31 tháng 10, 2016

Danh tướng cãi lệnh vua để tránh đối đầu bạn trên chiến trường

Để không phải đối đầu với bạn là tướng nhà Tây Sơn Trần Quang Diệu, tướng Thoại Ngọc Hầu tự ý rời Phú Xuân về Gia Định khi chưa có lệnh vua.

Theo sử cũ, Nguyễn Văn Thoại và Trần Quang Diệu cùng quê làng An Hải, tổng An Lưu Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) - nay là phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Hai người chơi với nhau rất thân, cùng uống nước một giếng làng, cùng tắm chung dòng sông Hàn.
Sau vì quê hương loạn lạc, Nguyễn Văn Thoại phải theo cha mẹ vào sống tại Cù lao Dài trên sông Cổ Chiên (Vĩnh Long) rồi tình nguyện theo phò Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh) khi mới mới 16 tuổi. Gia đình Trần Quang Diệu cũng bỏ xứ về quê ngoại ở làng Trà Khê (nay thuộc quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng) rồi vào Bình Định gia nhập nghĩa quân Tây Sơn. Khi biết tin nhau thì hai ông đã ở hai bên chiến tuyến.
Tính khí đều kiên cường, bất khuất nên cả hai sớm trở thành tướng tâm phúc của Nguyễn Phúc Ánh và Nguyễn Huệ. Nguyễn Văn Thoại làm đến chức Khâm sai Bình tây Đại tướng quân, tước Hầu. Còn Trần Quang Diệu cũng được phong làm chức Thái phó và là một trong những vị quan trụ cột của nhà Tây Sơn.
danh-tuong-cai-lenh-vua-de-tranh-doi-dau-ban-tren-chien-truong
Lăng danh tướng Thoại Ngọc Hầu tại Châu Đốc (An Giang). Ảnh: Wikipedia
Là võ tướng hai triều thù địch nhưng suốt 25 năm họ không bao giờ đối địch nhau. Năm 1801, lúc Nguyễn Văn Thoại mang quân từ Vạn Tượng (Lào) tiến đánh Phú Xuân thì nghe tin Trần Quang Diệu từ Quy Nhơn cầm binh ra tiếp cứu. Không muốn đối đầu với bạn, tướng Nguyễn Văn Thoại đã giao binh quyền cho phó tướng của mình là Lưu Phước Tường rồi bỏ vào Gia Định.
Vì vậy, ông bị chúa Nguyễn bắt tội là không có lệnh vua mà tự tiện về, giáng xuống làm Cai đội quản đạo Thanh Châu. Ông mất tất cả cơ đồ, công danh, sự nghiệp nhưng không đánh mất tình quê hương, bè bạn. Hành động dám làm trái ý vua để khỏi phải chạm mặt bạn trên chiến trường của ông được các nhà nghiên cứu đánh giá cao vì cho rằng ông đã dám "vì nghĩa diệt thân".
Năm 1802, Trần Quang Diệu và vợ con bị Gia Long xử tử. Thân tộc bị hệ luỵ, phải đổi sang họ Nguyễn để tránh tội "tru di". Một số tài liệu cho rằng, chính Thoại Ngọc Hầu đã bí mật cho người về quê, giao cho vợ thứ là bà Nguyễn Thị Hiền trích ra 3/18 mẫu ruộng đang cai quản để lo hương hỏa, thờ tự danh tướng Tây Sơn bạn mình.
Không chỉ trọng tình bạn, Thoại Ngọc Hầu còn là người có công lớn trong việc khai phá vùng đất Tây Nam Bộ, khẩn hoang lập ấp, đào kinh đắp đường, phát triển và bảo vệ vùng đất mới, đặt nền móng cai trị lâu dài của nước ta trên vùng đất biên viễn này. 
Năm 1818, ông phụng mệnh thiết kế, tổ chức đào kênh nối Đông Xuyên - Rạch Giá dài hơn 12 km, hoàn thành trong thời gian 4 tháng. Biểu dương công trạng của Thoại Ngọc Hầu, vua Gia Long đặt tên cho kênh này là Thoại Hà và đặt tên cho ngọn núi phía đông là Thoại Sơn.
danh-tuong-cai-lenh-vua-de-tranh-doi-dau-ban-tren-chien-truong-1
Tượng tướng Thoại Ngọc Hầu trong lăng ở An Giang. Ảnh: thoaingochau.org
Một năm sau, ông cùng Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Văn Tồn được lệnh vua Minh Mạng cho đào một con kênh nối liền Châu Đốc - Hà Tiên. Đây là một công trình lớn do ông thiết kế và đốc suất quân dân làm việc với số nhân công lớn gồm 80.000 người, gần 5 năm (1819-1824) mới hoàn thành.
Công trình này là thành quả lớn lao của tập thể nhân dân mà người lãnh trách nhiệm chính với triều đình chính là ông. Nói về lợi ích của con kênh này, sách Đại Nam nhất thống chí có đoạn viết: "Từ ấy đường sông lưu thông, từ kế hoạch trong nước, phòng giữ ngoài biên, cho tới nhân dân buôn bán đều được tiện lợi vô cùng".
Sau khi hoàn thành công trình thủy lợi, giao thông và quốc phòng ở biên giới Tây Nam này, Nguyễn Văn Thoại được vua Minh Mạng đặc ân cho lấy tên vợ ông (bà Châu Thị Vĩnh Tế) đặt tên cho con kênh là Vĩnh Tế. Năm 1836, vua cho đúc Cửu đỉnh làm quốc bảo, hình kênh Vĩnh Tế được chạm vào đỉnh. Đây là một di vật đối với cá nhân ông cũng như tập thể nhân dân tham gia vào công trình đào kênh Vĩnh Tế.
Ông mất tại Châu Đốc ngày 6/6/1829 lúc đang tại chức, thọ 68 tuổi, an táng tại chân núi Sam thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Với những công lao rất lớn đối với triều đình ông đã được vua Minh Mạng truy phong Tráng Võ tướng quân, Trụ quốc Đôn thống.
Thế nhưng, theo sách Đại Nam chánh biên liệt truyện, sau khi ông mất đi, tấm lòng son sắt vì nước vì dân của vị khai quốc công thần Nguyễn Văn Thoại gần như bị chính vua Minh Mạng phủi sạch khi nghe Võ Du ở Tào Hình Bộ tố cáo ông vì tội nhũng nhiễu của dân nhiều khoản.
Triều đình nghị án, ông bị truy giáng tước xuống hàm ngũ phẩm, con ông là Nguyễn Văn Tâm bị lột ấn hàm, tất cả điền sản đều bị tịch thu phát mãi. Người con rể là Võ Vĩnh Lộc theo Lê Văn Khôi khởi nghĩa chống lại triều đình. Cuộc khởi nghĩa bị dẹp tan, vợ chồng Lộc bị bắt, vua Minh Mạng yêu cầu bộ Hình điều tra mối quan hệ giữa Lộc và ông.
Sau này, khi mọi việc được phơi bày, Võ Du bị khép tội vu cáo, bị cách chức, lãnh án lưu đày đi Cam Lộ. Mặc dù nỗi oan đã rõ nhưng ông vẫn chưa được giải oan, phải đến ngày 25/7/1924, vua Khải Định mới xét lại và chính thức truy phong ông là Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần.
Trung Sơn

3 tháng 10, 2016

Thư viện VideoClip: 40 năm đổi mới - Nhìn từ Đồng Tháp Mười

Vì sao gạo Việt “đội lốt” gạo Thái?

Tuổi Trẻ, ngày 02/10/2016
Trần Hữu Hiệp  
Trên thị trường nội địa gần đây xuất hiện hiện tượng gạo Việt được đóng gói nhưng dán mác gạo Thái Lan bày bán tràn lan. Ngay cả các chợ lớn và siêu thị cũng bày bán các sản phẩm gạo Việt “đội lốt” gạo Thái. Vì sao?
Dù mỗi năm gạo xuất khẩu đem về hơn 3 tỉ USD cho VN nhưng chủ yếu là gạo không có thương hiệu. Trong ảnh: công nhân vận chuyển gạo xuống ghe đưa đi xuất khẩu tại một công ty ở Tiền Giang - Ảnh: HỮU KHOA
Thời gian gần đây, trên thị trường nội địa xuất hiện hiện tượng gạo Việt được đóng gói nhưng dán mác gạo Thái Lan bày bán tràn lan. Không chỉ ở các điểm bán gạo nhỏ lẻ, ngay cả các chợ lớn và siêu thị cũng bày bán các sản phẩm gạo Việt “đội lốt” gạo Thái.
Trong thực tế, phần lớn các loại gạo gắn mác Thái không phải từ nhập khẩu mà được sản xuất tại ĐBSCL. Một trong những lý do có hiện tượng gạo Việt “đội lốt” gạo Thái là nhằm nâng giá bán cũng như thu hút nhiều hơn sự quan tâm của người tiêu dùng.
VN nằm trong nhóm quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu gạo, chiếm hơn 20% thị phần thương mại gạo toàn cầu, nhưng người tiêu dùng không tin tưởng sản phẩm nội địa mà lại chuộng gạo gắn mác ngoại là một nghịch lý đau lòng.
Gạo Việt chịu kiếp “hồn Trương Ba, da hàng thịt” không chỉ đặt ra nhu cầu bức thiết về xây dựng và phát triển thương hiệu gạo và thách thức lớn đối với cuộc vận động “người Việt dùng hàng Việt”, mà nó còn buộc chúng ta phải tiếp cận lại vấn đề bằng tư duy hệ thống, hoạch định chiến lược, tiếp cận thị trường cho các mặt hàng nông sản Việt.
So sánh cách tiếp cận thị trường và các kênh phân phối của Thái Lan, sẽ không khó để nhận ra VN thua xa người Thái! Hàng Việt khó cạnh tranh khi vào Thái Lan đã đành, ngay cả khi xâm nhập thị trường Campuchia cũng chủ yếu chỉ chọn các phân khúc nhỏ, lẻ và thị trường nông thôn.
Trong khi các nhà đầu tư Thái vào VN lại chọn các kênh phân phối lớn, chiếm lĩnh thị trường bằng cách mua đứt nhiều chuỗi siêu thị lớn và thường tổ chức các phiên chợ hàng Thái thu hút đông đảo người tiêu dùng... Hội nhập đang nóng lên khi hàng Thái “đổ bộ” vào thị trường nội địa với quy mô lớn chưa từng có; tạo sức ép cạnh tranh khốc liệt, hàng nội đang ngày càng chật vật hơn.
Ngành lúa gạo VN nhiều năm mang danh cường quốc xuất khẩu gạo thô nhưng cũng chỉ mang về hơn 3 tỉ USD/năm, người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt lúa vẫn chỉ thu nhập thấp. Trong khi Thái Lan lại chọn “phân khúc” làm dịch vụ kiểm định chất lượng gạo xuất khẩu, họ đầu tư trang bị, nhân lực chất lượng cao, tạo uy tín, thương hiệu. Các nhà nhập khẩu gạo thế giới tin tưởng buộc các doanh nghiệp Việt phải “lụy đò”, gửi mẫu sang tận Bangkok để họ kiểm định.
Xây dựng giá trị cho thương hiệu gạo Việt, xét ở góc độ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, VN đều thua. Nhiều mặt hàng gạo xuất khẩu chỉ mang tên gọi chung vô cảm là gạo 5%, 25% tấm hoặc phải “mặc áo” các loại gạo nước ngoài.
Xây dựng thương hiệu gạo Việt nhằm định vị giá trị, hình ảnh, nâng cao giá trị gia tăng, thị phần và sức cạnh tranh các sản phẩm gạo của VN là cần thiết. Nhưng thương hiệu tự thân nó không thể “giải bài toán kinh tế” của ngành, mà rất cần “trợ lực” bằng tư duy hoạch định chính sách nông nghiệp, sự phối hợp đa ngành.
Đề án phát triển thương hiệu gạo VN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hơn một năm qua, nhưng vẫn đang được nâng lên, đặt xuống và triển khai ì ạch. Trong bối cảnh đó, cần ghi nhận những nỗ lực xây dựng thương hiệu gạo của Tập đoàn Lộc Trời với thương hiệu “Hạt ngọc trời”, hay “Gạo sạch VinEco” của Công ty VinEco (Vingroup) hợp tác cùng Công ty TNHH Trung An (Cần Thơ)...
Cần có trợ lực mạnh mẽ hơn mới mong gạo Việt chiếm lĩnh lại thị trường nội địa đang nhiễu loạn về nguồn gốc và định danh sản phẩm, thoát kiếp “đội lốt” hàng Thái.
Không thể xuất gạo Việt giá cao 
do vướng quy định
Ông Châu Hồng Phúc, phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, vừa ký văn bản kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép Công ty Cỏ May (Đồng Tháp) được xuất khẩu gạo trực tiếp. “Nhiều khách hàng châu Âu, Mỹ, Ấn Độ... muốn mua gạo thương hiệu CoMay với giá rất cao nhưng công ty không thể ký hợp đồng vì vướng quy định về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo nên chưa được cấp phép xuất khẩu”, văn bản kiến nghị cho biết.
Theo UBND tỉnh Đồng Tháp, Công ty Cỏ May đã xây dựng thương hiệu gạo cao cấp CoMay nhưng không thể xuất trực tiếp sang chi nhánh của doanh nghiệp tại Singapore để bán cho các siêu thị mà phải nhờ một doanh nghiệp khác xuất ủy thác, do công ty này không đáp ứng tiêu chí về nhà máy xay xát và kho chứa như quy định.
V.TR.