26 tháng 2, 2016

CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU TÂY NAM TRONG “CUỘC CHIẾN” THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA


* Trần Hữu Hiệp
Hội nhập đang... tỏa nhiệt
Sau các thương vụ lớn của doanh nhân Thái mua hệ thống Metro Cash & Carry tại Việt Nam từ người Đức, Big C từ người Pháp, hàng Thái đang "đổ bộ" vào thị trường nội địa miền Tây Nam Bộ với quy mô lớn chưa từng có. Hàng ngoại với sức mạnh cạnh tranh khốc liệt, hàng nội đang ngày càng chật vật hơn.
Sức ép cạnh tranh trong nước đang nóng lên không chỉ từ hàng hóa, dịch vụ của Thái mà còn đến từ nhiều quốc gia khác khi chúng ta gia nhập Cộng đồng kinh tế ASAN (AEC), rút ngắn lộ trình thực thi cam kết WTO và sắp tới là TPP, với các đối thủ cạnh tranh nhiều tiềm lực và thừa kinh nghiệm thương trường như Mỹ, Nhật, Úc. Đó chính là mặt trái của hội nhập, là thách thức lớn mà doanh nghiệp Việt và hàng nội phải vượt qua yếu kém, rủi ro để tồn tại và phát triển.
Đi cùng cơ hội và triển vọng có được từ hội nhập là yêu cầu cạnh tranh mạnh mẽ trong một sân chơi rộng lớn hơn, yêu cầu cao hơn, luật chơi khắc nghiệt hơn. Triển vọng và cơ hội chỉ mới là cái được nhận diện, đang mở ra. Vấn đề là chúng ta tận dụng nó, giải quyết nó như thế nào. Khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế còn phụ thuộc rất nhiều vào việc chúng ta tranh thủ khai thác các lợi thế trong hội nhập thị trường chung, trong việc tích cực, chủ động thực thi có hiệu quả các Hiệp định WTO, TPP và các Hiệp định thương mại tự do. Chỉ khi có được các giải pháp phù hợp, thì các khó khăn mới được khắc phục, thời cơ được tận dụng, lợi thế tiềm năng mới trở thành hiện thực.​ Nhìn ở góc độ đó, các khu kinh tế cửa khẩu ở miền Tây Nam Bộ đáng lo hơn đáng mừng.
"Cửa ngõ" phát triển giao thương đang hẹp dần
ĐBSCL có 4 tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và Long An giáp nước bạn Campuchia với tổng chiều dài đường biên giới hơn 340 km; có nhiều cửa khẩu quốc tế (Tịnh Biên, Vĩnh Xương, Thường Phước, Xà Xía, Dinh Bà), nhiều cửa khẩu quốc gia và đường tiểu ngạch.



Nhìn ở góc độ địa lý - kinh tế, không gian phát triển vùng, thì Tây Nam là 1 trong 3 "cánh cửa phát triển" của ĐBSCL. "Cổng trời" với cụm cảng hàng không, trong đó có 2 sân bay quốc tế Cần Thơ, Phú Quốc đang rộng mở. "Cửa bể" - các cảng biển quốc tế ĐBSCL với những nỗ lực đã và đang tiến ra biển Đông, nơi luồng hàng hải quốc tế sôi động nhất thế giới đi qua, khai thác tiềm năng kinh tế ở biển Tây với đảo ngọc Phú Quốc lớn nhất Việt Nam. Cánh cửa biên giới Tây Nam cũng đang được kỳ vọng góp phần tạo ra thế chân kiềng, kết nối phần còn lại trên đất liền của ASEAN, đặc biệt là thị trường Campuchia, Thái Lan, Lào thuộc tiểu vùng Mê Kông.
Những năm gần đây, hệ thống chợ biên giới và khu kinh tế cửa khẩu ở khu vực này được hình thành, có bước phát triển, hoạt động biên mậu được đẩy mạnh, góp phần tăng cường hợp tác đầu tư và giao thương giữa 2 nước Việt Nam- Campuchia, mở ra cánh cửa phát triển mới về hướng Tây Nam. Một số địa phương như An Giang, kinh tế biên mậu đã có đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, khu vực dịch vụ của tỉnh này chiếm gần 50%. Chỉ riêng cửa khẩu Tịnh Biên, nhiều năm liền kim ngạch thương mại biên mậu luôn chiếm hơn 60% toàn tuyến biên giới Tây Nam, góp phần nâng tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ của tỉnh An Giang đứng hàng thứ 2/13 tỉnh, thành Tây Nam Bộ.
Song, đã qua thời khởi sắc, các khu kinh tế cửa khẩu Tây Nam hiện nay trong tình trạng "suy dinh dưỡng", chịu cảnh trống vắng. "Cửa ngõ" biên mậu vốn được kỳ vọng thu hút giao thương, nay đang bị thu hẹp dần và trong tình trạng ngoắc ngoải. Nguyên nhân được nhận diện là hạ tầng thiếu đồng bộ, thiếu kết nối, nhất là kết nối giao thông, hạ tầng thương mại và kinh tế đối ngoại. Một số khu kinh tế được đầu tư "so le", thiếu các cặp cửa khẩu song hành, nên không phát huy tác dụng. Trong khi đó, chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào các khu thiếu ổn định, rõ nhất là kêu gọi - hạn chế - rồi khai tử chuỗi các cửa hàng miễn thuế. Nhà đầu tư cũ bỏ đi, khó thu hút nhà đầu tư mới. Cũng cần phải thừa nhận, trong xu thế hội nhập, cắt giảm thuế quan, các khu kinh tế cửa khẩu đang mất dần lợi thế ưu đãi dựa trên các cơ chế, chính sách đặc thù. Vấn đề đặt ra là phải làm gì để tránh lãng phí đầu tư, thích ứng với xu thế mới?
Tầm nhìn dài hạn và đối phó nhất thời
Để khắc phục tình trạng trống vắng, dở dang của các khu kinh tế cửa khẩu, đã có một số ý kiến đề xuất nên chuyển đổi công năng hoạt động các khu thương mại cửa khẩu sang khu, cụm công nghiệp, kho ngoại quan, làm dịch vụ hậu cần logistics. Nhưng chuyển đổi sang mô hình cụ thể nào cho phù hợp trong kinh tế hội nhập, để phát huy hiệu quả, còn là bài toán khó.
Giải bài toán các khu kinh tế cửa khẩu đang cần thay đổi tư duy, cách tiếp cận mới trong xu thế hội nhập, cạnh tranh; giải quyết tổng thể các vấn đề xuyên biên giới hơn là những đối phó cắt khúc ngắn hạn. Quy hoạch và thực hiện đầu tư phát triển khu vực biên giới cần có "hệ đệm" vững chắc của tuyến dân cư với điều kiện kinh tế - xã hội được ưu tiên đầu tư tốt hơn và "biên giới mềm" được xây dựng trong môi trường hòa bình, hợp tác. Cần xây dựng một cơ chế phối hợp năng động và hiệu quả giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và tăng cường hơn nữa sự hợp tác quốc tế với các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông. Vấn đề là cần nâng mối quan hệ hợp tác đó lên tầm cao mới, trên cơ sở lợi ích của các bên. Cần cụ thể hóa các thỏa thuận, cam kết trong khuôn khổ Ủy ban sông Mê Kông để có được một cơ chế hợp tác quốc gia hiệu quả.
Xử lý vấn đề của các khu kinh tế cửa khẩu hiện nay cần đặt trong mối quan hệ của "cuộc chiến thị trường" thời kỳ hội nhập. Nó không chỉ là việc xử lý một dự án đầu tư mà cần được xem xét trước yêu cầu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách cho sát hợp với thực tế và yêu cầu mới, nhất là những thách thức của nó trước tác động của hội nhập, cam kết và thực thi AEC, TPP và và các Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực. Các Khu kinh tế cửa khẩu Tây Nam đang cần lời giải mới.


22 tháng 2, 2016

Làm mới nông thôn mới

Trần Hữu Hiệp
(TBKTSG) - Xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững là hai chương trình mục tiêu quốc gia được Quốc hội chọn để tập trung thực hiện cho giai đoạn năm năm tới (2016-2020) thay cho 16 chương trình mục tiêu quốc gia dàn trải trên nhiều lĩnh vực trước đây.
Trẻ con nông thôn đến trường còn đò giang cách trở
Đó là chủ trương đúng đắn, nhằm giải quyết những vấn đề chiến lược và nhiệm vụ cấp thiết hiện nay trong xu thế hội nhập, cạnh tranh, giải quyết vấn đề cốt lõi nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Kèm theo quyết sách là nguồn lực vật chất, với tổng mức vốn được bố trí cho chương trình từ ngân sách tối thiểu là 193.155,6 tỉ đồng (tương đương 9 tỉ đô la Mỹ). Trong đó, ngân sách trung ương chi 63.155,6 tỉ đồng và ngân sách địa phương 130.000 tỉ đồng.
Cần khẳng định rằng, kết quả xây dựng nông thôn mới năm năm qua đã tạo ra những “điểm sáng” có sức lan tỏa, hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa, gắn với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi và các thiết chế văn hóa, giáo dục, làm thay đổi rõ nét diện mạo nông thôn, tạo ra không gian sống, lao động sản xuất và hưởng thụ vật chất văn hóa, tinh thần tốt hơn cho người dân. Song, đó mới là kết quả bước đầu, còn nhiều “điểm nghẽn” cũ và thách thức mới cần nỗ lực mới để vượt qua.
Nông thôn mới giai đoạn 2 sẽ cần tạo ra “cốt vật chất” và “hồn tinh thần” cho nông thôn chứ không chỉ là việc tiêu tiền bằng các dự án đầu tư hạ tầng nông thôn như vừa qua.
Phải thừa nhận, tiến độ triển khai xây dựng nông thôn mới còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Công tác quy hoạch, lập kế hoạch phát triển xã nông thôn nhiều nơi còn nặng tính hình thức, làm đại trà, “nhân bản”; bị rào cản “ranh giới hành chính xã, huyện, tỉnh” làm mất không gian kinh tế vùng, thiếu tính kết nối giữa nông thôn và đô thị, dẫn đến không gian nông thôn truyền thống đang bị phá vỡ, mất đi tính đặc thù với các giá trị bản sắc văn hóa, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường gia tăng. Kinh tế nông thôn phát triển nhưng thiếu tính bền vững, thiếu việc làm ổn định. Cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng, chưa quan tâm đặc thù nông thôn mang tính vùng, miền.
Mục tiêu cụ thể của chương trình trong năm năm tới, đến năm 2020 cả nước đạt 50% số xã nông thôn mới, gấp 2,5 lần so với chỉ tiêu 20% số xã nông thôn mới năm năm qua là một thách thức lớn. Nông thôn mới giai đoạn 2 sẽ khó hơn nhiều giai đoạn khởi động, cần tập trung giải quyết các điểm nghẽn về thể chế, huy động vốn, phát huy nội lực, cách làm thực chất trong phát triển kinh tế, tạo ra “cốt vật chất” và “hồn tinh thần” cho nông thôn chứ không chỉ là việc tiêu tiền bằng các dự án đầu tư hạ tầng nông thôn như vừa qua.
Xây dựng nông thôn mới phải thực sự là “cuộc cách mạng ở nông thôn”. Việc đạt tiêu chí là yêu cầu bắt buộc để được công nhận theo chuẩn quốc gia. Nhưng trên hết vẫn là đời sống của người dân, môi trường nông thôn văn minh, đáng sống và phát triển bền vững. Phải khắc phục cho được những cách làm không thực tế, hình thức, xu thế phong trào hóa trong xây dựng nông thôn mới. Cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách cho sát hợp với thực tế, nhất là những thách thức của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trước tác động của hội nhập kinh tế khi các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực.
Đích đến của nông thôn mới vẫn còn đang ở phía trước. Nông thôn mới thực sự phải là một môi trường đáng sống, được đo lường bằng sự hài lòng của người dân hơn là những tiêu chí mang tính kỹ thuật. Yêu cầu đó, phụ thuộc vào kết quả sáng tạo của quá trình lãnh đạo “cuộc cách mạng ở nông thôn”, vận động quần chúng, phát huy vai trò làm chủ của người dân. Năm 2020 khi Việt Nam “cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển” cũng chưa phải là cái đích cuối cùng trong xây dựng nông thôn mới. Nông thôn mới vẫn phải tiếp tục được “làm mới”.


20 tháng 2, 2016

Xây dựng thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc”

Trần Hữu Hiệp

TCCSĐT - Thương hiệu biển Việt Nam gần đây được đề cập với yêu cầu tạo dựng niềm tin, sự nổi tiếng cho các sản phẩm, dịch vụ gắn với tiềm năng, thế mạnh của kinh tế biển. Với vị trí địa - kinh tế đặc biệt, thực tế đang đòi hỏi cần phải xây dựng và phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc”, tỉnh Kiên Giang vừa mang tính đặc thù địa phương, vừa đại diện cho du lịch biển đảo, gắn với phát huy thế mạnh của kinh tế biển Việt Nam và phát triển toàn diện đảo Phú Quốc trên đường hướng đến mục tiêu đặc khu kinh tế trong tương lai.

Đảo Phú Quốc cách Hà Tiên khoảng 45km, cách thành phố Rạch Giá khoảng 120km, có tổng diện tích tự nhiên gần 60.000ha, tương đương đảo quốc Singapore, với 27 hòn đảo lớn, nhỏ. Đây là đảo lớn nhất Việt Nam, nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á, có lợi thế quan trọng trong mối liên kết giao thông hàng hải, hàng không với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; vừa có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn với vị thế địa - kinh tế du lịch quan trọng trong cộng đồng ASEAN, vừa có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phòng thủ đất nước.
Phú Quốc có điều kiện thuận lợi về khí thượng thủy văn, có bờ biển dài với nhiều bãi biển, cho phép tổ chức hoạt động du lịch quanh năm. Nơi đây có ngư trường khá giàu tiềm năng, với trên 1.000 loài hải sản, trong đó có khoảng 20 loài có giá trị kinh tế cao; có nhiều rạn san hô ven bờ, quần thể sinh vật biển đa dạng, phong phú, giá trị cao, sản lượng lớn; có đá huyền để làm đồ trang sức, mỹ nghệ; có rừng nguyên sinh đẹp, có nhiều di tích lịch sử hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Cùng với việc “mở cổng trời” - sân bay quốc tế; “cửa bể” - cảng biển quốc tế tổng hợp An Thới, các cảng nội địa Dương Đông, Bãi Thơm cũng được hoàn thành; các đường trục Bắc - Nam, vòng quanh đảo và tuyến xương cá đang hoàn thiện. Theo chân đường cáp ngầm xuyên biển đầu tiên ở nước ta, dài nhất Đông Nam Á, đường cáp quang viễn thông cũng không chậm chân ra đảo ngọc. Song hành cùng nhiều công trình hạ tầng lớn trên đảo là nhiều dự án đầu tư tầm cỡ quốc gia và quốc tế, nhất là các dự án du lịch lớn. Các công trình này đang tạo ra sức hút mới cho đảo Phú Quốc.
Tuy nhiên, cho đến nay, ngoài cách gọi bóng bẩy là “Đảo ngọc”, chúng ta vẫn chưa có một thương hiệu Phú Quốc theo đúng nghĩa một thương hiệu biển nổi tiếng bằng chính các công nghệ du lịch, thương mại và là một sản phẩm “sở hữu trí tuệ” được xây dựng, đăng ký bảo hộ độc quyền. Yêu cầu xây dựng và phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc” với đặc thù biển đảo độc đáo, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, gắn với các doanh nghiệp mạnh, uy tín, “trách nhiệm công” của chính quyền, yêu cầu liên kết, hợp tác,… đang là những yêu cầu, đòi hỏi có tư duy, tầm nhìn, chiến lược, hoạch định hệ thống cơ chế, chính sách và nỗ lực thực thi hiệu quả.
Thực trạng phát triển thương hiệu biển
Thương hiệu quốc gia biển là một tập hợp các thương hiệu về biển, không chỉ giới hạn trong các lĩnh vực kinh tế hay kinh doanh về biển mà còn bao gồm nhiều lĩnh vực có liên quan, như địa danh, các thương hiệu đã được tổ chức thương hiệu chứng nhận, thương hiệu hình tượng liên quan đến văn hóa, lịch sử, danh nhân... Đó chính là những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, những tên gọi, hình ảnh gắn liền với biển Việt Nam, đã trở nên nổi tiếng, đi sâu vào tiềm thức của mọi người, đem lại cảm xúc, thông điệp và niềm tin cho khách hàng.
Ngọc trai Phú Quốc

Nói đến thương hiệu biển là nói tới những sản phẩm, tên gọi thương mại gắn liền với các lĩnh vực hàng hải, hải sản, du lịch biển, khoáng sản biển, các ngành công nghiệp liên quan đến biển, các khu bảo tồn biển,... Những sản phẩm, tên gọi thương mại này nếu trở nên nổi tiếng, trở thành thương hiệu, sẽ làm cho tên của các doanh nghiệp, các địa phương cung cấp các dịch vụ, sản xuất ra các sản phẩm đó trở nên nổi tiếng, trở thành thương hiệu. Nhiều doanh nghiệp và địa phương có các thương hiệu nổi tiếng sẽ làm cho Việt Nam nổi tiếng về các dịch vụ và sản phẩm liên quan đến biển, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia biển, và tên gọi “Việt Nam” sẽ đại diện cho các sản phẩm về biển có uy tín, chất lượng, được ưa chuộng và trở thành thương hiệu quốc gia. Tên gọi “Đảo ngọc Phú Quốc”, vì thế, cần được xây dựng để trở thành một thương hiệu biển nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.

Món Cầu Gai (con Nhum) và Còi Biên Mai - đặc sản Phú Quốc

Gần đây, nhiều thương hiệu biển đang được quan tâm xây dựng, được “mài dũa, đánh bóng”, thể hiện rõ nét nhất thông qua việc xây dựng, đăng ký chứng nhận xuất xứ hàng hóa, bảo hộ thương hiệu tập thể. Nước mắm Phú Quốc đã được đăng ký và bảo hộ tại 28 quốc gia châu Âu. Một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn đầu tư vào Phú Quốc đã tạo dựng những cơ sở nền tảng cho các thương hiệu của mình trên đảo ngọc. Tuy nhiên, cho đến nay, gần như vẫn chưa có một chương trình thương hiệu biển trong chiến lược thương hiệu quốc gia để định vị và định hướng cho những hành động cụ thể trong tổng thể chiến lược kinh tế biển Việt Nam, khiến nhiều sản phẩm, lợi thế về biển đảo vẫn ở dạng “tiềm năng” mà Phú Quốc nằm trong số đó.
Nhìn ở cấp độ quốc gia, các sản phẩm kinh tế biển có thương hiệu còn rất hạn chế, nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến thương hiệu của mình. Số lượng các sản phẩm của Việt Nam có thương hiệu biển trên thế giới tập trung ở dầu khí, hàng hải, một số doanh nghiệp xuất khẩu hải sản; trong khi đó nhiều lĩnh vực, như cảng biển, dịch vụ hàng hải, dịch vụ du lịch,… chưa có thương hiệu. Trong bối cảnh chung đó, cùng với tiềm năng thương hiệu biển còn ngủ yên, quá trình triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách đầu tư phát triển đảo Phú Quốc đã và đang bộc lộ nhiều bất cập, chưa bảo đảm tạo lập niềm tin của các đối tác, nhất là đối tác nước ngoài đầu tư vào Phú Quốc, nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế và huy động có hiệu quả các nguồn lực để phát triển.
Vì thế, việc xây dựng và phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc” cần được đặt trong một chuỗi giá trị biển, đảo và kinh tế biển Việt Nam. Thương hiệu biển này vừa mang những giá trị riêng, vừa đại diện cho giá trị chung của biển, đảo Việt Nam để xác định trách nhiệm - lợi ích của từng “chủ thể” tham gia, những “công đoạn” quyết định, “điểm nút” đột phá để chọn lựa giải pháp, thứ tự ưu tiên và tiến hành đồng bộ để xây dựng chiến lược thương hiệu.
Định hướng phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc”
Trước hết, cần định danh rõ từng “thương hiệu con” trong thương hiệu chung của “Đảo ngọc Phú Quốc”, gắn trách nhiệm đối với thương hiệu đó của doanh nghiệp và địa phương. Bên cạnh các “thương hiệu con”, như “Nước mắm Phú Quốc”, “Ngọc trai Phú Quốc”, “Ẩm thực Phú Quốc”,… thì thương hiệu “Đảo ngọc Phú Quốc” là cách tiếp cận chung, cần thiết và hiệu quả. Phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc” cần có sự vào cuộc phối hợp của nhiều bộ, ngành liên quan với nhau, với tỉnh Kiên Giang, với các địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như với các đối tác trong và ngoài nước. Các giải pháp phải đồng bộ, từ hoạch định chính sách, đầu tư phát triển, nỗ lực của chính quyền đến doanh nghiệp và người dân để tăng cường sự nhận biết về Phú Quốc trên thị trường trong nước và thế giới, nhất là thị trường đầu tư và du lịch.
Xây dựng thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc” phải bắt đầu từ doanh nghiệp, đặt trong các mối quan hệ thị trường, chịu sự tác động và điều chỉnh của cơ chế thị trường. Sự hợp tác của doanh nghiệp và người dân Phú Quốc cùng với nghiên cứu của các nhà khoa học sẽ tạo ra không gian địa lý cho những sáng tạo vật chất và tinh thần, làm nên thương hiệu biển độc đáo của Phú Quốc. Doanh nghiệp và người dân kinh doanh du lịch, lao động sản xuất trong các ngành kinh tế biển là “mắt xích” quan trọng nhất, vừa là “đầu vào”, vừa là “đầu ra” tạo nên thương hiệu trong lòng khách hàng. Hơn ai hết, họ “biết mình, biết ta” trong cuộc cạnh tranh thương trường - không gian tồn tại và phát triển của thương hiệu. Cộng đồng cư dân trên đảo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng và bảo vệ thương hiệu “Đảo ngọc”. Văn hóa bản địa, ý thức, niềm tự hào, ham muốn làm giàu từ biển sẽ biến mỗi người dân trở thành một "đại sứ tiếp thị" cho Phú Quốc. Họ sẽ là yếu tố kết nối văn hóa đảo ngọc với cộng đồng khác trong nước và quốc tế.
Vấn đề thứ hai là vai trò của nhà khoa học, nhất là các ngành khoa học biển, để tạo nên “chất xám” của thương hiệu. Các thương hiệu biển “Đảo ngọc” như ngọc trai, chó Phú Quốc, nước mắm Phú Quốc, thiên đường nghỉ dưỡng và tương lai là “đặc khu kinh tế” độc đáo, hấp dẫn được xây dựng gắn với tên gọi Phú Quốc, với các doanh nghiệp. Để có thương hiệu biển “Đảo ngọc” phải giải quyết đồng bộ từ chính sách, đầu tư, quản lý điều hành, thực thi pháp luật và kinh doanh thương trường; từ giải quyết các vấn đề tự nhiên (môi trường biển, môi trường rừng, đa dạng sinh học, sinh vật biển) đến các vấn đề văn hóa và trật tự, an toàn xã hội trên đảo. “Chất xám” của nhà khoa học cần được gắn cụ thể với doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh và người dân đảo. Muốn vậy, phải tổ chức lại sản xuất - kinh doanh trên đảo theo các chuỗi giá trị kinh tế và mang đậm dấu ấn văn hóa đặc thù.
Một vấn đề quan trọng khác là sự tác động, hỗ trợ của Nhà nước từ trung ương đến địa phương, đóng vai trò “khâu nối" các bên liên quan, doanh nghiệp, người tham gia xây dựng thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc” và tiếp thị hình ảnh mới này ra thế giới. Vai trò của Nhà nước có tác động to lớn thông qua cơ chế chính sách, quy hoạch đầu tư và quản lý đảo. Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc điều hòa lợi ích trong hành trình xây dựng thương hiệu “Đảo ngọc Phú Quốc”.
Kiến nghị giải pháp
Để xây dựng và phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc” vấn đề quan trọng là phải thay đổi tư duy và phương thức đầu tư, chuyển từ đầu tư theo “đoạn” sang đầu tư theo “chuỗi” sản xuất. Đầu tư theo chuỗi sẽ giúp tránh trường hợp tập trung đầu tư không cân đối trong chuỗi, gây ra tình trạng mất ổn định. Muốn vậy, cần xác định sản phẩm góp phần làm nên thương hiệu “Đảo ngọc Phú Quốc” phải trải qua những công đoạn nào trong chuỗi giá trị để quy hoạch và xây dựng, phát triển thương hiệu. Trên cơ sở đó, xin kiến nghị một số nhóm giải pháp sau:
Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, quy hoạch - đầu tư
Về cơ chế, chính sách
Việc xây dựng chiến lược quốc gia xây dựng thương hiệu biển phải gắn kết được chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển ngành quan trọng và chiến lược phát triển vùng. Từ đó, đưa ra mục tiêu phát triển các ngành, sản phẩm cụ thể gắn với thương hiệu biển và đưa ra danh mục ưu tiên, trách nhiệm của các ngành, các cấp, địa phương và doanh nghiệp.
Xây dựng cơ chế, chính sách nhằm tạo sự liên kết giữa các tỉnh, thành phố có biển, tạo nên sức mạnh tổng hợp, phát huy sức mạnh tiềm năng kinh tế biển; định vị lợi thế cạnh tranh, liên kết và tiến tới cạnh tranh sòng phẳng với các đảo phát triển trong khu vực ASEAN. Tạo cơ chế, chính sách hợp lý để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, nâng cao sức cạnh tranh, tạo thương hiệu biển Việt Nam trên toàn thế giới. Cơ chế tài chính và hỗ trợ nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn đầu hỗ trợ doanh nghiệp.
Cần xây dựng và phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc” dưới hai góc độ là “tài sản riêng của doanh nghiệp” và “tài sản chung” của cộng đồng trên đảo, hướng đến nâng tầm quốc gia và quốc tế. Trong cách tiếp cận “thương hiệu đảo ngọc” là “tài sản riêng”, cần bổ sung chính sách thương hiệu biển để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, xây dựng và phát triển các sản phẩm đặc thù của đảo Phú Quốc. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi để bảo hộ thương hiệu biển một cách có hiệu quả hơn. 
Về quy hoạch - đầu tư
Cần chú trọng đặc biệt đến giải pháp quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển đảo nằm trong một chiến lược tổng thể, đồng bộ. Theo đó, cần rà soát, quy hoạch phát triển đảo theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, dựa trên lợi thế cạnh tranh của đảo Phú Quốc để xây dựng thương hiệu mạnh, tránh dàn trải để tập trung đầu tư chiều sâu. Tầm nhìn chiến lược của một “đặc khu kinh tế” yêu cầu phải định vị Phú Quốc trong mối quan hệ cạnh tranh sòng phẳng, không chỉ phát huy mà phải tạo ra những lợi thế so sánh của đảo ngọc này trong mối quan hệ với các đặc khu kinh tế, như Thâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải (Trung Quốc); Incheon (Hàn Quốc) và các hòn đảo phát triển của các quốc gia như JeJu (Hàn Quốc), Phuket (Thái Lan), Bali (Indonesia).
Nhóm giải pháp về khoa học và công nghệ
Để khắc phục tình trạng sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, cần áp dụng quy trình sản xuất, quản lý tiên tiến một cách đồng bộ đối với các sản phẩm và dịch vụ để nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm… gắn với thương hiệu. Chú trọng công tác bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản, nguồn giống hải sản tự nhiên,... đang giảm sút. Cần sớm triển khai xây dựng Trung tâm Bảo tồn tài nguyên biển Phú Quốc, gắn nghiên cứu khoa học biển, kinh tế biển và ngành du lịch. 
Chủ động nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đề xuất giải pháp thích ứng. Chú ý đến các hệ sinh thái biển, đảo, các giá trị dịch vụ của chúng, người dân đảo - những đối tượng dễ bị tổn thương và bị tác động mạnh mẽ nhất bởi thiên tai.
Nhóm giải pháp về mô hình tổ chức quản lý và ngành kinh tế
Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức thích hợp nhất đối với đảo Phú Quốc để khai thác tốt nhất các tiềm năng, lợi thế và phát huy có hiệu quả các nguồn lực để phát triển đảo theo hướng phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Xây dựng Phú Quốc trở thành đặc khu là một trong những nơi làm thí điểm nhằm đổi mới và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từng bước nhân rộng mô hình kinh tế biển, đảo hướng ngoại của các vùng, miền, các tổ chức kinh tế trong cả nước. Xây dựng đặc khu Phú Quốc trong mối quan hệ tổng thể cấp khu vực và quốc tế.
Phát triển nền kinh tế đa ngành nghề, với mũi nhọn là du lịch, dịch vụ; liên kết nhiều chiều, vừa hướng ngoại, vừa hợp tác với các vùng sâu trong nội địa. Phát triển các ngành kinh tế khác trên đảo theo hướng không làm ảnh hưởng đến môi trường du lịch, không phá vỡ cảnh quan, môi trường tự nhiên của Phú Quốc. Từng bước phát triển đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, trước hết là dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, thông tin, hàng không, hàng hải, thương mại, hội chợ, xuất nhập khẩu, nhà ở, văn phòng, hội nghị, biểu diễn văn hóa nghệ thuật, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng quốc tế, khu vực.
Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực
Hiện nay, phần lớn lao động của Phú Quốc, Kiên Giang chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật tốt, đa số xuất thân từ nông thôn, hoạt động sản xuất - kinh doanh chủ yếu dựa vào khả năng, kinh nghiệm mang tính truyền thống. Vì thế, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ quản lý mới, nhất là các ngành dịch vụ du lịch, hậu cần logistics, gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu kiến thức và kỹ năng, dẫn đến quản lý điều hành mang tính tự phát, cảm tính và thiếu tầm nhìn. Cần có quy hoạch, đào tạo chuyên môn và dạy nghề, đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, phù hợp, cán bộ quản lý có năng lực để cung cấp cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư gắn với xây dựng thương hiệu “Đảo ngọc”.
Nhóm giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế 
Từ khởi điểm “Năm du lịch quốc gia Phú Quốc - Kiên Giang 2016”, cần duy trì thường xuyên các hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu biển “Đảo ngọc Phú Quốc”, lồng ghép với các diễn đàn kinh tế biển, diễn đàn thương hiệu biển hằng năm và các hoạt động của Ngoại giao đoàn Việt Nam. Từ quy mô cấp quốc gia, nên nghiên cứu tổ chức có sự tham dự của đại diện các nước trong khu vực ASEAN, tổ chức quốc tế quan tâm đến chủ đề biển, đảo. Qua đó, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế biển và nỗ lực xây dựng khu vực biển Đông thành biển hòa bình, xây dựng hình ảnh quốc gia, thương hiệu quốc gia về biển “Đảo ngọc Phú Quốc” trong nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa, đầu tư, thương mại, du lịch của Phú Quốc./


ĐBSCL: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

Mới đây, Cơ quan Thường trực tại miền Nam Tạp chí Cộng sản phối hợp với Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề "Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSCL theo hướng sản xuất hàng hóa". Tại hội thảo, các nhà quản lý, nhà khoa học cho rằng rất cần các giải pháp tích cực, phù hợp để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSCL trong thời gian tới...

* Nỗ lực chuyển đổi…
ĐBSCL không chỉ là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, trái cây và nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản của cả nước mà còn được xem là vùng nông sản lớn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Hiện toàn vùng sản xuất hơn 50% tổng sản lượng lương thực, đóng góp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu nước ta. Thế mạnh sản xuất lúa gạo, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản của vùng ĐBSCL đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, gia tăng kim ngạch xuất khẩu cho cả nước, ổn định đời sống người dân khu vực nông thôn.
Nhiều ý kiến cho rằng những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp của ĐBSCL thời gian qua là nhờ nông dân ngày càng tiếp cận và ứng dụng nhanh hơn những tiến bộ khoa học-công nghệ. Chủ trương liên kết "4 nhà" trong sản xuất nông nghiệp cũng đã được các địa phương quan tâm thúc đẩy, nhất là thành công bước đầu của mô hình "cánh đồng lớn" được xem là một trong những mô hình liên kết đạt hiệu quả cao trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Theo tính toán, mỗi héc-ta tham gia trong "cánh đồng lớn" nông dân có thể giảm chi phí sản xuất từ 5-10%, giá trị tăng thêm 20-25%, lợi nhuận thêm 2,2-7,5 triệu đồng. Ngoài sản phẩm lúa gạo, ngành nông nghiệp các tỉnh, thành vùng ĐBSCL cũng đã xây dựng được các mô hình liên kết trong chăn nuôi và nuôi trồng chế biến thủy sản. Điểm nổi bật của những mô hình này là doanh nghiệp đóng vai trò là nhà đầu tư cho nông dân, tổ chức sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và đảm bảo thị trường tiêu thụ; còn nông dân trực tiếp sản xuất, được hỗ trợ một phần chi phí đầu tư ban đầu... đã đóng góp quan trọng vào phát triển nông nghiệp vùng ĐBSCL. Còn cây ăn trái phát triển nhanh, đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với nhu cầu thị trường như: xoài cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh, vú sữa Lò Rèn…
TP Cần Thơ đã triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020 (triển khai thực hiện Quyết định 889/QĐ-TTg ngày 10-6-2013 của Thủ tướng Chính phủ). Tái cơ cấu ngành nông nghiệp thành phố cũng nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của các vùng sinh thái. Hình thành các tiểu vùng nông nghiệp đặc trưng gồm: vùng chuyên canh lúa thương phẩm liên kết theo "cánh đồng lớn", vùng lúa giống chất lượng cao, vùng vành đai sản xuất lương thực thực phẩm quanh đô thị ứng dụng công nghệ cao, vùng cây ăn trái đặc sản kết hợp du lịch sinh thái, vùng phát triển chăn nuôi an toàn sinh học và nuôi trồng thủy sản tập trung. Phát triển nhanh, toàn diện ngành nông nghiệp, nông thôn thành phố theo hướng hiện đại, xanh, sạch, đa dạng và bền vững; mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa và sản phẩm ngành nghề nông thôn, hướng mạnh vào xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng mô hình nông nghiệp đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao… TP Cần Thơ cũng phấn đấu giai đoạn 2016-2020 tốc độ tăng trưởng kinh tế nông thôn đạt bình quân 9-10%/năm, vốn đầu tư xã hội trong nông nghiệp đạt 2.264 tỉ đồng, tỷ lệ tăng vốn đầu tư trong nông nghiệp đạt trung bình 17%/năm…
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Hậu Giang, tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, địa phương tiếp tục rà soát và điều chỉnh Quy hoạch ngành NN&PTNT, xác định và phát triển các nông sản chủ lực, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún và tự phát, tạo ra cơ cấu sản xuất nông nghiệp phù hợp, nâng cao hiệu quả sản xuất theo hướng giảm giá thành, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh. Địa phương cũng xác định các loại cây, con chủ lực để quy hoạch và phát triển gồm: cây lúa giữ ổn định diện tích khoảng 78.000 ha, cây mía chuyển đổi một số diện tích kém hiệu quả và ổn định diện tích sản xuất từ 10.000-12.000 ha, nhóm cây ăn quả (bưởi Năm Roi, cam sành, chanh không hạt, quýt đường, xoài, khóm Cầu Đúc...)...
Tại tỉnh An Giang, ngành NN&PTNT địa phương đã triển khai thực hiện tái cơ cấu ngành với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu; phấn đấu giai đoạn 2015-2020 tốc độ tăng trưởng bình quân ngành là 3,35%/năm. Đồng thời, chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành thủy sản, phát triển chăn nuôi, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và ổn định lâm nghiệp, phát triển các ngành nghề dịch vụ nông thôn. Địa phương định hướng sẽ tập trung cho sản xuất lúa giống để cung ứng cho vùng ĐBSCL, các vùng khác và Campuchia với quy mô khoảng 22.000 ha; xây dựng vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao khoảng 80.000 ha; quy hoạch sản xuất cá tra đến năm 2020 đạt 1.430 ha...
* Cần đẩy mạnh liên kết vùng
Theo đánh giá của các nhà quản lý và nhà khoa học, ngành nông nghiệp đã có chủ trương tái cơ cấu ngành để giải quyết tăng giá trị nông sản, xử lý điệp khúc "trúng mùa, rớt giá"… Tuy nhiên, do chưa có chính sách, chiến lược về sản xuất và tiêu thụ nông sản nên nhiều địa phương vẫn còn lúng túng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Nhiều tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL đã lập và thông qua đề án tái cấu trúc lại ngành nông nghiệp địa phương giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn 2030, nhưng đa số đều có tính giải quyết cục bộ cho địa phương, chưa có sự liên kết vùng nên chưa thật sự có hiệu quả cao. Trong xu thế hội nhập hiện nay mỗi địa phương không thể tự sản xuất theo ý riêng mà phải chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, cần có sự liên kết vùng để cùng nhau giải quyết khó khăn thì mới mang lại hiệu quả.
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên Chuyên trách Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay rất cần cải cách về thể chế, trong đó phải chú trọng đến liên kết phát triển nông nghiệp vùng ĐBSCL. Trên cơ sở kết quả quá trình phát triển kinh tế vùng ĐBSCL thời gian qua và yêu cầu tập trung cho các sản phẩm chủ lực, cũng như tạo điều kiện hình thành và phát triển một số cụm liên kết ngành tiềm năng của vùng như: lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản. Tăng cường liên kết vùng ĐBSCL trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL là rất cần thiết. Song, liên kết kinh tế vùng ĐBSCL cần một cơ chế pháp lý rõ ràng và mạnh mẽ hơn là sự "khuyến khích". Đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào 3 sản phẩm mũi nhọn của vùng ĐBSCL, tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế, khai thông các kênh tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực để phát triển các ngành mũi nhọn và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020. Tăng cường hơn nữa các hình thức liên kết, hợp tác theo nhu cầu và đi vào thực chất hơn...
Ông Nguyễn Minh Thạnh, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết: Các giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp của TP Cần Thơ là mở rộng liên kết với các địa phương trong vùng và liên kết 4 nhà, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích phát triển trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp, hoàn thiện cơ chế chính sách và nhân rộng các mô hình liên kết hiệu quả. Ngoài ra, đầu tư đồng bộ hạ tầng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông, đẩy mạnh cơ giới hóa trong các khâu sản xuất. Củng cố, sắp xếp lại hệ thống thu mua, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản để giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm...
Bài, ảnh: ANH KHOA


15 tháng 2, 2016

Nông nghiệp ĐBSCL: Chuyển mình và hội nhập

Trần Hữu Hiệp
2016 - năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, khởi đầu của Kế hoạch 5 năm (2016 - 2020) là năm “bản lề” của 2 giai đoạn quan trọng: 30 năm đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng ...
 “Đổi Mới” đã tạo ra ánh hào quang, tạo thế và lực cho nông nghiệp ĐBSCL. “Hội nhập” đang mở ra nhiều cơ hội và kỳ vọng mới, nhưng cũng nhiều thách thức. Hệ quả tích cực hay tiêu cực của hội nhập quốc tế và khhu vực ASEAN phụ thuộc vào việc tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức của vùng này trong thời gian tới.

Nhận diện thành tựu, tồn tại chủ yếu
ĐBSCL đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra bước đổi mới toàn diện cho cả vùng, góp phần đáng kể vào thành tựu chung của cả nước. Đó không chỉ là những kỳ tích từ sự gia tăng sản lượng lúa gạo, thủy sản, trái cây mà chính là “cuộc chuyển đổi lớn” từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất nông sản hàng hóa.
Sau 30 năm đổi mới, ĐBSCL đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Vùng này đã dần hình thành các yếu tố của các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, tiền tệ. Thị trường lao động và khoa học - công nghệ cũng đang dần hình thành và phát triển.
Nông hộ từ “vòng dây” của ngăn sông cấm chợ, bị áp đặt giao nộp bằng các chỉ tiêu kế hoạch trong nền kinh tế không có thị trường, đã vươn lên trở thành những đơn vị “kinh tế nông hộ” - chủ thể quan trọng kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Nông dân ĐBSCL ngày càng tiếp cận và ứng dụng nhanh hơn tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ. Đặc biệt gần đây, mô hình “Cánh đồng lớn” (CĐL) đạt được thành công bước đầu rất quan trọng trong liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, gắn sản xuất với thị trường, nông dân, nhà khoa học với doanh nghiệp. Mô hình CĐL không chỉ giới hạn ở sản xuất lúa mà còn được áp dụng đối với nhiều mô hình sản xuất khác như: mía đường, chăn nuôi và thủy sản. Xây dựng nông thôn mới bước đầu tạo ra diện mạo mới với 19 tiêu chí quốc gia, tạo ra không gian sống, lao động sản xuất và hưởng thụ vật chất văn hóa, tinh thần tốt hơn cho người dân.
Tuy nhiên, cho đến nay vùng này còn nhiều tồn tại, yếu kém và đứng trước nhiều thách thức trong phát triển và hội nhập, cạnh tranh. Vòng luẩn quẩn của nông sản "trúng mùa, rớt giá” đang là thách thức phải vượt qua của ĐBSCL trên con đường "ra chợ lớn” toàn cầu. Cạnh tranh nông nghiệp cũng đang đặt ra yêu cầu giải quyết các “điểm nghẽn” tăng trưởng ở một thị trường lớn hơn là chỉ quanh quẩn bên những vườn cây, thửa ruộng, ranh giới hành hành tỉnh và tư duy ngập nước của ruộng đồng. Tăng trưởng kinh tế thiếu vững chắc, tiềm năng và lợi thế của vùng chưa được đầu tư, khai thác đúng mức. Kinh tế phát triển chủ yếu theo chiều rộng. Việc đầu tư và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra giá trị gia tăng thấp. Hệ thống kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, nhất là hạ tầng về giao thông, thủy lợi. Mức đầu tư cho vùng ĐBSCL còn thấp, đặc biệt là vốn đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp so với tổng đầu tư toàn xã hội.
Hệ thống cơ chế, chính sách trong nông nghiệp còn bất cập đã ảnh hưởng đến sức hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào lĩnh vực này. Nông dân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, không đồng bộ, khó kết nối với thị trường trong và ngoài nước. Nguồn lực lao động trong nông thôn đang có xu hướng giảm, một bộ phận không nhỏ lao động trẻ ở nông thôn rời bỏ ruộng vườn ra thành thị, gia nhập đội ngũ lao động phổ thông di dân đến làm việc tại các thành phố lớn ngày càng tăng. Thách thức gay gắt của hội nhập, cạnh tranh đòi hỏi “tam nông” ĐBSCL phải khắc phục những yếu kém nội tại và tận dụng lợi thế của vùng.  
“Tư duy kinh doanh nông nghiệp”
Những "sàn giao dịch nông sản”, "ngân hàng lúa gạo” … theo phương thức kinh doanh hiện đại, chủ động cần được xem xét thấu đáo và bắt tay chuẩn bị tích cực hơn. Tư duy về lợi thế của nông nghiệp ĐBSCL cần được thể hiện trong một chiến lược quốc gia, vùng miền để tạo ra sức cạnh tranh hơn là quanh quẩn trong địa giới hành chính tỉnh, huyện như vừa qua. Nông sản có được phát huy lợi thế cạnh tranh trong hội nhập được hay không bằng chính tư duy, tầm nhìn và cách làm nông nghiệp. Yêu cầu khắc nghiệt của hội nhập, cạnh tranh quốc tế đòi hỏi người nông dân phải vượt khỏi không gian ruộng đồng, phải chuyển đổi tư duy “làm ra nhiều nông sản” sang tư duy “làm ra nhiều giá trị từ nông sản”. Nó phải được tiến hành bằng tư duy, chính sách dài hạn hơn là những đối phó ngắn hạn để hiện đại hóa ngành nông nghiệp, thoát khỏi cái bóng nông nghiệp truyền thống bằng khai thác lợi thế tự nhiên sang nền nông nghiệp xanh, nông nghiệp tri thức. Doanh nhân hóa nông dân, nông dân làm giàu được từ kinh doanh nông nghiệp và môi trường nông thôn mới đáng sống là những kỳ vọng cho một giai đoạn mới.
Chuyển tiếp từ “Đổi Mới” và “Hội nhập” 
Sau 30 năm, động lực từ đổi mới tổ chức sản xuất, chính sách phát triển thị trường, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, phát huy vai trò kinh tế nông hộ,… đã đem lại nhiều thành công. Các nguồn lực từ đổi mới này đã tạo ra diện mạo mới cho ĐBSCL. Nhưng các nguồn lực mạnh mẽ trong nông nghiệp trước đây dường như đang dần mất đi động lực khi đứng trước thách thức mới mà nông hộ, kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, thiếu kết nối sản xuất – thị trường, gắn kết giữa “đồng vàng” và “chợ lớn”, nay đã không còn giữ được lực và đà như trước đây. Để phát triển đồng bằng hơn nữa đang rất cần những nguồn lực mới, những mô hình phát triển mới với hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao hơn. Cần phải thay đổi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, lấy hiệu quả làm thước đo của sự tăng trưởng. Động lực mới cho mô hình tăng trưởng mới này chính từ nội lực, từ nguồn nhân lực bậc cao, từ khoa học và công nghệ, và từ doanh nghiệp. Rất cần những chính sách năng động và quyết liệt để biến các nguồn lực từ yếu tố sản xuất, trở thành nội lực mới từ thị trường bằng mô hình tăng trưởng mới.
Bối cảnh hội nhập mới đòi hỏi một sự thay đổi kịp thời về cơ chế, chính sách, tiếp tục gỡ khó cho doanh nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khi gia nhập vào Cộng đồng kinh tế ASEAN, sẽ có thêm nhiều áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh nông nghiệp. Tái cơ cấu - “sự chuyển đổi lớn” của ngành nông nghiệp, rất cần sự tham gia mang tính quyết định của nông dân và doanh nghiệp. Người nông dân và doanh nghiệp nông thôn phải ở vị trí trung tâm và vai trò chủ thể để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Thành tựu 30 năm Đổi Mới nền nông nghiệp ở ĐBSCL đã tạo ra nhiều kỳ tích. Nhưng thành tích đã qua không phải là một đảm bảo cho thành công tới. Nông nghiêp ĐBSCL từ “vườn nhà, đồng vàng” của Đổi Mới ra “Chợ lớn” của hội nhập quốc tế và khu vực đang rất cần quyết tâm và động lực mới.