27 tháng 6, 2015

“Thế giới sông nước Mê Kông”


Trần Hữu Hiệp
“Tuần lễ Du lịch (DL) xanh ĐBSCL” diễn ra tại TP.Cần Thơ từ ngày 27.6 - 3.7 được kỳ vọng đưa du khách vào miền kỳ thú của “Thế giới sông nước Mê Kông”…



Con đường lúa gạo miền Hậu Giang. Ảnh: T.H.H

Sắc xanh đồng bằng sông nước
Chảy qua 6 nước, sông Mê Kông vào ĐBSCL với 2 dòng chính: Sông Tiền, sông Hậu; mang theo những giá trị kinh tế, lịch sử, văn hóa và môi trường hấp dẫn. Các khu Ramsar vườn quốc gia Tràm Chim (Tam Nông, Đồng Tháp) và Mũi Cà Mau, Phú Quốc; nét đẹp tự nhiên, sinh thái đa dạng của Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, lung Ngọc Hoàng, rừng tràm, rừng đước U Minh; một phần biển đảo đặc thù có một không hai của đất nước - nơi vừa tiếp giáp biển Đông, nối liền biển Tây. DL miền Tây Nam Bộ làm say lòng du khách với đặc trưng của “DL xanh”, là những điểm đến hấp dẫn du khách trong - ngoài nước.
Đề án “Xây dựng sản phẩm DL đặc thù vùng ĐBSCL” được Bộ VHTTDL phê duyệt mới đây xác định sản phẩm đặc thù “Thế giới sông nước Mê Kông”. Đó là sự thể hiện ngắn gọn những giá trị cốt lõi của DL ĐBSCL với đặc điểm tự nhiên, hệ sinh thái đất ngập nước, biển đảo Đông - Tây Nam là kết tinh của quá trình lịch sử lao động sáng tạo của bao thế hệ người đồng bằng, văn hoá độc đáo, giàu bản sắc thể hiện qua các lễ hội, làng nghề, di tích văn hoá - lịch sử, tạo ra nguồn tài nguyên DL nhân văn giá trị.
Việt Nam đang trở thành thị phần hấp dẫn của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế lấy khách ra, còn khách quốc tế vào thì đang giảm. Trong bối cảnh khó khăn chung, lượng khách DL đến ĐBSCL vẫn tăng. Theo thống kê, năm 2014, toàn vùng đón hơn 22,4 triệu lượt khách, tăng 8,3% so năm 2013; trong đó có hơn 1,8 triệu lượt khách quốc tế, tăng 10,2% so cùng kỳ; doanh thu đạt hơn 6.360 tỉ đồng, tăng 23,7% so năm trước. Nhưng câu chuyện làm DL nặng tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp, “phát triển dưới tiềm năng” DL phong phú, đa dạng, độc đáo của đồng bằng này được nhắc đi nhắc lại thời gian qua. Đặc biệt, vấn đề nổi lên gần đây là yêu cầu liên kết vùng trong phát triển DL.
“Tuần lễ DL xanh ĐBSCL” với chuỗi các hoạt động cấp vùng và cấp quốc gia như hội chợ - triển lãm DL, thương mại; hội nghị “Xúc tiến đầu tư vào DL xanh”; các hội thảo liên kết phát triển DL xanh, “Áp dụng nhãn DL bền vững Bông sen xanh trong hệ thống cơ sở lưu trú DL tại Việt Nam”; lễ hội đường phố; đêm “Sắc màu phương Nam”; các hội thi ẩm thực hương vị đồng bằng và chung kết Hoa khôi đồng bằng ... đang được kỳ vọng tăng cường liên kết vùng, làm nên thương hiệu “Thế giới sông nước Mê Kông” - một “chỉ dẫn địa lý” tin cậy, uy tín, hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Một mình không làm nên chợ
Gần đây, các tỉnh, thành và các bộ, ngành đã có tiếng nói chung, thông qua nhiều hoạt động như: Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL hàng năm với chuỗi các sự kiện và chủ đề phát triển DL; các hội nghị, hội thảo xúc tiến DL vùng thay cho các hoạt động riêng lẻ, chồng chéo của các tỉnh, thành. Các địa phương trong vùng đã “nắm tay nhau” tạo ra các sản phẩm liên kết như “Một điểm đến 4 địa phương +”; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Hiệp hội DL ĐBSCL, các địa phương trong vùng đã có nhiều nỗ lực tăng cường liên kết, hợp tác. Bộ VHTTDL, Tổng cục DL thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thúc đẩy liên kết vùng thông qua công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược phát triển ngành.
Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn chưa có một “cơ chế pháp lý” rõ ràng và “một mô hình chỉ đạo, điều phối” liên kết vùng ĐBSCL phát triển DL thật sự hiệu quả. Ngoài liên kết chính quyền, cần hướng đến trọng tâm là liên kết thị trường, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, người làm DL, cơ quan truyền thông, quảng bá hình ảnh, thương hiệu DL.
“Tuần lễ DL xanh ĐBSCL”, các hoạt động quảng bá, xây dựng thương hiệu DL đồng bằng đang được kỳ vọng tạo ra không gian DL sống động hơn với nhiều “sản phẩm dùng chung” và điểm riêng độc đáo của từng địa phương. Sản phẩm DL đặc thù “Thế giới sông nước Mê Kông” được phát huy sẽ lấp lánh trên bản đồ DL quốc gia và thế giới.

23 tháng 6, 2015

Nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long: Thua vì tụt hậu

Kỳ 2: Chính sách nhiều nhưng khó thực thi

Suốt một thời gian dài, dù có nhiều chính sách, chiến lược được đưa ra để đổi mới và phát triển nông nghiệp ĐBSCL, nhưng chuyện thực thi lại đang trên đà “ngoắc ngoải”.

“Điểm nghẽn” sau thu hoạch
Hiện nay, Việt Nam vẫn chủ yếu bán gạo ra thị trường, trong khi có những sản phẩm sau gạo có thể làm tăng giá trị lại chưa được sự quan tâm, đầu tư đúng mức. Ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho biết: Trong tiến trình cơ giới hóa nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ KHKT, ĐBSCL có những bước tiến đáng kể trong sử dụng giống tốt, quy trình canh tác, gieo sạ. Tuy nhiên, vấn đề xử lý sau thu hoạch đến nay lại là một “điểm tối”. “Chúng ta đang thiếu đầu tư những tiến bộ KHCN, bao gồm công nghệ và thương hiệu của sẩn phẩm. Việc này nông dân không thể tự làm, mà rất cần sự hỗ trợ từ nhiều phía”.
Cánh đồng lớn ở ĐBSCL

Ông Nguyễn Thể Hà - Chủ tịch CLB hỗ trợ nông gia ĐBSCL - phân tích, việc tập trung cho công đoạn sau thu hoạch hiện nay quá kém, lúa gạo thường bị thất thoát 25%, chủ yếu do nguồn vốn lưu động thu mua yếu, máy sấy cũng yếu, kho chứa lúa không đáp ứng đủ, dẫn đến không sấy lúa kịp và tồn trữ kịp. Thu mua theo mùa nhưng gạo bán quanh năm, trong khi việc tạm trữ chỉ theo chính sách chứ không tạm trữ “căn cơ”. Ở đây, tạm trữ là tạm trữ gạo, mà chỉ 3 tháng là gạo mất giá, còn lúa tạm trữ trong kho dưới 14 độ vẫn giữ nguyên chất lượng và bán có giá, cho nên phải tạm trữ căn cơ, phải coi vụ mùa là khi bán ra gạo chứ không phải vụ mùa là sau khi bán lúa. “Do thiếu máy móc trong canh tác, chế biến, thiếu công nghệ bảo quản, tồn trữ khiến sức cạnh tranh của nông sản yếu, bán giá thấp, dẫn đến việc nông dân cứ được mùa mất giá và nghèo mãi” - ông Hà đúc kết.
Tính chưa đúng, chưa đủ…
TS Lê Văn Bảnh - nguyên Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL - cho rằng: Hàng hóa nông nghiệp hiện nay kém chất lượng, giá thành sản xuất cao và không ổn định dẫn đến khó cạnh tranh ngay ở thị trường trong nước. Sản xuất nông nghiệp cũng kém bền vững vì xuất khẩu tăng nhưng giá trị không cao, thu nhập nông dân thấp. Còn ông Trần Hữu Hiệp nêu thực trạng: “Hiện nay, chúng ta có chú ý đến chuyện hỗ trợ kho, xưởng tạm trữ gạo, nhưng thực tế lại rất bất cập. Những hỗ trợ này nông dân không hưởng, chỉ nhằm vào DN, nhưng khi hỏi các DN, họ lại nói không được hưởng gì, chủ yếu DN trong hệ thống Nhà nước được hưởng”.
Thời gian qua, cũng có những chính sách tốt được ban hành, điển hình như việc hỗ trợ tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị sản phẩm. Mới đây, có quy định HTX được cho vay tiền tỉ, nhưng trên thực tế các ngân hàng lại không có nguồn tiền để cho vay, điều kiện thực thi không có. “Chúng ta nói có ưu đãi này ưu đãi kia nhưng lại không có tiền, hoặc giao lại cho địa phương, nhưng những địa phương nghèo không thể thực hiện, không cân đối được nguồn thu” - ông Hiệp nói.
Còn theo GS Võ Tòng Xuân, có một thực trạng rất dễ nhận ra là nông nghiệp đang phát triển theo kiểu mạnh ai nấy làm. Nông dân muốn trồng gì thì trồng, chặt gì thì chặt, còn DN không đầu tư “chất xám”, chỉ dựa vào đội quân thương lái đi thu mua lúa gạo. Trong khi các thương lái này chỉ gom sao cho đủ số lượng, không phân biệt đó là loại gì, rồi mang về trộn chung với nhau. Chính cách làm ăn lạc hậu này khiến nhiều nước dè dặt khi tiếp cận với mặt hàng lúa gạo Việt Nam.


21 tháng 6, 2015

Today is Father day!

 Hôm nay 21 tháng 6 ngày báo chí VN cũng là Father' s day - Ngày của cha. Mình không đồnng ý lắm với chữ Việt hóa này, đúng hơn phải gọi là ngày của con dành cho cha thì đúng hơn. Tiếc thuở xưa nhà nghèo, đối với gia đình miền quê như nhà mình, chụp hình là xa xỉ, mà cũng chẳng có máy chụp hình, thợ chụp hình đâu mà chụp. Cả huyện quê mình chỉ có 1 tiệm chụp ảnh, dành dụm tiền bấy lâu mới có thể đi chụp hình, chờ cả tuần ra nhận, những tấm ảnh trắng đen qúy vô cùng. Nhớ được đâu một vài tấm hình chụp chung với gia đình, nhưng lâu rồi, không còn giữ được, nên mình cũng không có hình chụp chung với ba hồi nhỏ.  
Father' s day. Post mấy tấm hình của ông bà cụ cách đây 5 năm và 2 cô con gái:

Đền Hạ, Đền Hùng, Phú Thọ

Với cô con gái đầu lòng trên đỉnh Hải Vân năm 2004 hồi chưa có đường hầm chui



Thơ ngây

Tập làm quen con chữ

Thơ ngây
Ông ơi ăn gì mà bụng ông to thế?

Thi nhau ai mạnh hơn!

Con cháu nhà vườn







Vịnh Hạ Long 2013



Chuẩn bị tham dự "Tour de France"

14 tháng 6, 2015

Gạo Việt - đường nào đến “thương hiệu hàng đầu thế giới”?

Trần Hữu Hiệp 

(TBKTSG) - Chính phủ vừa phê duyệt đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, phấn đấu đến năm 2030, gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng và an toàn thực phẩm. 
Việt Nam là nước có truyền thống trồng lúa. Nền văn minh lúa nước của Việt Nam có bề dày mấy ngàn năm lịch sử. Kỳ tích của hạt gạo Việt qua 30 năm đổi mới đã đưa nước ta từ một quốc gia thiếu đói ở thập niên 80 thế kỷ trước nhanh chóng vươn lên vị trí cường quốc xuất khẩu gạo. 


Nhưng một nghịch lý tồn tại nhiều năm nay là gạo Việt “chưa có tên” trên bản đồ thế giới, chính xác hơn là “chưa có thương hiệu” trên thị trường lúa gạo toàn cầu. Nhiều mặt hàng gạo xuất khẩu chỉ mang tên gọi chung vô cảm là gạo 5%, 25% tấm hoặc phải “mặc áo” các loại gạo nước ngoài. Định danh gạo Việt, nâng cao giá trị thương hiệu lúa gạo không chỉ cần thiết mà còn rất bức xúc trong bối cảnh cạnh tranh lúa gạo toàn cầu. 
Điều đáng mừng khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21-5-2015 phê duyệt đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam, đề ra mục tiêu, yêu cầu xây dựng thương hiệu lúa gạo; định vị giá trị, hình ảnh gạo Việt, nâng cao sự nhận biết của các nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối và người tiêu dùng trong, ngoài nước đối với sản phẩm gạo Việt Nam. Đây là cơ sở để củng cố và phát triển thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thế giới. 
Bên cạnh thương hiệu quốc gia, địa phương và doanh nghiệp, lần đầu tiên thương hiệu gạo vùng, miền được xác lập; trong đó trọng điểm là lúa gạo ĐBSCL. Doanh nghiệp được định vị với “vai trò chủ chốt trong xây dựng, sử dụng và phát triển thương hiệu gạo thông qua quá trình tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu”. 
Không thể phủ nhận quyết tâm mạnh mẽ và nhiều nội dung tích cực được chuyển tải qua đề án thương hiệu gạo Việt. Song, đường đi đến mục tiêu thương hiệu hàng đầu thế giới cần nhiều giải pháp đồng bộ, thiết thực hơn nữa. 
Để tránh làm thương hiệu kiểu phong trào, cần các dự án đầu tư cụ thể. Từ điểm xuất phát gạo không thương hiệu hiện nay, mục tiêu năm năm sau (đến 2020), phải có 20% và đến năm 2030 có 50% sản lượng gạo xuất khẩu đạt thương hiệu hàng đầu thế giới là một thách thức lớn, chưa kể, đề án còn bỏ ngỏ mục tiêu “thương hiệu gạo” cho thị trường nội địa với hơn 90 triệu dân Việt ăn gạo Việt chứ không phải là gạo Thái Lan, gạo Campuchia. 
Điểm yếu đầu tiên của nhiều “quyết tâm mạnh mẽ” của các chính sách hỗ trợ là “tiền đâu?”. Một nghịch lý đang tồn tại là, trong khi gói tín dụng dành cho lĩnh vực bất động sản 30.000 tỉ đồng được giải ngân hết sức chậm chạp, thì nguồn tài chính cho tái cơ cấu nông nghiệp và thực thi các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn thường rất tản mạn, không rõ nguồn. 
Đề án thương hiệu gạo, mặc dù xác định nguồn vốn thực hiện từ ngân sách, tín dụng đầu tư, doanh nghiệp, nhưng rất cần sự chuyển biến mạnh mẽ hơn bằng một chương trình tín dụng cụ thể hơn là kêu gọi lồng ghép chung chung. Điểm yếu thứ hai cần khắc phục là “bảo vệ tác quyền hạt gạo”. PGS.TS. Dương Văn Chín, đại diện Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS), từng than thở: Nhà nước khuyến khích xây dựng thương hiệu gạo, nhưng khi công ty làm thương hiệu, đóng túi đẹp, mẫu mã chuẩn, truy xuất được nguồn gốc thì lại phải chịu thuế 5%. Trong khi những người bán gạo tạp hóa, không thương hiệu thì được miễn thuế. Đây là sự bất công, đi ngược lại quá trình khuyến khích xây dựng thương hiệu gạo Việt. (Gần đây, điều này đã được sửa). 
AGPPS đã trả tác quyền cho Viện Lúa ĐBSCL 200 đồng/ki lô gam lúa giống. Tuy nhiên, nhiều đơn vị khác không trả tiền tác quyền, cạnh tranh không lành mạnh về giá là một thách thức đang đặt ra cho việc xây dựng thương hiệu. 
Đường đến “ngôi vị hàng đầu thế giới” của gạo Việt sẽ đạt được trong năm năm tới hay lâu hơn nữa không chỉ phụ thuộc vào quyết tâm mà quan trọng hơn là phải thay đổi tư duy dựa trên hiệu quả thực hiện với nguồn lực vật chất cụ thể. Có như vậy “giấc mơ thương hiệu gạo Việt” mới thành hiện thực. 

Đọc thêm: 




2 tháng 6, 2015

Khi nông dân cầm sổ đỏ: Hiến kế giải cơn khát vốn

Nhiều hộ nông dân ở ĐBSCL đã thế chấp “sổ đỏ” ngân hàng hoặc cầm cố để vay vốn làm ăn. Từ đó xảy ra nhiều chuyện bi hài...
Thông qua các chương trình khảo sát, nghiên cứu KT-XH nông thôn vùng ĐBSCL, ông Trần Hữu Hiệp (ảnh), Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã trao đổi với NNVN xung quanh vấn đề này.

Hiện mạng lưới ngân hàng thương mại “phủ sóng” khắp vùng miền và quan hệ khá thân thiết với nông dân. Nhiều bà con đã “cắm” sổ đỏ ở ngân hàng, nợ nần liên miên, ông nghĩ sao?
Vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn là nhu cầu hết sức bức thiết. Thời gian qua, ngành ngân hàng đã có nhiều nỗ lực đáp ứng nhưng kết quả còn nhiều hạn chế.
 Việc nông dân ĐBSCL cắm sổ đỏ chỉ là một trong những chỉ dấu cho thấy cơn khát vốn và điểm nghẽn tín dụng của khu vực này. Có thời điểm, ngân hàng không thiếu vốn, nhưng nhiều nông hộ khó tiếp cận vốn vay. Gánh nặng của nông dân còn phải chịu từ “kênh tín dụng không chính thức”. Để có vốn SX họ phải vay nóng để đầu tư, mua chịu vật tư nông nghiệp, phân bón của các đại lý để trả sau và chịu lãi cao. Trong khi đó, hệ thống cung ứng đầu vào cho SX nông nghiệp còn nhiều yếu kém, việc tiêu thụ nông sản thường bị ách tắc. 
Cơn khát vốn của nông dân cần được xem xét trong mối liên hệ các vấn đề xã hội của vùng. Tình trạng nghèo khó của nông dân ĐBSCL có đặc điểm riêng, nên cần chính sách đặc thù. Ở vùng này nhiều thập niên qua, không còn nghèo đói mà chỉ còn nghèo khó. Vùng này không có huyện nghèo để được nhận hỗ trợ, đầu tư và nhiều chính sách an sinh xã hội khác theo chương trình hỗ trợ các huyện nghèo của cả nước. Không có ai đói nhưng nghèo đều, cận nghèo nhiều; là vùng trũng về giáo dục - đào tạo, chất lượng nhân lực... Cần quan tâm giải quyết căn bản các bức xúc của vùng. Làm sao để hạt gạo không bị cắn chia làm tám phần, con cá tra, cây mía không bị chặt làm nhiều khúc, phần của người nông dân, người cận nghèo được nhận phải tương xứng với công sức họ bỏ ra, đặc biệt là mở lối thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Vì sao vùng đất phương Nam được xem là trù phú bậc nhất cả nước, SX lúa, cá, tôm… XK luôn dẫn đầu, song đa số hộ vẫn bị cuốn theo vòng xoáy nợ nần.
Nguyên nhân do đâu, thưa ông? 
Nông dân thiếu vốn SX phải “treo" sổ đỏ một phần do thiếu sự đầu tư hỗ trợ từ Nhà nước và DN. Nhiều khu vực còn vắng bóng DN. Đầu tư của DN vào đây cũng rất thấp. Báo cáo thường niên DN Việt Nam 2014 cho thấy, khu vực nông nghiệp chiếm tới 20% GDP nhưng chỉ có 1% DN đầu tư. Các điểm nghẽn đã được chỉ ra như chính sách không sát thực tiễn, chậm hoặc chưa đến đến được với DN và nông dân. Cả DN và nông dân đều khó tiếp cận vốn vay. Nông dân khó tiếp cận được dữ liệu quy hoạch, thông tin thị trường một cách công khai, minh bạch và đáng tin cậy để có thể “SX theo tín hiệu thị trường”. Một kết quả nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL và Viện Chiến lược, chính sách phát triển NNNT cho thấy, nếu tính bình quân đất SX khoảng 0,5 ha/hộ, thì một gia đình thuần nông ở ĐBSCL không thể làm giàu. Khó có cuộc chuyển đổi lớn mang tính cải cách mạnh mẽ, trong khi vẫn còn đó những cản trở về chính sách đất đai, thiếu mô hình tốt, tiến bộ kỹ thuật cho SX hàng hóa lớn… Không thể lắt nhắt một vài dự án hỗ trợ có tính đối phó ngắn hạn, một ít chính sách cho vay “không thấm vào đâu” để đầu tư lớn. Bài toán lợi nhuận và rủi ro của nông dân không chỉ nằm trong đồng vốn tín dụng, mà cần được giải bằng lời giải tổng thể. Cần tiến hành theo cả 3 trụ cột phát triển bền vững: Kinh tế, xã hội và môi trường; vừa đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhưng phải giải quyết các vấn đề xã hội là tăng thu nhập, nâng cao đời sống của nông dân. Trong SXKD thì mối quan hệ nông dân với ngân hàng là đương nhiên.
Nhưng theo ông có giải pháp nào tốt hơn việc bà con phải gửi sổ đỏ ở ngân hàng? 
Vay và nợ là chuyện bình thường trong kinh doanh. Quan trọng là tín dụng sạch, nợ xấu thấp. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn không chỉ bị “nghẽn” mà còn đang có vấn đề cần được xem xét. Nông dân đang rất khát vốn để sản xuất. Kênh tín dụng sắp tới cần được chuyển từ "ban phát", hỗ trợ theo đối tượng “đói vốn” sang tiếp cận theo “chuỗi giá trị nông sản” mới tăng hiệu quả kinh tế. 
Những bất ổn của cánh đồng lớn hiện nay là sự liên kết giữa nông dân và DN vẫn lỏng lẻo, cần một cơ chế pháp lý để bảo vệ hai bên. Có liên kết SX hiệu quả thì nông dân mới không phải cắm sổ đỏ ở ngân hàng. Nông dân ĐBSCL cần được giải phóng bằng kiến thức của nhà kinh doanh. Họ phải được đào tạo nghề, tập trung vào việc nâng cao giá trị SX các ngành hàng chủ lực; mở rộng các ngành nghề phi nông nghiệp. Đó là cách thức giúp họ không chỉ đứng vững trên đồng ruộng, mà còn có thể làm giàu trên đất quê mình. Các nhóm giải pháp chủ yếu cần được triển khai đồng bộ là phải nâng cao chất lượng quy hoạch, khuyến khích, thu hút đầu tư tư nhân, nâng cao hiệu quả đầu tư công đến cải cách thể chế, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách. Hiện mô hình liên kết SX trên cánh đồng lớn của Cty CP BVTV An Giang (AGPPS) với nông dân rất hiệu quả. Ngoài liên kết SX lúa, cách làm này có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác không? Mô hình cánh đồng lớn hay cánh đồng liên kết của AGPPS đã trở thành điểm sáng trong nông nghiệp, được nhân rộng ở nhiều tỉnh, thành ĐBSCL.  1.724 nông dân đã mua hơn 1,8 triệu cổ phiếu với số tiền hơn 56 tỷ đồng của AGPPS mở ra kỳ vọng về hướng đi mới của ngành nông nghiệp, “doanh nhân hóa nông dân” đã thành hiện thực.  Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 62/2013/QĐ-TTg, Bộ NN-PTNT đã ban hành Thông tư 15/2014/TT-BNNPTNT về chính sách khuyến khích hợp tác hỗ trợ liên kết SX gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng CĐL.  
Mô hình này có thể được nghiên cứu, ứng dụng trong các lĩnh vực thủy sản, trồng mía hay cây ăn trái. Tất nhiên yêu cầu và điều kiện liên kết sẽ khác nhau. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cánh đồng lớn vẫn tồn tại những hạn chế. Có vướng mắc đã vượt ngoài tầm nỗ lực của AGPPS. Nó đang đòi hỏi sự chuyển đổi căn bản, toàn diện và cần những cải cách mạnh mẽ hơn nữa từ cơ chế, chính sách đồng bộ. Xin cảm ơn ông!  

HỮU ĐỨC