29 tháng 4, 2013

Nhiều hướng dẫn trái luật, bất hợp lý


Gần đây, một số thông tư liên tịch hay quy chế ngành… hướng dẫn thực hiện tố tụng đã được ban hành. Tuy nhiên, chính các văn bản này lại đang gây vướng mắc vì có những hướng dẫn bất hợp lý, thậm chí trái luật.

Vướng mắc mới nhất được nhiều thẩm phán chỉ ra là nội dung quy định tại khoản 2 Điều 36 Quy chế và hướng dẫn công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 35 ngày 29-1-2013 của viện trưởng VKSND Tối cao). Theo đó, viện trưởng VKS ra quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam và người chấp hành án phạt tù đang bị giam, giữ trong trường hợp đã được tòa án xét xử và quyết định trả tự do; tuyên không phạm tội, được miễn trách nhiệm hình sự; miễn hình phạt, hình phạt không phải là tù giam, thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian đã bị tạm giam.
Phán quyết của tòa phải chờ VKS phê chuẩn?
Theo một thẩm phán TAND TP.HCM, quy định trên thể hiện sự lấn quyền của cơ quan kiểm sát. Bởi nếu thực hiện, cùng một trường hợp sẽ cần có hai quyết định trả tự do: một của tòa, một của viện trưởng VKS. Trong khi đó, theo Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định của tòa trả tự do cho các bị cáo trong các trường hợp tuyên không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là tù giam, thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian đã bị tạm giam có hiệu lực pháp luật ngay. Đồng thời, VKS chỉ là cơ quan thực hiện chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của tòa chứ không phải là cơ quan thi hành pháp luật.
Theo vị thẩm phán này, quy định viện trưởng VKS ra quyết định trả tự do sau khi tòa đã ra phán quyết rồi là thừa và bất hợp lý: “Việc này chẳng khác nào phán quyết của tòa còn phải chờ VKS phê chuẩn”.
Khi tòa ra phán quyết trả tự do mà còn chờ viện trưởng VKS ra quyết định một lần nữa là thừa và bất hợp lý. Ảnh minh họa: HTD
Luật sư Bùi Quang Nghiêm (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM) cũng đồng tình: “Quy định trên trái tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự bởi can thiệp vào hoạt động của tòa, tạo sự chồng chéo về thẩm quyền với tòa, trái tinh thần luật định, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo”.
Luật sư Nghiêm kể lại một vụ mà ông bào chữa cho một bị cáo phạm tội không tố giác tội phạm. Phiên tòa kéo dài đến 19 giờ mới kết thúc. Tòa tuyên trả tự do cho thân chủ của ông vì có mức án bằng với thời gian tạm giam. Sau đó, phía VKS và cảnh sát dẫn giải cứ một mực buộc đưa thân chủ của ông về trại giam để làm các thủ tục hành chính mới thả. Luật sư phải nhờ chủ tọa can thiệp, giải thích là quyết định trả tự do của tòa có hiệu lực ngay, bị cáo được về, các thủ tục hành chính còn lại thì VKS và công an có thể mời bị cáo quay lại vào những hôm sau để hoàn tất.
Kể lại trường hợp này, luật sư Nghiêm đặt vấn đề: “Nếu thực hiện theo Quy chế của VKSND Tối cao, sau khi tòa tuyên trả tự do rồi nhưng phía VKS vì lý do nào đó mà chần chừ, chậm ra quyết định thì người được trả tự do vẫn còn bị giam giữ. Lúc đó họ biết phải làm sao?”.
Làm khổ kiểm sát viên
Tháng 8-2012, VKSND Tối cao và TAND Tối cao đã ra hai thông tư liên tịch số 03 và 04 hướng dẫn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính và tố tụng dân sự. Trong hai thông tư này có nội dung quy định ý kiến phát biểu của kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp và phải được gửi cho tòa trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên tòa, phiên họp để lưu vào hồ sơ vụ án dân sự hay hành chính.
Một số kiểm sát viên cao cấp Viện Phúc thẩm III VKSND Tối cao thắc mắc: Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên đã được trình bày rõ trong phiên xử, đã được thư ký phiên tòa ghi lại. Tại sao còn bắt các kiểm sát viên phải gửi lại bằng văn bản có chữ ký trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ khi kết thúc phiên tòa?
Mặt khác, cả Bộ luật Tố tụng dân sự lẫn Luật Tố tụng hành chính đều không quy định thì tại sao các thông tư lại “vẽ” thêm việc cho kiểm sát viên khi không cần thiết? Chưa kể, một tháng mỗi kiểm sát viên đều phải tham gia rất nhiều vụ án. Việc bị “ép” thực hiện thêm văn bản mà luật không quy định sẽ làm mất thời gian của họ, làm ảnh hưởng tới tiến độ giải quyết những vụ án khác...
Cần điều chỉnh, sửa đổi
Khi ban hành một thông tư liên tịch, quy chế hay văn bản hướng dẫn dưới luật thì cần phải có sự khách quan, đồng bộ và không được chồng chéo. Các cơ quan có thẩm quyền cần có sự tổng hợp, đánh giá qua thực tiễn khoa học, phải có sự phối hợp giữa các ngành liên quan, rút kinh nghiệm từ các hội nghị tổng kết, các hội thảo khoa học trước khi đưa ra áp dụng. Nếu không sẽ dễ dẫn đến tranh cãi, thiếu thống nhất, khó khả thi. Theo tôi, hai dẫn chứng về quy chế ngành kiểm sát cũng như hai thông tư liên tịch 03 và 04 nói trên đều cần được kiến nghị điều chỉnh, sửa đổi lại cho phù hợp với pháp luật và thực tiễn.
Luật gia ĐẶNG ĐÌNH THỊNHGiám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia Việt Nam
HOÀNG YẾN

Mô hình chính quyền đô thị: Đã chín muồi (19/03/2013)

Mô hình chính quyền đô thị hiện đang tiếp tục nhận được sự quan tâm của dư luận. Tiến sĩ Võ Trí Hảo, giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã chia sẻ với PV Báo Đại Đoàn Kết về vấn đề này.

 

Tiến sĩ Võ Trí Hảo

* PV: Giữa mô hình chính quyền đô thị mà Bộ Nội vụ vừa trình Bộ Chính trị và đề án "Chính quyền đô thị” do UBND TP.HCM đề xuất có những khác biệt cơ bản nào, thưa ông ?

Tiến sĩ Võ Trí Hảo: Đề án do Bộ Nội vụ trình chỉ mới đề cập việc cần phải làm rõ hơn nữa giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn; giữa thành phố trực thuộc trung ương và thành phố thuộc tỉnh; giữa thị xã và thị trấn. Trong đề án này, chưa nói rõ cần phải phân biệt như thế nào và cách phân loại vẫn theo hệ quy chiếu cũ: có nghĩa luôn quy chiếu chính quyền đô thị về hoặc là tương đương tỉnh, hoặc tương đương huyện, hoặc tương đương xã. Đề án này cũng không đề cấp đến thuật ngữ "thành phố thuộc thành phố trung ương”.

Trong khi đó đề án của UBND TP.HCM đã đi vào chi tiết phác thảo hình hài cụ thể; làm rõ được "khác” như thế nào. Thứ hai, đề án không chỉ dừng lại thuần túy ở việc làm rõ chính quyền thành phố trực thuộc trung ương khác với chính quyền thành phố thuộc tỉnh một cách chung chung, mà đã gắn liền với đặc thù địa lý, trình độ phát triển kinh tế, năng lực cán bộ của mỗi địa phương. Xuất phát từ các đặc thù địa phương, vai trò khác biệt của TP.HCM so với các tỉnh thành khác, theo tôi, đề án đã đưa ra mô hình pháp lý phù hợp, tốt nhất cho TP.HCM, tạo điều kiện cho TP.HCM trở thành đầu tàu kinh tế của đất nước. Cuối cùng, đề án này cũng đã thoát ly được hệ quy chiếu cũ, đề ra một cấp đơn vị hành chính lãnh thổ mới hoàn toàn – thành phố thuộc thành phố.

* Như vậy, đề án "chính quyền đô thị” mà TP.HCM đề xuất, không phải là mô hình riêng cho địa phương này ?

- Mục tiêu khi UBND TP.HCM là đề xuất ra mô hình tốt nhất, phù hợp nhất với đặc thù của TP.HCM, chứ không tự mình đặt ra nhiệm vụ thiết kế một mô hình áp dụng chung cho các đô thị khác trong cả nước. Các đề xuất chi tiết của đề án này – ví dụ chuỗi đô thị vệ tinh, theo tôi sẽ không phù hợp với các đô thị dưới 1 triệu dân. Tuy nhiên, tôi cho rằng điều có thể vận dụng cho toàn quốc, đó là tinh thần thoát ly tư duy rập khuôn bao cấp và tư duy tạo khuôn khổ pháp lý đủ rộng cần thiết để mỗi địa phương phát huy sức mạnh, đặc thù địa phương.

* Theo như đề xuất của UBND TP.HCM thì thành phố này muốn rút gọn chỉ còn hai cấp hoàn chỉnh gồm cấp TP.HCM và 4 thành phố vệ tinh trực thuộc TP.HCM. Liệu rằng, việc tinh gọn bộ máy như vậy có ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước so với hiện nay không?

- Nhìn vào các đô thị tiên tiến trên thế giới như Berlin, Tokyo, Washington thì điều này là hoàn toàn có thể và về mặt nguyên lý, thì giảm cấp quản lý sẽ có cơ sở để giảm chi phí quản lý, rút gọn thủ tục hành chính. Tuy nhiên, những điều tốt đẹp này có trở thành hiện thực hay không còn phù thuộc vào việc phân định thẩm quyền giữa hai cấp này ra sao.


TP. Hồ Chí Minh, năng động - sáng tạo
Ảnh: T.L
* Có ý kiến cho rằng chưa thích hợp để áp dụng mô hình thị trưởng, với lý do: tốc độ đô thị hóa chưa tương xứng. Ông đánh giá thế nào về quan điểm này?

- Nói như vậy là hạ thấp dân mình quá và thiếu căn cứ, bởi lẽ mô hình thị trưởng rất ít liên quan đến tốc độ đô thị hóa.

Mô hình chính quyền đô thị xuất hiện trên thế giới từ thế kỷ 18. Chức danh "Thị trưởng” gắn liền với đô thị, nhưng "mô hình thị trưởng” – là mô hình trong đó người dân bỏ phiếu trực tiếp chọn ra người đứng đầu hành chính ở địa phương, bên cạnh việc bỏ phiếu chọn ra cơ quan đại diện ở địa phương – tồn tại không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn.

Theo tôi, về phía xã hội, các điều kiện để thiết lập mô hình thị trưởng ở các thành phố trực thuộc trung ương đã chín muồi, bởi các lý do sau đây: Thứ nhất, người Việt vốn tự hào về tính cần cù thông mình của mình; Thứ hai, các cử tri Việt Nam đã đủ trình độ sáng suốt lựa chọn ra các ĐBQH, Đại biểu HĐND các cấp, thì không có lý do gì họ không đủ sáng suốt chọn ra thị trưởng, là người gắn bó với thành phố. Thứ ba, so với mặt bằng chung, trình độ dân trí ở thành thị còn cao hơn một mức. Thứ tư, ở các thành phố trực thuộc Trung ương, cán bộ công chức rất nhiều. Không thể nói, dân trí ở những thành phố như vậy là thấp được.

* Ông có cho rằng, sửa Hiến pháp lần này chính là cơ hội vàng để những đô thị lớn, như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng có cơ hội tăng quyền tự quản?

- Đây là cơ hội vàng cho cả dân tộc, chứ không riêng gì ba thành phố lớn. Riêng về chính quyền địa phương, nếu tư duy "Đổi mới 3.0” của TP.HCM được chấp nhận thì nó sẽ giải quyết được các vấn đề sau:

Nới được "chiếc áo pháp lý” chật hẹp cho các địa phương (bao gồm Đà Nẵng, TP.HCM) bấy lâu phải bất đắc dĩ "xé rào” để cải cách; Tạo cơ sở hiến định cho các địa phương phát huy mạnh mẽ hơn nữa thế mạnh của từng địa phương; thay cho việc phải thụ động chờ trung ương thì lãnh đạo mỗi địa phương phải suy nghĩ trên từng mảnh đất của địa phương mình, giống như "người nông dân được suy nghĩ trên từng luống cày của mình”; Tạo cơ sở hiến định cho sự phát triển đa dạng, cạnh tranh lành mạnh, nhưng đồng thời đảm bảo sự bình đẳng của công dân sống ở thành thị và nông thông, sống ở thủ đô và không phải thủ đô. Mỗi địa phương đặc xây dựng mô hình đặc thù trong khuôn khổ hiến pháp, mà chẳng phải theo cơ chế xin cho. "Xin – cho” cơ chế đặc thù như hiện nay là không bình đẳng giữa địa phương "giỏi xin” và địa phương "xin kém”.

Tranh chấp bảo hiểm: Khó xác định lỗi


Toà Kinh tế TAND Tối cao đã rút kinh nghiệm toàn ngành một số tình huống tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng xây dựng, hợp đồng tín dụng mà các tòa thường hay mắc lỗi sai sót về mặt nội dung.

Theo Tòa Kinh tế TAND Tối cao, khi giải quyết tranh chấp bảo hiểm, các tòa hay gặp lúng túng vì số lượng văn bản pháp luật liên quan khá nhiều, có nhiều quy định chồng chéo hoặc sửa đổi thường xuyên nhưng lại thiếu văn bản hướng dẫn. Hơn nữa, hầu hết án loại này đều có tình tiết phức tạp, nhất là các vụ tranh chấp bảo hiểm hàng hải. Từ đó, tòa các cấp dễ mắc sai sót trong việc áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ nhằm xác định lỗi của các bên, xác định có hay không sự kiện bảo hiểm xảy ra, vấn đề thu và nộp phí bảo hiểm…
Chỉ rõ lỗi của các bên
Một trong những sai lầm mà các tòa thường mắc phải là khâu xác định lỗi. Chẳng hạn vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa Công ty TNHH Vận tải Biển Trung Dũng, Công ty Cho thuê Tài chính I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với bị đơn Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex. Hoặc vụ tranh chấp giữa Công ty TNHH Thái Bình Minh với Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh.
Trong hai vụ tranh chấp này, bên công ty bảo hiểm không có tài liệu chứng minh là bên được bảo hiểm đã cố ý gây tai nạn chìm tàu để yêu cầu bồi thường tổn thất. Tuy nhiên, bên được bảo hiểm cũng có một phần lỗi như thuyền viên không có chứng chỉ hành nghề, không cảnh giới tốt… Lẽ ra phải xác định là lỗi hỗn hợp thì tòa cấp phúc thẩm lại xác định lỗi hoàn toàn thuộc về bên bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm. Vì vậy, cả hai vụ đều bị cấp giám đốc thẩm hủy án phúc thẩm để giải quyết lại.
Theo Tòa Kinh tế, Bộ luật Dân sự có quy định về lỗi hỗn hợp, trong khi Luật Kinh doanh bảo hiểm và Bộ luật Hàng hải lại không quy định. Vì vậy, khi giải quyết án, các tòa không chỉ căn cứ vào sự kiện bảo hiểm xảy ra để xác định trách nhiệm bồi thường mà còn phải xem xét rõ lỗi của các bên nhằm đánh giá chính xác mức bồi thường tương ứng.
Giám định xây dựng phải khách quan
Tòa Kinh tế lưu ý: Khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng xây dựng, nhiều tòa đã thực hiện việc trưng cầu giám định không đúng quy định. Vụ tranh chấp hợp đồng xây dựng giữa Công ty Xây dựng Hoàng Thắng với Công ty TNHH Tâm Phúc Lợi là một ví dụ điển hình.Trong vụ án này, hai công ty tranh chấp về khối lượng công việc đã được nghiệm thu và chưa nghiệm thu. Cả hai cấp tòa sơ, phúc thẩm chỉ căn cứ vào kết quả kiểm định của cơ quan kiểm định do Công ty Hoàng Thắng mời để giải quyết án, trong khi phía Công ty Tâm Phúc Lợi không đồng ý. Việc này không đảm bảo khách quan, không đúng luật.
Theo Tòa Kinh tế, việc giám định trong lĩnh vực xây dựng phải tuân theo các Thông tư số 03/2011, số 35/2009 và 27/2009 của Bộ Xây dựng. Trong trường hợp đôi bên tranh chấp về khối lượng, chất lượng công việc thực tế đã làm thì các tòa phải yêu cầu các bên thỏa thuận lựa chọn cơ quan giám định. Nếu không thỏa thuận được thì một trong các bên yêu cầu và tòa sẽ ra quyết định trưng cầu giám định. Chỉ có như vậy thì kết quả giám định mới đúng pháp luật.
Tín dụng: Phải xác định tài sản chung hay riêng
Hiện nay có nhiều trường hợp chỉ ghi tên chồng (vợ) trên giấy đỏ, giấy hồng chứ không ghi tên cả hai. Sau khi chồng (vợ) đem thế chấp nhà, đất thì có phòng công chứng yêu cầu cả hai vợ chồng cùng ký vào hợp đồng thế chấp, có nơi lại không. Đến khi tranh chấp ra tòa, có tòa chấp nhận hợp đồng thế chấp chỉ có một mình chồng (vợ) ký là hợp pháp nhưng cũng có tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Ngoài ra, có không ít trường hợp người đứng tên trên giấy tờ mang tài sản đi thế chấp bảo lãnh và cố tình giấu không cho ngân hàng biết đây là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Vì vậy, hợp đồng bảo đảm sau đó được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm. Khi giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo đảm, có tòa chưa xác minh là tài sản thuộc sở hữu chung hay riêng đã vội tuyên án, dẫn đến việc bản án bị xem xét lại.
Chẳng hạn vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Đà Nẵng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tuyết Trang. Trong vụ này, bà Lê Thị Tuyết Trang đã dùng tài sản nhà, đất do bà đứng tên để đảm bảo khoản vay của công ty tại ngân hàng. Tòa sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận giữa bà Trang với ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm nhưng lại không làm rõ khối tài sản này là tài sản riêng hay chung của vợ chồng bà Trang. Đồng thời, trước khi tòa thụ lý vụ kiện, một tòa án khác đã thụ lý vụ án ly hôn của vợ chồng bà Trang, trong đó có cả yêu cầu phân chia tài sản đang thế chấp nói trên. Vì vậy, sau khi tòa ra quyết định công nhận sự thỏa thuận trong vụ kinh doanh thương mại thì chồng bà Trang đã có đơn đề nghị cấp giám đốc thẩm xem lại về phần xử lý tài sản bảo đảm.
Theo Tòa Kinh tế, khi giải quyết các trường hợp này, các tòa địa phương cần phải xác minh, làm rõ khối tài sản bảo đảm là tài sản chung hay riêng, căn cứ vào Luật Hôn nhân và Gia đình cùng Nghị quyết số 02/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.
Trên thực tế, có trường hợp đã chuyển nhượng tài sản cho người khác nhưng vẫn đem thế chấp, bảo lãnh để đảm bảo cho một khoản vay trong hợp đồng tín dụng. Hoặc có trường hợp làm giả cả giấy đỏ, giấy hồng để thế chấp, bảo lãnh và qua mặt được công chứng viên.
Theo Tòa Kinh tế, khi giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản thế chấp như trên, các tòa cần phải yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ để chứng minh nguồn gốc tài sản, ai đang quản lý, sử dụng tại thời điểm giải quyết. Đồng thời, tòa cũng phải tiến hành xác minh. Trên cơ sở đó mới xác định được những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để đưa họ vào tham gia tố tụng…

Xử phạt ngoại tình - Bài 2: Có ăn ở qua đêm là cứ phạt!


Cần phải xác định rõ những hành vi nào được cho là ngoại tình, ngoại tình ở mức độ nào thì được xem là vi phạm chế độ một vợ một chồng.

Theo các chuyên gia pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, tình trạng ly hôn đang gia tăng phần nhiều có nguyên nhân là ngoại tình. Thế nhưng quy định pháp luật chưa rõ, hiếm có trường hợp vi phạm bị xử phạt hành chính, bị xử lý hình sự càng hiếm hơn. Dự thảo Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp nâng mức phạt hành vi ngoại tình lên từ 200.000 đồng đến 1 triệu đồng nhưng dư luận vẫn xem là còn quá nhẹ và chưa khả thi.
Chỉ “túm” được người có vợ bé
TS Nguyễn Văn Tiến, Trưởng bộ môn Luật hôn nhân và gia đình Trường ĐH Luật TP.HCM, cho rằng: “Nếu tăng tiền phạt mà quy định vẫn lờ mờ, cao vời vợi như lâu nay thì khó “túm” được anh nào. Cái gốc của vấn đề là phải liệt kê, định nghĩa những hành vi nào là ngoại tình, ngoại tình ở mức độ nào thì được xem là vi phạm chế độ một vợ một chồng. Không thể như hiện nay luật bó khung trong giới hạn chỉ chung sống như vợ chồng mới xử lý. Quy định hiện nay buộc người bị hại phải chứng minh người kia có tài sản chung, có con chung, có địa phương, hàng xóm xác nhận… mới xử phạt. Như vậy không khác nào chỉ “túm” được những người có vợ bé, có con riêng, còn những người có vợ rồi vẫn nhởn nhơ cặp bồ, thậm chí năm nay cô này, năm sau cô khác cũng chịu”. Theo TS Tiến, để quy định này mang tính khả thi cần phải xác định rõ trình tự thủ tục, chẳng hạn cần phải có xác nhận của hàng xóm thì hình thức của việc xác nhận này như thế nào, nếu là biên bản thì ai được quyền lập biên bản việc vi phạm để làm chứng về sau, những ai sẽ ký vào biên bản…
Có hành vi là xử?
Có ý kiến cho rằng những quy định và hướng dẫn vừa mơ hồ vừa rối rắm như hiện nay chừng như để bảo vệ kẻ vi phạm chế độ một vợ một chồng và gây khó cho những nạn nhân bị phụ bạc. Muốn xử phạt kẻ vi phạm chế độ một vợ một chồng phải chứng minh là bên kia có con chung, có tài sản chung, sống chung, lại phải được chòm xóm, xã hội công nhận…
Nhiều chuyên gia cho rằng luật cần cụ thể hơn về những khái niệm, định nghĩa, điều kiện xử phạt thì mới có thể xử phạt và đưa ra mức phạt được. Chẳng hạn, bắt quả tang “trai trên gái dưới” có thể được xem là vi phạm chế độ một vợ một chồng chưa? Vi phạm ở mức độ nào thì phạt thấp, mức độ nào phạt cao? Một người dân khác (hàng xóm, đồng nghiệp) phát hiện họ ăn ngủ với nhau thì có được quyền tố cáo không? Đến mức độ nào thì được quyền tố cáo? Biểu mẫu tố cáo như thế nào?...
“Luật trị hành vi này thì đã có từ lâu rồi. Nhưng mấy ai bị xử phạt? Luật đã răn đe được ai chưa? Luật phải gần thực tế hơn nữa, cụ thể hơn nữa thì mới mong phạt được. Theo tôi, đã có vợ có chồng rồi mà còn ăn ở qua đêm nhiều lần với người khác (dù không có con chung, không tài sản chung…) thì cũng cần được coi là vi phạm chế độ một vợ một chồng. Trong trường hợp này, người vợ (chồng) là nạn nhân có quyền phôtô giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn của hai người đến địa phương nhờ chính quyền can thiệp, nếu phát hiện và lập biên bản họ ăn ngủ với nhau thì đã xử phạt được rồi” - luật sư Nguyễn Minh Long, Giám đốc Công ty Luật Dragon (Đoàn Luật sư Hà Nội), góp ý.
Tăng tác động từ dư luận
Theo luật sư Nguyễn Minh Long, bên cạnh việc hướng dẫn luật (hành vi nào sẽ bị xử phạt, mức phạt cụ thể, trình tự tiến hành xử phạt…) thì cần phải có hướng dẫn rộng rãi, tuyên truyền nâng cao ý thức của cộng đồng. Chính quyền phải xử lý thật nghiêm chứ không coi đây là chuyện riêng của gia đình. Các cơ quan, đoàn thể cùng xem đây là việc quan trọng, có thể đưa vào nội quy của cơ quan để nếu ai vi phạm thì nhắc nhở hoặc cố tình thực hiện hành vi này thì cần “tố” đến chính quyền để xử phạt họ.
Nhiều ý kiến cho rằng để triệt tình trạng ngoại tình cần vận dụng công cụ mạnh mẽ từ dư luận. Bên cạnh việc phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền thì cũng cần áp dụng biện pháp thông báo đến cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác, địa phương nơi người đó sinh sống.
TS Trần Thị Vân Anh, Viện Nghiên cứu về gia đình và giới, cho rằng để tránh đi sâu vào đời tư, chỉ cần thông báo rằng anh A đã vi phạm chế độ một vợ một chồng, không cần nói vi phạm với ai, ở đâu… Tuy nhiên, theo TS Tiến thì cách làm này không nên vì ảnh hưởng không nhỏ đến các thành viên khác trong gia đình (nhất là trẻ em), vi phạm đến quyền bí mật đời tư của công dân. “Chỉ cần phạt tiền là đủ, quan trọng là làm sao để tóm và phạt cho được người vi phạm” - TS Tiến nhấn mạnh.
Phạt 1 triệu đồng, quá thấp!
Phạt như vậy là quá thấp, không đủ tính răn đe. Một người ngoại tình làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống gia đình. Mức phạt như vậy là không tương xứng với thiệt hại mà hành vi gây ra.
Luật sư NGUYỄN MINH LONG, Giám đốc Công ty Luật Dragon (Đoàn Luật sư Hà Nội)
Quy định phải khả thi
Vấn đề ở đây không phải là số tiền mà là việc thực thi pháp luật. Dù anh có nâng mức phạt lên cả vài chục triệu đồng đi nữa mà không xử phạt được thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nếu phạt được thì chỉ cần vi phạm lần hai là xử lý hình sự được rồi. Hiện nay dù mức phạt thấp nhưng có mấy ai bị phạt đâu?
TS NGUYỄN VĂN TIẾN, Trưởng bộ môn Luật hôn nhân và gia đình Trường ĐH Luật TP.HCM

Đòi bồi thường vì bêu xấu lãnh đạo


Người lao động cho rằng công ty sai, ngược lại công ty cũng đòi người lao động bồi thường vì làm nguy hại cho công ty.

Vừa qua, TAND TP.HCM đã đưa vụ cô T. kiện đòi Công ty M. bồi thường vì bị sa thải sai ra xét xử. Trong vụ này, công ty phản tố bảo cô T. có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bêu xấu lãnh đạo... nên cũng phải bồi thường.
Qua xem xét, HĐXX đã tạm dừng phiên tòa, chiều 27-3 tòa sẽ tiếp tục.
Làm lộ bí mật kinh doanh
Tại buổi xử trước, cô T. trình bày cô là nhân viên tư vấn tuyển dụng nhân sự của Công ty M. (kinh doanh ngành nghề cung ứng nguồn nhân lực). Hai bên thỏa thuận đến hết tháng 7-2012 thì hợp đồng lao động sẽ chấm dứt nhưng mới đến tháng 8-2011, công ty đã sa thải cô. Trước sự vi phạm này, cô khởi kiện đòi công ty phải hủy việc sa thải, thanh toán cho cô gần 1,2 tỉ đồng (gồm tiền lương, tiền hoa hồng tuyển dụng thành công ứng viên; bồi thường tổn thất tinh thần, chi phí khám, chữa bệnh…) và công khai xin lỗi cô.
Ngược lại, công ty phản tố cho rằng cô T. lấy danh sách khách hàng, đăng tải chào hàng trên trang web công ty mình (cũng kinh doanh ngành nghề tương tự) nên đã làm lộ bí mật kinh doanh, có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm kỷ luật lao động. Ngoài ra, cô cũng đưa hình ảnh một số lãnh đạo công ty lên mạng và có lời lẽ bêu xấu họ, làm hạ uy tín công ty nên cô phải bồi thường hơn 107 triệu đồng; công khai xin lỗi để lấy lại tên tuổi cho công ty.
Xử sơ thẩm, TAND quận 1 nhận định cô T. đã có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh. Cô lôi kéo khách hàng, quảng cáo cho công ty cô… là cạnh tranh không lành mạnh, làm ảnh hưởng đến doanh thu và uy tín công ty. Tuy nhiên, công ty không chứng minh được thiệt hại cụ thể. Do đó tòa tuyên bác toàn bộ yêu cầu của cô T. và của công ty.
Hai bên đã kháng cáo.
Đem về nhà làm thêm
Tại buổi xử phúc thẩm vừa qua, cô T. nói thêm: “Công ty chỉ có thể sa thải khi tôi trộm cắp hoặc có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng cho công ty. Công ty không chứng minh được lỗi của tôi. Trong biên bản xem xét xử lý vi phạm kỷ luật lao động, công ty chỉ “đã và đang tiến hành xác minh rõ những thiệt hại”. Án sơ thẩm xác định “công ty chưa chứng minh được thiệt hại cụ thể” nhưng lại nhận định “sai phạm của bà T. ảnh hưởng đến doanh thu và uy tín của công ty là rất mâu thuẫn”.
“Công việc nhiều, tôi gửi danh sách khách hàng vào mail riêng để về nhà làm thêm...” - cô T. giải thích cho cáo buộc mình đánh cắp bí mật kinh doanh qua việc gửi danh sách khách hàng vào mail riêng.
Theo cô T., cô luôn hoàn thành công việc, những tháng trước khi nghỉ, thu nhập của cô có tháng hơn 80 triệu đồng. Công ty chưa bao giờ xử lý cô không hoàn thành nhiệm vụ, chứng tỏ cô đã hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt, công ty không cho cô làm việc, nói cô là người xấu, không có đạo đức khiến cô thực sự suy sụp tinh thần.
Phản bác, công ty cho rằng cô T. đã vi phạm an toàn hệ thống mạng, xâm phạm bí mật kinh doanh. Công ty kinh doanh ngành nghề cung ứng nguồn nhân lực nhưng cô T. lại lấy danh sách khách hàng, đăng tải chào hàng trên trang web công ty mình là không thể chấp nhận. Thông tin khách hàng, thông tin tuyển dụng chính là bí mật kinh doanh, sẽ được chuyển hóa thành lợi nhuận cho công ty. Cô T. đã “ăn cây táo rào cây sung”. “Lẽ ra cô phải toàn tâm toàn ý dành thời gian hành chính làm việc cho công ty nhưng cô lại dành cho công ty riêng... Việc vi phạm của cô T. đã rõ ràng, mong tòa bác đơn cô T. và chấp nhận phản tố của công ty...” - đại diện của Công ty M. nói.
Sau khi nghe các bên trình bày, chủ tọa thông báo tạm dừng phiên tòa đến chiều 27-3 sẽ tiếp tục.
Được đòi thiệt hại tinh thần
Trao đổi xung quanh vụ án, ThS Nguyễn Trương Tín (giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM) cho biết công ty hoàn toàn có quyền yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần khi cô T. vi phạm kỷ luật lao động, gửi hình ảnh lãnh đạo lên một số trang mạng gây bức xúc và làm giảm uy tín công ty trên thương trường. Theo Nghị quyết 03 (ngày 8-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao), thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin... vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu. Tuy nhiên, công ty phải chứng minh có thiệt hại xảy ra...
Luật sư Trịnh Công Minh (Đoàn Luật sư TP.HCM) nhìn nhận thêm một khía khác: Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cô T. có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh nhưng không xác định rõ bí mật kinh doanh là gì, lôi kéo ra sao, thiệt hại thế nào… là chưa giải quyết hết gốc rễ vấn đề. Cạnh đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp. Cá nhân cô T. không thể có hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Còn nếu nói doanh nghiệp cô T. có hành vi này thì không thể giải quyết theo pháp luật lao động mà phải giải quyết theo các quy định về kinh doanh thương mại...
Cấp sơ thẩm có thiếu sót
Nhận định ban đầu của tôi là cấp sơ thẩm có một số thiếu sót nhất định. Các bản email giao dịch mà hai bên nộp cho tòa đều bằng tiếng Anh. Hai bên tự thỏa thuận và tự ghi phần dịch thuật vào bản in. Dù được xem là chứng cứ hay chỉ để tham khảo thì các văn bản này đều phải được dịch thuật theo đúng quy định. Tòa án cấp sơ thẩm không nhờ trung tâm dịch thuật dịch sang tiếng Việt bằng văn bản mà để cho các đương sự cam kết là diễn giải đúng ý nghĩa là không đúng. Mặt khác, tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu cô T. đóng tạm ứng án phí phần đòi tiền hoa hồng cũng là thiếu sót...
Thẩm phán ĐỖ GIANG, Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm

Những qui định bị “bỏ rơi” - Kỳ 3: Trao quyền “gác cổng” cho Bộ Tư pháp


Luật gia Vũ Xuân Tiền, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Luật gia Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam, trao đổi với PV Thanh Niên xoay quanh loạt bài Những quy định bị “bỏ rơi”.

Vừa rồi qua khảo sát của Thanh Niên cho thấy có rất nhiều quy định được ban hành nhưng trên thực tế gần như bị lãng quên hoặc vừa ban hành đã phải sửa do vấp phải phản ứng của dư luận. Ông nhìn nhận như thế nào về căn nguyên dẫn tới thực trạng khá phổ biến này?
 
Vừa rồi Bộ Tư pháp cũng được giao thí điểm gác cổng các thông tư của các bộ và tới đây nên giao nhiệm vụ chính thức này cho Bộ Tư pháp. Khi đã giao nhiệm vụ và trao quyền này cho Bộ trưởng Tư pháp thì nếu để lọt các văn bản tùy tiện, thiếu khả thi... thì ông Bộ trưởng phải bị miễn nhiệm
Điều đó cho thấy nhiều chính sách ban hành không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, chưa tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Luật quy định trước khi ban hành văn bản quy phạm đều phải lấy ý kiến các đối tượng chịu tác động liên quan. Nhưng thực tế thì nhiều nghị định, thông tư đã ban hành và phải ngừng thực hiện hoặc phải sửa đổi đã không lấy ý kiến của đối tượng chịu tác động hoặc chỉ lấy ý kiến một cách chiếu lệ, hình thức. Lấy ví dụ quy định về thu phí bảo trì đường bộ, quy định về phạt khi đi xe không chính chủ, phạt vì đội mũ bảo hiểm không đảm bảo chất lượng... nhiều đối tượng liên quan đâu có được lấy ý kiến và dù dư luận phản đối vẫn quy định.
Nguyên nhân khác dẫn tới việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tùy tiện hoặc kiểu “thò ra thụt vào” là xuất phát từ lợi ích cục bộ của chính ngành, cơ quan ban hành quy định đó.
Điều này sẽ dẫn tới những hệ lụy gì, thưa ông?
Trước tiên là quy định như vậy sẽ làm tổn hại đến tính nghiêm minh của pháp luật. Ngoài ra việc ban hành văn bản, quy định một cách tùy tiện, thiếu khả thi sẽ gây khó khăn cho các đối tượng chịu tác động trực tiếp bởi quy định đó. Tôi ví dụ trước đây chúng ta có quy định cấm ăn tiết canh, thế nhưng thực tế thì quán tiết canh vẫn nhan nhản và người dân có nhu cầu họ vẫn ăn. Quy định cấm không khả thi, nhưng vì cơ quan quản lý nhà nước không tuyên bố hủy quy định này, sẽ dẫn tới nguy cơ người thực thi công vụ có thể bình thường thì cho qua chuyện đó, nhưng khi cần thì họ có thể đưa quy định này ra dọa phạt người vi phạm để chia chác. Cho nên những quy định như vậy đã tạo ra kẽ hở về tham nhũng và khiến người dân thêm mất tín nhiệm, niềm tin vào cơ quan quản lý, những người thực thi công vụ.
Còn tình trạng nể nang nhau
Thực tế thì nhiệm vụ thẩm định nghị định và một số văn bản liên quan cũng như việc kiến nghị “tuýt còi” văn bản phạm luật đã được giao cho Bộ Tư pháp, nhưng thực tế vẫn “lọt” nhiều văn bản tréo ngoe như đã nói?
Quy định thì đã tương đối rõ ràng, cái chính là giữa các cơ quan hành pháp với nhau cũng có những chuyện nể nang, e ngại với tâm lý tôi không đụng đến anh thì anh cũng không thể đụng đến tôi. Cho nên cách tốt nhất là im lặng hoặc cho qua, hoặc thẩm định chưa tới.
Còn với các văn bản trái luật, có vấn đề, ông Cục trưởng Cục Kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật mà đề nghị đình chỉ một quy định, văn bản một ông bộ trưởng ở bộ khác ký hoặc quyết định thì lại rất khó.
Những qui định bị “bỏ rơi”
Luật gia Vũ Xuân Tiền
Vậy có cách nào để khắc phục tình trạng trên?
Có nhiều biện pháp để khắc phục vấn đề này, nhưng quan trọng nhất vẫn là ý thức của người thi hành. Ngoài việc yêu cầu tuân thủ quy định về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cách khắc phục khác là trao quyền cho Cục Kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật được quyền kiến nghị Bộ trưởng Tư pháp kiến nghị lên Thủ tướng “gác” lại những văn bản, quy định có vấn đề của các bộ, ngành. Vừa rồi Bộ Tư pháp cũng được giao thí điểm gác cổng các thông tư của các bộ và tới đây nên giao nhiệm vụ chính thức này cho Bộ Tư pháp. Khi đã giao nhiệm vụ và trao quyền này cho Bộ trưởng Tư pháp thì nếu để lọt các văn bản tùy tiện, thiếu khả thi như đã dẫn chứng thì ông Bộ trưởng phải bị miễn nhiệm.
Về lâu về dài, để ngăn ngừa các loại văn bản, quy định “bị lãng quên” hay quy định thiếu khả thi, đẩy khó cho người dân, giải pháp tốt nhất là nên quy chuẩn hóa từ việc xây dựng luật đến các nghị định của Chính phủ. Trước hết, về xây dựng luật, hiện nay các bộ quản lý lĩnh vực được giao dự thảo các luật có liên quan. Chẳng hạn, các luật về lĩnh vực GTVT thì do Bộ GTVT dự thảo, các luật về thuế thì do Bộ Tài chính dự thảo... Điều đó là không hợp lý và bản chất là "vừa đá bóng, vừa thổi còi" trong lĩnh vực xây dựng luật. Để khắc phục tình trạng đó, cần nâng cao năng lực chuyên môn của các ủy ban của Quốc hội và đội ngũ ĐBQH chuyên trách và giao cho các ủy ban của Quốc hội chịu trách nhiệm chính trong dự thảo các luật trình Quốc hội.
Thứ hai, luật cố gắng chi tiết đến mức cao nhất để hạn chế các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, điều đó gặp những khó khăn lớn do nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển biến khá nhiều và nhanh. Vì vậy, có không ít vấn đề buộc phải chuyển cho Chính phủ quy định cho phù hợp với điều kiện thực tiễn trong từng thời kỳ. Song, Nghị định của Chính phủ phải được kiểm soát chặt chẽ về quy trình xây dựng và nội dung. Nghị định phải chi tiết để không cần có thêm thông tư hướng dẫn.
Thanh Mai(thực hiện)

Mã số công dân


Bộ Tư pháp vừa công bố đề án khá táo bạo về đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân mà theo đó người dân có thể trút được “gánh nặng giấy tờ” đeo bám lâu nay.

Đề án “Tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu quốc gia liên quan đến quản lý dân cư” do Cục Kiểm soát thủ tục hành chính - Bộ Tư pháp xây dựng, đang được lấy ý kiến rộng rãi. Theo lộ trình, đến năm 2020 sẽ đảm bảo mọi công dân đều có mã số.
 
Bố đi đăng ký khai sinh cho con chỉ cần xuất trình giấy chứng sinh và đọc mã số định danh cá nhân của mình, người ta sẽ nhập các thông tin vào cơ sở dữ liệu, người bố sẽ không cần phải xuất trình các giấy tùy thân như CMND, hộ khẩu
Một thành viên trong Ban soạn thảo đề án
12 chữ số đời người
Một trong những nội dung quan trọng nhất của đề án là số định danh cá nhân, gồm 12 chữ số, xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấp cho mỗi công dân từ khi đăng ký khai sinh và gắn với họ đến khi chết, không thay đổi trong suốt cuộc đời (ngay cả trong trường hợp công dân thôi/bị tước quốc tịch, khi được trở lại/nhập quốc tịch Việt Nam, số định danh cá nhân không thay đổi), không lặp lại ở người khác, dùng để xác định dữ liệu thông tin công dân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Về giá trị pháp lý, số định danh cá nhân được cấp cho mỗi công dân khi đăng ký khai sinh (tính từ thời điểm luật Hộ tịch có hiệu lực vào năm 2015). Đối với công dân đã đăng ký khai sinh trước ngày luật Hộ tịch có hiệu lực, số định danh cá nhân được cấp khi thực hiện thủ tục cấp mới, đổi, thay thế CMND hoặc đăng ký thường trú. Số định danh cá nhân được ghi trên giấy khai sinh và CMND. Đây là “số gốc” để truy nguyên chính xác về công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực và được sử dụng làm cơ sở để liên kết thông tin cá nhân trong các cơ sở dữ liệu. Các ngành, lĩnh vực thực hiện quản lý cơ sở dữ liệu ngành thông qua số định danh cá nhân để kết nối, khai thác thông tin công dân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để bảo đảm thống nhất thông tin.
Theo Ban soạn thảo đề án, Bộ Công an sẽ là đầu mối giúp Chính phủ quản lý kho số định danh cá nhân. Công an cấp huyện, tỉnh có thẩm quyền cấp mã số định danh đối với công dân đã đăng ký khai sinh trước ngày luật Hộ tịch có hiệu lực khi họ đến đăng ký thường trú hoặc cấp mới, đổi, thay thế CMND. UBND cấp xã cấp số định danh cá nhân cho công dân mới sinh khi đăng ký khai sinh kể từ ngày luật Hộ tịch có hiệu lực.
Trút gánh nặng giấy tờ
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay trong cuộc đời, công dân có thể sở hữu khoảng 20 loại giấy tờ (giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, hộ khẩu, thẻ bảo hiểm y tế, CMND, hộ chiếu...), gắn với mỗi loại giấy tờ công dân là một con số nhất định. Với quy mô dân số lên tới gần 90 triệu, số lượng giao dịch hành chính công giữa công dân và cơ quan hành chính, sự nghiệp được thực hiện hằng năm trung bình khoảng 600.000 giao dịch/ngày. Phần lớn thủ tục hành chính đòi hỏi công dân phải tự chứng minh về nhân thân thông qua việc xuất trình hoặc nộp bản sao đã tạo nên chi phí hành chính lên tới hàng ngàn tỉ đồng mỗi năm.
Mã số công dân
Mã số định danh giúp rút gọn nhiều loại giấy tờ gây phiền toái cho công dân - Ảnh: Diệp Đức Minh
Bên cạnh đó, trong tình trạng chia cắt quản lý thông tin như hiện nay, mỗi ngành, lĩnh vực chỉ có tổng số đối tượng thuộc diện quản lý, vì vậy để có được cái nhìn tổng thể về dân cư, đơn cử như khi cần thông tin về dân số, nhà nước phải đầu tư chi phí lớn vào các cuộc tổng điều tra. Việc làm này rất tốn kém và con số mang lại cũng không hoàn toàn chính xác.
Trao đổi với Thanh Niên hôm qua, một thành viên trong Ban soạn thảo đề án cho biết với việc cấp mã số định danh cá nhân cũng như vận hành được cơ sở dữ liệu quốc gia (đã hoàn thiện) thì công dân có thể rút gọn, thậm chí bỏ được nhiều loại giấy tờ có chứa các thông tin cá nhân như giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, CMND, hộ khẩu, sơ yếu lý lịch...
 
Mệt vì khai báo
Trong 5.400 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của các bộ, ngành, Bộ Tư pháp đã thống kê sơ bộ có 1.600 thủ tục yêu cầu khai thông tin, xuất trình bản chính hoặc nộp bản sao hoặc bản sao có chứng thực giấy tờ công dân. Cụ thể, công dân thường phải chứng minh nhân thân của mình bằng những thông tin cơ bản như: tên, họ, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, họ và tên cha, mẹ, ảnh chân dung, đặc điểm nhận dạng (tức là các nội dung có trong giấy khai sinh, CMND…).
“Lúc này, nếu một người bố đi đăng ký khai sinh cho con thì chỉ cần xuất trình giấy chứng sinh và đọc mã số định danh cá nhân của mình, người ta sẽ nhập các thông tin vào cơ sở dữ liệu, người bố không cần phải xuất trình các giấy tùy thân như CMND, hộ khẩu”, vị này cho biết.
Cũng theo vị này, giấy tờ công dân hiện rất nhiều, không chỉ đơn giản là giấy tùy thân để trong ví mà nó đôi khi là quyết định của cơ quan chức năng có thẩm quyền như quyết định nuôi con nuôi, cấp sổ đỏ. Nếu thực hiện theo đề án nói trên, thì các cơ quan nhà nước chỉ cần ra quyết định, không cần phải cấp những loại giấy tờ như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nữa. Công dân cũng chỉ cần nhớ 12 chữ số, không cần phải có thẻ từ.
Theo Ban soạn thảo, đề án được thực hiện theo lộ trình, từ nay đến năm 2014 sẽ xong cơ sở pháp lý cũng như nguồn lực về dân cư và từ năm 2015 sẽ triển khai. Đến 2020 sẽ đảm bảo mọi công dân đều có mã số định danh.
Các bộ, ngành giẫm chân lên nhau ?
Theo tìm hiểu của Thanh Niên, trước khi Bộ Tư pháp soạn thảo đề án này Bộ Công an đã tiến hành dự án về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trong đó cũng đề cập đến việc cấp mã số định danh cá nhân.
Thiếu tướng Trần Văn Vệ, Tổng cục phó Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, Bộ Công an cho rằng đang có sự chồng chéo và sẽ gây ra sự lãng phí. Đề án của Bộ Tư pháp liên quan đến luật Hộ tịch còn của Bộ Công an có liên quan đến thông tin công dân trên nhiều lĩnh vực. “Bộ Tư pháp làm sau và có nhiều nội dung trùng với Bộ Công an. Trong khi đó dự án của Bộ Công an đã được Thủ tướng và nghị quyết của Bộ Chính trị giao làm từ trước đây”, ông Vệ cho biết.
Trong khi đó, một thành viên Ban soạn thảo đề án của Bộ Tư pháp cho rằng “không chồng chéo”. Vị này nói rõ: “Sau khi tiếp cận đề án này và tiếp cận dự thảo luật Hộ tịch mới thì thấy rằng cơ sở dữ liệu quốc gia của Bộ Công an chưa đạt được yêu cầu như mong muốn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng như chưa đạt mục đích thống nhất quản lý dân cư. Chính vì thế đề án này sẽ đề nghị điều chỉnh đối với một số vấn đề dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Bộ Công an đang xây dựng. Hình thức vẫn là dự án Bộ Công an đang làm và thay đổi theo hướng bảo đảm mục tiêu Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra khi xây dựng luật Hộ tịch là xây dựng một cơ sở dữ liệu thống nhất về công dân để các ngành cùng khai thác sử dụng”. Cũng theo vị này, đề án của Bộ Tư pháp sẽ mang tính tổng thể hơn và có bao gồm cả dự án của Bộ Công an.
Xu hướng mới tiến bộ
Trao đổi với Thanh Niên, các chuyên gia quốc tế cho rằng việc cấp mã số định danh cá nhân là xu hướng chung trên thế giới. Nhiều nước ban đầu chỉ cấp mã số cho công dân nhằm phục vụ một mục đích nhất định nào đó, nhưng theo thời gian, mã số đó trên thực tế dần trở thành mã số định danh cá nhân. Như ban đầu, chính phủ Mỹ chỉ xây dựng hệ thống số an sinh xã hội nhằm phân bổ trợ cấp. Nhưng càng về sau, con số này được đồng nhất và hầu như trở nên thiết yếu trong các hoạt động khác như mở tài khoản ngân hàng, đăng ký thẻ tín dụng, hoặc cấp bằng lái xe.
Ở các nước trong khu vực, Hàn Quốc cấp mã số định danh gồm 13 chữ số. Thái Lan cũng cấp số định danh cá nhân với 13 chữ số từ năm 1976. Tại Singapore, mã số định danh cũng được dùng trong chứng minh thư của công dân nước này và sẽ không thay đổi cho dù chứng minh thư có làm mới. Ông Jairo Acuía - Alfaro, cố vấn về cải cách hành chính cho Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại VN nhận xét: “Đây là một động thái rất tích cực và tiến bộ cho VN và sẽ giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức trong các giao dịch thiết yếu hằng ngày của mọi công dân”.
An Điền
Thái Sơn

27 tháng 4, 2013

Cộng đồng mạng xôn xao vì thơ 'Trẻ con ngày ấy, bây giờ'


Tiếp theo dòng văn mẫu làm biến học sinh thành những kẻ nói dối thì độc giả Hiếu Orion lại đặt vấn đề về tác động của công nghệ tới những mầm non tương lai của đất nước trên mạng xã hội Facebook.

Lý do tới trườngKhông cần dùng giấyHoa hồng sống bằng gì

Trẻ con ngày ấy có ít môn
Chạy nhảy chơi đùa trông rất khôn
Bây giờ tự kỷ ngồi một xó
Miết miết cười cười với ai phôn .

Bố mẹ hay khoe con thông minh
Mở ai phôn ra chơi rất kinh
Ngồi xó ngoan ngoãn chơi cả buổi
Không chạy khắp nhà nghịch linh tinh.

Bố mẹ vừa nhàn vừa thấy hay
Đưa con điện thoại là rảnh tay
Kệ mẹ nó ngồi chơi một xó
Bố mẹ thảnh thơi suốt cả ngày.

Rồi một ngày kia không hiểu sao
Con mình ngày trước khôn biết bao
Chào hỏi chơi đùa vui hiếu động
Giờ cứ ngơ ngáo như thằng "ĐAO".

Chung quy cũng bởi bố mẹ thôi
Vứt con điện thoại kệ nó chơi
Nó giỏi công nghệ - còn mình rảnh
Đến khi nó đụt - muộn mất rồi!
Những nhận định này của tác giả Hiếu Orion được đông đảo cộng đồng mạng tán thành.
Đa số đều cho rằng nên cho trẻ con nghịch ngợm thay vì ngồi 1 xó.
Đa số đều cho rằng nên cho trẻ con nghịch ngợm thay vì bắt ngồi 1 xó.
Thế hệ trẻ ngày nay mắc chứng tự kỷ, tăng động là do đâu?
Thế hệ trẻ ngày nay mắc chứng tự kỷ, tăng động là do đâu?
Thế nhưng đây chỉ là hiện tượng của trẻ con thành thị.
Thế nhưng đây chỉ là hiện tượng của trẻ con thành thị.
Cũng có người chỉ ra không chỉ vấn đề công nghệ mà chuyện nghe và nhìn của thế hệ trẻ ngày nay cũng là điều nhức nhối. Chuyện dễ dãi với nội dung các bài hátđã tác động nhiều đến tâm hồn của lớp trẻ.
Hiếu Orion

Xây dựngThành phố Móng Cái xứng tầm khu kinh tế vùng biên


Lê Phương

25 Tháng Tư 2013

(VOV5) - Sau 5 năm thành lập và phát triển (2008 - 2013) từ thị xã lên thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, Móng Cái đang nổi lên là một trong những điểm sáng trong Khu kinh tế cửa khẩu với những quy chế đặc thù kinh tế vùng biên. Phóng viên VOV5 phỏng vấn ông Hoàng Văn Thư, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố Móng Cái về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Móng Cái trong thời gian qua.


Ông Hoàng Văn Thư

Nghe âm thanh tại đây:


Phóng viên: Xin ông cho biết nét nổi bật trong quá trình phát triển của Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái trong những năm gần đây?

Ông Hoàng Văn Thư:
 Trong những năm qua, hoạt động kinh tế, thương mại, xuất nhập khẩu tại khu vực kinh tế cửa khẩu Móng Cái đã có nhiều đóng góp và rất phát triển trong giao lưu giữa Việt Nam với Trung Quốc và ASEAN với Trung Quốc. Theo số liệu, trong 5 năm phát triển, giai đoạn 2006-2011, chúng tôi đạt khoảng trên 22 tỷ USD, thông thương qua xuất nhập khẩu. Hiện nay, chúng tôi đang thúc đẩy các ngành, chủ yếu là ngành dịch vụ phát triển. Tổng thu ngân sách Nhà nước của chúng tôi thời gian vừa qua, năm 2006-2010 có tốc độ tăng trưởng khá, đạt bình quân 18,8%/năm, gấp khoảng 3 lần bình quân chung của toàn quốc. Nhân dân trên địa bàn đời sống được cải thiện, mức sống gấp khoảng 1,5 lần so với bình quân chung của tỉnh Quảng Ninh và gấp khoảng trên 2 lần so với cả nước. Đây là một thành tựu mà Đảng bộ, nhân dân thành phố Móng Cái rất tự hào.
Hiện nay, thành phố Móng Cái đang hình thành Khu kinh tế cửa khẩu với quy chế đặc thù theo quyết định 19 của Thủ tướng Chính phủ. Chúng tôi đang thuê tư vấn nước ngoài lập quy hoạch chung. Nếu không có gì thay đổi, tháng 6 năm nay, thành phố Móng Cái sẽ là một trong 4 đơn vị của tỉnh Quảng Ninh được Tỉnh cũng như Trung ương và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Móng Cái.

Tới đây, chúng tôi sẽ cùng với tỉnh đề xuất với Trung ương cho thành phố Móng Cái xây dựng Khu hành chính kinh tế đặc biệt hoặc Khu kinh tế tự do. Hiện nay, thành phố Móng Cái cùng với tỉnh đang đề nghị với Chính phủ, Bộ Chính trị để có 1 cơ chế đặc biệt cho thành phố Móng Cái, tạo điều kiện cho thành phố Móng Cái phát triển bền vững, nhanh, đáp ứng yêu cầu chung của cả nước cũng như của tỉnh Quảng Ninh.

Phóng viên: Phát triển kinh tế du lịch cũng là một phần trong định hướng phát triển kinh tế cửa khẩu đối ngoại. Vậy thành phố Móng Cái có chính sách phát triển du lịch như thế nào?

Ông Hoàng Văn Thư:
 Đây là một trong những điểm nhấn mà thành phố Móng Cái cũng rất quan tâm. Thành phố Móng Cái có 2 lĩnh vực lớn là thương mại dịch vụ và du lịch, trong đó du lịch là một trong những điểm mấu chốt quan trọng. Chúng tôi là điểm địa đầu Tổ quốc, có 17km đường bãi biển và là bãi biển đẹp nhất Việt Nam, có nhiều lợi thế trong du lịch như du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch biên giới nhưng cũng chưa được đầu tư thỏa đáng để phát triển ngành này. Đây là một trong những vấn đề Đảng bộ nhân dân thành phố rất quan tâm. Chúng tôi xác định nỗ lực của thành phố là chính, nhưng tỉnh cũng cần có cơ chế riêng cho thành phố Móng Cái trong đầu tư phát triển, ví dụ như điểm văn hóa khu mũi Sa Vĩ, những công trình văn hóa, thể thao xứng tầm với nơi địa đầu Tổ quốc để thu hút không chỉ du khách trong nước mà cả các nước trong khu vực cũng như nước bạn Trung Quốc đến với Móng Cái.
Phóng viên: Thành phố Móng Cái là địa bàn có 6 dân tộc cùng sinh sống, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc để phát triển vùng biên giới cũng như bảo vệ vùng phên dậu của Tổ quốc. Xin ông cho biết công tác xây dựng khối đại đoàn kết tại thành phố Móng Cái trong những năm qua đã được triển khai như thế nào và đạt được kết quả gì nổi bật?

Ông Hoàng Văn Thư:
 Trong thời gian qua, thành phố Móng Cái có sự phát triển vững chắc trong giảm nghèo, an sinh xã hội. Đến thời điểm này, Móng Cái chỉ còn 1,12% tỷ lệ hộ nghèo, khoảng trên 200 hộ. Đối với chương trình xóa nhà tạm, thành phố đã giải quyết xong vấn đề xóa nhà tạm. Chúng tôi cũng thực hiện tương đối tốt, xã hội hóa phong trào này và được nhiều doanh nghiệp, nhiều người hảo tâm đồng tình ủng hộ. Chúng tôi giao trách nhiệm cho đoàn thanh niên, hỗ trợ cho bao nhiêu cháu khó khăn hoặc hỗ trợ bao nhiêu hộ nghèo có địa chỉ. Chúng tôi chủ trương phát triển bền vững và hàng năm có tổng kết, đánh giá. Ngoài ra còn cá nhân hảo tâm như các đồng bào xa quê hương giờ có điều kiện về giúp đỡ người nghèo, đây cũng là một trong những điểm chúng tôi rất quan tâm đối với các đối tượng chính sách xã hội. Thành phố đảm bảo cho người nghèo, người có công, các đối tượng cơ nhỡ có được cuộc sống tương đối ổn định, hòa nhập cùng thành phố Móng Cái trong phát triển chung.

Phóng viên:
 Xin cảm ơn ông./.

Ngỡ ngàng nhà tù hạng sang ở Ả rập Xê Út


Ít ai biết được bên trong nhà tù giam giữ những kẻ khủng bố tại Ả rập Xê Út lại được thiết kế rất hiện đại gồm bể bơi trong nhà, phòng xông hơi, phòng tập thể dục, thậm chí là phòng spa. 

Nhà tù ở Ả rập Xê Út được trang bị đầy đủ và rất sang trọng. 
Theo Dailymail, những kẻ khủng bố Hồi giáo bao gồm những người từng chiến đấu tại Afghanistan đã bị bắt và hiện đang bị giam giữ tại các nhà tù ở thành phố Riyadh, Ả rập Xê Út.
Nguồn tin cho biết, những tù binh này đang được tham gia chương trình “phục hồi chức năng cao cấp” với mục đích làm thay đổi suy nghĩ và đưa họ thoát khỏi tư tưởng liên quan đến khủng bố. 
Bể bơi được thiết kế trong tòa nhà được xem
là nhà tù ở thành phố Riyadh, Ả rập Xê Út . 

Chương trình được áp dụng cho khoảng 3.000 tù nhân đến từ năm trung tâm nhà tù của quốc gia. Những tù nhân có dấu hiệu cải tạo tốt sẽ có hai ngày được gặp người thân.

Diện tích của các nhà tù giam giữ và cải tạo tù binh tại thành phố Riyadh, Ả rập Xê Út rộng khoảng 10 sân bóng đá.

Các tù nhân ở nhà tù này được tập thể dục trong nhà với các dụng cụ tập rất hiện đại . 
Đặc biệt, cơ sở vật chất cho chương trình cải tạo các tù nhân khủng bố Hồi giáo được trang bị đầy đủ và hiện đại bao gồm bể bơi trong nhà, phòng tắm hơi, phòng tập thể dục, phòng truyền hình và cả phòng spa. 


Nằm trong chương trình cải tạo trên, các tù nhân sẽ được tham dự các buổi hội thảo nằm mục đích chỉ cho họ biết những sai lầm đã mắc phải. Các buổi hội thảo sẽ giúp họ cân bằng được trí tuệ và tâm lý thông qua đối thoại và thuyết phục. 

Bàn đánh bi a nằm trong hệ thống nhà tù ở Ả rập Xê Út. 

Phòng ăn sang trọng với bộ bàn ghế, chén đĩa đẹp mắt . 

Toàn bộ hệ thống trang thiết bị này nhằm phục vụ cho chương trình "phục hồi chức năng cao cấp” với mục đích làm thay đổi suy nghĩ và đưa tù nhân thoát khỏi tư tưởng liên quan đến khủng bố. 

Phòng vẽ tranh dành cho các tù nhân có "hoa tay".



Ông Nguyễn Phong Quang - Phó Trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ: Cần cú hích cho ĐBSCL cất cánh


Cập nhật ngày: 26/04/2013 08:33:40

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 21 –NQ/T.Ư của Bộ Chính trị, đồng bằng sông Cửu Long đã đạt nhiều thành quả tốt đẹp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ để khu vực này cất cánh.

 
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 21 –NQ/T.Ư của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thời kỳ 2001 – 2010 và đến nay đã đạt nhiều thành quả tốt đẹp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ để khu vực này cất cánh.
Nhân kỷ niệm ngày thống nhất đất nước, PV NTNN đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Phong Quang (ảnh)- Phó Trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ về sự phát triển toàn vùng ĐBSCL trong thời gian tới…
Những thành tựu vượt bậc...
Thưa ông, vùng ĐBSCL thực sự có bước chuyển mình mạnh mẽ bằng nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực. Theo ông, nổi bật cụ thể nhất là những thành tựu gì?
- Hơn 10 năm qua, vùng ĐBSCL đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Về cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thủy sản. Đến năm 2010, tỷ trọng khu vực I chiếm 39% (10 năm trước là 53,5%), khu vực II là 26% và khu vực III 35%.
Nông - lâm - ngư nghiệp đã hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, phát huy lợi thế sản phẩm chủ lực của vùng là lúa gạo, thủy sản, trái cây. Giá trị toàn ngành tăng từ 56.292 tỷ đồng năm 2001 lên 101.000 tỷ đồng năm 2010, tăng trưởng bình quân 6,9%/năm; thu nhập mỗi ha đất sản xuất nông nghiệp từ 20,2 triệu đồng tăng lên 38 triệu đồng...
Hàng năm, xuất khẩu trên 6 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch xuất khẩu gạo trên 3 tỷ USD, chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước. Cùng với lúa gạo, thủy sản là ngành phát triển mạnh trong những năm qua. Hàng năm diện tích nuôi trồng thuỷ sản đều tăng, trong năm 2012, ĐBSCL có diện tích nuôi trồng thủy sản lên đến 795.000 ha (tăng gần 600.000 ha so với 2001), trở thành vùng nuôi và đánh bắt thủy hải sản lớn nhất nước (chiếm 70% diện tích nuôi trồng và 58% sản lượng thủy sản cả nước).
Đi đôi với phát triển nông nghiệp, trong những năm qua, ĐBSCL đẩy mạnh công nghiệp hóa. Công nghiệp được chú trọng phát triển, tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng như về công nghiệp chế biến nông, thủy sản và bước đầu đầu tư phát huy lợi thế về công nghiệp dầu khí, năng lượng, nhiệt điện và cơ khí. Giá trị công nghiệp tăng cao, đến năm 2010, toàn vùng đạt giá trị 156 ngàn tỷ đồng, tăng bình quân 18,8%/năm.
Trong đó, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm chiếm 26%. Qua 10 năm thực hiện NQ 21, ĐBSCL đã thu hút nhiều dự án lớn đầu tư ngành công nghiệp khí, điện như Trung tâm Khí - điện - đạm Cà Mau, Trung tâm Nhiệt điện Ô Môn (Cần Thơ), Nhà máy Điện Duyên Hải (Trà Vinh), Nhà máy Nhiệt điện Long Phú (Sóc Trăng), Trung tâm Nhiệt điện sông Hậu (Hậu Giang), đường ống dẫn khí Lô B - Ô Môn, đến nay một số nhà máy đã đưa vào vận hành khai thác tạo ra một diện mạo mới cho cả khu vực.
Nơi thượng nguồn sông Hậu.
Thưa ông, dù đạt nhiều thành tựu to lớn, mỗi năm ĐBSCL đóng góp 70% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản và 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước. Thế nhưng, nhiều chuyên gia nhận định khu vực này vẫn còn nghèo khó, đặc biệt là trình độ dân trí vẫn còn thấp... Với vai trò là Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, ông có những định hướng gì để phát triển kinh tế, xã hội vùng ĐBSCL trong những tới?
- Bên cạnh những thành tựu đã đạt được như trên, vẫn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém và đang đứng trước những nguy cơ thách thức mới. Kinh tế, văn hoá, xã hội còn nhiều mặt hạn chế. Về kinh tế tăng trưởng chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chất lượng và hiệu quả cạnh tranh của sản phẩm còn thấp.
Mặt bằng học vấn của vùng thấp hơn mức bình quân chung của cả nước. Chất lượng giáo dục, y tế vẫn còn thấp so với yêu cầu. Tay nghề lao động yếu và thiếu cơ sở đào tạo lao động kỹ thuật cao.
Hiện nay, toàn vùng có 14 trường đại học, 1 phân hiệu, 27 trường cao đẳng, 35 trường trung cấp chuyên nghiệp; 12 trường cao đẳng nghề, 37 trường trung cấp nghề, 124 trung tâm dạy nghề, 170 cơ sở dạy nghề, so với các vùng, miền khác thì giáo dục đạo tạo vẫn là điểm nghẽn so với cả nước, tỷ lệ 130 sinh viên/vạn dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 35,7% (trong đó qua đào tạo nghề là 28%).
Mạng lưới y tế công cộng, số giường bệnh bình quân trên đầu người, tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân còn thấp so với bình quân cả nước.
 “Chúng ta không nên để hạ tầng giao thông kém kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng”.
Để vượt qua những khó khăn trên, các địa phương trong vùng cần phải tiếp tục nỗ lực thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Một là, từng địa phương cần tiếp tục điều chỉnh quy hoạch tổng thể theo hướng khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của từng địa phương gắn với phát huy sức mạnh tổng thể của vùng, hình thành vùng kinh tế công nghiệp chế biến phục vụ sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản và phát triển công nghệ cao.
Hai là, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực theo các mô hình phù hợp, đáp ứng được nhu cầu phát triển của từng địa phương cụ thể.
Ba là, phát triển mạng lưới y tế, nhất là tại cơ sở; thực hiện tốt chiến lược quốc gia chăm sóc khoẻ sinh sản; hoàn thiện mạng lưới khám chữa bệnh phù hợp với điều kiện của từng địa bàn, chú trọng đến đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng sâu, vùng xa.
Bốn là, gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh, quốc phòng và đảm bảo an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, tạo việc làm, thu hẹp chênh lệch về phát triển xã hội giữa các khu vực thành thị và nông thôn, giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số.
Năm là, phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời có các giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng...
Sáu là, tăng cường liên kết toàn diện trên các lĩnh vực giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng ĐBSCL với TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ; trong đó tập trung tổ chức tốt Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL (MDEC) hàng năm ở các địa phương trong vùng, theo Quyết định 388 của Thủ tướng Chính phủ nhằm giới thiệu tiềm năng, thế mạnh và thu hút đầu tư vào vùng ĐBSCL.
Phá lực cản từ giao thông
Thưa ông, vấn đề cơ sở hạ tầng giao thông thuỷ - bộ ở ĐBSCL phát triển không đồng bộ giữa các địa phương, đây là một “rào cản” rất lớn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo ông cần làm gì để nhanh chóng tháo gỡ “nút thắt” này?
- Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không vùng ĐBSCL trong những năm qua đã được đầu tư đáng kể, các trục quốc lộ đã và đang được nâng cấp, các cầu lớn vượt sông Tiền, sông Hậu đã được đầu tư... cảng hàng không quốc tế Cần Thơ, sân bay quốc tế Phú Quốc đã được khánh thành đưa vào sử dụng, một số công trình trọng điểm được triển khai sớm hơn kế hoạch đã đề ra.
Song, hệ thống giao thông hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu để phát huy thế mạnh của vùng, một số công trình quan trọng có tính chất động lực phát triển vùng tiến độ thực hiện còn chậm, hệ thống cầu đường còn bộc lộ nhiều bất cập về tải trọng, lĩnh vực vận tải chưa phát huy được thế mạnh về điều kiện tự nhiên của vùng,... do đó, hệ thống cơ sở hạ tầng là một trong những “rào cản” lớn trong việc thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
 Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp của ĐBSCL đã hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, phát huy lợi thế sản phẩm chủ lực của vùng là lúa gạo, thủy sản, trái cây. Giá trị toàn ngành tăng từ 56.292 tỷ đồng năm 2001 lên 101.000 tỷ đồng năm 2010, tăng trưởng bình quân 6,9%/năm; thu nhập mỗi ha đất sản xuất nông nghiệp từ 20,2 triệu đồng tăng lên 38 triệu đồng.
Song việc phát triển hạ tầng giao thông của vùng cần vốn lớn và cần có quy hoạch tổng thể của toàn vùng. Vì vậy, cần có sự hợp tác, liên kết thực hiện của các địa phương vì lợi ích chung và chúng ta không nên để hạ tầng giao thông kém kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng. Do đó, cần có những giải pháp, cơ chế đặc thù nhằm tăng cường nguồn vốn đầu tư cho vùng ĐBSCL.
Đó là tăng nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông vùng ĐBSCL; ban hành một số cơ chế, chính sách phù hợp tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn vốn thực hiện các dự án, trong đó Nhà nước phải góp từ 30-50% vốn vào dự án, đồng thời thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước bỏ vốn xây dựng hạ tầng giao thông bằng các hình thức BT, BOT, PPP...
Theo tổng thể quy hoạch phát triển vùng đã được phê duyệt xây dựng ĐBSCL đến năm 2020 tiếp tục là vùng kinh tế trọng điểm quốc gia. Vậy, theo ông ngay từ bây giờ các tỉnh, thành ĐBSCL nên chú trọng, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm gì?
- Mục tiêu từ nay đến năm 2020 là xây dựng và phát triển vùng ĐBSCL trở thành vùng trọng điểm nông nghiệp hàng hoá theo hướng hiện đại, phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ cho nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững...
Trên cơ sở đó, tập trung xây dựng vùng ĐBSCL trở thành vùng phát triển năng động về kinh tế, các mặt văn hóa,xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước, đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế đất nước. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,7% giai đoạn 2011 - 2015 và 8,6% giai đoạn 2016-2020.
Đến năm 2015, tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP giảm xuống còn 36,7%; công nghiệp - xây dựng là 30,4%, khu vực thương mại dịch vụ 32,9%; đến năm 2020 đạt tỷ trọng tương ứng 30,5%-35,6%-33,9%. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 đạt khoảng 57,9 triệu đồng.
Để đạt mục tiêu này, phải khai thác tối ưu tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và cả vùng, phát triển toàn diện, tiếp tục đầu tư phát triển bền vững nông nghiệp, phát triển mạnh kinh tế biển, tập trung đầu tư vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau); xây dựng Cần Thơ thành trung tâm vùng; Phú Quốc thành thành phố trực thuộc tỉnh, sau đó trở thành đặc khu hành chính - kinh tế, trung tâm dịch vụ, du lịch của khu vực; xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung, có chính sách đặc thù thu hút, mời gọi đầu tư trong và ngoài nước.
Huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục... Hình thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại là một đột phá chiến lược để thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Theo đó, các địa phương trong vùng cần đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch trong và ngoài nước; huy động sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của các thành phần kinh tế; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, sản xuất, kinh doanh phát triển; đồng thời đẩy mạnh chương trình hợp tác liên kết phát triển giữa các tỉnh, thành trong vùng, giữa vùng với TP.HCM và các tỉnh Đông Nam Bộ… tạo ra nội lực, ngoại lực mạnh để phát triển vùng ĐBSCL nhanh và bền vững.
Xin cảm ơn ông!