23 tháng 8, 2015

Liên kết ứng phó ngập, mặn, sạt lở

Nguyễn Chí
Được xác định là vùng đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước, tuy nhiên, ĐBSCL đang đứng trước thách thức lớn của biến đổi khí hậu (BĐKH) làm ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và kinh doanh. Việc liên kết toàn vùng nhằm chủ động ứng phó với BĐKH là vấn đề cấp bách đang đặt ra…
Nguy cơ ngày càng cao
Theo Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, tác động của BĐKH làm tần suất, cường độ và phạm vi bị ảnh hưởng bởi bão lũ, hạn hán ngày càng gia tăng, làm thay đổi ranh giới giữa vùng nước mặn, lợ và ngọt. Từ đó, tác động đến hệ thống canh tác trong vùng.
Đáng chú ý trong những năm gần đây, nông dân tại vùng ĐBSCL phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tình trạng xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài, mặc dù nhiều công trình ứng phó với BĐKH đã được triển khai. Cụ thể tại tỉnh Kiên Giang, nơi có 2.778ha nuôi trồng thủy sản của hàng ngàn hộ dân ở 2 xã Nam Thái và Nam Thái A (huyện An Biên) bị ảnh hưởng bởi hạn hán và hệ thống đập, đê biển điều tiết thủy lợi thi công chậm do thiếu vốn. Điển hình là 8 công trình cống điều tiết thủy lợi tại 2 huyện An Biên và An Minh, dự kiến phải đầu tư 200 tỷ đồng nhưng ngân sách mới chi 10 tỷ đồng nên các nhà thầu bỏ công trình. Tại Cà Mau, theo Chi cục Thủy lợi, trong tương lai không xa, khoảng 90.000ha đất sản xuất thuộc 3 huyện ven biển: Ngọc Hiển, Năm Căn và Đầm Dơi sẽ bị ngập do nước biển dâng. Thời tiết hiện nay không theo quy luật 6 tháng mưa và 6 tháng nắng như trước mà thay vào đó là mưa trái mùa, mật độ không đều, nắng nóng kéo dài. Sự thay đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp - thủy sản. Tình hình tôm chết xuất hiện ở các loại hình nuôi tôm công nghiệp, nuôi quảng canh cải tiến và quảng canh truyền thống trong 2 năm qua đã cho thấy tầm nguy hiểm của sự ảnh hưởng trên.
Sạt lở ở Cà Mau
Theo các nhà khoa học, đất ĐBSCL rất dễ bị nhiễm mặn, nhiễm phèn. Tại các khu vực như: Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, bán đảo Cà Mau… diện tích đất nhiễm phèn chiếm phần rất đáng kể. Quá trình mặn hóa và phèn hóa có khi cùng tồn tại, tạo ra loại đất vừa có tính mặn vừa có tính phèn. Tình trạng này khiến đất bị chua hóa và mất khả năng canh tác. Với đất phù sa trung tính của sông Tiền, sông Hậu, đất xám trên cồn phù sa cổ, vốn đã bị thoái hóa do quá lạm dụng phân vô cơ, thì nay hiện tượng khô hạn, rửa trôi do mưa tăng làm tình trạng thoái hóa đất càng trở nên trầm trọng. Nghiêm trọng hơn khi có rất nhiều dự án đang và sẽ xây đập chặn dòng sông Mê Kông trên thượng nguồn, khiến nước ở thượng nguồn đổ về hạ du ngày càng ít hơn, nhất là trong mùa nắng, nên nước mặn xâm nhập ngày càng sâu hơn vào nội đồng. Ngoài ra, mực nước biển dâng cùng với cường độ của bão tố, sự thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước sẽ đe dọa đến sự suy thoái và sự sống còn của rừng ngập mặn cũng như các loài sinh vật rất đa dạng trong đó.
Liên kết vùng - yêu cầu cấp bách
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam bộ nhìn nhận, hiện ĐBSCL chịu tác động tiêu cực nặng nề nhất của BĐKH. Trong 15 năm tới, nếu không có giải pháp ứng phó quyết liệt thì khoảng 45% diện tích sẽ bị nhiễm mặn cục bộ và gây thiệt hại khoảng 17 tỷ USD trong nông nghiệp do lũ và ngập úng. Đó là những thách thức lớn mà người dân ĐBSCL phải đối mặt. Thời gian qua tuy đã có nhiều chính sách, dự án trong liên kết ứng phó với BĐKH nhưng do còn phụ thuộc lớn vào nguồn ngân sách của Trung ương đầu tư nên hiệu quả chưa như mong muốn.
Qua khảo sát của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho thấy, việc ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL đang được các địa phương thực hiện một cách riêng lẻ, mỗi tỉnh làm mỗi cách, trong đó có mâu thuẫn giữa các giải pháp công trình và phi công trình. Các liên kết trong ứng phó BĐKH còn yếu kém, mờ nhạt, chỉ mang tính sự vụ và không có định hướng dài hạn. Cùng với đó, nguồn kinh phí mà các địa phương đề xuất Trung ương hỗ trợ quá lớn, khó đáp ứng đủ.
Theo Viện Địa lý nhân văn (VASS), liên kết vùng trong ứng phó BĐKH hiện nay rất khó thực hiện vì chưa có khung pháp lý và chính sách quy hoạch, kế hoạch phát triển. Một số vấn đề đòi hỏi sự cam kết, hành động ở cấp vùng nhưng hiện tại vẫn còn thiếu cơ chế phối hợp giữa các tỉnh. Bên cạnh việc thiếu “nhạc trưởng” trong hoạt động điều phối liên kết vùng, cơ chế tài chính cho vùng cũng là hạn chế lớn nhất hiện nay. Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho biết: “Hiện nước ta không có đơn vị hành chính cấp vùng nên việc đề xuất các dự án ứng phó BĐKH mang tính chất liên vùng là không thể. Trong khi Trung ương thực hiện cơ chế quản lý tài chính phân cấp, phân quyền như hiện nay sẽ rất khó tạo ra các dự án có tính chất liên kết dài hạn trong ứng phó với BĐKH. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa bộ, ngành và địa phương còn thiếu sự phân định rõ ràng về trách nhiệm cụ thể cũng là nguyên nhân”.
Theo nhiều chuyên gia, các địa phương cần có tầm nhìn, chiến lược ngắn và dài hạn cùng với kế hoạch hành động cụ thể để chủ động ứng phó, thích nghi với BĐKH. Các địa phương cần rà soát tổng thể các chính sách và pháp luật về ứng phó BĐKH, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ kèm theo phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời, lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư liên quan BĐKH vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng.

Liên kết hoàn thiện kết cấu hạ tầng

Mỹ Thanh
TP Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm của vùng ĐBSCL, là 1 trong 4 tỉnh, thành của "Tứ giác động lực" – vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL. Với vị trí, vai trò đặc biệt, TP Cần Thơ không chỉ là đô thị trung tâm lớn nhất vùng mà còn đảm nhận vai trò trung tâm công nghiệp, thương mại-dịch vụ, du lịch, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, văn hóa; là "cửa ngõ ra biển Đông của sông Mê Công; đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, có vai trò đầu tàu, thúc đẩy các địa phương trong vùng cùng phát triển" như Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về Xây dựng và phát triển TP Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" đã nêu ra. Từ định hướng trên, nhiều năm qua, các bộ ngành Trung ương và địa phương đã tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nhằm tạo sức lan tỏa phát triển kinh tế-xã hội chung cho cả vùng ĐBSCL.
Nhờ đó, TP Cần Thơ hiện là địa phương có cơ sở hạ tầng khá tốt trong khu vực với sân bay quốc tế Cần Thơ, cầu Cần Thơ tạo sự thông thương trên tuyến quốc lộ 1 - tuyến đường huyết mạch của cả nước. Trên địa bàn TP Cần Thơ còn có Trung tâm Điện lực Ô Môn là một trong những trung tâm điện lực lớn của cả nước với tổng công suất hơn 3.000MW, Trung tâm phân phối khí Ô Môn cung cấp khí đốt cho các ngành công nghiệp và dân dụng. Ngành công nghiệp thành phố đã xây dựng được hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung và sắp tới sẽ hình thành khu công nghệ cao đóng vai trò quan trọng đối với công cuộc hiện đại hóa nền công nghiệp...
Một góc đường Cần Thơ hôm nay

Những công trình nói trên đã, đang và sẽ không ngừng phát huy hiệu quả để TP Cần Thơ tiếp tục khẳng định vai trò "anh cả" trong vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, TP Cần Thơ vẫn chưa kết nối, liên kết được với các tỉnh trong vùng để phát huy lợi thế so sánh của vùng. Nguyên nhân chính là kết cấu hạ tầng giao thông, vận tải ở cấp độ kết nối nội vùng chưa đầy đủ và không đồng bộ mặc dù kết cấu hạ tầng nội bộ thành phố tương đối hoàn chỉnh. Nhiều ý kiến cho rằng, cảng Cái Cui chưa đủ tầm cỡ để trở thành trung tâm xuất nhập khẩu của vùng ĐBSCL, sân bay quốc tế Cần Thơ khai thác hạn chế nên chưa tạo được sức hút đầu tư. Luồng tàu Quan Chánh Bố đang nạo vét, luồng Định An bế tắc kéo dài cần sớm được nghiên cứu, giải quyết. Hiện tại, khoảng 60-70% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu trong vùng phải thông qua các cảng ở TP Hồ Chí Minh và miền Đông làm chi phí vận chuyển đội trần…
Từng bước tháo gỡ những nút thắt nói trên, theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Võ Thành Danh, Trưởng Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ, một nguồn lực xã hội mới cần được TP Cần Thơ quan tâm khai thác là chiến lược liên kết vùng. Để tạo tiền đề cho liên kết vùng, trong 5 - 10 năm tới cần thúc đẩy hoàn thiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kết nối khu vực, vùng và TP Cần Thơ một cách đồng bộ theo các quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển ĐBSCL đã được phê duyệt. Để làm được điều này, TP Cần Thơ cần nguồn vốn đầu tư rất lớn. Do đó, ngoài việc ưu tiên các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, TP Cần Thơ nên đa dạng hóa các nguồn vốn ngoài ngân sách (BT, BOT, PPP…) để tăng thêm nội lực đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển. Một vấn đề quan trọng khác chuẩn bị cho chiến lược liên kết vùng là hạ tầng hậu cần, kho bãi cần được quan tâm và có chính sách ưu đãi doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này.
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, cho rằng: Bên cạnh việc đầu tư bằng nguồn lực tại chỗ, TP Cần Thơ cần tăng cường liên kết, hợp tác với các địa phương khác để huy động vốn đầu tư phát triển phát triển kinh tế hạ tầng. Đơn cử như việc xây dựng trung tâm thương mại một số quận, huyện; phát triển hệ thống chợ đầu mối nông, thủy sản; hệ thống kho bãi; trung tâm phân phối… Đồng thời, tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để mở rộng mạng lưới kinh doanh của các doanh nghiệp ở các địa bàn thành thị và nông thôn nhằm thúc đẩy sự phát triển thương mại theo hướng nâng dần vai trò trung tâm thương mại cấp vùng. Ngoài ra, TP Cần Thơ tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, kỹ thuật đô thị theo hướng xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển TP Cần Thơ trở thành thành phố cấp quốc gia; là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng ĐBSCL và cả nước theo tinh thần Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị…

22 tháng 8, 2015

“Phương tiện” nào đưa Cần Thơ đến đích thành phố công nghiệp trước năm 2020?

Trần Hữu Hiệp
Cần Thơ hướng đến mục tiêu "cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020" phải trên cơ sở "định vị" thành phố, khả năng nỗ lực đạt được trong quỹ thời gian chỉ còn hơn 4 năm nữa. Làm gì để về đích, trở thành thành phố đồng bằng, cấp quốc gia văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, đáp ứng kỳ vọng của người đồng bằng và cả nước, đang là thách thức lớn mà Tây Đô phải vượt qua trong thời gian tới.
Băn khoăn "chưa có bộ tiêu chí"
"Cần Thơ phấn đấu cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020" là mục tiêu được xác định tại Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị "về Xây dựng và phát triển TP Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" và nhiều văn bản quan trọng. Nhận thức về vấn đề này được bổ sung, ngày càng sáng tỏ hơn, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một bộ tiêu chí chính thức (như tiêu chí xã nông thôn mới) để đánh giá, công nhận một tỉnh công nghiệp hay thành phố công nghiệp.

Một góc Cần Thơ
Năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã lập Báo cáo nghiên cứu Bộ tiêu chí tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại của Việt Nam, gồm 18 chỉ tiêu, được chia thành 2 nhóm: kinh tế (6 chỉ tiêu) và nhóm văn hóa, xã hội, môi trường (12 chỉ tiêu). Theo Bộ này, việc xác định tỉnh công nghiệp không nhất thiết phổ cập cho tất cả các địa phương trong cả nước. Mỗi tỉnh có thế mạnh và đặc thù riêng, nên có thể xây dựng kế hoạch phát triển theo điều kiện riêng của mình. Trong bối cảnh đó, một số tỉnh như Quảng Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ đã tiến hành xây dựng, ban hành "Bộ tiêu chí tỉnh công nghiệp" và chỉ đạo thực hiện.
Mục tiêu "cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020" của Cần Thơ cần phải đặt trong bối cảnh chung của cả nước, nhưng có thể tham khảo "Bộ tiêu chí tỉnh công nghiệp" của các tỉnh như Quảng Ninh, Thái Nguyên để nghiên cứu xây dựng cho phù hợp yêu cầu của một thành phố trực thuộc Trung ương.
"Nội hàm công nghiệp" trong "thành phố công nghiệp"
Tiêu chí công nghiệp trong khái niệm "thành phố công nghiệp" không nên hiểu theo "nghĩa thô", chỉ là ngành sản xuất vật chất với máy móc (công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ) mà cần được hiểu là những đặc trưng để nhận biết về trình độ phát triển trong tiến trình công nghiệp hóa. Đây cũng là cách phân loại quốc tế khi phân chia thành Nhóm các nước công nghiệp phát triển G-8 hay các nước công nghiệp mới NIC - Newly Industrialized Country. Tổ chức phát triển Liên Hiệp Quốc (UNIDO) cũng phân loại các quốc gia trên thế giới thành 4 nhóm theo các giai đoạn của công nghiệp hóa, gồm: Các nước đã CNH, các nước CNH mới nổi, các nước đang phát triển khác và nhóm nước kém phát triển nhất.
Cầu Cần Thơ

Một "thành phố công nghiệp", ngoài tiêu chí "công nghiệp thuần túy", còn có nội hàm thể hiện trình độ phát triển của con người thông qua các chỉ tiêu như: HDI, thu nhập GDP bình quân đầu người, hay các chỉ tiêu văn hóa, xã hội và môi trường khác thể hiện "chất lượng cuộc sống" và "phát triển bền vững" trên 3 trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Cơ sở xác lập và cách tiếp cận xây dựng Bộ tiêu chí "thành phố công nghiệp" cho Cần Thơ cần được thể hiện đặc thù của Việt Nam và vùng đồng bằng sông Cửu Long (thành phố đồng bằng, cấp quốc gia văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp). Song, bộ tiêu chí đó phải đảm bảo mức độ "tương thích" chấp nhận được, không quá chênh lệch với tiêu chuẩn quốc tế được công nhận rộng rãi, thể hiện các đặc tính công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, cần lựa chọn ra một số chỉ tiêu định lượng có thể tính toán được; đồng thời, có phần định tính cho nội hàm "cơ bản trở thành thành phố công nghiệp". Việc xây dựng, ban hành Bộ tiêu chí làm cơ sở để thành phố định hướng chính sách, xác định khâu đột phá, trọng tâm ưu tiên và bố trí nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp vơi điều kiện, tình hình của thành phố và nỗ lực thu hút đầu tư từ bên ngoài.
Định hướng dài hạn và nỗ lực ngắn hạn
Mục tiêu "Cần Thơ phấn đấu cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020" phải là đích đến của một quá trình phấn đấu liên tục, kế thừa và phát triển thành tựu của 30 năm đổi mới, đặc biệt là sau hơn 10 năm thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Vì vậy, định hướng chính sách và giải pháp cho mục tiêu đó phải trên cơ sở tầm nhìn dài hạn, chứ không chỉ là "tư duy nhiệm kỳ" cho 5 năm tới; song, không thể phủ nhận những nỗ lực ngắn hạn cần phải đạt được từ nay đến "trước năm 2020".
Định hướng chính sách dài hạn cho Cần Thơ không có con đường nào khác là chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, dựa vào hiệu quả, sức cạnh tranh nhằm tạo sự tăng trưởng kinh tế cao hơn, bền vững, phát huy lợi thế trung tâm vùng và tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng, chủ động hội nhập quốc tế. Nỗ lực trong ngắn hạn của Cần Thơ cần tập trung cho các khâu đột phá: nhân lực chất lượng cao và phát triển cơ sở hạ tầng trung tâm vùng.
Hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ cần phải tính đến cho thành phố gồm: chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp tục ưu tiên phát triển khu vực công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển cơ sở hạ tầng trung tâm vùng; khoa học, công nghệ; tập trung cho một số ngành công nghiệp chủ lực và công nghiệp phụ trợ; đẩy mạnh độ đô thị hóa; cơ chế chính sách tạo môi trường đầu tư, đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố qua các chỉ số PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh), PAPI (năng lực quản trị hành chính công cấp tỉnh), đặc biệt là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh.
Hai nhóm giải pháp kèm theo chính sách ưu tiên hàng đầu cần được thành phố xem xét. Một là, đầu tư tạo nguồn lực mới cho phát triển, trong đó trọng tâm là nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn lực mới đến từ cải cách thể chế (tận dụng từ cải cách thể chế từ Trung ương và nỗ lực của thành phố). Hai là, tập trung phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực được xác định (có thể là công nghiệp chế tạo công cụ phục vụ nông nhiệp qua hợp tác với Hàn Quốc với Vườn ươm công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc tại Cần Thơ và hợp tác với Nhật Bản xây dựng Làng doanh nghiệp Nhật tại Cần Thơ); đồng thời, phát triển đồng bộ ngành công nghiệp phụ trợ, tăng cường liên kết với các tỉnh trong vùng ĐBSCL. Các giải pháp này phải là kết quả nghiên cứu khoa học và thực tiễn, mang tính then chốt để đạt được các tiêu chí "thành phố công nghiệp".
Mục tiêu "Cần Thơ cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020" thể hiện một quyết tâm chính trị mạnh mẽ, có đạt được hay không phụ thuộc vào việc sử dụng điểm tựa của các luận cứ khoa học và thực tiễn, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và vận động doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân tham gia; nhưng quan trọng hơn hết vẫn là kết quả giải bài toán kinh tế, bố trí nguồn lực "đầu vào" đúng nhu cầu, khả năng đáp ứng và kết quả "đầu ra" trên cơ sở các tiêu chí định lượng và hiệu quả xã hội "chất lượng cuộc sống của người dân" thành phố Cần Thơ.


Nỗi lo bụi than

Hàm Luông
Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ vừa tổ chức hội thảo “Cơ hội và thách thức phát triển nguồn điện ở ĐBSCL”. Thông tin từ hội thảo cho biết, ĐBSCL đang nổi lên vai trò của một trung tâm điện lực quốc gia. Triển khai tổng sơ đồ điện VII, nhiều nhà máy nhiệt điện trong vùng đã, đang và sẽ được xây dựng như Duyên Hải 1, 2, 3 (Trà Vinh), Long Phú 1, 2, 3 (Sóc Trăng), Sông Hậu 1, 2 (Hậu Giang) và Kiên Lương (Kiên Giang) cùng với các trung tâm điện lực Cần Thơ, khí - điện - đạm Cà Mau…
Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, Trà Vinh

Việt Nam hiện có 14 nhà máy nhiệt điện đang hoạt động bằng công nghệ đốt than phun và tầng sôi. Dự kiến sẽ có thêm có 57 dự án nhiệt điện khác sẽ được xây dựng thời gian tới. Còn theo quy hoạch trong tổng sơ đồ điện VII, đến năm 2020, công suất nhiệt điện cả nước đạt 36.000 MW, điện lượng đạt khoảng 154 tỷ kWh, tương đương khoảng 47% tổng sản lượng điện cả nước.
Theo đó, lượng than cần cho ngành điện tăng khoảng 6 triệu tấn vào năm 2015. Từ năm 2016 trở đi, Việt Nam phải nhập khẩu vài triệu tấn than mỗi năm. Đến năm 2020, sẽ nhập khoảng 20-30 triệu tấn than để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của các nhà máy điện. Nguồn than cho các nhà máy điện ở ĐBSCL dự tính nhập khẩu từ Indonesia hoặc Úc. Trong khi vùng này hiện chưa có một cảng nước sâu nào đảm bảo cho tàu lớn nhập than trực tiếp. Phương án được đề xuất là xây dựng cảng trung chuyển than. Từ năm 2012, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã đề xuất 8 vị trí xây cảng trung chuyển than cho ĐBSCL, trong đó có Trần Đề (Sóc Trăng), Nam Du (Kiên Giang), Duyên Hải (Trà Vinh) và Hòn Khoai (Cà Mau). Hiện nay mới chỉ có cảng trung chuyển than đang được xây dựng tại Trà Vinh, chủ yếu phục vụ 3 nhà máy điện Duyên Hải 1, 2, 3 hoạt động.
Thời gian vừa qua đã có nhiều ý kiến lo ngại về việc triển khai các nhà máy điện than ở ĐBSCL, nhất là nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến đời sống người dân. Theo một công trình nghiên cứu của nhóm mô hình hóa học khí quyển thuộc Trường Đại học Harvard, số người chết sớm liên quan đến nhiệt điện than vào năm 2010 trên toàn thế giới là 3,2 triệu người, trong đó ở Việt Nam có 31.000 người và riêng ĐBSCL 8.000 người.
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban chỉ đạo Tây Nam bộ), nhiệt điện than có những tác động lớn đến môi trường (ô nhiễm không khí, đất, nước), vì vậy, cần đảm bảo những nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường nghiêm túc, kỹ lưỡng, khách quan đối với những dự án đầu tư lĩnh vực này; phải đảm bảo nguyên tắc “không hối tiếc” trước khi “chuyện đã rồi”. Trong khi đó, ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm năng lượng (Viện Năng lượng, Bộ Công thương) khẳng định: “Chúng ta phải phát triển nhiệt điện than bởi không có cách nào khác”. Theo ông Cường, sau khi xem xét các vấn đề có liên quan và cả dự báo giá than nhập khẩu thời gian tới, thì nhiệt điện than vẫn là ưu tiên. Tuy nhiên, bài toán cần phải giải quyết ở đây là lựa chọn nhà máy đặt ở đâu để không ảnh hưởng đến cộng đồng; có thể kiểm soát được chất lượng, lựa chọn công nghệ phù hợp… để vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa không ảnh hưởng đến môi trường, đời sống người dân.
Vì thế, nỗi lo bụi than vẫn đang treo lơ lửng!


Nông dân thiệt thòi

Trần Minh Trường
Bán một sọt ổi không đủ ăn tô phở, bán một sọt chanh không đủ tiền mua ổ bánh mì, khoai lang bỏ đống ngoài đồng, thanh long bán rẻ như cho… là tình cảnh của nông dân ĐBSCL hiện nay. Không phải từ bây giờ, mà tín hiệu trục trặc của thị trường nông sản và điểm yếu trong kết nối cung - cầu của nó đã bộc lộ nhiều năm qua.
Nhiều cuộc họp, hội nghị, hội thảo… đã bàn đủ các giải pháp nhưng vẫn chưa tác động tới thực tiễn sản xuất và thị trường. Càng ưu tư hơn khi câu chuyện nông sản tuột giá lại đúng vào thời điểm ngành nông nghiệp sơ kết 2 năm tái cơ cấu lĩnh vực này. Báo cáo của Bộ NN-PTNT tại hội nghị (ngày 13-8 tại Hà Nội) đã chỉ ra 5 hạn chế về tái cơ cấu nông nghiệp sau 2 năm triển khai. Trong đó nêu rõ kết quả tái cơ cấu trong thực tiễn mới chỉ là bước đầu và chưa tạo được chuyển biến rõ rệt; tăng trưởng của ngành chưa vững chắc; thu nhập và đời sống của người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn… Ngoài ra, có những vướng mắc rất quan trọng thuộc các lĩnh vực liên ngành cần được tiếp tục tháo gỡ như mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản; thu hút lao động ra khỏi nông nghiệp để mở rộng quy mô sản xuất…

Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ), nông nghiệp, nông dân gặp khó như hiện nay đã được phản ánh, nhận diện chủ yếu do ba nguyên nhân. Một là, thời kỳ “hái trái ở cành thấp” trong sản xuất nông nghiệp với khai thác tài nguyên sẵn có đang đi qua, nông sản ngày càng chịu sức ép cạnh tranh khốc liệt. Hai là, những yếu kém nội tại của ngành, đặc biệt thiếu tư duy đổi mới trong nông nghiệp - vốn được ca tụng một thời đang chậm lại, không thấy những đột phá mới như thời của “khoán 10, khoán 100”. Ba là, kênh tiêu thụ, phân phối, phân khúc thị trường nông sản gặp vấn đề. Nhìn tổng thể, các chuỗi giá trị nông sản: lúa gạo, rau màu, trái cây, thủy sản đang “bị chặt ra” thành nhiều khúc mà phần thiệt thòi nhiều nhất đang thuộc về nông dân.
Vấn đề ở đây là ngành nông nghiệp chưa có chiến lược sản xuất và tiêu thụ nông sản, vì thế nông dân cứ nuôi, cứ trồng mà không biết bán cho ai, giá cả như thế nào và sản lượng bao nhiêu cho vừa. Trong khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng còn loay hoay trong việc chờ đối tác đặt hàng, rồi mới đi thu gom nguyên liệu trong dân nên rất khó bảo đảm về mặt chất lượng cũng như xây dựng thương hiệu. Mặc dù Nhà nước có nhiều chủ trương như doanh nghiệp xuất khẩu phải đầu tư vùng nguyên liệu, để vừa bao tiêu sản phẩm cho nông dân vừa có chất lượng đồng đều trên thị trường, nhưng đến thời điểm hiện tại thì số lượng doanh nghiệp tham gia vào chuỗi liên kết này lại rất ít.
Bên cạnh đó, hệ thống phân phối và tiêu thụ nông sản hiện nay có quá nhiều vấn đề. Hệ thống phân phối qua rất nhiều tầng nấc trung gian bị đầu nậu ép giá, đã khiến giá nông sản bị mua rẻ bán đắt. Giá chanh, giá ổi rẻ nhưng là ở tại vườn. Nếu người tiêu dùng mua ở chợ hay siêu thị, giá có thể cao gấp 10 lần. Nông sản đi đường vòng mới đến tay người tiêu dùng là một thực tế. Phần lớn chi phí đổ vào lưu thông, còn người nông dân được hưởng lợi rất ít. Sâu xa hơn, nhà nông nước ta sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, không theo mô hình sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Điều này bắt nguồn từ quy hoạch ngành nông nghiệp không theo tín hiệu thị trường. 
Theo các chuyên gia, để tăng giá trị nông sản Việt Nam phải có quy hoạch vùng nguyên liệu dựa trên nghiên cứu thị trường, xem thị trường nào cần để tổ chức sản xuất. Quan trọng hơn nữa là phải đẩy mạnh công nghệ sau thu hoạch, cụ thể là công nghệ chế biến. Bên cạnh đó, Bộ NN-PTNT có trách nhiệm đưa ra chính sách, khuyến khích nông dân vào HTX, nghiên cứu cây con giống, hỗ trợ kỹ thuật canh tác và tổ chức thu hoạch, xử lý sau thu hoạch; Bộ Công thương dự báo, điều tiết thị trường, kết nối sản xuất - tiêu thụ. Nếu dự báo chính xác về nhu cầu thị trường, đưa ra quy hoạch đúng đắn, các địa phương không để người dân phá vỡ quy hoạch; tình trạng bấp bênh trong sản xuất và  tiêu thụ nông sản sẽ sớm được khắc phục, nông dân có thể sống được với nghề, làm giàu được bằng nghề nông.

14 tháng 8, 2015

3 x 8 = 23. Tại sao?

Ba nhân tám rõ ràng là 24, vì sao lại là 23? Câu chuyện Nhan Uyên và Khổng Tử sẽ cho bạn biết tại sao như vậy…
Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.
Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải.
Anh bước đến hỏi, mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.
Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”
Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói:
“Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.

Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói: “Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”
Nhan Uyên đáp: “Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?”
Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”
Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan”. Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.
Khổng Tử nói: “Ba nhân tám là 23”, Nhan Uyên lòng không phục.
Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói:
“Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”
Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ.
Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.
Đối với lời phân xét của Khổng Tử, Nhan Uyên biểu hiện là tuân theo, nhưng trong tâm lại không phục.
Anh cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa.
Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học…
Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.
Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu:
“Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ”.
Nhan Uyên đáp lại một câu: “Con xin ghi nhớ”, rồi rời đi.

Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to.
Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa.
Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân”…
Nghĩ thầm, sư đồ nhất tràng, anh nghe theo lời sư phụ, tránh xa khỏi cái cây rỗng.
Vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia.
Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?”
Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.
Đến bên giường, sờ lại thấy hai người nằm hai bên giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: “Sát nhân không rõ chớ động thủ”, bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là muội muội của anh.
Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói:
“Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và muội muội của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”
Khổng Tử có đúng là có thể nhìn trước được tương lai?
Hãy cùng xem tiếp…
Nhan Uyên cảm thấy kính phục sâu sắc, cũng đã biết được ẩn ý của Khổng Tử
Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”, con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”
Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!”
Mạng người quan trọng hay địa vị quan trọng?
Khổng Tử lại nói tiếp: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói ba nhân tám bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói ba nhân tám bằng 24 mới đúng, người mua kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?”
Nhan Uyên bỗng nhiên tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa: “Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”

Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ.
Câu chuyện này gợi cho tôi nhớ tới ca từ trong một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm:
“Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?”
Cũng như vậy,
Đôi khi bạn tranh đấu giành được điều bạn cho là lẽ phải,
Nhưng điều mất đi có lẽ còn quan trọng hơn;
Luôn luôn phân rõ sự tình nặng nhẹ”.
Đừng gắng sức tranh giành, rồi sau hối hận không kịp!
Rất nhiều chuyện không cần tranh giành,
Lùi một bước biển rộng trời cao.
Hơn thua với khách hàng, thắng ấy cũng là thua (khi sản phẩm mới cần đổi mẫu, bạn sẽ biết)
Hơn thua với ông chủ, thắng ấy cũng là thua (cuối năm lúc đánh giá thành tích, bạn sẽ biết)
Hơn thua với người già, thắng ấy cũng là thua (người ta không để ý tới bạn đâu, bạn vẫn phải tự mình làm thôi)
Hơn thua với bằng hữu, thắng ấy cũng là thua (làm không tốt sẽ mất đi một người bạn)
Lá trà nhờ nước sôi mới có thể tỏa ra mùi hương thơm ngát,
Sinh mệnh vượt qua bao trắc trở, mới để lại tiếng thơm cho đời…
Hiểu được điều đó sẽ luôn luôn cảm ơn cuộc đời… vậy là hạnh phúc nhất đấy.
Giáo dục là một vấn đề vô cùng trọng yếu!
Bất luận điều gì chưa rõ, hãy cùng nhau bàn bạc giải quyết.
Nếu không, sai một niệm có thể sẽ hỏng một đời…
Thật là những suy nghĩ sâu sắc!
Nam Quân biên dịch
(Đại Kỷ Nguyên VN). 

Cám ơn Dr. Lê Văn Bảnh đã chia sẻ.

12 tháng 8, 2015

Trung Quốc muốn mua nông sản Việt Nam qua sàn

Sản phẩm nông nghiệp mua ở Việt Nam rẻ nhưng bán ở thị trường Trung Quốc rất đắt.

Hội Doanh nghiệp Trung Quốc (TQ) tại TP.HCM trong buổi làm việc với lãnh đạo UBND TP Cần Thơ ngày 17-6 đã đề nghị thành lập Trung tâm Giao dịch nông sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tọa lạc ở Cần Thơ.
Đây sẽ là nơi tập trung các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và vật tư nông nghiệp (phân bón, máy móc...) khu vực ĐBSCL để giao thương trong, ngoài nước.
Phía Hội Doanh nghiệp TQ tại TP.HCM cho rằng lâu nay do không có đầu mối lớn nên doanh nghiệp TQ thường phải mua nông sản thông qua thương lái. Điều đó khiến giá thành không ổn định, đôi lúc mối quan hệ giữa doanh nghiệp TQ và người dân không tốt. Chưa hết, việc mua phân tán, không có nơi tập trung nên sản phẩm bán ra ở TQ rất đắt nhưng mua ở Việt Nam (VN) thì rẻ và nông dân VN không hưởng lợi nhiều do một phần lợi nhuận rơi vào túi khâu trung gian.
Trước đề nghị nói trên, lãnh đạo UBND TP Cần Thơ đã thống nhất và mọi chi tiết cụ thể sẽ được xúc tiến thêm trong thời gian tới.

Nông sản rất cần trung tâm giao dịch để kết nối cung cầu, giảm thiểu cảnh được mùa rớt giá. Trong ảnh: Sơ chế thanh long xuất khẩu.
TQ muốn có trung tâm giao dịch nông sản
Là chuyên gia hàng đầu trong nông nghiệp, GS Võ Tòng Xuân nhận định đây là một đề xuất tốt. Nếu trung tâm giao dịch hoạt động hiệu quả sẽ đảm bảo đầu ra cho nông sản vùng ĐBSCL. TQ từ xưa là thị trường tiêu thụ nông sản lớn của VN, lý do dân đông, nhu cầu lương thực, thực phẩm lớn vì vậy buộc phải nhập khẩu.
"Nếu thương lái, doanh nghiệp TQ chịu "lộ mặt" giao dịch và kết nối trực tiếp, chắc chắn họ cũng mua để về tiêu thụ ở nước họ chứ không đem đi bán ở đâu. Trung tâm giao dịch này thành lập thì việc mua bán sẽ rõ ràng với giá cả ổn định" - GS Võ Tòng Xuân nhận định.
Đặc biệt, theo ông Xuân, nếu mua qua trung tâm giao dịch, chất lượng nông, thủy sản như trái cây, con tôm, cá sẽ được cải thiện đáng kể. Nông dân nước ta sẽ chú ý đến việc bảo đảm chất lượng, thương lái sẽ ít cửa làm bậy.
Trong khi đó, ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ) nhận xét: "Việc thành lập trung tâm giao dịch nông sản khu vực ĐBSCL đặt tại Cần Thơ là ý tưởng tốt. Nhưng để ý tưởng thành hiện thực thì còn nhiều việc phải làm vì không chỉ doanh nghiệp nước ngoài mà doanh nghiệp trong nước cũng cần chung tay vào cuộc, phải có sự kết nối thực sự. Đồng thời, có trung tâm nhưng trung tâm này không chỉ phục vụ Cần Thơ mà phải có tính kết nối với địa phương ở vùng ĐBSCL".
Ông Hiệp chỉ ra rằng thời gian qua người nước ngoài vào VN thông qua thương lái tìm thu mua nông sản và đã xảy ra tình trạng bất cập khiến phần thiệt thòi thuộc về nông dân. Ông Hiệp nói: "Điểm yếu của nông sản ĐBSCL là thiếu kênh thu mua và bán, đặc biệt là thu mua".
Cũng theo ông Hiệp, trung tâm khi hình thành sẽ tạo kênh thông tin trao đổi về hàng hóa nông sản và tiến tới là sàn giao dịch nông sản. Ở đây không hiểu theo nghĩa "thô" là san lấp mặt bằng, xây chợ mà quan trọng đây là kênh mua bán hiện đại, là nơi thông tin thị trường nông sản, kết nối người mua và người bán.
Tán đồng việc hình thành Trung tâm Giao dịch nông sản khu vực ĐBSCL nhưng ông Hồ Văn Hùng - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Vĩnh Long cho rằng: "Nếu trung tâm có pháp nhân, địa chỉ kinh doanh rõ ràng, được cấp phép đầu tư và hoạt động theo quy định pháp luật VN thì chúng tôi sẵn lòng ủng hộ. Đồng thời sẵn sàng kết nối giới thiệu doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) sản xuất nông sản của địa phương tham gia để cung ứng hàng hóa".
Vừa mừng vừa lo
Ở góc độ người sản xuất, ông Sơn Văn Luận, Chủ nhiệm HTX khoai lang Bình Tân (huyện Bình Tân, Vĩnh Long), nói: "Diện tích khoai lang của HTX trên 1.470 ha và đa phần đều bán qua thị trường TQ. Có điều bà con không bán trực tiếp cho doanh nghiệp TQ mà bán qua thương lái, giá cả lên xuống phụ thuộc hoàn toàn vào phía TQ. Thêm nữa, việc mua bán qua thương lái nên chẳng có hóa đơn, chứng từ hay hợp đồng, rủi ro về mặt pháp lý rất cao. Do vậy, nếu có trung tâm giao dịch và người mua có địa chỉ rõ ràng, có đầy đủ pháp nhân thì bà con rất an tâm vì mua bán có hợp đồng đàng hoàng".
Theo ông Luận, khi có trung tâm giao dịch nông sản HTX có pháp nhân để giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp TQ thông qua đầu mối là trung tâm, từ đó giảm bớt thiệt thòi khi phải bán qua trung gian. Đồng thời HTX có cơ hội nắm bắt thông tin về đối tác mua bán, thị trường tiêu thụ, giá cả từ đó điều chỉnh sản xuất phù hợp với cung cầu.
Còn anh Nguyễn Công Trị, nông dân trồng lúa ở huyện Thới Lai, TP Cần Thơ, chia sẻ tâm trạng vừa mừng vừa lo: "Điều nông dân lo nhất là ai đứng ra làm đại diện cho nông dân thực hiện giao dịch hợp đồng ký kết với doanh nghiệp TQ. Bởi ngay cả doanh nghiệp trong nước có khi họ còn "xù" hợp đồng huống gì TQ. Nông dân biết nắm ai khi bị thiệt hại quyền lợi" - ông Trị lo ngại.
Đại diện một hiệp hội xuất khẩu nông sản cũng bày tỏ sự ủng hộ nhưng tỏ ra lo lắng: Lập rồi quản lý như thế nào? Ai đứng ra quản? Bởi nếu để Hội Doanh nghiệp TQ tham gia quản lý, điều hành giá thì nông sản Việt sẽ tiếp tục "phụ thuộc" vào TQ.
GS Xuân thì cho rằng cái lo lớn nhất vẫn là lo cho người nông dân. Họ ít có kiến thức về pháp luật, do đó trung tâm giao dịch cần có một đơn vị tư vấn về hợp đồng ký kết cho nông dân. Ngoài ra, trung tâm này cần phải cập nhật thông tin thị trường, thông tin giá cả kịp thời để khi giao dịch nông sản Việt có mức giá tốt nhất, người nông dân có lãi.
Doanh nghiệp Việt phải biết hổ thẹn
Nông sản Việt bị thương lái trong nước, thương lái TQ ép giá từ nhiều năm nay thì chính doanh nghiệp VN phải hổ thẹn. Bởi vì họ quá dở trong việc tìm thị trường, chỉ chăm chăm làm sao mua của nông dân với giá thấp.
Đấy chính là cơ hội cho thương lái nước ngoài vào thu mua khiến nhiều doanh nghiệp Việt nhiều lúc không có đủ nguyên liệu chế biến xuất khẩu, lúc thì lại thừa. Có mấy doanh nghiệp trong nước chịu đứng ra bao tiêu sản phẩm cho bà con nông dân đâu.
Vì vậy, doanh nghiệp TQ đưa ra đề xuất thành lập trung tâm giao dịch nông sản sẽ là lời cảnh báo cho doanh nghiệp trong nước về cách làm ăn với nông dân.
GS Võ Tòng Xuân
Theo Pháp luật TPHCM


Chuyên gia và chính sách: XÂY DỰNG ĐẢO NGỌC THÔNG MINH

Trần Hữu Hiệp
TT - Phát triển nóng từ Phú Quốc đang thu hút sự quan tâm của nhiều giới trên cả nước. 
Lo ngại, cảnh báo cho tương lai của hòn đảo lớn nhất nước, mang tầm quốc gia và quốc tế như Phú Quốc là điều đáng mừng; nhưng quan trọng hơn là hiến kế và hành động cho mục tiêu xây dựng - phát triển đảo ngọc theo mô hình hòn đảo thông minh, trở thành điểm đến hấp dẫn, an toàn, trù phú, môi trường sống chất lượng cao.

Vừa qua, để phát triển Phú Quốc, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã được mời lập quy hoạch. Hàng ngàn tỉ đồng đã được ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng, tạo ra diện mạo mới.
Cùng với việc “mở cổng trời” - sân bay, là xây dựng “cửa bể” - cảng biển quốc tế tổng hợp An Thới, Dương Đông, các đường trục bắc - nam, vòng quanh đảo và tuyến xương cá.
Đường cáp ngầm xuyên biển đầu tiên ở nước ta, dài nhất Đông Nam Á, đường cáp quang viễn thông cũng không chậm chân ra đảo ngọc.
Nhiều dự án đầu tư tầm cỡ nở rộ... cho thấy sự chuyển động thu hút nhiều kênh đầu tư phát triển đảo. Nó tạo ra hấp lực và nhu cầu chính đáng “tiến ra đảo” của nhiều người, nhiều giới và cũng kéo theo nguy cơ biến đảo ngọc thành “túi chứa” tệ nạn.
Phú Quốc - thành phố biển đảo, du lịch, dịch vụ ngoài khơi trong tương lai cần được định hình dài hạn, cần một không gian xanh, sạch, đẹp, kiểu mẫu gắn với cảnh quan biển, với chức năng đô thị được xây dựng trong mối quan hệ với ĐBSCL, cả nước và trong mối quan hệ gắn bó với các đô thị lớn của các nước ASEAN và trên thế giới.
Tầm nhìn chiến lược của một “đặc khu hành chính - kinh tế” yêu cầu định vị Phú Quốc trong mối quan hệ cạnh tranh sòng phẳng, không chỉ phát huy mà còn tạo ra những lợi thế so sánh so với các hòn đảo phát triển khác trên thế giới như Jeju (Hàn Quốc), Phuket (Thái Lan), Bali (Indonesia)...
Muốn xây dựng thành công đặc khu Phú Quốc, không biến nó thành “tỉnh thứ 64 của Việt Nam” hay giẫm lên lối mòn nhàm chán, phải chấp nhận vượt ra ngoài những khung khổ luật pháp hiện hành, cần một cơ chế đặc thù là điều đã được khẳng định.
Nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia đã góp ý kiến tâm huyết để “may áo” cho hòn đảo ngọc quốc gia phát triển xứng tầm.
Theo đó, bốn trụ cột trong phát triển đặc khu này cần được quan tâm, không chỉ là không gian kiến trúc, đầu tư, tạo “sản phẩm đặc thù” có lợi thế cạnh tranh mà quan trọng là đảm bảo một môi trường tự nhiên và xã hội trong lành, tạo ra tính năng động và khác biệt cho đảo ngọc.
Yêu cầu phát triển đảo theo hướng bền vững, hài hòa giữa kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và môi trường; đảm bảo an ninh quốc phòng vùng và quốc gia, đảo ngọc này được giao ba nhiệm vụ “trung tâm”: du lịch, dịch vụ cao cấp; khoa học công nghệ chuyên ngành; trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học rừng và biển của quốc gia và Đông Nam Á.
Tầm nhìn dài hạn là mục tiêu định hướng xuyên suốt. Nhưng những nỗ lực ngắn hạn nhằm để giữ cuộc sống bình yên cho người dân, môi trường du lịch an toàn, địa điểm đầu tư lý tưởng cho doanh nhân lại là yêu cầu quan trọng mang tính quyết định trong hiện tại.
Những bất ổn bộc lộ gần đây do phát triển nóng cần được kiểm soát là đòi hỏi bức xúc từ thực tiễn.
Vì vậy, các giải pháp, biện pháp kiểm soát xã hội, quản lý “dân cư sạch”, phòng chống tội phạm, trật tự an toàn xã hội cần được đặt lên hàng đầu trong nhiệm vụ mang tính nhiệm kỳ cho Đại hội Đảng bộ huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang sắp diễn ra.
Tương lai của Phú Quốc ra sao phụ thuộc vào cách ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm của con người đối với nó trong hiện tại!

Giảm lệ thuộc thương lái Trung Quốc

Có hôm sáng sớm, thương lái Trung Quốc ra giá thu mua 15.000 đồng/kg thanh long không hạn chế số lượng nhưng khi thấy tập kết về nhiều thì ép giá còn 12.000 đồng/kg
Tỉnh Bình Thuận cho biết diện tích thanh long ở tỉnh này đã có khoảng 22.000 ha, trong khi quy hoạch đến cuối năm 2015 chỉ 15.000 ha và trên 75% sản lượng thanh long xuất sang thị trường Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch.
Kiểm tra chặt, phạt mạnh tay
Nhiều nông dân ở Bình Thuận cho biết nếu giá ổn định từ 15.000-17.000 đồng/kg thì có thể lãi ròng không dưới 300 triệu đồng/ha/năm. Theo bà Cao Thị Kim, một chủ vựa thanh long ở Bình Thuận, sau khi thu mua thanh long, tư thương chuyển đến tận biên giới Việt - Trung để bán cho đầu nậu Trung Quốc. Việc mua bán không có hợp đồng, ràng buộc gì.
Ông Mai Kiều, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận, cho biết đầu nậu Trung Quốc ít xuất hiện mà chỉ thông qua “cò” trong tỉnh để thu gom thanh long. Họ điều nghiên rất kỹ, nếu thanh long được mùa thì họ ép giá, ngược lại có thể tăng giá nhưng chỉ chút ít, không tương xứng với nguồn cung.


Không chỉ ở Bình Thuận mà tại ĐBSCL, thanh long cũng phụ thuộc quá nhiều vào thương lái Trung Quốc Ảnh: Ngọc Trinh
Nhiều chủ vựa thanh long nói từ hơn một năm qua, nhiều thương lái Trung Quốc nhập cảnh dưới mác khách du lịch, tiếp cận các chủ vựa để làm “cò” thu mua thanh long cho họ. “Họ rất ma mãnh. Có hôm sáng sớm họ ra giá thu mua 15.000 đồng/kg, không hạn chế số lượng. Khi thấy tập kết thanh long về nhiều thì giở quẻ, chê hàng xấu đủ kiểu để hạ giá còn 12.000-13.000 đồng/kg. Thương lái nhiều người lỗ nặng vì lỡ mua” - anh Hùng, một người chuyên thu mua thanh long cho thương lái Trung Quốc, ngậm ngùi.
Để chấn chỉnh tình trạng tư thương Trung Quốc thao túng thị trường thanh long, từ đầu năm đến nay, các cơ quan chức năng đã xử phạt 23 người Trung Quốc cư trú bất hợp pháp, kinh doanh trái phép. Ông Lê Tiến Phương, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận, cho biết ngoài việc kêu gọi nông dân và tư thương nội địa không hợp tác với những người buôn bán bất hợp pháp, tỉnh Bình Thuận còn giao công an tỉnh kiểm tra và xử phạt nghiêm những thương lái nước ngoài đến tạm trú nhưng có hành vi gian lận.
Theo ông Huỳnh Thanh Cảnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận, hiện toàn tỉnh có khoảng 7.500 ha thanh long sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, đủ tiêu chuẩn để xuất sang các nước châu Âu. “Chúng tôi đang xúc tiến kết nối lại các thị trường đã ngưng trệ do hàng rào kỹ thuật ngăn cản mấy năm qua. Thậm chí, dù thanh long xuất đi Trung Quốc là thị trường lớn nhưng tỉnh khuyến cáo doanh nghiệp tăng cường xuất chính ngạch để hạn chế rủi ro và có lợi cho nông dân vì giá cả sẽ ổn định” - ông Cảnh khẳng định.
Cảnh giác không thừa
Theo giới thương lái chuyên thu mua hồ tiêu tại Gia Lai, cách đây khoảng 1tháng, thương lái Trung Quốc thường xuyên qua đặt hàng thu mua hồ tiêu với giá cao hơn so với giá thị trường từ 3.000 - 5.000 đồng/kg nhưng gần đây không thấy quay lại. Trước đó, không ít thương lái thuê đất ở tỉnh trồng tiêu rồi sau đó “biến mất”.
Chị L. - một thương lái chuyên thu mua tiêu tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai - cho biết: “Họ đến thu mua giá cao và đi rất nhanh, chỉ đưa ô tô sang mua đầy xe rồi đi ngay. Tôi bán cho họ mấy lần rồi nhưng khi họ đặt cọc để mua với số lượng lớn, chỉ cần đưa xe sang là chở đi luôn cho khỏi mất công gom hàng thì tôi không đồng ý. Đã nghe nói nhiều về thủ đoạn của thương lái Trung Quốc nên tôi cảnh giác”.
Sau thời gian có lãi nhờ thu mua hạt mây rừng bán cho thương lái Trung Quốc giá cao, hiện nhiều người tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum đang ngậm “quả đắng” vì ôm hàng tấn hạt mây rừng không bán được. Đây không phải là lần đầu dân địa phương mắc lỡm thương lái Trung Quốc.

Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ:
Cần có kênh thu mua ổn định
Thời gian qua, ở ĐBSCL vẫn thường xảy ra tình trạng thương lái nước ngoài thu gom nông sản, thao túng, gom hàng, làm ăn chụp giựt... Thực trạng này cần nhìn nhận trên cả 2 mặt: những tác động tiêu cực cần hạn chế, ngăn chặn hoặc kiên quyết xử lý vi phạm; những tác động tích cực trong việc góp phần tiêu thụ hàng hóa. Thương nhân nước ngoài nào được phép hoạt động thương mại theo quy định cần được quản lý chặt để khai thác mặt tích cực từ họ. Cơ quan quản lý cần cung cấp đầy đủ thông tin về họ cho dân biết để giao dịch, tránh rủi ro, đồng thời tạo điều kiện cho họ làm ăn chân chính, vừa giải quyết đầu ra cho nông sản vừa bảo vệ lợi ích nông dân.
Thực trạng trên cho thấy nông dân vẫn đang thiếu một kênh thu mua nông sản chính thức và ổn định.
C.Tuấn ghi


Lê Trường - Hoàng Thanh

9 tháng 8, 2015

​Phú Quốc phát triển nóng và những cảnh báo


TT - Sự phát triển quá nóng của Phú Quốc (Kiên Giang) gần đây đã mang đến thực tế: bộ máy công quyền quá tải, ô nhiễm môi trường, liên tiếp những vụ trọng án xảy ra... 




                        
Nghe đọc bài: Phú Quốc phát triển nóng và những cảnh báo
TT - Sự phát triển quá nóng của Phú Quốc (Kiên Giang) gần đây đã mang đến thực tế: bộ máy công quyền quá tải, ô nhiễm môi trường, liên tiếp những vụ trọng án xảy ra... 
Làm thế nào để Phú Quốc phát triển mà vẫn giữ được sinh thái, phát triển mà con người vẫn còn bình dị, thân thiện?
* Ông LÊ VĂN THI (chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang):

Lo lắng cho môi trường Phú Quốc
Kế hoạch dài hạn cho phát triển đảo Phú Quốc xứng đáng là đảo ngọc tầm cỡ khu vực và quốc tế đã được trung ương xác định, không có gì phải bàn cãi nữa.
Đề án đặc khu Phú Quốc hiện đã làm xong, trình các bộ, ngành và Thủ tướng đã giao Bộ Kế hoạch - đầu tư thẩm định lại, trình Bộ Chính trị quyết định.
Tuy nhiên, trong khi chờ Bộ Chính trị quyết định thì thời gian gần đây rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước thấy được cơ hội nên đến đảo đầu tư.
Tình hình rất sôi động nên đã phát sinh một số vấn đề cần phải giải quyết. Trong ngắn hạn thì có việc quản lý đất đai, nguồn nhân lực và môi trường.
Khó khăn lớn nhất đối với Phú Quốc hiện nay là công tác quản lý nhà nước về đất đai vì bộ máy quản lý, điều hành chưa tương xứng và quá tải nên việc quản lý đất đai, giá cả, mua bán lấn chiếm đất rừng phòng hộ còn bất cập, yếu kém đang làm hạn chế sự phát triển của Phú Quốc.
Tỉnh đã nhìn thấy với tốc độ thu hút đầu tư quá nóng như vừa qua, nhưng bộ máy quản lý nhà nước vẫn là cấp chính quyền nông thôn là không ổn, không đủ sức làm, rất muốn tăng bộ máy biên chế cho huyện đảo nhưng vướng luật không thể tăng được.
Vừa rồi tỉnh đã xây dựng đề án thành lập TP Phú Quốc với đề xuất có bộ máy của chính quyền đô thị, nhưng theo luật mới thì thành lập TP thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Môi trường Phú Quốc hiện tại cũng không đảm bảo, mà sắp tới lượng khách tăng với nhịp độ 30 - 40%/năm còn khó hơn.
Vì vậy, chúng tôi đề nghị Bộ Tài nguyên - môi trường có giải pháp giúp Kiên Giang xử lý trước tiên là vấn đề nước thải, tiếp đến là bảo vệ môi trường. Hệ thống xử lý nước thải gần như Phú Quốc chưa có gì cả.
Nếu có khu xử lý tập trung gom về đó xử lý, đủ tiêu chuẩn mới thải ra môi trường thì rất thuận lợi, còn hiện tại mạnh ai nấy xử lý, lúc mình kiểm tra, đo đạc, cấp phép hoạt động thì đảm bảo tiêu chuẩn nhưng quá trình vận hành có thể giảm, hoặc nhà đầu tư thấy tốn kém rồi xả thẳng ra môi trường cũng không hay.
Việc này vừa rồi tỉnh có đề nghị và được Thủ tướng đồng ý huy động, vay vốn ODA. Tỉnh cũng đã làm việc với Ngân hàng Thế giới thì họ đồng ý với một số dự án môi trường nhưng vấn đề này còn liên quan tới nợ công, không phải dễ.
Một vấn đề nữa mà Phú Quốc cũng đối diện là không có vốn đầu tư cơ sở hạ tầng. Hiện đường chính trục bắc - nam do trung ương đầu tư, còn đường nhỏ Phú Quốc phải cân đối ngân sách làm.
Nhưng vừa qua đất thu hồi nhiều, do giá đền bù cao mà Nhà nước ứng tiền ra bồi hoàn rồi thu lại tiền thuê đất, giao đất cho nhà đầu tư thì thực chất tiền ứng ra bằng với tiền thu lại nên... bằng không.
Vì vậy, bản thân Phú Quốc đầu tư hạ tầng còn lại để phát triển các khu chức năng rất khó. Một số khu vực lớn cần có đường xiên, dọc, ngang không đủ vốn đầu tư thì nhà đầu tư cũng... nằm đó lúc lắc.
Có nhà đầu tư bỏ vốn làm đường, khi nào Nhà nước có tiền thì trả lại cho họ, nhưng cái này chỉ một số có năng lực mạnh chứ mấy ông nhỏ nhỏ không làm được, nên đây là điểm khó khăn cho Phú Quốc phát triển trong thời gian tới.
Để giải quyết khó khăn trước mắt, tỉnh đã thành lập một tổ công tác liên ngành bao gồm nhiều lực lượng ra giúp huyện đảo, trong đó đặc biệt quan tâm giải quyết ổn định tình hình an ninh trật tự, đất đai, đất rừng.

Ông TRẦN HỮU HIỆP (vụ trưởng Vụ kinh tế Ban chỉ đạo Tây Nam bộ):

Nguy cơ thành “túi chứa” tệ nạn
Những gì đang diễn ra ở Phú Quốc trong thời gian qua rất đáng lo ngại. Tội phạm ở đâu cũng có, không riêng gì tại Phú Quốc.
Nhưng Phú Quốc là nơi đặc biệt, là hòn ngọc thu hút khách quốc tế, họ đến đây sẵn sàng trả phí cao hơn trong đất liền thì đòi hỏi phải đáp ứng cao hơn nên không thể nói tội phạm nơi nào cũng xảy ra, nên Phú Quốc xảy ra cũng bình thường được.
Phú Quốc bao đời nay là nơi rất bình an, người dân có thể bỏ nhà đi đám giỗ hai ngày, người lạ mà đến là họ sai con dẫn tới tận nơi, một môi trường mà ngủ thậm chí không đóng cửa.
Nhưng 20 năm trở lại đây Phú Quốc có nguy cơ trở thành túi chứa tệ nạn. Ai bể hụi, trốn nợ là chạy ra Phú Quốc, tội phạm truy nã chạy ra Phú Quốc...
Nguyên nhân có thể lý giải thời gian qua Phú Quốc phát triển quá nóng, với nhiều nhà đầu tư kéo đến làm ăn, môi trường ấy thu hút nhiều người đến với Phú Quốc là đương nhiên.
Thời gian qua với nhiều dự án đầu tư, bộ mặt Phú Quốc đã có sự thay đổi rất đáng ghi nhận. Tôi có cảm nhận Phú Quốc như chàng trai đang lớn nhanh mà chiếc áo chàng trai ấy mặc lâu nay mình nghĩ là vừa nhưng thực tế nó lại chật, không giống như mình nghĩ.
Nghĩ nó là một huyện cái gì cũng giống như những huyện khác thì không được mà phải hơn thế. Tôi cho rằng đảm bảo môi trường sống, du lịch an toàn ở Phú Quốc là vấn đề cực kỳ đáng quan tâm, là vấn đề bức xúc hiện nay.


* Ông HUỲNH QUANG HƯNG (phó chủ tịch UBND huyện Phú Quốc):

Đảo ngọc như “đại công trường”
Có thể nói thời điểm này Phú Quốc như một đại công trường. Trong đó, nhiều nhất là các công trường xây dựng những khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí.
Với việc phát triển nóng như vậy đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý của địa phương. Đặc biệt, tình hình an ninh trật tự ở Phú Quốc có nhiều diễn biến phức tạp hơn trước do các lực lượng lao động phổ thông đổ về đây rất lớn.
Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, hiện nay có hơn 40.000 lao động là ngư dân từ khắp mọi miền đất nước đến Phú Quốc; hơn 20.000 lao động làm việc ở các công trình, các dự án; dự kiến năm nay có khoảng 850.000 lượt khách du lịch đến Phú Quốc.
Trong khi đó, dân cư trên đảo trên dưới 108.000 người... Tính ra lượng khách đến Phú Quốc gần gấp chín lần dân số trên đảo. Chúng tôi đã kiến nghị và tỉnh cũng cho chủ trương tăng cường lực lượng để đảm bảo an toàn cho khách.
Tình hình Phú Quốc phát triển nóng nên giá đất trên đảo cũng tăng đột biến, điều này cũng đúng theo quy luật. Nhưng nó cũng kéo theo hệ lụy là tình hình bao chiếm, lấn chiếm, xây dựng trái phép đất Nhà nước quản lý, đất dự án, thậm chí có cả đất rừng rất phức tạp.
Hồi cuối tháng 7, chúng tôi đã tiến hành cưỡng chế, buộc tháo dỡ, di dời hơn 30 căn nhà xây dựng trái phép trên đất do Nhà nước quản lý; tổ chức lập biên bản buộc di dời cây trồng ở khu vực An Thới... bước đầu tình hình cũng dần ổn định lại.
Giá đất ở Phú Quốc hiện nay bắt đầu giảm nhiệt, chuyện mua bán đất cũng không còn nóng như những tháng đầu năm. 
H.TRÍ DŨNG - C.QUỐC - TIẾN TRÌNH ghi