bị mất việc đột ngột. Giới chủ nếu tiếp tục giao phụ nữ làm những công việc này ắt sẽ ép tiền công xuống để bù trừ rủi ro bị phạt. Như vậy một chính sách dù tốt đẹp nhưng dẫn đến những hệ quả không mong muốn thì phải cân nhắc để điều chỉnh bằng không chuyện tốt đẹp đâu chưa thấy, lại thấy bất lợi thêm cho phụ nữ.

Về mặt ban hành văn bản pháp luật, Thông tư 26 này là dựa vào điều 160 Bộ luật Lao động năm 2012. Tuy nhiên, điều 160 có yêu cầu Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành danh mục các công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con sau khi đã phối hợp với Bộ Y tế. Trong khi đó, Thông tư 26 không có dòng nào nói là đã thực hiện công đoạn phối hợp với Bộ Y tế nên không rõ căn cứ khoa học để bộ ban hành thông tư là đã rõ ràng chưa. Với những văn bản liên quan đến bình đẳng nam nữ như thế này, ắt cũng phải có ý kiến của những người trong cuộc là phụ nữ và đại diện của họ.

Nông nghiệp trụ vững với khó khăn

Dân Việt - Hôm qua (26.12), Bộ NNPTNT đã chính thức công bố kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm 2013.

Theo đó, dù gặp rất nhiều khó khăn, song sản xuất vẫn tăng trưởng mạnh; xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực dù bị suy giảm đáng kể nhưng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành vẫn tăng... 

Kỷ lục mới của lương thực


Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cả năm nay ước đạt 801.200 tỷ đồng (xấp xỉ 40 tỷ USD), tăng 2,95% so với năm 2012, trong đó nông nghiệp đạt 602.300 tỷ đồng. Đặc biệt, về sản xuất nông nghiệp năm 2013 tăng trưởng khá, sản lượng trồng trọt tiếp tục vượt kỷ lục năm 2012 khi đạt tới 49,3 triệu tấn lương thực có hạt (tăng gần 559.000 tấn), riêng sản lượng lúa đạt 44,1 triệu tấn (vượt mốc kỷ lục 43,7 triệu tấn của năm ngoái).
Dù gặp nhiều khó khăn, năm nay xuất khẩu nông, lâm thủy sản vẫn đạt 27,46 tỷ USD.
Dù gặp nhiều khó khăn, năm nay xuất khẩu nông, lâm thủy sản vẫn đạt 27,46 tỷ USD.

Thứ trưởng Bộ NNPTNT Lê Quốc Doanh cho biết, năm nay có thể coi là một năm vô cùng khó khăn đối với ngành sản xuất nông nghiệp, khi hồi đầu năm chúng ta bị hạn hán, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền Trung. Còn ở miền Bắc, vào cuối vụ mùa liên tục xảy ra mưa khiến sâu bệnh phát triển, làm giảm sản lượng lúa. Tuy nhiên, đứng trước những khó khăn đó, ngành nông nghiệp đã rất chủ động và tích cực triển khai nhiều biện pháp để khắc phục, nên trồng trọt tiếp tục tăng trưởng tốt. 

Cụ thể, theo ông Doanh, Bộ NNPTNT đã chỉ đạo căn cơ lại thời vụ gieo trồng, tăng cường sử dụng các giống lúa ngắn ngày cho năng suất cao, đặc biệt Bộ đã chỉ đạo và phối hợp rất sát với các địa phương. Song ông Doanh cho rằng, kết quả đạt được của ngành nông nghiệp năm qua chủ yếu do nông dân đã vượt qua khó khăn để tiếp tục duy trì sản xuất, đó mới là nguyên nhân quan trọng làm tăng sản lượng ngành trồng trọt.

Trong khi đó, ngành chăn nuôi dù đối mặt với nhiều khó khăn, song tổng sản lượng thịt hơi cả năm vẫn tăng nhẹ, đạt 4,3 triệu tấn, nhất là giá các loại thịt trong những tháng cuối năm này đã có dấu hiệu tăng trở lại, nhiều hộ gia đình đã tái đàn để chuẩn bị lượng thịt cung ứng cho dịp tết.

Kim ngạch xuất khẩu đạt 27,4 tỷ USD

Chưa năm nào trong nhiều năm trở lại đây, ngành nông nghiệp nước ta phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, giá bán các mặt hàng nông sản liên tục giảm sút. Đó cũng chính là lý do dẫn đến hàng loạt các mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, cao su… bị suy giảm về kim ngạch xuất khẩu. Theo số liệu báo cáo của Bộ NNPTNT, tổng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản năm 2013 đạt 27,469 tỷ USD, tăng 0,7% so với năm 2012. 

Trong đó, xuất khẩu gạo giảm cả về khối lượng và giá trị khi chỉ đạt 6,61 triệu tấn (năm trước là 8 triệu tấn) và thu về 2,9 tỷ USD (giảm 19,7%). Xuất khẩu cà phê cũng chỉ đạt 1,32 triệu tấn với giá trị 27,5%, giảm 25,1% về kim ngạch. Nguyên nhân chính theo TS Đặng Kim Sơn- Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard), phần lớn diện tích cà phê đã già cỗi đến lúc phải trồng lại, nhưng vì còn tận thu được nên nông dân không trồng mới. Nếu cứ tiếp tục vắt kiệt như vậy, trong vài năm tới, sản lượng cà phê chắc chắn sẽ còn sụt giảm đột ngột.

Bên cạnh mặt hàng lúa gạo và cà phê, cao su cũng là ngành có kim ngạch xuất khẩu giảm, khi cả năm ước đạt 2,52 tỷ USD, giảm 11,6%, nguyên nhân chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân giảm chỉ còn trên 2.332 USD/tấn so với mức 2.818 USD của năm 2012. Tuy nhiên, bên cạnh các “điểm tối” trong xuất khẩu trên, các ngành hàng khác như điều tiếp tục tăng (đạt 1,63 tỷ USD), tiêu 901 triệu USD (tăng 13,6%), gỗ (5,37 tỷ USD)…

Nhận định chung về tình hình xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm nay, TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Ipsard cho rằng, có 2 nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm của nhiều mặt hàng: Về mặt khách quan là do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, giá xuống thấp. Còn về mặt chủ quan là do chúng ta chưa kịp thời chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để theo kịp thị trường. 

Sẽ thay đổi toàn diện

Đứng trước những khó khăn của ngành, năm 2013, Bộ NNPTNT là ngành đầu tiên triển khai xây dựng đề án tái cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng tăng trưởng bền vững. Tới tháng 6, đề án này đã chính thức được Thủ tướng ký quyết định phê duyệt. Theo TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, về nguyên tắc nếu triển khai được đề án này sẽ thay đổi toàn diện ngành nông nghiệp hiện nay, khi sản xuất cây trồng, vật nuôi thay vì chạy theo số lượng, phong trào sẽ chuyển sang sản xuất theo thị trường, từ đó giúp tăng giá trị gia tăng.

TS Tuấn cho biết, do đề án mới phê duyệt được 6 tháng, các cơ quan thuộc Bộ NNPTNT và các địa phương mới đang ở trong giai đoạn tìm hiểu để triển khai, nên đến thời điểm này chưa thấy rõ tác động từ đề án này. Chúng ta hy vọng sang năm 2014, các bộ, ngành, địa phương cùng vào cuộc triển khai mạnh đề án này, thì ngành nông nghiệp mới thay đổi được. Tuy nhiên, theo TS Tuấn có 2 “điểm nghẽn” hiện nay cần tháo gỡ, đó là đất đai và thị trường. Để làm được điều này, cần có cả sự vào cuộc mạnh mẽ của các bộ, ngành khác như công thương, ngân hàng… chứ một mình Bộ NNPTNT không thể làm hết được. 

Tại hội nghị triển khai các nhiệm vụ kinh tế- xã hội năm 2014 do Chính phủ tổ chức mới đây, Bộ trưởng NNPTNT Cao Đức Phát đã nhận định, tăng trưởng của toàn ngành là 2,95%, trong khi bình quân các năm trên 3% là tồn tại, điểm yếu mà ngành sẽ tập trung cao độ để khắc phục trong những năm tới. 

“Việc khôi phục tốc độ tăng trưởng trước hết sẽ nhằm vào những ngành hàng có thị trường, có lợi thế để tập trung vào sản phẩm lợi thế, có giá trị gia tăng cao bằng cách áp dụng mạnh khoa học, kỹ thuật"- Bộ trưởng Cao Đức Phát nói. Chẳng hạn như với lúa gạo, theo đánh giá, thị trường 2014 tiếp tục còn nhiều khó khăn, khi nguồn cung từ các nước xuất khẩu khác khá dồi dào.

Vì vậy, Bộ NNPTNT khuyến nghị các địa phương tiếp tục duy trì sản lượng, nhưng tập trung sản xuất gạo chất lượng cao, hạn chế các giống chất lượng thấp. Đồng thời, cần đẩy mạnh diện tích trồng ngô, như năm vừa qua vẫn phải nhập khẩu 2,3 triệu tấn ngô, chiếm gần một nửa nhu cầu trong nước. Đây là “dư địa” thị trường mà nông nghiệp hoàn toàn có thể tập trung sản xuất, khai thác, nhất là vùng khó khăn về nguồn nước. 
Điểm sáng từ thủy sản

Nếu một số mặt hàng nông sản bị suy giảm lớn về kim ngạch xuất khẩu, thì trong năm 2013, xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tôm đã đạt được con số kỷ lục với 6,7 tỷ USD thu về (tăng tới 10,1% so với năm 2012), trong đó Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất chiếm gần 22% thị phần.

Về nuôi trồng thủy sản, ngành nuôi cá tra tiếp tục gặp khó khăn do giá thành ở mức thấp (21.000-23.500 đồng/kg), khiến nhiều hộ nuôi cá tra liên tục bị thua lỗ, phải thu hẹp diện tích sản xuất, thậm chí “treo ao”, đã có nhiều hộ phải bán ao cho doanh nghiệp. Trái lại, nghề nuôi tôm nước lợ lại khởi sắc trong năm, do cả sản lượng và giá thành đều tăng, nên người nuôi tôm đã có lãi lớn. Tôm cũng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD cho ngành thủy sản.

Đánh giá về ngành thủy sản, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát cho biết, năm 2014 mở ra nhiều cơ hội với thị trường chăn nuôi thủy sản (quy mô 3,2 triệu tấn hiện nay), như nhu cầu tôm chân trắng tăng tới 60%, đây là thời cơ tốt để thúc đẩy mặt hàng này. Tuy vậy, cần phải quy hoạch chặt chẽ quy mô, quản lý chất lượng giống, thức ăn; phòng chống tốt dịch bệnh… để đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Ngọc Lê

24 tháng 12, 2013

Phó Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân:Việt Nam có một luật rất lạ mà thế giới chưa có...

Phó Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân. Ảnh: VOV
Phát biểu tại phiên họp sáng 20.9 về kết quả triển khai thi hành các luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII thông qua, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân bình luận: “Ở VN có một luật rất hay, rất lạ mà thế giới chưa có là luật phổ biến giáo dục pháp luật. Có nghĩa, luật ban hành ra rồi vẫn không làm, đến khi ra thêm luật phổ biến giáo dục pháp luật cũng... chưa làm”.
Nhiều đại biểu đã “giật mình” sau khi nghe báo cáo về tình trạng yếu kém trong ban hành văn bản hướng dẫn luật.
Bộ nào cũng “nợ”
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, tình trạng nợ đọng các văn bản luật vẫn rất phổ biến. Nếu năm 2001 có 60 văn bản nợ, năm 2002 là 80, năm 2003 là 50, năm 2006 vọt lên 165 văn bản do quá trình gia nhập WTO, 2007 còn 52, 2010 nợ 45, năm 2011 có 58 văn bản thì đến thời điểm hiện tại của năm 2013 là nợ 93 văn bản. 

Trong đó, bộ nợ nhiều văn bản chi tiết luật nhất là Bộ Lao động-Thương binh Xã hội với 28/42 văn bản. Bộ Giáo dục-Đào tạo về nhì khi còn nợ 14/15 văn bản (mới ban hành được 1 văn bản). Bộ Tài chính nợ 12/19 văn bản và cá biệt, Bộ Công Thương phải ban hành 10 văn bản thì nợ cả 10/10, trong đó có Luật Điện lực.   

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng bức xúc: “Hết nhiệm kỳ nào cũng báo cáo rất tiến bộ, làm tốt cả, giờ mới thấy hóa ra không phải thế. Lâu nay cứ tưởng thế, nhưng giờ nhìn lại là đủ ớn”. Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu phải quy trách nhiệm cho rõ địa chỉ, như trách nhiệm của người trình, người thẩm tra, người đề nghị và cả trách nhiệm của đại biểu và người thông qua để tăng cường quy trình làm luật.
Toàn thạc sĩ, tiến sĩ luật mà tính thực tế của luật vẫn hạn chế
Ủy viên Thường vụ Quốc hội Phùng Quốc Hiển dẫn báo cáo của Chính phủ cho biết, có  55,6% các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực nhưng chưa có quy định nội dung chi tiết, tức chỉ có 44% luật có đủ điều kiện triển khai. 

Tuy nhiên, tỉ lệ nợ đọng văn bản quy định chi tiết pháp luật theo báo cáo thanh tra của UB Pháp luật Quốc hội còn lên đến gần 67%. Đáng chú ý là trong số các văn bản chưa được ban hành thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì có đến 46 văn bản quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính và 10 văn bản quy định chi tiết Bộ luật Lao động (sửa đổi), mà đây lại là hai trong số văn bản luật có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội.  

Ông Hiển lý giải điều này có nghĩa luật hiệu lực thì có, nhưng không được thực hiện đúng thời điểm. “Riêng về số lượng đã là đáng quan ngại, chứ chưa nói về chất lượng” – ông nhận định. 

Ông dẫn ra nguyên nhân là do chất lượng xây dựng luật chưa tốt, còn tình trạng luật khung, luật ống hay luật chờ nghị định thông tin, luật khẩu hiệu (luật nghị quyết). Ông Hiển cho rằng mấu chốt vấn đề là “ý thức trách nhiệm, sự cương quyết tổ chức thực hiện chưa tốt”.

Ông Ksor Phước - Chủ tịch  Hội đồng Dân tộc Quốc hội - bày tỏ sự thông cảm với Chính phủ, bởi cán bộ nguồn nhân lực chưa tương xứng. Ông băn khoăn: “Vụ pháp chế của các bộ gồm toàn cử nhân luật, thậm chí thạc sĩ và tiến sĩ luật cũng rất nhiều, nhưng không hiểu sao tri thức thực tiễn để xây dựng luật vẫn hạn chế”. 

Ông cho rằng cần phải có cách mạng cải cách về cách làm và hoạt động của các vụ pháp chế để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Đó là chưa kể “cùng một bộ mà thứ trưởng này phát biểu thế này, thứ trưởng khác nói khác”.

Luật vừa ban hành đã... kịp lạc hậu
Ông Ksor Phước cho biết khi ông đi giám sát, vấn đề bị kêu nhiều nhất là văn bản dưới luật để hướng dẫn rất chậm, mà nội dung thì khó hiểu. Khi ra được luật thì thực tiễn đã vượt qua luật rồi. 

“Khi luật được ban hành, Chủ tịch Quốc hội đã ký, Chủ tịch Nước công bố thì bản thân luật đã lạc hậu. Nhưng nghị định và văn bản hướng dẫn lại còn chậm hơn, nên ra đời xong thì đã phải sửa lại luật. Có những luật từ khi ban hành cho đến khi chưa có hiệu lực đã phải bổ sung, sửa đổi” - ông nói.

Bà Nguyễn Thị Nương - Trưởng ban Công tác đại biểu QH - “giật mình” trước thực tế triển khai văn bản quy định chi tiết luật “rất yếu”. 

Một lý do thường được nêu ra để lý giải cho tình trạng này là do nguồn lực hạn chế. Song bà Nương cho rằng, nếu cứ mãi phân tích và kêu ca về nguồn lực theo hướng này thì “còn lâu nữa mới khắc phục được”. Bà Nguyễn Thị Nương đề nghị UB Pháp luật báo cáo kinh phí xây dựng luật từ đầu nhiệm kỳ đến nay là bao nhiêu, trong đó chi bao nhiêu cho việc triển khai thực thi các văn bản chi tiết và triển khai luật xuống cuộc sống để các đại biểu Quốc hội đánh giá.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nói: “Ở VN có một luật rất hay, rất lạ mà thế giới chưa có là Luật Phổ biến giáo dục pháp luật. Có nghĩa, luật ra rồi vẫn không làm, đến khi phải ban hành thêm Luật Phổ biến giáo dục pháp luật cũng... chưa làm”. 

Bà Kim Ngân tóm tắt 5 nguyên nhân chủ yếu là do: “Nợ; chậm tiến độ; chưa nghiêm túc; chất lượng kém và nội dung chưa phù hợp”. Bà cho biết, bình quân một luật có 6-7 văn bản luật mới thực hiện được.

Liên quan đến kiến nghị của Chính phủ về việc “Nâng cao nhận thức bộ ngành, địa phương và đề cao trách nhiệm cá nhân của bộ trưởng”, bà Kim Ngân cho rằng “các bộ, ngành, địa phương mà còn không có nhận thức về thi hành pháp luật thì yếu quá”. 

“Đây là bộ phận tinh túy xã hội, phải lựa chọn để tìm được người vào bộ máy chính trị mà còn phải đi nâng cao năng lực cho họ thì không hiểu ra sao” - Phó Chủ tịch Quốc hội đặt câu hỏi. Theo bà, vấn đề phải là kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm và cách xử lý như thế nào. 

“Trong thực tế, chúng ta chưa từng xử lý một bộ, ngành nào chưa nghiêm túc triển khai thực hành pháp luật, thì giờ ta phải siết chặt kỷ luật, chứ không phải là nâng cao nhận thức cho họ nữa” - bà nhấn mạnh.



Sai một li, đi... cả họ

Nhiều hộ dân ở xã Phú Thịnh (H.Tam Bình, Vĩnh Long) “dở khóc, dở cười” chạy lo điều chỉnh giấy tờ cho con đi làm, đi học... bởi hơn 10 năm trước, giấy khai sinh của con em họ đã bị cán bộ tư pháp xã viết sai chính tả! 
Dấu ngã biến thành dấu hỏi
Tiếp xúc với chúng tôi vào chiều 4.9, ông Nguyễn Văn Bảy, Chủ tịch UBND xã Phú Thịnh, cho biết lãnh đạo địa phương cũng đang đau đầu về chuyện viết sai chính tả của ông Nguyễn Văn Khởi, cán bộ phụ trách công tác tư pháp, hộ tịch của xã từ năm 1994 - 2004. “Trong thời gian đương nhiệm, ông Khởi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, không gây phiền hà cho ai. Ngặt nỗi, ông hay bị sai chính tả; ai họ Nguyễn, họ Võ đều bị ông đánh máy thành “Nguyển”, “Vỏ” ráo trọi. Lúc đầu không ai để ý, cho đến khi người dân đi làm hồ sơ cho con em đi học, đi làm mới phát hiện”, ông Bảy nói.
 
Ông Bùi Văn Võ bức xúc trước việc giấy khai sinh của đứa cháu ghi Nguyển Thanh Ngân - Ảnh: T.Đ

Để tìm hiểu kỹ hơn về chuyện lạ đời này, chúng tôi đã tìm đến ấp Phú Hòa. Chỉ mới mở lời vài câu, ông Huỳnh Văn Thắng, Trưởng ấp Phú Hòa, bức xúc: “Tưởng chuyện gì chứ chuyện ông Khởi đánh máy sai họ, tên, chữ lót trong giấy khai sinh trong suốt 10 năm ông phụ trách công tác tư pháp, hộ tịch của xã thì nhiều lắm, nhớ không hết đâu. Ngay như con gái tôi tên Huỳnh Thị Mỹ Nương, nhưng trong giấy khai sinh thì chữ “Mỹ” bị biến thành “Mỷ”, không có ý nghĩa gì hết trơn. Chỉ là chữ lót thôi mà gia đình tôi phải xuống huyện điều chỉnh đến 4 lần mới hoàn chỉnh, chưa kể rất nhiều lần đến xã và trích lục nhiều loại giấy tờ khác”.
Tương tự, ông Bùi Văn Võ, Phó trưởng ấp Phú Hòa, cũng đang gặp rắc rối khi cháu ông tên Nguyễn Thanh Ngân mà trong giấy khai sinh lại ghi là Nguyển Thanh Ngân.
Sửa họ cho cả nhà

Không nhớ đánh lộn bao nhiêu trường hợp !
Chúng tôi đã tìm đến tận nhà ông Nguyễn Văn Khởi để tìm hiểu xem vì sao ông “đổi họ” cho nhiều người như vậy, ông Khởi buồn bã nói: “Lúc mới chia tách xã, tôi xin cái đánh máy chữ của khối dân vận về đánh khai sanh cho trẻ. Do chưa được tập huấn, tôi quen tay đánh dấu ngã thành dấu hỏi hết. Tôi cũng không nhớ là đánh lộn cho bao nhiều trường hợp, nhưng chỉ khoảng 3 năm đầu khi tôi làm cán bộ tư pháp. Sau khi được tập huấn đàng hoàng, tôi đã có sửa chữa. Tôi không ngờ việc sơ suất đánh nhầm dấu của mình lại gây phiền hà cho nhiều người như vậy. Tôi cảm thấy hết sức có lỗi,  mong mọi người thông cảm”.
Đến giờ, người ta vẫn chưa thể biết trong 10 năm phụ trách công tác tư pháp, hộ tịch, ông Khởi đã “đổi họ” cho bao nhiêu trường hợp, trong tổng số hơn 2.000 hộ dân ở xã này. Theo nhiều người dân địa phương, lúc đưa con vào cấp 1, có nộp giấy khai sinh nhưng thầy cô không chú ý nên bỏ qua. Nhưng khi đến cấp 2, cấp 3, nhất là học sinh phổ thông chuyển cấp thì thầy cô ở trên xem rất kỹ coi giữa giấy khai sinh, sổ hộ khẩu và giấy CMND có khớp không. Chỉ đến khi ấy sai sót mới bị phát hiện và người dân vô cùng khổ sở khi phải chạy tới, chạy lui lo chỉnh sửa lại cho khớp. Ngay cả con của một lãnh đạo xã hiện nay cũng bị ông Khởi đổi họ, mới được điều chỉnh lại.
Đặc biệt, có những trường hợp phải đổi họ cho cả nhà vì sai sót tương tự. Như trường hợp của cha con em Nguyễn Trung Nông (19 tuổi, ấp Phú Hưng). Nông phải vất vả mới đổi lại được họ của em và người cha tên Nguyễn Thành Chơi (40 tuổi) từ Nguyển thành Nguyễn.
Không chỉ có họ Nguyễn mà họ Võ, ông Khởi cũng đánh luôn dấu hỏi. Cụ thể như trường hợp của 2 mẹ con em Võ Nguyễn Huyền Anh (17 tuổi) và mẹ là chị Nguyễn Thị Hà (49 tuổi, ấp Phú Hưng). Võ thì ông đánh thành Vỏ, còn Nguyễn thì thành Nguyển.
Đặc biệt, trường hợp của em Nguyễn Thanh Tín (ở ấp Phú An), sau nhiều lần nhờ xã tư vấn và đến H.Tam Bình làm đơn, ngày 22.3.2013, ông Lê Ngọc Đức, Phó chủ tịch UBND H.Tam Bình (Vĩnh Long) mới ký quyết định về việc cải chính họ cha, mẹ, con cho cả gia đình. Trong khai sinh, ông Khởi đánh máy là Nguyển Thanh Tín (15 tuổi); tên cha: Nguyển Thanh Tùng và mẹ là Nguyển Thị Thu Hằng. Nay cải chính họ Nguyển thành Nguyễn cho cả 3 người…
Tạo điều kiện thuận lợi cho dân chỉnh sửa họ
Ông Nguyễn Văn Bảy, Chủ tịch UBND xã Phú Thịnh, nói bản thân ông Khởi cũng mang họ Nguyễn nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông lại có sự nhầm lẫn tai hại đến như thế. “Chúng tôi rất mong người dân thông cảm vì sơ suất này. Chúng tôi hứa sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân lấy lại họ của mình”, ông Bảy cam kết.
Khi được hỏi xã sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho dân chỉnh sửa họ như thế nào, thì ông Trần Văn Tư Nhỏ, cán bộ tư pháp đương nhiệm của xã Phú Thịnh, nói: “Tôi đảm nhận nhiệm vụ này được 3 năm thì có khoảng 30 trường hợp đến xin đổi lại dấu trong cái họ vì có con cái đi học hay xin việc gặp rắc rối. Theo luật, nếu người nào trên 14 tuổi thì chúng tôi hướng dẫn đến Phòng tư pháp huyện làm hồ sơ xin chuyển, còn nếu dưới 14 tuổi thì ở xã sẽ chỉnh sửa”.
Thanh Đức


23 tháng 12, 2013

Thư viện VideoClip: SẢN XUẤT TRÁI CÂY Ở ĐBSCL - VTV Cần Thơ


Vài lời: Có 1 chi tiết bị nhầm lẩn (chữ chạy trên màn hình Video), Trần Hữu Hiệp không phải là Tiến sĩ.

17/12/2013, 21:15:01 
(VTV Cần Thơ) - Ngoài gạo và thủy sản, đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất vàng để phát triển nhiều loại cây ăn trái đặc sản với giá trị kinh tế cao. Thế nhưng, với kiểu sản xuất cá thể, nhỏ lẻ, thiếu kỹ thuật, định hướng, hạn chế trong việc tiếp cận thông tin thị trường khiến người nông dân phải sản xuất theo kiểu mạnh ai nấy làm, lời ăn lỗ chịu. Do đó, dù được mệnh danh là vựa trái cây của quốc gia và kim ngạch xuất khẩu trái cây không ngừng tăng lên mỗi năm nhưng đời sống nhà vườn vẫn chưa được cải thiện. Để cây ăn trái phát huy hết tiềm lực vốn có, việc cải cách toàn diện từ tư duy đến quy trình sản xuất theo nhu cầu thị trường được xem là giải pháp giúp người nông dân có thể làm giàu từ chính mảnh đất của mình.
Trái cây là 1 trong 3 mặt hàng nông sản chủ lực của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cả nước hiện có khoảng 780.000 ha cây ăn trái, trong đó, chỉ riêng đồng bằng sông Cửu Long có đến 270.000 ha, cho sản lượng trái cây mỗi năm khoảng 7 triệu tấn. Theo Bộ Công thương, năm 2010, kim ngạch xuất khẩu trái cây của Việt Nam đạt 471 triệu USD, năm 2011 đạt 630 triệu USD và năm 2012 đạt trên 700 triệu USD. Nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh nhiều loại cây ăn trái trong vùng đã được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, GlobalGap. Điển hình như cây thanh long ở Tiền Giang, sau khi áp dụng quy trình Gap, năng suất từ 20 tấn/ha, nay tăng lên 35 tấn/ha. Nhiều hộ thâm canh giỏi lên đến 40 tấn/ha.
Tính đến tháng 11-2013, kim ngạch xuất khẩu trái cây của cả nước đạt hơn 900 triệu đôla, riêng mặt hàng thanh long chiếm 50% tổng kim ngạch.
 
Mặc dù sản lượng trái cây của ÐBSCL rất dồi dào nhưng chất lượng chưa đồng đều, hàng đạt chuẩn xuất khẩu chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Con số 10% tổng diện tích cây ăn trái, tức khoảng 300 ha đạt tiêu chuẩn Global GAP trên nhiều loại như bưởi năm roi, chôm chôm, thanh long, cam sành... thì diện tích tương ứng từng loại sẽ rất nhỏ. Theo Viện Cây ăn quả miền Nam, đó là nguyên nhân khiến gần 90% lượng trái cây của ÐBSCL phải tiêu thụ trong nước, chỉ có 10% xuất khẩu, mà chủ yếu là bán sang Trung Quốc. Thế là, nhiều loại đạt tiêu chuẩn “vàng” phải bán giá “chợ”. Nhiều nơi nông dân bỏ VietGAP hay Global Gap quay về với sản xuất truyền thống. Và tình trạng trồng rồi chặt theo phong trào lại tiếp tục tái diễn.
Trước thực trạng trên, để trái cây vùng ĐBSCL gia tăng giá trị và phát triển bền vững, việc mở rộng các thị trường xuất khẩu; đặc biệt là phát triển hệ thống các nhà máy chế biến trái cây xuất khẩu đang là vấn đề bức thiết hiện nay. Để làm được điều này, yếu tố quyết định vẫn là sự phối hợp đồng bộ của Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp./. (Duy Anh)

Liên kết phát triển các dòng sản phẩm chủ lực vùng


Báo Cần Thơ, Chủ nhật, 22/12/2013 21 giờ 05 GMT+0
Từ lâu, lúa gạo, trái cây và thủy sản là những sản phẩm chủ lực, là thế mạnh của vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, mối liên kết giữa các địa phương trong vùng để phát huy các thế mạnh nói trên còn lỏng lẻo. Ngoài ra, chưa có sự tách bạch trong khái niệm "vùng"; quy chế quản trị vùng, cơ chế phối hợp hạn chế; tình trạng cạnh tranh cục bộ dẫn đến phá vỡ quy hoạch chung… là những thách thức đối với các dòng sản phẩm chủ lực vùng ĐBSCL trong nhiều năm qua.
* Nhiều vấn đề chồng chéo
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, thời gian qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã phối hợp với các địa phương trong vùng chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, tham mưu, đề xuất các chính sách phát triển các sản phẩm chủ lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội chung của vùng. Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần hoàn thiện, đặc biệt là cần có cơ chế pháp lý về liên kết vùng hiệu quả, thiết thực. Vùng kinh tế, trong đó có vùng ĐBSCL không phải là đơn vị hành chính-kinh tế nên việc phân bổ ngân sách, nguồn lực đầu tư hoàn toàn do Trung ương đảm nhiệm. Sự đầu tư của Trung ương và các tỉnh, thành chủ yếu là để phát triển kinh tế-xã hội chung của địa phương, qua đó đóng góp cho vùng. Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho biết: "Việc phân vùng kinh tế hiện nay mang tính chất tương đối, chủ yếu phục vụ yêu cầu chỉ đạo, định hướng chính sách. Đây là nguyên nhân khiến không gian kinh tế vùng bị chia cắt và thu hẹp. Nhiều cụm ngành kinh tế và các sản phẩm thế mạnh mà các địa phương có lợi thế chung không được liên kết hoặc lợi thế so sánh không được phát huy mà còn cạnh tranh cục bộ lẫn nhau, chuỗi giá trị ngành hàng bị cắt khúc. Đó là chưa kể tình trạng đầu tư trùng lắp, tính gia tăng giá trị thấp, suất đầu tư cao do không tận dụng được "lợi thế cùng chung" trên cơ sở phân công nội bộ vùng và liên vùng".

Là một trong những thế mạnh của vùng ĐBSCL, song cây ăn trái vẫn chưa có những chính sách đồng bộ để phát triển ngành hàng này.
 

Tại Hội thảo khoa học "Giải pháp khai thác tiềm năng kinh tế - xã hội các tỉnh ĐBSCL theo hướng liên kết vùng", do Trường Đại học Cần Thơ tổ chức vừa diễn ra tại TP Cần Thơ, nhiều ý kiến cho rằng, cơ cấu kinh tế của các tỉnh, thành trong vùng có đặc điểm chung là hoạch định chiến lược theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, giảm nông-lâm ngư nghiệp. Nghĩa là hướng đến cơ cấu kinh tế tương tự nhau hơn là tận dụng lợi thế chung (hợp tác) và khai thác lợi thế so sánh (đặc thù) của từng địa phương… Dễ thấy nhất là tình trạng tỉnh, thành nào cũng có khu, cụm công nghiệp, chợ đầu mối hoặc có xu hướng chạy đua để xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, trung tâm giống… Kết quả là đầu tư dàn trải, chậm phát huy hiệu quả. Nhiều ý kiến cho rằng, thực trạng hiện nay là cấp tỉnh đang chi phối và quyết định sự phát triển kinh tế vùng. Do đó, kinh tế ĐBSCL mặc dù có nhiều lợi thế về sản phẩm mũi nhọn nhưng chưa thể phát huy như mong muốn. Bên cạnh đó, ĐBSCL còn bộc lộ yếu kém trong sử dụng tài nguyên nông nghiệp theo lợi thế tiểu vùng sinh thái. Điều này được thể hiện qua việc quy hoạch và sử dụng quy hoạch sản xuất, thường được thực hiện cấp tỉnh hơn là cấp vùng. Thêm vào đó, kế hoạch đầu tư theo kiểu đơn lẻ từng Bộ, ngành; từ trên xuống một chiều và theo cơ chế "xin-cho" vẫn còn diễn ra. Cách làm đơn lẻ này dẫn đến nhiều khó khăn trong việc tập trung vùng nguyên liệu để kêu gọi đầu tư chế biến nông, thủy sản; khó tổ chức nông dân khai thác lợi thế so sánh, tạo vùng nguyên liệu và nối kết với thị trường…

Các chuyên gia nhận định, bên cạnh tổ chức quản trị vùng và cơ chế phối hợp giữa các tỉnh còn hạn chế, thì cơ chế chính sách nhằm định hướng và hỗ trợ sự phát triển các sản phẩm chủ lực của vùng chưa có sự đồng bộ. Thống kê từ Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành hơn 400 văn bản đối với ba sản phẩm chủ lực của vùng: lúa gạo, thủy sản và cây ăn quả. Trong đó, chính sách đưa ra nhiều nhất về lúa gạo chiếm 50%, thủy sản 40% và cây ăn trái chỉ chiếm 10%. "Các chính sách thể hiện tầm nhìn chiến lược, góp phần làm tăng sản lượng và xuất khẩu. Tuy nhiên, mặt hạn chế của chính sách là nặng thúc đẩy phát triển sản xuất hơn là tiếp cận thị trường; thiếu đánh giá, phản hồi dẫn đến tình trạng chồng chéo và chậm cải tiến; thiếu lồng ghép về chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu và thiếu liên kết công cụ chính sách. Chẳng hạn, liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa theo mô hình "Cánh đồng lớn" chưa gắn với Nghị định 109/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, Quyết định 63/2010/QĐ-TTg và 65/2011/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông, thủy sản hoặc các cơ chế hỗ trợ tài chính, tín dụng để kết nối chuỗi…" - Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL nhận xét.
* Tìm giải pháp thỏa đáng
Từ thực trạng trên, nhiều ý kiến cho rằng cần thống nhất, quán triệt chủ trương, xây dựng chương trình liên kết vùng, cơ chế chính sách, khung hợp tác cho vùng. Thạc sĩ Trần Hữu Hiệp cho biết: "Thủ tướng Chính phủ đã thống nhất chủ trương liên kết vùng ĐBSCL, Quy chế liên kết vùng cũng đã được dự thảo, đang lấy ý kiến đóng góp. Song, từ chủ trương đến hiện thực là cả một quá trình, đòi hỏi phải được quán triệt, chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả". Theo ông Hiệp, trước hết, chương trình liên kết vùng ĐBSCL cần tập trung vào 3 sản phẩm mũi nhọn: lúa gạo, trái cây, thủy sản (tôm, cá tra); liên kết vùng trong đào tạo nghề cho nông dân để phát triển sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm trên.
Thời gian qua, nhiều chính sách của Chính phủ, chương trình, dự án trong và ngoài nước đầu tư vào vùng ĐBSCL, nhưng kết quả đạt được không như mong muốn. Vì vậy, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, thực hiện chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp tại ĐBSCL cần phải giải quyết các hạn chế đối với nông dân (sản xuất nhỏ và năng lực quản lý kém), nông nghiệp (giá trị kém và tính cạnh tranh thấp) và nông thôn (lạc hậu và tổn thương cao), biến đổi khí hậu cùng với tình trạng khan hiếm đất nông nghiệp. Một số ý kiến đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào 3 sản phẩm chủ lực; tập trung hoàn thiện cơ cở hạ tầng kinh tế; khai thông các kênh tín dụng (vốn ngân sách, ODA, FDI, vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng ngân hàng) và đào tạo nguồn nhân lực để phát triển các sản phẩm chủ lực này…
Ông Trương Văn Kiệm, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã TP Cần Thơ, đề xuất: "Để khắc phục nhược điểm, rào cản đưa các sản phẩm chủ lực của vùng phát triển cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, liên kết trong sản xuất (nông dân-nông dân, nông dân-doanh nghiệp) với những những mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác, câu lạc bộ, "Cánh đồng lớn"… cần được nhân rộng. Liên kết nông dân-nông dân nhằm thực hiện "hành động tập thể" và lợi ích từ "hành động tập thể" mang lại phải lớn hơn hành động riêng lẻ do từng cá nhân quyết định. Làm tốt liên kết giữa nông dân-nông dân cũng nhằm tạo ra điều kiện nội lực để thực hiện liên kết nông dân-doanh nghiệp". Ở lĩnh vực thủy sản, trước những bất cập trong hợp đồng tiêu thụ cá tra thời gian qua, các địa phương trong vùng cho rằng việc liên kết các bên trong chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra là điều cần thiết. Trong đó, cần giải quyết căn cơ từ góc độ quản lý Nhà nước đến quy trình quản lý kỹ thuật, ký kết hợp đồng và các chế tài kèm theo để phát huy được hiệu quả của việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng như Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành.
Thông tin từ Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, hiện Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Trường Đại học Cần Thơ, Viện Lúa ĐBSCL, Viện Cây ăn quả Miền Nam phối hợp với các bộ, ngành liên quan và 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL xây dựng Chương trình Phát triển bền vững các ngành hàng nông nghiệp chủ lực ở ĐBSCL thông qua liên kết vùng, với sự tham gia của "4 nhà". Chương trình gồm 5 dự án: Phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo; phát triển sản xuất và tiêu thụ trái cây; hỗ trợ đề án cá tra và tôm qua tham gia "4 nhà"; liên kết đào tạo nghề nông thôn để thực hiện 3 dự án trên và nghề phi nông nghiệp theo yêu cầu địa phương; cơ chế, tổ chức và chính sách thực hiện các dự án nêu trên. Nếu Chương trình trên được Chính phủ thông qua, tổ chức thực hiện một cách bài bản, đúng quy trình sẽ là nền tảng khoa học và thực tiễn vững chắc để phát triển, cải thiện năng lực cạnh tranh ngành hàng chủ lực. Qua đó tăng thu nhập cho nông dân trồng lúa, trái cây, nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu; góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và phát triển bền vững nông thôn vùng ĐBSCL...
Bài, ảnh: MỸ THANH

20 tháng 12, 2013

Vì sao đàn ông thích nhìn và sờ ngực phụ nữ?

Vài lời: chuyện tầm phào, chép ra để thư giãn, để vào mục Chuyện ngất ngưỡng. Ai không thích thì đừng đọc.

Có chuyện kể rằng một cặp vợ chồng sống ở nơi nhiều muỗi, rất khó chịu. Rồi một hôm, người chồng phát hiện ra gần đây tình trạng nhiều muỗi giảm hẳn, không hiểu tại sao. Để ý quan sát, tình cờ người chồng phát hiện ra, đám muỗi sau khi cắm vòi vào vú người vợ thì đều lăn ra chết. Hóa ra là chúng gẫy hết cả vòi và nhiễm độc vì vợ ông mang vú... nhựa Trung Quốc.

Vì sao đàn ông thích nhìn và sờ ngực phụ nữ?
Chắc chắn vòng số một của phụ nữ luôn là điểm thu hút đàn ông nhiều nhất. Nguyên do không hẳn chỉ vì liên quan đến mơ tưởng về "chuyện…". 80% ánh mắt nhìn đầu tiên của đàn ông tập trung vào ngực của phụ nữ và vòng số 3. Phái mạnh luôn tìm cách để mắt ở vòng một của phụ nữ lâu hơn các phần khác trên cơ thể. Vì sao vậy?
1. Vì “núi đồi” mang vẻ đẹp nữ tính và khêu gợi




Dù phụ nữ có da trắng đến nhường nào, mặt đẹp hay dáng hấp dẫn đến đâu thì trong mắt đàn ông, vòng 1 cũng không bao giờ thay đổi, vẫn là điểm cần dừng mắt đầu tiên và lâu nhất. Nó như một thỏi nam châm về giới tính mà đàn ông tìm thấy vẻ đẹp mềm mại, quyến rũ của Eva ở đó. Khi ngắm bộ ngực gợi cảm, họ sẽ lập tức có những liên tưởng xa xôi hơn đến một thân hình gợi cảm của nàng.

2. Vì “núi đồi” tiết lộ khả năng làm mẹ


Không chỉ mãn nhãn, theo các nhà nghiên cứu, việc đàn ông thích ngắm vòng một của phụ nữ vì còn xuất phát từ nhu cầu bản năng: duy trì nòi giống. Nếu phụ nữ tìm đến những người đàn ông cao to, vững chãi với hy vong có khả năng mang lại cho cô ta một đứa con thì đàn ông có khuynh hướng cuốn hút với những cô nàng có thể sinh con cho mình.


Một bộ ngực đầy đặn chứng tỏ chủ nhân có lượng hormone estrogen rất cao, ngầm báo khả năng sinh nở của nàng cao hơn. Và đây chính là lời trấn an rằng, chàng đã chọn đúng nàng, người sẽ sinh cho chàng những đứa con dễ thương, đáng yêu và khỏe mạnh trong tương lai.

3. Vì “núi đôi” hấp dẫn trong “chuyện…”


Đàn ông hiểu, nhũ hoa là một trong những vùng kích thích hưng phấn của phái đẹp. Đây là cơ quan nhạy cảm xếp thứ 2 của phụ nữ. Nếu độ nhạy cảm của vùng cấm địa là 100 thì ở đầu nhũ hoa là 80-85. Cánh Adam thừa hiểu và luôn đề cao vòng 1 của phụ nữ. Một núi đồi săn chắc, gợi cảm sẽ giúp cuộc “ân ái” của lứa đôi hoàn hảo hơn.

4. Những số liệu thú vị về “núi đồi”:


- 10 phút đàn ông ngắm nhìn ngực của phụ nữ sẽ tương đương 30’ tập thể dục nhịp điệu.

- 5 năm tuổi thọ kéo dài thêm là kết quả của việc đàn ông ngắm nhìn phụ nữ. Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu thực hiện việc ngắm nhìn ngực phụ nữ vài phút mỗi ngày sẽ giảm các nguy cơ về đột qụy hay trụy tim và tuổi thọ sẽ kéo dài thêm như một điều tất yếu.


- 6% số phụ nữ từng nâng ngực ở Mỹ phải giải phẩu đễ xửa lại bộ ngực trở lại kích cỡ ban đầu hoặc thậm chí cắt bỏ hoàn toàn

Mặt mũi xinh xắn, cái kia thế nào?

Một anh đứng tuổi gặp một cô gái trẻ, bèn trêu: "Cô kia, cô kỉa, cô kìa, mặt mũi xinh xắn, cái kia thế nào?"

Cô gái không phải tay vừa, đáp trả: "Cũng xinh, cũng xỉnh, cũng xình, cũng giống như mình có tóc, có lông", 


Rồi hỏi lại ông ta:
- "Anh kia, anh kỉa, anh kìa; dáng trông phong độ, cái kia thế nào?".
Chẳng hề bối rối, ông hiên ngang trả lời:
- "Cũng cưng, cũng cứng, cũng cừng; cũng nhảy tưng bừng khi thấy cái kia"...




Tả động vật

Cô giáo yêu cầu học sinh lớp một làm văn tả động vật. Đề bài tuần thứ nhất là tả một con mèo.

Một học sinh viết gọn lỏn: "Nhà em có một con mèo". Khi trả bài, cô giáo hỏi:

- Sao em không tả rõ hơn?

Học sinh đáp:

- Dạ, nhà em có nhưng em chưa được thấy. Vì mẹ em nói ba em có mèo, ba em ra sức giấu còn mẹ em ra sức tìm. Khi nào mẹ em tìm thấy, đưa về nhà cho em xem, em sẽ tả kỹ ạ!

Tuần thứ hai, đề bài yêu cầu tả con chó. Học sinh nọ lại viết cộc lốc:

"Nhà em có một con chó".

Cô giáo bảo:

- Em nên tả kỹ hơn!

Học sinh:

- Dạ, con chó còn ở ngoài đường, vì một hôm mẹ em nói với ba em: "Hôm qua đi với con chó nào cả ngày?". Khi nào nó về nhà em, em sẽ tả kỹ hơn ạ.

Tuần thứ ba, cô ra đề tả con khỉ.

Vẫn em học sinh bữa trước viết, lần này thì dài hơn: "Nhà em có nuôi một con khỉ... Một hôm, có một cô rất trẻ đến ngõ nhà em, ba em vội chạy ra và nói với cô ấy: 'Em về ngay đi, con khỉ nhà anh... đang ngồi trong nhà đấy!