25 tháng 9, 2016

Quá tải nhiệt điện than ở “vựa lúa”

Trần Hữu Hiệp



Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 dự kiến được đưa vào vận hành cuối năm 2016, phục vụ cấp điện cho các tỉnh, thành phía nam.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước một thách thức mới với “hai gọng kiềm”: Đó là tác động khốc liệt của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, do ảnh hưởng của các quốc gia đầu nguồn xây đập thủy điện và chuyển nước sông Mê Công. Mặt khác, hàng chục nhà máy nhiệt điện than đang mọc lên cũng tạo thành áp lực, bủa vây vựa lúa, thủy sản… của đất nước.
Mật độ dày đặc
Dọc theo tuyến sông Hậu từ TP Cần Thơ xuống Hậu Giang ra đến cửa biển giữa hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, đã và đang hình thành khoảng 14 nhà máy nhiệt điện than. Tuy nhiên, theo kế hoạch từ nay đến năm 2020 và tiếp sau, ĐBSCL sẽ được đầu tư, hình thành sáu trung tâm nhiệt điện than tại Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Long An, trong đó, hầu hết các trung tâm đều gần các cửa sông. Theo tính toán của các chuyên gia, để sản xuất ra 1 MWH điện cần dùng khoảng 4.163 lít nước, vậy mỗi trung tâm nhiệt điện than sẽ cần khoảng 4,5 triệu m3 nước/ngày đêm làm mát, trong khi, vấn đề nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt hiện đang ngày càng trở nên bức thiết đối với ĐBSCL.
Với quy mô phát triển công nghiệp năng lượng như vậy, từ nay đến năm 2030, vùng ĐBSCL sẽ trở thành một trong những khu vực có mật độ nhiệt điện cao so với cả nước (23 nhà máy các loại, không kể các nhà máy nhiệt điện đã có)! Đặc biệt, đoạn từ Cần Thơ đến Trà Vinh, chỉ khoảng 80 km đường sông, sẽ trở thành đoạn sông tấp nập những tàu vận tải chuyển tiếp than đá cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện đang được triển khai ở đây. Trong khi theo cảnh báo của các chuyên gia, thì tất cả nhà máy nhiệt điện đốt than đều có những lò hơi phát sinh rất lớn lượng khói tro xỉ, tro bụi, các khí độc hại như SO2, NOx, CO và các hydrocacbon bay hơi. Hàm lượng tro xỉ thường chiếm từ 5 đến 40% khối lượng đốt than. Tro bụi trong khói đốt than, đặc biệt trong các nhà máy nhiệt điện than, có chứa rất nhiều chất hạt bụi (Particulate matter, viết tắt là PM) lơ lửng trong không khí. Nếu các hạt PM10 tích tụ vào phổi người do hít phải, sẽ gây hệ lụy xấu cho sức khỏe... Ngoài ra, khí thải dạng SOx, NOx… từ quá trình vận hành nhà máy nhiệt điện khi phát tán vào không khí sẽ bị oxy hóa. Trong trường hợp có độ ẩm cao, sương mù và mưa rơi, sẽ tạo nên hiện tượng mưa axit xuống đồng ruộng, ao hồ gây ảnh hưởng xấu đến cây trồng, các loài thủy sản, các hệ sinh thái, cũng như làm ăn mòn vật liệu kim loại và các công trình xây dựng... Vào mùa mưa, gió mùa Tây Nam sẽ đưa các đám khói bụi từ khu vực nhà máy nhiệt điện ở Cần Thơ, Hậu Giang đến các vùng ven biển Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang. Ngược lại, khi có gió chướng, gió mùa Đông Bắc thì các khối không khí mang khói bụi từ các nhà máy nhiệt điện ở Trà Vinh, Sóc Trăng sẽ đưa sâu vào đất liền… Tại hội thảo “Sự tham gia của cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường- từ chính sách đến thực tiễn” tổ chức tại TP Cần Thơ mới đây, PGS, TS Lê Anh Tuấn, Trường ĐH Cần Thơ cho biết: Qua tìm hiểu hai dự án (Nhà máy nhiệt điện 1 và 3 thuộc cụm nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải) cho thấy, đến nay hai dự án này vẫn không có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (SEA); không có báo cáo đánh giá môi trường tích lũy (CIA), không có báo cáo kế hoạch quản lý môi trường (EPM)...
Điều này khiến cho dư luận không khỏi lo ngại trước tác động tiêu cực của nhiệt điện than đến môi trường sản xuất nông nghiệp, thủy sản, sinh kế và sinh hoạt của người dân ở nơi vựa lúa của đất nước.
Lựa chọn khó khăn
Theo quy hoạch ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg, thì nhu cầu than trong nước thời gian tới sẽ tăng cao (riêng ngành điện tăng khoảng 6 triệu tấn vào năm 2015). Từ năm 2016 trở đi, nước ta phải nhập khẩu vài triệu tấn, đến năm 2020 sẽ nhập khoảng 20-30 triệu tấn. Trong khi đó, ĐBSCL ngoài cảng than dùng cho Trung tâm điện lực Duyên Hải (Trà Vinh) đang xây dựng, thì vẫn chưa có một cảng nước sâu nào bảo đảm cho tàu lớn nhập than trực tiếp nên phương án được các nhà đầu tư tính tới là trung chuyển than bằng tàu nhỏ hoặc sà-lan. Việc nghiên cứu xây dựng cảng nước sâu hoặc cảng trung chuyển than, cũng như những bảo đảm chắc chắn, ổn định về nguồn cung nhiên liệu từ các cường quốc than như Ô-xtrây-li-a, In-đô-nê-xi-a và Nga cần được làm rõ hơn trước khi các nhà máy này được vận hành. Tuy nhiên, đáng lo ngại là,với số lượng dự án nhiệt điện than ngày càng nhiều như vậy, chúng ta lại vẫn chưa có một đánh giá tổng thể và chuyên sâu nào về nguồn cung than của thế giới cho Việt Nam, số lượng, chất lượng, được trong bao lâu...
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Năng lượng (Viện Năng lượng, Bộ Công thương), thì “chúng ta phải phát triển nhiệt điện than bởi không có cách nào khác”. Ông Cường cho rằng, sau khi xem xét các vấn đề có liên quan, suất đầu tư và cả dự báo giá than nhập khẩu thời gian tới, cùng với những nỗ lực phát triển năng lượng sạch, thì nhiệt điện than vẫn cần phải ưu tiên trong tổng sơ đồ nguồn điện của Việt Nam...
Giải bài toán thiếu điện và bảo đảm môi trường, đời sống người dân khu vực là việc làm khó khăn. Nhưng nguy cơ ô nhiễm môi trường của nhà máy điện than với ĐBSCL là rất lớn, từ việc nhập than đến xử lý tro xỉ, từ khói bụi đến nguồn nước làm mát mà một trung tâm điện lực sử dụng hàng triệu khối một ngày rồi thải ra môi trường... Vấn đề đặt ra, không chỉ là việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư các nhà máy điện than, mà bài toán quan trọng hơn cần phải giải quyết ở đây là nên lựa chọn đặt nhà máy nhiệt điện than ở đâu để giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng; kiểm soát chất lượng, lựa chọn công nghệ phù hợp… để vừa bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vừa không gây hại đến môi trường, đời sống người dân.
Là vựa lúa và thủy sản của đất nước, mọi ứng xử với ĐBSCL cần được tính toán, cân nhắc nghiêm túc và cẩn trọng, bởi nếu xảy ra sự cố thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Hệ sinh thái sông - biển vùng ĐBSCL đang hết sức nhạy cảm với những biến động tự nhiên và nhân tạo, chính vì vậy, những nỗ lực hiện thực hóa mong muốn công nghiệp hóa một vùng sản xuất nông, ngư nghiệp lớn nhất, chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh lương thực bền vững cho cả nước cần được xem xét, đánh giá, nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi triển khai.

17 tháng 9, 2016

11 vị thanh gia giao thông Cần Thơ sao là “luân chuyển”

Trần Hiệp Thủy
TTO - Việc luân chuyển tạm thời 11 công chức, viên chức ra khỏi vị trí công tác thanh tra giao thông ở Cần Thơ cần được nhận thức rõ ở góc độ pháp lý để tránh cái nhìn không đúng về “cán bộ luân chuyển”.


Ba cán bộ thanh tra giao thông bị bắt (trái) và "cò" Nguyễn Văn Cẩn (phải)
Xử lý “cái đuôi” của vụ án “3 cán bộ thanh tra nhận bảo kê 3,5 tỉ đồng”, mới đây Sở GTVT Cần Thơ đã gửi “thông cáo” đến các cơ quan báo chí trung ương và địa phương trên địa bàn TP Cần Thơ về việc luân chuyển tạm thời 11 công chức, viên chức ra khỏi vị trí công tác thanh tra giao thông (TTGT).
Việc luân chuyển này được cho là theo đề nghị của Công an Cần Thơ, nhiều báo đã loan tin nhưng nhìn ở góc độ pháp lý, cần được nhận thức rõ để tránh những tác động tiêu cực, liên quan đến một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về luân chuyển cán bộ và một cái nhìn không đúng về “cán bộ luân chuyển”.
Thông tin công khai mà dư luận biết được thì chánh thanh tra và 2 phó chánh TTGT Cần Thơ trong nhóm cán bộ được “luân chuyển” đã bị đề nghị hình thức kỷ luật từ cảnh cáo đến cách chức do có trách nhiệm liên quan đến vụ án.
Để xây dựng nền hành chính hiện đại, công chức chuyên nghiệp, yêu cầu bắt buộc là phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính. Để tránh tình trạng “bất lực”, “trên bảo dưới không nghe”, phải tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, chấn chỉnh việc lạm dụng hình thức kỷ luật “nghiêm khắc phê bình” và “luân chuyển cán bộ”
Trong khi đó, nghị quyết 11-NQ/TW ngày 25-1-2002 của Bộ Chính trị về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý là để “tạo điều kiện rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, có triển vọng, giúp cán bộ trưởng thành nhanh hơn và toàn diện, vững vàng hơn, đáp ứng yêu cầu cán bộ trước mắt và lâu dài của toàn bộ hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các lực lượng vũ trang... Không điều động về trung ương, địa phương hoặc sang địa phương, đơn vị khác những cán bộ bị kỷ luật, năng lực yếu, uy tín giảm sút, không có triển vọng phát triển”.
Các trường hợp cán bộ TTGT Cần Thơ nêu trên cũng không thuộc diện “định kỳ chuyển đổi vị trí công tác”.
Mặc dù thanh tra là 1 trong 21 vị trí công việc phải “định kỳ chuyển đổi” trong thời hạn 36 tháng (theo nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27-10-2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức), nhưng tại điều 6 của nghị định này quy định rõ không được chuyển đổi đối với các trường hợp “đang trong thời gian bị xem xét, xử lý kỷ luật hoặc có liên quan đến công việc đang bị thanh tra, kiểm tra”.
Cho nên đây chỉ có thể là trường hợp “tạm thời chuyển vị trí công tác khác” do “có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng” theo nghị định 59/2013/NĐ-CP ngày 17-6-2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống tham nhũng, thời hạn tạm thời này được xác định là 90 ngày.
Cần được xác định rõ về các trường hợp này như vậy để dư luận giám sát bước xử lý tiếp theo. Họ có thể bị “xử lý kỷ luật hoặc hình sự”, hoặc được “phục hồi” vị trí công tác nếu không xác định vi phạm hành chính hay hành vi phạm tội hình sự; nhưng chắc chắn không phải là “cán bộ luân chuyển” để đào tạo, bồi dưỡng để bổ nhiệm vị trí cao hơn.
"Phê bình nghiêm khắc" coi như... không bị kỷ luật gì hết
Tương tự, nhiều năm qua đang xảy ra tình trạng “phê bình nghiêm khắc” khiến người nhận “kỷ luật” như chưa hề “bị kỷ luật”. Còn nhớ cách đây 2 năm, người đứng đầu ngành công thương đã “nghiêm khắc phê bình” nguyên cục trưởng Cục Quản lý thị trường liên quan đến vụ “lộ đề thi, cháu cục phó trúng tuyển” phải hủy bỏ kết quả, tổ chức thi lại, “làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của bộ”.
Tương tự, tư lệnh ngành GTVT cũng đã xử lý “phê bình nghiêm khắc” tập thể lãnh đạo Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc, chủ tịch Tổng công ty Đường sắt do có sai phạm trong quản lý, điều hành. Không chỉ ở hai bộ này, hình thức “phê bình nghiêm khắc” đã được vận dụng phổ biến ở các ngành, các cấp và đã đến lúc cần chấn chỉnh.
Trong Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật cán bộ công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành không hề có hình thức kỷ luật hành chính nào được gọi tên là “phê bình nghiêm khắc”. Cho dù các “quan chức” là đảng viên thì theo quy định, cũng không hề có hình thức kỷ luật Đảng nào là “nghiêm khắc phê 


4 tháng 9, 2016

Bất an điện than Duyên Hải

Trong các trung tâm nhiệt điện tại ĐBSCL, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải ở xã Dân Thành (thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) được xây dựng nhanh nhất. Trung tâm có 4 nhà máy, một nhà máy đã phát điện thương mại, một nhà máy đang vận hành thử và một nhà máy đang xây dựng. Chuyến đi với các chuyên gia của Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh (GreenID) và Trung tâm Con người và thiên nhiên (Pan Nature) mới đây về khu vực này chúng tôi nhận thấy cuộc sống của người dân xung quanh nhà máy đã bị đảo lộn nghiêm trọng.

Một góc Trung tâm Điện than Duyên Hải, Trà Vinh 


Cạn kiệt nguồn lợi

Ngôi nhà nhỏ của ông Lý Văn Ngoan chơ vơ giữa vùng đất hoang ở ấp Láng Cháo, xã Dân Thành. Ông bận quần đùi, áo phông nhàu nát, khuôn mặt khắc khổ, nom già hơn cái tuổi 55. Mắt ông nheo nheo ngơ ngác nhìn quanh, nhìn mà chẳng nhìn gì cả vì xung quanh chỉ có cỏ dại, những khoảnh ruộng nước đục lờ nhờ không cá tôm. Xung quanh không có gì giúp cho cuộc sống của ông đỡ vất vả. Chỉ có nhà máy điện sau lưng ông sừng sững là đập vào mắt và dù cách xa cả cây số vẫn vọng tiếng rú rít những lúc chạy thử, tỏa cuồn cuộn khói đen qua cái ống khổng lồ chọc lên trời cao.

“Nhà tôi có gần 1ha làm muối và nuôi cá nhưng phải bỏ hoang mấy năm nay vì bụi khiếp quá, muối làm ra không ai mua”, ông Ngoan cho biết. Vợ ông đã qua đời, ông có 4 người con, 2 con ra riêng cửa nhà, còn 2 con ở chung. Gia đình ông làm gì sinh sống? “Làm mướn”, ông đáp gọn lỏn và giải thích thêm: “Làm mướn cho các nhà thầu nhỏ trong công trình xây dựng nhà máy điện, ngày được 120.000 đồng nhưng việc khi có, khi không”.

Ngồi xuống ghế ở hiên nhà, ông Ngoan bộc bạch: “Trước đây làm muối cũng rất vất vả nhưng là nghề truyền thống nên việc nọ kéo việc kia quanh năm, cuộc sống tương đối yên ổn. Bây giờ, làm mướn cuộc sống bấp bênh vì lắm khi hàng tháng trời không có việc làm, ở nhà chỉ biết đi vô đi ra”. Trước đây, khi rảnh rỗi, ông còn ra mé biển theo ghe thuyền đánh bắt cá tôm nhưng từ ngày có nhà máy điện, cá tôm 10 phần chỉ còn 3 phần nên ông cũng đã bỏ biển.

Đi qua nhà ông Ngoan về phía xa nhà máy hơn, gặp ông Trương Văn Sung cũng đang đứng bần thần bên những khoảnh ruộng hoang đầy nước đục lờ nhờ. Ông Sung kêu lên: “Bụi bặm khiếp quá, không còn làm ăn gì được, nghèo đói đến nơi rồi”. Năm nay 40 tuổi, ông có 2,8ha đất được cha mẹ để lại, trước đây cứ mùa mưa nuôi tôm, mùa khô làm muối, cuộc sống khá giả. “Nhưng từ ngày mở ra trung tâm điện lực thì bụi khiếp quá, thả tôm giống xuống là chết, năm nay không còn nuôi tôm được nữa. Còn muối lại nhiễm bẩn phải bán rẻ hoặc không bán được. Bây giờ tất cả ao đang bỏ hoang”, ông Sung nhăn nhó nói.
Đất của ông Sung còn ở gần trạm trộn bê tông phục vụ việc xây dựng nhà máy. Chín cái bồn khổng lồ dựng ngược cùng với dòng xe tải lớn nối đuôi nhau chạy suốt ngày đêm, xả bụi không ngớt. Năm 2014, một bồn xảy sự cố xì xi măng ra ao tôm của ông, sau đó ông phải khiếu kiện mãi mới đòi được 12 triệu đồng “hỗ trợ”. Trước đây làm muối ông còn làm thêm nước ót bán cho các cơ sở sản xuất tôm giống, một năm thu hơn trăm triệu đồng nhưng mấy năm cũng không làm được nữa. “Vì nước ót bị bụi rơi vào quá nhiều, bán không ai mua. Cuộc sống chúng tôi đang không có lối thoát”, ông Sung thở dài cho biết.
 Chủ tịch UBND xã Dân Thành Đào Văn Chính thừa nhận bụi và khói đang gây ô nhiễm môi trường. Ông Chính cho biết, Trung tâm Nhiệt điện lấy của xã hơn 553ha đất, phải di dời hơn 500 hộ dân, thêm dự án Luồng kênh đào Quan Chánh Bố đưa tàu biển lớn vào sông Hậu lấy mất 1.500ha nữa. Vì thế, kinh tế của xã từ nuôi trồng thủy sản và làm muối là chính, nay chuyển sang thương mại - dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng.
“Trước mắt, dịch vụ phát triển với hàng ngàn phòng trọ cho công nhân xây dựng nhà máy nhiệt điện thuê, nhưng ô nhiễm môi trường cũng rất bức xúc. Gồm ô nhiễm không khí, nguồn nước và cả tiếng ồn rất lớn mỗi khi nhà máy chạy thử. Trong đó, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản và nghề muối là điều đáng tiếc”, ông Chính nói.

Khốn khó muối… đen

Đi chừng 4 cây số từ Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sẽ tới ấp Cồn Cù, xã Đông Hải (huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh). Ấp Cồn Cù từ xưa làm muối nức tiếng ĐBSCL. Trưởng ấp Nguyễn Hồng Quân cho biết, muối Cồn Cù ngon vì nhờ nguồn nước và nhờ cả gió. Hàng năm, cứ ra Tết Nguyên đán là vào mùa làm muối, gió biển lồng lộng suốt ngày đêm thổi trên mặt ruộng dồn muối vào một phía, đó là muối bọt trắng tinh, đặc sản Cồn Cù bán giá gấp nhiều lần muối bình thường. Lớp muối bên dưới cũng sạch, mặn vừa phải, bán được giá hơn nơi khác. “Năm nay, gió đưa khói của nhà máy điện vô ruộng muối, làm 98ha muối của 115 hộ ở ấp Cồn Cù bị đen, phải bán rẻ mất một nửa giá”, ông Quân nói.

Phó chủ tịch UBND xã Đông Hải, Lữ Minh Tâm, cho biết thêm, ở xã không chỉ ấp Cồn Cù mà ấp Đông Cao cũng có 85ha muối của 12 hộ dân, bị đen do khói nhà máy điện. Đầu tháng 3-2016, tổ công tác liên ngành gồm đại diện Sở TN-MT, NN-PTNT, công thương, công an và chính quyền các cấp đã xuống ghi nhận thực tế hàng trăm hécta muối bị đen.

Sau đó, tổ liên ngành có văn bản “đề nghị Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải có chính sách hỗ trợ thiệt hại cho người sản xuất muối”, đồng thời “có biện pháp hạn chế thấp nhất việc phát thải gây ảnh hưởng đến các hộ dân sản xuất muối”. Thế nhưng đến nay, diêm dân bị thiệt hại vẫn chưa được hỗ trợ. 

Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường của Sở TN-MT tỉnh Trà Vinh Nguyễn Quốc Tuấn, giải thích: Do nhận thông tin chậm, tổ liên ngành xuống thì vụ muối đã qua nên khó khăn trong xác định nguyên nhân và thiệt hại. Các thông số khói bụi của nhà máy điện được giám sát thì vẫn nằm trong giới hạn an toàn theo quy định. Tuy nhiên, việc giám sát chỉ dựa vào số liệu quan trắc môi trường tự động khí thải do Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải báo cáo định kỳ về Sở TN-MT mỗi tuần/lần. “Báo cáo bằng cách gửi e-mail, chứ chưa có hệ thống tự động truyền số liệu quan trắc về cho cơ quan quản lý theo dõi, kiểm tra. Cả nhà máy điện đã vận hành thương mại cũng chưa tự động kết nối. Việc này chúng tôi đã báo cáo Bộ TN-MT đề nghị hỗ trợ xây dựng hệ thống kết nối tự động”, ông Tuấn nói.

Hoạt động giám sát lại chủ yếu do “tổ liên ngành nghiên cứu, đánh giá công tác bảo vệ môi trường tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải” được UBND tỉnh Trà Vinh thành lập giữa năm 2015. Tổ gồm 15 vị đại diện cho nhiều cơ quan, trong đó, 14 vị ở tỉnh và huyện, tại xã Dân Thành chỉ có một Phó chủ tịch UBND. Các thành viên giám sát đều kiêm nhiệm và làm việc gián tiếp nên đến nay cũng chưa xác định được là khói bụi gây hại cho ruộng muối cách 4 km, hay còn xa hơn?

Trong lúc, báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của nhà máy thì khói bụi chỉ bay xa khoảng 2,5km (?). Chủ trì làm báo cáo ĐTM là Trưởng ban Quản lý Dự án Nhiệt điện 3, đại diện cho chủ đầu tư là Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Báo cáo ĐTM của Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 được Bộ TN-MT phê duyệt ngày 29-12-2009; của Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 phê duyệt ngày 25-7-2011. Việc tham vấn cộng đồng trong thực hiện ĐTM rất sơ sài, chỉ họp 57 người dân.

Chuyên gia sinh thái và phát triển bền vững ĐBSCL Nguyễn Hữu Thiện nhận xét: “Vấn đề cốt lõi còn nằm ở chỗ, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải gồm 4 nhà máy và 3 cảng than, 1 cảng tổng hợp là một phức hợp rất lớn. Đến nay mới có các báo cáo ĐTM riêng rẽ từng nhà máy, không có báo cáo ĐTM chiến lược. Như vậy, không thể nhìn được tác động tích lũy của các công trình cùng lúc, trên phạm vi địa lý rộng lớn và khung thời gian lâu dài. Không có báo cáo ĐTM chiến lược để đưa ra quyết định chiến lược (ví dụ về lựa chọn loại năng lượng, vị trí, công nghệ, tầm cỡ nhà máy…) thì cũng chỉ loay hoay giải quyết tình huống “chuyện đã rồi” mà thôi”.

Ủy viên Chuyên trách Kinh tế của Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Trần Hữu Hiệp phân tích thêm, nguy cơ của nhà máy điện than còn rất lớn ở nhiều phương diện, từ nhập khẩu than đến tro xỉ, từ khói bụi đến nguồn nước làm mát mà trung tâm sử dụng cả triệu mét khối/ngày rồi thải ra môi trường. “Cần tăng cường giám sát công tác xử lý xả thải, bởi nếu xảy ra sự cố với vựa lúa và thủy sản quốc gia thì hậu quả rất nghiêm trọng”, ông Hiệp nhấn mạnh.
Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải có 4 nhà máy. Mỗi nhà máy 1, 2 và 3 có 2 tổ máy; nhà máy 3 mở rộng có 1 tổ máy; công suất mỗi tổ máy 600MW. Một nhà máy một năm thải ra khoảng 1 triệu tấn tro xỉ than, nên phải làm những bãi chứa thải trên dưới 30ha. Mỗi bãi như thế qua nhiều năm sẽ có những núi tro xỉ, nằm ở bờ biển lộng gió bốn mùa nên chưa hình dung được bụi bay phát tán như thế nào.
Theo Quy hoạch điện phê duyệt ngày 18-3-2016, đến năm 2030, ĐBSCL sẽ có 14 nhà máy nhiệt điện than với tổng công suất 18.270MW, lớn nhất trong các vùng của cả nước, hơn cả vùng Đông Bắc bộ cộng với đồng bằng sông Hồng.
SÁU NGHỆ

- See more at: http://www.sggp.org.vn/thongtincanuoc/DBCuuLong/2016/9/432371/#sthash.E8YvaPF1.dpuf

3 tháng 9, 2016

Sơ lược về nguồn gốc một số địa danh miền Nam

Hồ Đình Vũ
Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó… riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy?
Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.
 Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác – để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

Buôn có bạn, bán có phường

 1 Tên do địa hình, địa thế:
 Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, tỉnh Bến Tre:
 “Gió đưa gió đẩy,/về rẫy ăn còng,/về bưng ăn cá,/về giồng ăn dưa…”
 Giồng
 là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát: “trên đất giồng mình trồng khoai lang…”

Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một quận (huyện).

Lại nhắc đến một câu hát khác:
 “Ai dzìa Giồng Dứa qua truông/Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…”
 Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Lương đến cầu Long Định, ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn).

Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì?
Truông

là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ.

“Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

Tại sao lại có câu ca dao này?

Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

Phá

là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy, sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên, phía bắc của phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

Bàu

là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

Đầm

chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng giòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà Mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

Bưng

từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng… mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng.

“…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa”.

Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng Trôm và Bưng Cốc.

Láng

chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Đức Hòa (giữa Long An và Sài Gòn) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

Trảng
 chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hòa có Trảng Bom, Trảng Táo.
 Đồng
khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hòa, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

Hố
chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hòa có Hố Nai, là nơi những người Bắc đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.


2 Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hóa đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hóa một cách tài tình.

Cần Thơ

Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt “cần” và “thơ”. Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hóa, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer “kìntho”, là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá “lò tho”. Từ quan điểm vững chắc rằng “lò tho” là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hóa tiếng Khmer “kìntho”,người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer “kìntho”.

Mỹ Tho

Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Sóc Trăng

Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng.Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt). Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên,châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Bãi Xàu

Bãi Xàu là tên một quận thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là một quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng. Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer “bai xao” có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

Kế Sách

Kế Sách cũng là một quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Cửu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hóa tiếng Khmer “k’sach”.

Một số địa danh khác:

Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hóa của “k’ran”, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.

Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao linh thiêng.

Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer “Prek Trakum”, là sông rau muống (trakum là rau muống).

Sa Đéc xuất phát từ “Phsar Dek”, phsar là chợ, dek là sắt.

Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer “srala”, là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật giáo.

Cà Mau là sự Việt hóa của tiếng Khmer “Tưck Khmau”, có nghĩa là nước đen.


3 Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn.

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi,người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

Chợ

Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một quận trong tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức. Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau:

– Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như: Chợ Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.
– Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như: chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo , chợ Bà Rịa.
– Theo vị trí của chợ, như: chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

Xóm

là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí.

Đơn thuần về vị trí, trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình…

Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị.

Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn: vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm lưới hay làm bủa để nuôi tằm).

Thủ

là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên “thủ” đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như: Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An), Thủ Dầu Một (Bình Dương). Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

Bến

ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò,xe hàng, xe lam…

Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như: Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức, Bến Gỗ ở Biên Hòa.

Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như:

Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

4 Một số trường hợp khác

Có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch… thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngã Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ… Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một quận. Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé trước khi nhập lại thành sông Lòng Tảo. Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai.

“Nhà Bè nước chảy chia hai,Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.”

Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản “thủ” ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Kết


Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thủy đã biến mất theo thời gian. Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán… chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn. Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cầu cũ ở nơi đó để gọi khu đó, như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).