29 tháng 7, 2015

Tuần lễ du lịch xanh vùng ĐBSCL 2015: 3 vấn đề đột phá trong liên kết


VH- Ngày 29.6 tại TP Cần Thơ, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp cùng Bộ VHTTDL và UBND TP Cần Thơ tổ chức Hội thảo Liên kết phát triển du lịch xanh khu vực ĐBSCL năm 2015 với sự tham gia của đại diện sở, ngành du lịch các tỉnh, thành khu vực phía Nam, đông đảo các đơn vị lữ hành trong cả nước...
Phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ Dương Quốc Xuân và Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên chủ trì sự kiện.
Theo Viện Nghiên cứu phát triển du lịch VN, thời gian qua hoạt động du lịch ĐBSCL phát triển khá sôi động với tốc độ tăng trưởng bình quân năm luôn đạt trên hai con số. Năm 2014, cả vùng đã đón 22,4 triệu lượt khách, trong đó có 1,83 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu nhập của ngành đạt khoảng 6.360 tỉ đồng, tạo ra hàng chục ngàn việc làm cho xã hội, góp phần tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Cần huy động các nguồn lực xã hội hóa để phát triển hạ tầng du lịch
Với chủ đề “Miền Tây xanh”, đêm 29.6, tại TP Cần Thơ đã diễn ra Lễ khai mạc Tuần lễ du lịch xanh vùng ĐBSCL 2015 .
Phát biểu tại chương trình, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ Vũ Văn Ninh cho rằng vùng ĐBSCL cần quan tâm phát triển sản phẩm du lịch theo hướng chất lượng, hiệu quả, có thương hiệu và khả năng cạnh tranh cao; xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng thuộc thế mạnh của vùng như: du lịch sinh thái, biển đảo, sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng kết hợp với hội thảo, hội nghị, triển lãm.
Bên cạnh đó, các địa phương cần có giải pháp huy động nguồn lực xã hội và đóng góp của người dân cho phát triển hạ tầng du lịch, bảo đảm số lượng, chất lượng, phù hợp với tiêu chuẩn khu vực và thế giới; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển đội ngũ những người làm công tác du lịch chuyên nghiệp, hiện đại, lấy sự hài lòng của du khách là thước đo của chất lượng phục vụ…
Dù đạt được những kết quả khả quan, ĐBSCL đang phải đối mặt với những vấn đề như ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên tự nhiên và tác động của biến đổi khí hậu.
Đáng chú ý du lịch vùng còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ; đặc biệt công tác đầu tư vào các sản phẩm du lịch xanh chưa cao, liên kết xúc tiến quảng bá du lịch giữa các địa phương, doanh nghiệp và Nhà nước chưa hài hòa, thống nhất…
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, để du lịch xanh ĐBSCL phát triển mạnh, trong thời gian tới các cơ quan ban, ngành cần phối hợp liên kết để triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL. Trong đó, đề xuất chọn 3 vấn đề đột phá như xây dựng cơ chế chính sách điều phối liên kết, tạo nguồn lực vật chất đầu tư và phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đồng thời kiến nghị cần sớm thành lập Văn phòng Ban chỉ đạo, điều phối phát triển du lịch ĐBSCL, tiến tới xúc tiến hình thành Quỹ phát triển du lịch vùng; xây dựng kế hoạch hành động cụ thể với lộ trình và những vấn đề cần ưu tiên thực hiện trong năm 2015, 2016; kết nối thị trường du lịch, tìm hiểu nhu cầu du khách với các điểm, tuyến, tour du lịch, hình thành các cụm du lịch.
Trong khi đó ông Lê Minh Sơn, PGĐ Sở VHTTDL TP Cần Thơ cho rằng, đã đến lúc phải đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp chặt chẽ giữa điểm đến tại các địa phương với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lữ hành, khách sạn và các khu, điểm du lịch; tăng cường tuyên truyền và phổ biến kiến thức phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ môi trường cho du khách và người dân, hướng tới hạn chế những tác động tiêu cực của hoạt động phát triển đến tài nguyên và môi trường vùng.
Đáng chú ý, nhiều đại biểu kiến nghị cần ưu tiên tận dụng đặc điểm cảnh quan sông nước và văn hóa bản địa đặc thù để triển khai hàng loạt các loại hình du lịch thân thiện tại ĐBSCL như sinh thái, du lịch cộng đồng, hành trình “Mùa nước nổi”, khám phá dòng Mekong…; chú ý lồng ghép khéo léo loại hình văn hóa phi vật thể Đờn ca tài tử vào các hoạt động du lịch của vùng như một “đặc sản”.
Trong khuôn khổ chương trình, Ban tổ chức cũng nhận được nhiều ý kiến của đơn vị lữ hành đề xuất các cơ quan ban ngành địa phương của khu vực ĐBSCL cần quan tâm hơn nữa công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp cơ sở lưu trú, ăn uống, xây dựng thêm các nhà vệ sinh đạt chuẩn tại các khu du lịch, tăng cường công tác bảo tồn cảnh quan thiên nhiên… từng bước tạo điểm nhấn ấn tượng và thu hút khách, ngày một nâng cao khả năng cạnh tranh của du lịch ĐBSCL với các khu vực trong nước và quốc tế.
Kêu gọi đầu tư vào 62 dự án du lịch xanh
Sáng qua, 30.6, trong khuôn khổ Tuần lễ du lịch xanh ĐBSCL 2015, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp cùng Bộ VHTTDL, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước và UBND TP Cần Thơ tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực du lịch xanh vùng ĐBSCL 2015. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã chủ trì sự kiện.
Với sự tham gia của gần 700 đại biểu, chuyên gia du lịch trong và ngoài nước, tại hội nghị, nhiều ý kiến đã chỉ rõ công tác thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch xanh thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn như thiếu chính sách cụ thể để khuyến khích đầu tư phát triển du lịch xanh, quy trình thủ tục hành chính đầu tư vào du lịch xanh còn chưa đơn giản, các quy hoạch du lịch xanh nhiều nơi còn hạn chế…
Tại Hội nghị đã có 3 ngân hàng thương mại ký kết hợp đồng nguyên tắc về phát triển du lịch xanh cho 3 dự án du lịch xanh tại Kiên Giang, Cần Thơ với tổng vốn cho vay hơn 1.000 tỉ đồng. Bên cạnh đó, Ban tổ chức Tuần lễ du lịch xanh kêu gọi, vận động các đơn vị đầu tư vào 62 dự án trọng điểm thuộc lĩnh vực du lịch xanh của vùng với số tiền 11.862,5 tỉ đồng và 714,9 triệu USD.
Khải Hoàn


Du lịch ĐBSCL: Tiềm năng lớn, thách thức nhiều

Năm 2014, ĐBSCL đón khoảng 22,5 triệu lượt khách, tăng 8,29% so với năm 2013. Trong đó, khách quốc tế trên 1,8 triệu lượt, tăng 10,21%, doanh thu trên 6.360 tỷ đồng, tăng 23,7%. Du lịch ĐBSCL đã có bước tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây và đang từng bước hướng đến một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của vùng.

Hạ tầng thấp, sản phẩm du lịch trùng lắp

ĐBSCL có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch khi có cảnh quan thiên nhiên phong phú, nhiều nét văn hóa đặc sắc, người dân hiền hòa, mến khách đã hình thành nét đặc thù riêng cho ngành du lịch như: du lịch sông nước, miệt vườn, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh và biển đảo. Đó là sinh cảnh đất ngập nước nội địa vùng trũng Đồng Tháp Mười (Đồng Tháp - Long An); sinh cảnh đầm nước nội địa trên than bùn U Minh (Kiên Giang - Cà Mau), sinh cảnh đất ngập nước ven biển (Cà Mau - Bạc Liêu) đã tạo nên sinh thái đặc thù của châu thổ. Các sinh cảnh trên gắn liền với các vườn quốc gia Tràm Chim, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Đất Mũi, khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen… là những hấp lực của du lịch cuối dòng Mê Công.
 Cùng với tiềm năng du lịch sinh thái, các di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại “Đờn ca tài tử”, văn hóa của đồng bào Khmer Nam bộ tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu; các sản phẩm văn hóa tâm linh gắn với các lễ hội Vía Bà Chúa Xứ tại An Giang, núi Sam… cũng là tác nhân góp phần vào tăng trưởng của ngành du lịch ĐBSCL những năm qua. Đặc biệt, các yêu cầu về liên kết đầu tư phát triển hệ thống sản phẩm du lịch đặc thù ĐBSCL đang trở nên cấp bách.
Thực tế, từ năm 2009 Hiệp hội Du lịch ĐBSCL đã cùng Sở VH-TT-DL 4 địa phương An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và Cần Thơ thành lập Cụm liên kết phát triển du lịch các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL (năm 2012 thêm tỉnh Bạc Liêu tham gia). Với sự kết nối 20 điểm đến du lịch tại 5 địa phương đã hình thành tour du lịch sinh thái xanh, mang đặc trưng từng địa phương, như Cần Thơ - du lịch sinh thái sông nước, miệt vườn; An Giang - du lịch tâm linh; Kiên Giang - du lịch sinh thái biển đảo; Cà Mau - du lịch sinh thái rừng ngập nước; Bạc Liêu - du lịch văn hóa… Các liên kết này tạo được điểm nhấn đặc thù - du lịch có bản sắc và độc đáo hơn.
Song du lịch ĐBSCL vẫn còn nhiều hạn chế như cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch còn thấp, sản phẩm du lịch còn trùng lắp, chất lượng dịch vụ và sức cạnh tranh chưa cao, xúc tiến quảng bá chưa tạo hấp dẫn, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu.
Mỗi người dân đều là hướng dẫn viên

Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban chỉ đạo Tây Nam bộ), đã dùng hình ảnh khá ấn tượng “Thế giới nước Mê Công” để thể hiện giá trị cốt lõi của du lịch ĐBSCL. Tuy nhiên, theo ông Trần Hữu Hiệp: “Đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, nguồn nhân lực và cơ chế điều phối liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị ngành du lịch để phát triển bền vững là những thách thức ĐBSCL phải vượt qua”.
Thực tế nhiều năm qua vẫn chưa có một cơ chế pháp lý rõ ràng và mô hình chỉ đạo điều phối liên kết vùng ĐBSCL phát triển du lịch thật sự hiệu quả. Một chương trình liên kết vùng nhằm phát triển du lịch dựa trên nền tảng lợi thế dùng chung và tạo ra sản phẩm du lịch xanh đặc thù của vùng không chỉ là mục tiêu của một đề án, mà còn là mong ước lớn của các địa phương và người dân đồng bằng. Liên kết vùng là tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy liên kết các chuỗi giá trị ngành du lịch bền vững. Nhiều ý kiến đang chờ đợi việc hình thành Ban điều phối phát triển du lịch trong vùng. Đề án này được Tổng cục Du lịch soạn thảo trình Bộ VH-TT-DL.
Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng đều có lợi thế to lớn về du lịch. Câu hỏi đặt ra: tại sao có lợi thế như thế, nhưng chúng ta vẫn chưa thấy hài lòng về sự phát triển của du lịch? Phó Thủ Tướng Vũ Văn Ninh đã đặt câu hỏi. Theo Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, những biện pháp để thúc đẩy du lịch ĐBSCL là cần tập trung quy hoạch địa điểm, sản phẩm lợi thế trong vùng có cái riêng và cái chung. Lập kế hoạch đầu tư hạ tầng gắn với du lịch. Huy động nguồn lực từ Nhà nước, xã hội, dân cư đầu tư hạ tầng đồng bộ và hiện đại; đào tạo phát triển nguồn lực một cách chuyên nghiệp, hiện đại. Trong đó cần tuyên truyền để người dân trong vùng hiểu về vai trò của du lịch mang lại lợi ích chính đáng. Mỗi người dân thực thụ là một hướng dẫn viên du lịch.
Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, ĐBSCL hiện có 13 dự án đầu tư vào du lịch với tổng mức vốn 147 triệu USD. Một số dự án đầu tư nước ngoài vào du lịch lớn như Trường Đào tạo nghiệp vụ du lịch và khu nghỉ dưỡng Thiên đường Phú Quốc 44,7 triệu USD. Hiện nay chưa có dự án ODA nào được dành cho phát triển tổng thể du lịch vùng ĐBSCL. Chỉ có vài tỉnh trong vùng được thụ hưởng trong khuôn khổ dự án dành cho các tỉnh nằm trong hành lang kinh tế tiểu vùng sông Mê Công.
Trước thực trạng này, tại hội nghị “Xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực du lịch xanh vùng ĐBSCL năm 2015”, tổ chức tại Cần Thơ ngày 30-6,  Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, đã nhấn mạnh: “Đầu tư cho du lịch không chạy theo lợi ích trước mắt, mà phải nghĩ đến sự phát triển bền vững. Đó là những điểm then chốt để có nhiều dự án đầu tư vào du lịch, đưa ngành công nghiệp không khói phát triển bền vững ở ĐBSCL. Theo đó, cần phát động toàn dân nhận thức, tự giác xây dựng môi trường du lịch thân thiện, an toàn, hiếu khách”.
Cao Phong

28 tháng 7, 2015

Khơi thông điểm nghẽn vận tải thủy miền sông nước

Trần Hữu Hiệp
Dù có nhiều lợi thế cạnh tranh, nhưng thời gian qua giao thông thủy ĐBSCL vẫn chưa được đầu tư khai thác đúng mức. Ảnh: TRẦN HỮU HIỆP
(TBKTSG) - Giao thông bộ và hàng không ở ĐBSCL được xem là “mảng sáng” đầu tư thời gian qua, nhưng giao thông thủy, mặc dù có nhiều lợi thế cạnh tranh, lại chưa được đầu tư khai thác đúng mức.

Nhiều lợi thế chưa được phát huy
Một năm sau hội nghị Nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa vùng ĐBSCL do Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) tổ chức tại Cần Thơ với nhận định ngành này còn nhiều tiềm năng, lợi thế: tiện dụng, giá rẻ, cạnh tranh... đến nay tiềm năng vẫn chưa được đánh thức, vận tải thủy của vùng sông nước đồng bằng vẫn cần được khơi thông mạnh mẽ hơn nữa để vượt qua điểm nghẽn.
Cùng với nguồn nhân lực và thủy lợi, phát triển hạ tầng giao thông được xác định là một trong ba khâu đột phá trong phát triển vùng thời gian qua. Giao thông vận tải ĐBSCL đã phục vụ đắc lực cho việc đi lại, vận tải hàng hóa và du lịch. Các tuyến huyết mạch: quốc lộ 1, cao tốc TPHCM - Trung Lương, Nam Sông Hậu, Quản Lộ - Phụng Hiệp, các trục dọc, đường ngang, cầu vượt sông lớn, sân bay quốc tế Cần Thơ, Phú Quốc, các sân bay Cà Mau, Rạch Sỏi, cảng biển quốc tế An Thới, Phú Quốc... được đầu tư nâng cấp. “Cánh cửa biên giới Tây Nam” cũng được rộng mở, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế biên mậu.
Hạ tầng giao thông cũng là kênh thu hút vốn đầu tư của chương trình kết nối giao thông Mêkông từ các nhà tài trợ Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và các định chế tài chính với nhiều công trình lớn trong vùng như cầu Cần Thơ, Mỹ Thuận, Cổ Chiên, Vàm Cống, Cao Lãnh, các tuyến N1, N2, hành lang ven biển phía Tây, hành lang ven biển phía Đông, tuyến xuyên Đồng Tháp Mười. Kết quả đầu tư phát triển thời gian qua đã tạo ra diện mạo mới, hình thành mạng lưới giao thông rộng khắp, vừa liên kết nội vùng, liên vùng, gắn kết với TPHCM, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.
Phát triển hạ tầng giao thông ĐBSCL đang đứng trước bài toán khó là “vốn ít, nhu cầu đầu tư lớn”, nên cần quan tâm chọn lựa thứ tự ưu tiên và giải pháp khả thi, đầu tư tập trung, đồng bộ.
Giao thông bộ và hàng không ở ĐBSCL được xem là “mảng sáng” đầu tư thời gian qua, nhưng giao thông thủy, mặc dù có nhiều lợi thế cạnh tranh, lại chưa được đầu tư khai thác đúng mức. ĐBSCL có hệ thống kênh, sông dài hơn 26.500 ki lô mét, là địa bàn có mật độ sông ngòi cao nhất thế giới, bình quân 1 ki lô mét vuông đất tự nhiên của vùng này có đến 0,67 ki lô mét chiều dài sông. Các sông chính và phụ lưu liên hoàn chảy qua các khu công nghiệp tập trung, đô thị, khu dân cư, các vùng tài nguyên quan trọng. Nhiều tuyến, cảng sông tiếp cận trực tiếp với cảng biển, hệ thống đường bộ, tạo nên những điểm nối giao lưu giữa các phương thức vận tải. Vì vậy, lượng hàng hóa và hành khách được vận chuyển bằng đường thủy chiếm đến 60-70% các phương thức vận tải trong vùng.
Sẽ tiết kiệm được từ 8-10 đô la Mỹ/tấn hàng hóa, bình quân 1 container hàng hóa sẽ tiết kiệm được khoảng 170 đô la Mỹ, chưa kể giải phóng sức ép quá tải cầu, đường bộ nếu thay vận tải đường bộ bằng vận tải đường thủy. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của vùng ĐBSCL năm 2014 hơn 17,5 tỉ đô la Mỹ, trong đó chủ yếu là xuất gạo, thủy sản chế biến, rau quả đông lạnh, hàng may mặc, giày da và nhập máy móc, linh kiện, vật tư phân bón, vật liệu xây dựng, xăng dầu, nhưng chủ yếu hiện vẫn phải trung chuyển bằng đường bộ lên cụm cảng Sài Gòn và chở ngược lại về các tỉnh.
Theo thống kê năm 2013 của Cảng vụ hàng hải Cần Thơ, thì 15 bến cảng tại ĐBSCL chỉ mới khai thác từ 20% đến dưới 50% công suất. Toàn vùng có hơn 2.500 cảng, bến thủy nội địa, nhưng chủ yếu là bốc xếp thủ công, giao hàng chậm. Hiện gần 80% lượng hàng xuất nhập khẩu của vùng ĐBSCL phải chuyển tiếp bằng đường bộ qua nhóm cảng biển Đông Nam Bộ.
Khơi thông “điểm nghẽn”
Hai “nút thắt” cổ chai của giao thông thủy - biển ở ĐBSCL chính là luồng vận tải cho tàu biển lớn 20.000 tấn ra vào sông Hậu và nạo vét tuyến đường thủy huyết mạch kênh Chợ Gạo, nối ĐBSCL với TPHCM và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Dự án luồng tàu biển lớn vào sông Hậu chính là “cửa ngõ” ra biển Đông, phát huy năng lực cụm cảng ĐBSCL, nhất là cảng Cái Cui, Trà Nóc (Cần Thơ), Mỹ Thới (An Giang) mà đoạn tuyến huyết mạch được xác định là kênh Quan Chánh Bố. Công trình này được phát lệnh khởi công năm 2009, bị đình hoãn hai năm do khó khăn về vốn, trải qua chín lần rà soát đánh giá các yếu tố kinh tế - kỹ thuật và môi trường, điều chỉnh tăng vốn đầu tư từ hơn 6.000 tỉ đồng lên hơn 10.000 tỉ đồng và đã được khởi động lại từ năm 2014.
Theo thống kê, năm năm trở lại đây giao thông thủy trên tuyến kênh Chợ Gạo tăng đột biến về lưu lượng và tải trọng. Ước tính mỗi ngày có hơn 1.400 lượt phương tiện tải trọng từ 200-1.000 DWT lưu thông, những ngày cao điểm lên 1.800 lượt. Dự án kênh Chợ Gạo có chiều dài hơn 28 ki lô mét với tổng kinh phí đầu tư ban đầu hơn 4.200 tỉ đồng, được triển khai thi công năm 2010, do khó khăn nguồn vốn, cũng bị trì hoãn, đến cuối năm 2013 được khởi công lại, dự kiến hoàn thành giai đoạn 1 vào đầu năm 2014, nhưng đến nay vẫn chưa xong. Chính từ các “điểm nghẽn” trên mà việc vận chuyển nông sản, hàng hóa xuất khẩu bằng tuyến đường sông chủ yếu vẫn do các ghe, sà lan trọng tải nhỏ và thô sơ đảm nhận.
Phát triển hạ tầng giao thông cần được tiếp tục xác định là khâu đột phá chiến lược trong phát triển vùng, trong đó giao thông vận tải thủy là một thế mạnh đặc thù của ĐBSCL. Cần ưu tiên đầu tư cho hệ thống giao thông huyết mạch kết nối vùng, quyết tâm khơi thông các “điểm nghẽn” như kênh Chợ Gạo và kênh Quan Chánh Bố.
Phát triển hạ tầng giao thông ĐBSCL đang đứng trước bài toán khó là “vốn ít, nhu cầu đầu tư lớn”, nên cần quan tâm chọn lựa thứ tự ưu tiên và giải pháp khả thi, đầu tư tập trung, đồng bộ. Ngoài nguồn ngân sách, cần có những giải pháp đột phá khai thông các kênh huy động vốn đầu tư khác, trong đó chú ý thu hút đầu tư công trình hạ tầng, hậu cần logistics, đầu tư phát triển các phương thức vận tải thủy, biển thông qua thu hút đầu tư PPP, đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân; xem xét hình thành quỹ đầu tư phát triển hạ tầng giao thông thủy vùng ĐBSCL

21 tháng 7, 2015

Nghĩ về một Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam

Các bảo tàng này đã phát huy tác dụng tích cực đối với cuộc sống góp phần bảo lưu, gìn giữ và nhân lên giá trị văn hóa dân tộc được đông đảo người tham quan mến mộ và khâm phục, học tập đem lại những giá trị văn hóa và kinh tế thực sự. Song dường như có một đất trống, không muốn nói là khiếm khuyết chúng ta chưa có một Bảo tàng Nông nghiệp để bảo lưu, tôn vinh, phát huy những giá trị văn minh vật chất mà người Việt đã sáng tạo hơn 4000 năm qua.
Nguyễn Hữu Ngôn
(Toquoc)- Một đất nước có tới 90% dân số là nông dân, là xứ sở của nền văn minh lúa nước, đầy tiềm năng về kinh tế nông nghiệp, hiện đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã ghi đậm dấu ấn đóng góp vô bờ bến của người nông dân. Vì lẽ đó, cũng đã là muộn khi nghĩ đến công trình xây dựng một Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam.
Đông Nam Á là khu vực điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, trong đó Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi bậc nhất với 90% dân số là nông dân mà ngành nghề chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao. Việt Nam được xem là đất nước đầy tiềm năng về sản xuất nông nghiệp, là quốc gia góp phần đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu. Việt Nam hiện đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo.
Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam có thể triển khai theo hai nội dung lớn: Văn minh vật chất nông nghiệp Việt Nam và Văn hóa nông nghiệp Việt Nam
Chúng ta có chung niềm tự hào là xứ sở của nền văn minh lúa nước, mảnh đất đã sản sinh ra nền văn học dân gian phong phú, làm nên trí tuệ folklore, sản sinh ra biết bao pho sử thi, thần thoại, truyền thuyết, những điệu dân ca, dân vũ lôi cuốn say đắm lòng người, vô vàn những tác phẩm văn học thấm đẫm hồn quê, tình quê. Chúng ta có thể khẳng định rằng nông dân Việt Nam góp phần quan trọng làm nên văn hóa Việt Nam. Một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa đảm bảo được sự giao thoa văn hóa với văn hóa nhân loại vừa chống được sự xâm thực của văn hóa ngoại lai tiêu cực.
Nội dung Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam chính là việc sử dụng sức mạnh của các hiện vật gốc được tổ chức một cách có hệ thống theo thời gian lịch sử và có quy mô cấp quốc gia. Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam có thể triển khai theo hai nội dung lớn: Văn minh vật chất nông nghiệp Việt Nam và Văn hóa nông nghiệp Việt Nam.
Văn minh vật chất nông nghiệp Việt Nam đề cập đến kỹ thuật, phản ánh phương thức sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Đơn cử một vài hệ thống: Đó là hệ thống các công cụ sản xuất bao gồm: công cụ làm đất (cày, bừa, cuốc, mai, vồ...), công cụ làm cỏ (các loại cào. dao phạt, liềm...), công cụ thủy lợi: (gàu giai, gàu sòng, kênh mương, cọn nước, đê điều...), công cụ chế biến sản phẩm: (các loại cối xay, cối giã, các loại nồi, chõ, niếng...), công cụ lưu giữ, bảo quản lương thực, thực phẩm: đồ sành, gốm, sứ (hệ thống vò, âu, ang, vại, chum, kiệu...), sản phẩm của các ngành nghề, các làng nghề (sản phấm đan lát, nghề đúc, nghề mộc, nề...).
Văn hóa nông nghiệp Việt Nam là sự kết tinh những giá trị truyền thống nông nghiệp như sự hình thành tồn tại của làng xã, của văn hóa làng, in dấu trong các thiết chế văn hóa, trong văn hóa phi vật thể như các lễ hội truyền thống: lễ hội cầu mưa, lễ tịch điền, lễ hội bánh chưng, bánh giầy, lễ hội nấu cơm thi... là cách chế biến lương thực, thực phẩm, là văn hóa ẩm thực Việt Nam... Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam ở giác độ này cần một cách thể hiện thông minh sinh động: qua các tác phẩm viết về nông nghiệp, các cách trình diễn, sân khấu hóa, điện ảnh hóa...
Các hiện vật được giới thiệu ở cả hai chiều: chiều không gian và chiều thời gian của đời sống vật chất. Chiều không gian là sự tương đồng, tương tác giữa đồ vật và người sử dụng. Chiều thời gian là các lớp vật chất qua các thời kỳ, các triều đại, thể hiện phong cách dấu ấn cuả thời đại sinh ra nó. Trước thế kỷ 19 thế giới vật chất của người Việt hoàn toàn nằm trong sản xuất thủ công và nông nghiệp và hoàn toàn sinh ra từ đời sống nông nghiệp. Cần hiểu sâu: văn minh không phụ thuộc vào trình độ phát triển của kỹ thuật mà phụ thuộc vào mức độ nhân văn. Văn minh vật chất của người Việt Nam khác phương Tây, khác láng giềng Trung Quốc và tự thân nó để lại dấu ấn Việt Nam sâu đậm.
Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam xét về thể loại phải là bảo tàng tổng hợp: bảo tàng lịch sử nông nghiệp Việt Nam, bảo tàng văn hóa và bảo tàng nhân học. Cách làm này sẽ đem lại giá trị phản ánh trung thực và gây được tác động và hiệu quả to lớn.
Chúng ta đều biết rằng: Bảo tàng của một quốc gia là nơi lưu giữ, bảo quản, trưng bày và phát huy những giá trị di sản văn hóa quí báu của quốc gia, bảo tàng còn là nơi các nhà nghiên cứu khoa học tìm đến để khai thác các cứ liệu khoa học với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu, truyền bá văn hoá, khoa học, lịch sử. Là nơi để khách tham quan du lịch thoả mãn những hiểu biết sâu sắc về lịch sử ra đời hình thành cũng như những giá trị văn hoá lịch sử, nhất là những gì đã thuộc về quá khứ. Đất nước chúng ta đã có Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Dân tộc học... cùng hệ thống bảo tàng các tỉnh, thành phố và các bảo tàng quân chúng, binh chủng.... 
Để Bảo tàng Nông nghiệp ra đời, phát huy tác dụng, thực sự là nơi bảo quản, lưu giữ tốt nhất, đầy đủ nhất, hệ thống nhất, là địa điểm hấp dẫn của du lịch trong nước và quốc tế, có đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế văn hoá của quốc gia là một vấn đề lớn cần sự quan tâm của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước và năng lực trình độ mọi mặt của cơ quan bộ, cục, vụ, viện, ban ngành hữu quan và nhất là hai Bộ: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, của những người trực tiếp làm công tác bảo tồn, bảo tàng cả nước. Cao hơn thế phải là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, là vai trò của tổ chức đảng các cấp. Vấn đề đặt ra từ thực tiễn là làm thế nào để những giá trị văn minh vật chất quí hiếm của người Việt phát huy được giá trị hiện thực, góp mặt với đời sống xã hội hôm nay và mai sau. Lại tránh được nguy cơ bị chôn vùi, bị hư hỏng, mất mát, thất thoát, do sự biến đổi khôn lường của thiên nhiên và ngay cả sự vô tâm của con người.
Theo các nhà nghiên cứu, từ những năm bốn mươi, đất nước chúng ta đã có 5 Bảo tàng to lớn về qui mô và giá trị hiện vật và có những tác động mạnh mẽ tích cực đối với đời sống xã hội: Bảo tàng Lịch sử (nhà bác cổ), Bảo tàng Thanh Hoá (bác cổ Thanh Hoá), Bảo tàng Chăm,  Bảo tàng Huế và Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh (trong khu Thảo Cầm viên). Song tính đến thời điểm hiện nay có Bảo tàng đã lùi về vị trí hết sức khiêm tốn trong khi các Bảo tàng khác đang lên ngôi và tiến nhanh về phía trước thu hút một lực lượng lớn khách tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu và mang lại những giá trị vô cùng to lớn cho sự phát triển kinh tế của nơi nó toạ lạc.
Bảo tàng tư nhân cũng đã xuất hiện và hứa hẹn nhiều đổi mới, thể hiện rõ nét xu hướng xã hội hóa văn hóa và cũng đang đặt ra những thách thức mới, những đối trọng so sánh với bảo tàng nhà nước. Nhìn nhận khách quan điều này sẽ thấy rõ công tác bảo tồn, bảo tàng của chúng ta đã được quan tâm đạt được những thành tựu nhưng chưa đúng mức, chưa xứng tầm và vô tình đã làm giảm giá trị đối với đời sống xã hội. Vấn đề đặt ra là phải nhanh chóng có chủ trương từ cấp vĩ mô để bắt tay ngay vào xây dựng đề án, quy hoạch điạ điểm hệ thống, mạng lưới, tổ chức quản lý, tổ chức sưu tầm, phân tích, tổ chức đánh giá, hội thảo khoa học bàn định phương pháp, cách thức, nhìn nhận giá trị văn minh vật chất đó xem những gì là cần thiết, cấp bách đưa vào Bảo tàng trước và sau theo trình tự. 
Phải đặt vấn đề xây dựng Bảo tàng Nông nghiệp có qui mô, có vị thế trong nước và khu vực và thế giới như một mục tiêu hướng tới của Việt Nam trong những năm tới. Từ trong nhận thức phải xem Bảo tàng Nông nghiệp như một thiết chế văn hoá có vai trò đặc biệt, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế và ở trong xu thế coi văn hoá là cầu nối quan trọng để phát triển kinh tế. Bảo tàng Nông nghiệp ra đời sẽ đáp ứng phục vụ hiệu quả cho chủ trương phát triển du lịch- như là một ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia. Bảo tàng Nông nghiệp ra đời là rất đúng với đường lối của Đảng và Nhà nước nhất là khi Đảng và Nhà nước có chủ trương xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ VII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.
 

1 tháng 7, 2015

Liên kết để phát triển du lịch xanh ở Đồng bằng sông Cửu Long

Ngày 29/6, tại thành phố Cần Thơ, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ tổ chức hội thảo Liên kết phát triển du lịch xanh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 2015. 


Theo ông Vương Duy Biên, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hội thảo Liên kết phát triển du lịch xanh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 2015 là một trong 8 hoạt động chính của Tuần lễ du lịch xanh Đồng bằng sông Cửu Long 2015 diễn ra tại Cần Thơ. 
Hội thảo nhằm thúc đẩy liên kết phát triển du lịch xanh ở Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng phát triển bền vững với trọng tâm là phát triển du lịch xanh góp phần tích cực vào nỗ lực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu của các bên liên quan.
Theo ông Vương Duy Biên, thời gian qua, du lịch Đồng bằng sông Cửu Long phát triển rất sôi động với tốc độ phát triển bình quân trên 2 con số. Năm 2014, toàn vùng đã đón trên 1,8 triệu lượt khách quốc tế và trên 10 triệu lượt khách du lịch nội địa, doanh thu đạt trên 6.300 tỷ đồng, tạo việc làm cho trên 2,2 triệu người.
Tuy nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với những vấn đề về phát triển bền vững, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên tự nhiên và tác động của biến đổi khí hậu. Phát triển du lịch cần phải phát huy hiệu quả cao hơn, bền vững hơn nữa trong mối liên kết giữa các ngành liên quan đến du lịch.
Đồng bằng sông Cửu Long cần liên kết giữa các điểm đến, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, lữ hành với khách sạn,​ đồng thời liên kết du lịch vùng nhằm hướng tới hạn chế những tác động tiêu cực đối với tài nguyên môi trường, qua đó giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu đến người dân và sự phát triển bền vững chung của cả vùng. 
Theo các chuyên gia, các nhà khoa học, phát triển du lịch xanh là xu hướng của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam ​không phải là ngoại lệ.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng ngập nước lớn nhất của Việt Nam với nhiều giá trị về cảnh quan sinh thái và văn hóa bản địa hấp dẫn du lịch. Phát triển du lịch xanh sẽ có những đóng góp tích cực vào bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu - những thách thức đối với phát triển kinh tế xã hội của vùng. 
Tuy nhiên, việc phát triển du lịch xanh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa được như kỳ vọng vì nhiều nguyên nhân như nhận thức và hiểu biết về du lịch xanh còn nhiều hạn chế, các chính sách phát triển du lịch xanh chưa đáp ứng so với nhu cầu​. Đặc biệt là sự liên kết giữa các bên có liên quan​ và các địa phương trong vùng còn hạn chế.
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, để du lịch xanh Đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh, trong thời gian tới, các bộ, ngành trung ương, các tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long, Hiệp hội du lịch và doanh nghiệp các tỉnh thành cần sớm triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng Đồng bằng sông Cửu Long; trong đó đề xuất chọn 3 vấn đề đột phá như xây dựng cơ chế chính sách điều phối liên kết, tạo nguồn lực vật chất đầu tư và phát triển nguồn nhân lực du lịch. 
Ngoài ra, cần sớm thành lập Ban chỉ đạo, điều phối và Văn phòng Ban chỉ đạo, điều phối phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, xúc tiến hình thành Quỹ phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, kết nối thị trường du lịch, nhu cầu du khách với các điểm, tuyến, tour du lịch, hình thành các cụm du lịch…
Tại hội thảo, các đại biểu đã được nghe giới thiệu Tổng cục Du lịch giới thiệu Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng Đồng bằng sông Cửu Long; tham luận Liên kết phát triển sản phẩm đặc thù du lịch xanh “Thế giới sông nước Mê Kông” của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; tham luận Phát triển du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, Phát triển du lịch xanh gắn với nhu cầu hàng hóa, sản vật và quà lưu niệm phục vụ du lịch… của một số chuyên gia, các nhà quản lý nhằm đề xuất, đưa ra một số giải pháp liên kết phát triển du lịch xanh.
Đặc biệt, các đại biểu được nghe những kinh nghiệm hay của các địa phương, doanh nghiệp trong mối liên kết phát triển du lịch xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ Tổng Công ty Du lịch Saigontourist, ngành du lịch tỉnh Đồng Tháp.
Vietnam+


Phát triển du lịch xanh: Để hút khách, phải có sản phẩm đặc thù

Huỳnh Xây – Hồng Cẩm 
Tối 29.6, Tuần lễ Du lịch xanh ĐBSCL năm 2015 ( Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp Bộ VHTTDL tổ chức) đã khai mạc tại TP.Cần Thơ. Sáng cùng ngày, hội thảo “Liên kết phát triển du lịch xanh khu vực ĐBSCL” đã được tổ chức.
Trùng lặp tour, tuyến khiến khách nhàm chán
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (Tổng cục Du lịch), từ năm 2006 đến nay, tình trạng hoạt động du lịch của ĐBSCL vẫn không có gì thay đổi. Số khách du lịch đến và tổng thu nhập du lịch của vùng còn thấp. Cụ thể như năm 2013, toàn vùng đón được trên 1,6 triệu lượt khách du lịch quốc tế (chỉ bằng 8,3% tổng lượt khách du lịch quốc tế đi lại trong cả nước) và trên 9,8 triệu lượt khách du lịch nội địa (bằng 5,8% tổng số khách du lịch nội địa của cả nước). Theo đó, tổng thu nhập từ du lịch của vùng đạt 5.144 tỷ đồng (bằng 2,7% tổng thu nhập du lịch cả nước).

Du khách quốc tế tham quan chợ nổi Cái Răng, Cần Thơ.   Ảnh:    Huỳnh Xây

Trên thực tế, du lịch ĐBSCL còn nhiều bất cập bởi sự trùng lặp trong phát triển tour, tuyến du lịch. Các sản phẩm du lịch (du lịch sông nước, du lịch miệt vườn, tìm hiểu di sản, văn hoá…) còn kém hấp dẫn và không rõ tính đặc thù giữa các địa phương. Ông Lê Thanh Phong – Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch ĐBSCL thông tin: “TP.Cần Thơ có chợ nổi, Hậu Giang cũng có chợ nổi. Tuy hình thức giống nhau, nhưng mỗi nơi vẫn có nét đặc thù riêng. Tuy nhiên, các địa phương chưa biết khai thác để tạo nét đặc sắc, thu hút du khách, dẫn đến nhàm chán”.

Ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ) nhận định: “Tiềm năng du lịch vùng còn chưa khai thác có hiệu quả. Phát triển du lịch chỉ mới thể hiện ở tầm nhìn, còn thiếu nhiều hành động cụ thể để hiện thực hóa. Cách làm du lịch còn mang nặng tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp, thiếu sự đầu tư dài hạn, thiếu sự liên kết”.
Cần chú ý sản phẩm du lịch nông nghiệp
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên cho rằng: “Hiện vùng ĐBSCL có nhiều loại hình du lịch, có các lễ hội, phong tục độc đáo và đặc biệt là đờn ca tài tử - di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận. Thời gian qua, du lịch ĐBSCL đã tạo việc làm và góp phần to lớn trong việc nâng cao đời sống người dân, cho xã hội phát triển”.
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên: Tới đây, để phát triển du lịch, vùng ĐBSCL cần nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, giữa các địa phương cần đẩy mạnh liên kết cùng phát triển . 
Theo các đại biểu, thời gian tới cần tập trung thực hiện đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL (Bộ VHTTDL phê duyệt ngày 23.1.2015). Trước mắt, trong giai đoạn 2015-2017, sẽ triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng và cải tạo cơ sở vật chất (bảo tàng lúa ĐBSCL tại Vĩnh Long, bảo tàng Khmer tại Trà Vinh, đóng tàu ngủ đêm trên sông), đào tạo nhân lực (kỹ năng du lịch cộng đồng, hình thành các tuyến tham quan, liên kết Vườn quốc gia U Minh Hạ, U Minh Thượng, Tràm Chim, khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen), quảng bá và xây dựng thương hiệu nông sản, sản vật, xây dựng website về sản phẩm du lịch đặc thù…
Ông Trần Hữu Hiệp nhận định: Để “Thế giới sông nước Mekong” phát triển mạnh về du lịch thì đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù trên cần thực hiện nhanh. Đây chính là một việc làm cụ thể trong chiến lược du lịch và Đề án “Phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020”.

Theo GS-TS Võ Tòng Xuân – Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ, một trong những điểm nhấn của vùng ĐBSCL là nông nghiệp, vì vậy trong quá trình triển khai đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, cần chú ý khai thác, hướng dẫn du khách tham quan đi xuyên qua các cánh đồng lúa, các vườn cây ăn trái, vườn cò, vườn dơi, vùng nuôi cá bè... Và để du khách “đến một lần rồi đến nữa” thì cần có chương trình du lịch miễn visa, chấm dứt tình trạng “làm giá, chặt chém”, ăn xin, móc túi, đảm bảo an toàn giao thông và giữa vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là lịch sự, tôn trọng khách.

Cần có “nhạc trưởng” để điều phối du lịch ĐBSCL

Phú Khởi
Đó là ý kiến của các đại biểu tại hội thảo Liên kết phát triển du lịch xanh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) diễn ra ngày 29/6, tại TP. Cần Thơ. Hội thảo do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp với Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và UBND TP. Cần Thơ tổ chức.
Hội thảo Liên kết phát triển du lịch xanh khu vực ĐBSCL 2015 là một trong 8 hoạt động chính của Tuần lễ du lịch xanh ĐBSCL diễn ra tại TP.Cần Thơ.

ĐBSCL được đánh giá là có nhiều tiềm năng trong phát triển du lịch nhất là du lịch xanh, du lịch sinh thái, tuy nhiên thời gian qua sự phát triển du lịch ở đây chỉ là tự phát, mạnh ai nấy làm nên có nhiều sản phẩm trùng lắp, kém hấp dẫn du khách. Để khắc phục hạn chế này thì cần có “nhạc trưởng” để “phân vai” cho các địa phương phát triển du lịch.
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, để du lịch xanh ĐBSCL phát triển thì ngoài việc xúc tiến thành lập Ban điều phối còn cần sớm triển khai thực hiện Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL, trong đó đề xuất chọn 3 vấn đề đột phá như xây dựng cơ chế chính sách, tạo nguồn lực vật chất đầu tư và phát triển nguồn nhân lực du lịch. 
Theo đề án xây dựng sản phẩm đặc thù du lịch ĐBSCL do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phê duyệt, sẽ có các tour du lịch đặc thù ở ĐBSCL ở cấp quốc gia và cấp vùng như: trải nghiệm cuộc sống cộng đồng với giá trị cảnh quan sông nước và văn hóa bản đị; tìm hiểu giá trị sinh thái đất ngập nước vùng hạ lưu sông Mê Kông gồm Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Long An, Cà Mau, Kiên Giang; du lịch nghỉ dưỡng biển Phú Quốc; tìm hiểu và trải nghiệm những giá trị văn hoá nghệ thuật đàn ca tài tử tại tỉnh Bạc Liêu; trải nghiệm văn hoá đồng bào Khmer tại tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh; tham gia lễ hội Vía bà chúa xứ Núi Sam (An Giang) …
Ông Hồ Việt Hiệp, Phó chủ tịch tỉnh An Giang cho rằng việc xây dựng sản phẩm đặc thù để “chia sân” phát triển du lịch giữa các địa phương là cần thiết. Tuy nhiên, ông băn khoăn trong đề án còn bỏ sót nhiều sản phẩm du lịch đặc thù của vùng. Điển hình như sản phẩm du lịch độc đáo “tour du lịch khám phá mùa nước" ở tỉnh đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp không được đề cập đến.
Theo ông Vương Duy Biên, Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, trong thời gian qua, du lịch Đồng bằng sông Cửu Long phát triển rất sôi động với tốc độ phát triển bình quân trên 2 con số. Tuy nhiên, ĐBSCL đang đối diện với những vấn đề về phát triển bền vững, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên tự nhiên và tác động của biến đổi khí hậu. Do đó, xu hướng phát triển du lịch xanh, thân thiện và bảo vệ môi trường là hướng đi tất yếu. Việc phát triển du lịch cũng cần phải phát huy hiệu quả cao hơn, bền vững hơn nữa trong mối liên kết giữa các đơn vị quản lý, các địa phương và doanh nghiệp kinh doanh du lịch.