30 tháng 4, 2012

CÀ MAU – ĐẦU TÀU KINH TẾ BIỂN CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

TẠP CHÍ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, số 64, tháng 4-2012
TRẦN HIỆP THỦY
“Tập trung đầu tư phát triển mạnh về kinh tế biển gắn với bảo vệ tài ngyên môi trường biển … Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, nông, lâm sản theo hướng tăng tỷ lệ hang tinh chế, phát triển công nghiệp năng lượng trên cơ sở cụm công nghiệp khí – điện – đạm Cà Mau, đồng thời thu hút phát triển một số ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao – trích Quyết định số 163/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể KT-XH tỉnh Cà Mau đến năm 2020”. 
Cà Mau - 3 mặt giáp biển
Ba mặt biển
Cà Mau là tỉnh duy nhất của cả nước có 3 mặt Đông – Tây – Nam tiếp giáp biển với chiều dài 254 km, chiếm 34,5% chiều dài bờ biển toàn vùng ĐBSCL, 7,8% bờ biển cả nước. Vùng biển nơi cuối đất này là 1 trong 4 ngư trường lớn nhất của nước ta, rộng trên 71..000 km2, có tiềm năng, trữ lượng lớn về dầu khí. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành công trình trọng điểm quốc gia - Trung tâm công nghiệp khí-điện-đạm. Các nhà máy khí điện Cà Mau I và II có công suất 1.500MW, cung cấp trên 9 tỷ KWh điện/năm và Nhà máy đạm Cà Mau, công suất 800 nghìn tấn urê/năm, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu phân urê của cả nước đã được đưa vào khai thác. Cà Mau còn có hơn 100.000 ha rừng, bao gồm rừng ngập mặn ở khu vực Mũi Cà Mau và rừng tràm U Minh hạ đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Các cụm đảo gần bờ: cụm đảo Hòn Khoai, đảo Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc có vị trí chiến lược, là cầu nối để khai thác kinh tế biển, phát triển du lịch và là điểm tựa tiền tiêu của Tổ quốc.
Hướng mạnh ra biển, thành đầu tàu kinh tế biển của vùng
Kinh tế biển Cà Mau đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh và vùng ĐBSCL. Trong 10 năm qua (2001 - 2011), tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 13,5%/năm; quy mô nền kinh tế năm 2011 gấp 3,24 lần so với năm 2001; thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 4 lần năm 2001; kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt 910 triệu USD, trong đó xuất khẩu thủy sản đạt 900 triệu USD, đứng đầu cả nước.
Lấy vùng ven biển làm bệ phóng, Cà Mau đang hướng mạnh phát triển ra biển, xây dựng vùng biển, ven biển  thành vùng kinh tế động lực; khai thác tài nguyên biển đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái biển để phát triển bền vững. Khu kinh tế Năm Căn – điểm nhấn nơi cuối đất đã được thành lập, có diện tích 11.000 ha cùng với Cụm công nghiệp Năm Căn hơn 200 ha cũng đã được tỉnh phê duyệt và đầu tư xây dựng. Các cảng cá, bến cá, cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu thuyền và các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá đã được đầu tư như Cảng cá Sông Đốc, Hòn Khoai, các khu neo đậu tàu thuyền trú, tránh bão ở Rạch Gốc, Khánh Hội, Cái Đôi Vàm... và nhiều hạng mục công trình dịch vụ hạ tầng nghề cá được đầu tư xây dựng, phát huy hiệu quả tích cực. Thị trấn Sông Đốc đang được tập trung đầu tư nâng cấp trở thành một thị xã miền biển để liên kết với các cụm kinh tế biển Khánh Hội, Cái Đôi Vàm, tạo thành thế liên hoàn, hình thành các trung tâm nghề cá ven biển mở hướng ra biển Tây.

Nhận thức tiềm năng, lợi thế to lớn, là địa bàn trọng điểm phát triển kinh tế biển của cả vùng, giai đoạn 2011-2020, tỉnh Cà Mau xác định tiếp tục tập trung khai thác tiềm năng và thế mạnh về kinh tế biển, rừng. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp ven biển, bao gồm công nghiệp chế biến thủy sản tại các khu công nghiệp tập trung Sông Đốc, Năm Căn. Phát triển du lịch biển đảo và du lịch sinh thái ven biển trở thành ngành kinh tế quan trọng, trong đó tập trung vào du lịch sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm, các cồn cửa sông, bãi ven biển và du lịch trên các cụm đảo gần bờ. Phối hợp chặt chẽ với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thực hiện các dự án tìm kiếm thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; xây dựng hệ thống dự trữ, vận chuyển và phân phối sản phẩm dầu khí; phát triển vận tải và công nghiệp vận tải biển. Nghiên cứu xây dựng cảng nước sâu ở khu vực cụm đảo Hòn Khoai phục vụ xuất nhập khẩu của tỉnh, của vùng.  

Trước xu thế hội nhập, không gian phát triển của ĐBSCL không còn bó hẹp trong vùng đất "9 rồng" mà nó còn được mở ra trong một không gian rộng lớn của ASEAN với 600 triệu dân, và rộng hơn nữa, theo luồng hàng hải nối liền Đông – Tây. Kinh tế biển ĐBSCL có vai trò rất quan trọng. Vùng Biển Đông thuộc khu vực ĐBSCL với thềm lục địa và hải phận rộng lớn giàu tiềm năng thủy sản, dầu khí và lợi thế từ luồng hàng hải nối liền Đông – Tây, nơi có nhiều nền kinh tế lớn của thế giới (mà hầu hết đều tham gia APEC) là một cửa ngõ quan trọng xét trên nhiều mặt. Vùng biển này cần được đầu tư, khai thác gắn với chiến lược kinh tế biển của nước ta để ĐBSCL không chỉ là vựa lúa, trái cây mà còn là vùng mạnh về biển, giàu lên từ biển. Tuy nhiên, trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, vị trí “3 mặt biển” của Cà Mau vừa là tiềm năng, lợi thế, nhưng cũng là thách thức lớn trong phát triển bền vững.
Tiềm năng, lợi thế, cơ hội và thách thức đang đặt yêu cầu phát triển kinh tế biển Cà Mau trở thành đầu tàu kinh tế biển của cà vùng.

Chiến lược kinh tế biển đề ra mục tiêu đến 2020, đưa nước ta thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Kinh tế biển với các ngành chủ yếu là dầu khí, hàng hải, hải sản, du lịch biển và kinh tế hải đảo … Cà Mau – một góc của “Tứ giác động lực – Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL” đã, đang và sẽ phát huy mạnh mẽ tiềm năng kinh tế biển.

Đổi mới sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL: Kỳ vọng về “lá chắn thần kỳ”


Ngày 20.1.2012, sau đúng 5 năm gia nhập WTO, Cổng thông tin điện tử Chính phủ VN công bố dự thảo quyết định phê duyệt Đề án “Xây dựng chính sách đặc thù để thu hút đầu tư tại ĐBSCL”, định hướng đổi mới chính sách đất đai theo hướng thu hẹp diện tích bắt buộc trồng lúa, thí điểm xóa bỏ chế độ hạn điền, đặc biệt cho phép triển khai 5 dự án “liên kết vùng thực hiện tam nông” do Ban Chỉ  đạo Tây Nam Bộ (BCĐ TNB) phối hợp cùng các viện, trường xây dựng và đề xuất.
Có thể nói chính đây là “tập đại thành” của hàng loạt sáng kiến cỡ “khoán 10”, “khoán 100” vào thập niên 80 của thế kỷ trước, có khả năng giúp VN đối phó với những thách thức “hậu WTO” - thời kỳ mà SXNN được cảnh báo là bộ phận dễ tổn thương bậc nhất của nền kinh tế, nhưng trên thực tế không ít lần “cứu nguy” cho cả nền kinh tế.

Cuộc trao đổi giữa PV Lao Động với TS Nguyễn Văn Sánh – Giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển (NCPT) ĐBSCL (Đại học Cần Thơ), người khởi xướng ý tưởng xây dựng đề án liên kết vùng với 5 dự án liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn – sẽ làm sáng tỏ thêm cơ sở lịch sử và khoa học của việc tạo nên một “lá chắn thần kỳ”.

“Khởi động từ năm 2005”

Tuy dự thảo quyết định vừa nêu vẫn chưa được Thủ tướng VN chính thức ký ban hành, nhưng chỉ cần thông qua việc định danh của 5 dự án về thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ  lúa – gạo, cây ăn quả, cá tra, tôm và lồng ghép đào tạo nghề,  đề xuất cơ chế, tổ chức và chính sách liên kết vùng với sự tham gia của 4 nhà (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học) cũng đủ thấy một sự “minh triết” khi chạm đến những nhược điểm chí tử trên đất Chín Rồng (như chất lượng nguồn nhân lực, tư tưởng cục bộ, bản vị...) để rồi xử lý nó bằng những tiến bộ khoa học, công nghệ và chính sách (theo nguyên lý vùng kinh tế, phương pháp quản trị theo chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực...).

TS Nguyễn Văn Sánh cho biết thêm: “Nhận ra nông dân sẽ đối mặt với nhiều rủi ro và dễ bị tổn thương trong kinh tế hội nhập, vào đầu năm 2005, tôi đã tập trung nghiên cứu và liên kết các nhà khoa học của Viện NCPT ĐBSCL và bạn bè ở Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, Viện Lúa ĐBSCL để hình thành Đề án “Liên kết vùng để phát triển nông nghiệp và nâng cao năng lực nông dân trong kinh tế hội nhập”. Đề án được trình lên lãnh đạo Đại học Cần Thơ và BCĐ TNB. Tuy vậy, rất khó để phê duyệt, vì đề án này là liên kết, liên ngành và đa lĩnh vực, lồng ghép nhau trong bối cảnh cơ chế quản lý và phát triển của nhà nước còn đơn ngành, chỉ có chủ thể triển khai từng việc một. Vì thế ý đồ về liên kết để sử dụng nguồn lực và tài nguyên nông thôn hợp lý nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực và thu nhập nông dân không thực hiện được”. 

Thêm sức từ MDEC

Chuyện sẽ khó thành nếu thiếu vai trò của BCĐ TNB – vốn nổi tiếng là đơn vị hết mực tôn trọng các nhà khoa học, thể hiện qua 5 lần tổ chức Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL (MDEC) từ 2007 đến 2011.  TS Nguyễn Văn Sánh nhấn mạnh: “Chính nhờ MDEC mà tôi và các đồng sự thuận lợi hơn trong việc tiếp thu, kế thừa những sáng kiến lớn của thế hệ đi trước. 

Trên cơ sở kiến thức khoa học đa ngành và kinh nghiệm của các nhà khoa học tâm huyết, ĐBSCL đã đề xuất các giải pháp liên quan đến liên kết phát triển như mô hình “Cty CP nông nghiệp”, mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, tổ chức thực hiện GlobalGAP, VietGAP cho lúa, trái cây, cá da trơn, tôm ở những nơi địa phương có yêu cầu. Qua đó, đã bổ sung và cải tiến đề án liên kết vùng. Tôi còn nhớ vào ngày 2.4.2008, Văn phòng Trung ương Đảng, các bộ, ngành cùng Tỉnh ủy An Giang tổ chức lấy ý kiến địa phương chuẩn bị cho Nghị quyết 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tôi được Nguyên Thường trực Trung ương Đảng là ông Trương Tấn Sang mời họp. Tôi đã báo cáo các khó khăn của “tam nông” và giải pháp liên kết vùng cùng sự tham gia của "4 nhà” để phát triển vùng ĐBSCL”.

Sự khởi đầu mới

Đã 4 tháng trôi qua, liên quan đến việc phê duyệt Đề án “Xây dựng chính sách đặc thù để thu hút đầu tư tại ĐBSCL” vẫn chưa có động thái nào mới. Thủ tướng đã thống nhất chủ trương, còn triển khai 5 dự án sớm hay muộn là việc thuộc trách nhiệm của Bộ NNPTNT. TS Nguyễn Văn Sánh bộc bạch: “Triển khai 5 dự án sớm ngày nào là chủ trương “tam nông” ở vùng ĐBSCL được hiện thực hóa sớm thêm ngày ấy”. 

Một “lá chắn” giúp SXNN VN khỏi bị tổn thương trong tiến trình hội nhập,  đáp ứng được thách thức cạnh tranh trên qui mô toàn cầu - chỉ bao nhiêu đó thôi đã đủ gọi “thần kỳ” – đang là kỳ vọng của các nhà khoa học ĐBSCL, là ý chí chính trị của BCĐ TNB. Sẽ có sự khởi đầu mới vào đầu thập niên 2010-2020?
Lê Vũ Tuấn

29 tháng 4, 2012

Khai mạc Triển lãm - Hội chợ thành tựu 10 năm xây dựng và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long

27/04/2012 08:35:18
(HG) - Triển lãm - Hội trợ 10 năm thành tựu xây dựng và phát triển ĐBSCL gắn với kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước chính thức khai mạc lúc 7 giờ hôm nay tại Khu đô thị Nam Sông Cần Thơ, phường Phú Thứ, quận Cái Răng.

Sự kiện quan trọng này sẽ diễn ra từ ngày 27 đến 30-4, nhằm khẳng định thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh, vị trí chiến lược về kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng của vùng; tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư, chăm lo an sinh xã hội... để ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững. Đây là cuộc triển lãm - hội chợ có quy mô lớn nhất vùng từ trước đến nay với khoảng 1.200 gian hàng trưng bày và có sự tham gia của nhiều Bộ, ngành Trung ương, 13 tỉnh, thành trong vùng, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên, các viện, trường, tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp. Đặc biệt, Ngoại giao đoàn với đại diện 33 nước và tổ chức quốc tế như IMF, UNDP cũng tham dự. 

Trong khuôn khổ TL-HC sẽ diễn ra nhiều hoạt động phong phú, thiết thực và đặc sắc. Các hoạt động diễu binh, diễu hành diễn ra hoành tráng. Các chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc sắc, mang đậm nét văn hóa Tây Nam bộ như chương trình “Tây Nam bộ - thành tựu, liên kết và phát triển”, “Tôn vinh văn hóa, nghệ thuật các dân tộc ở ĐBSCL”… được truyền hình trực tiếp trên sóng VTV1, VTV2, VTV4, VTV9, VTV Cần Thơ và các đài phát thanh - truyền hình địa phương.

Điểm nhấn của sự kiện là buổi khai mạc, bế mạc và 2 hội nghị, 3 hội thảo, khoa học, gồm: Hội nghị Xúc tiến đầu tư phát triển vùng ĐBSCL, Hội nghị Ngoại giao đoàn với địa phương; 3 hội thảo khoa học là: Cơ giới hóa nông nghiệp phục vụ sản xuất lúa gạo hàng hóa, cánh đồng mẫu lớn; Phát triển thị trường tín dụng và dịch vụ ngân hàng; Hội thảo tham vấn định hướng phát triển ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các tỉnh, thành trong vùng kêu gọi đầu tư vào 178 dự án trọng điểm vùng ĐBSCL với tổng vốn hơn 171.000 tỉ đồng và 1,5 tỉ USD; có 19 dự án đầu tư sẽ được trao giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn khoảng 15.000 tỉ đồng. Tại TL-HC lần này cũng công bố Quỹ an sinh xã hội vùng ĐBSCL. Trong đó, năm 2011, đã huy động và đưa vào sử dụng 7.700 tỉ đồng; năm 2012 huy động thêm 7.000 tỉ đồng. Chỉ riêng hệ thống ngân hàng đóng góp 760 tỉ đồng, trong đó đã chuyển thực hiện 297 tỉ đồng. Dịp này, sẽ trao tiếp 463 tỉ đồng để thực hiện các hoạt động an sinh xã hội và trao 80 căn nhà tình thương cho các hộ nghèo (trị giá 30 triệu đồng/căn).

HỮU HIỆP

Trương Vĩnh Ký: Một trí thức buồn



Kỷ niệm lần giỗ thứ 110 (01/09/2008) của Trương Vĩnh Ký

Vietsciences- Hồng Lê Thọ  (BLOG NGƯỜI LÓT GẠCH)
        01/09/2008

MỘT TRÍ THỨC BUỒN
Trước khi qua đời, Pétrus Ký đã để lại những dòng thơ tự sự đầy cảm khái:
“Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.
Học thức gởi tên: con mọt sách,
Công danh rốt cuộc cái quan tài.
Dạo hòn, lũ kiến mau chơn bước,
Bò xối, côn trùng chắt lưỡi hoài.
Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.”

Rằng tuy ăn ở cùng Tần
Bâng khuâng nhớ Hán muôn phần xót xa

(Trương Vĩnh Ký)
Sĩ phu yêu nước hay “nàng Kiều” tây học ?
Vốn kiến thức uyên bác qua trên 118 tác phẩm để lại, tuy không phải là kiệt tác hay công trình học thuật độc đáo mà chủ yếu là những khảo sát, đúc kết lịch sử một cách có hệ thống mặc dù về hành văn còn pha trộn biền ngẫu, nhưng về nhiều phương diện, các trước tác của Trương Vĩnh Ký là đóng góp không thể xem thường: lần đầu tiên một tác phẩm sử học về Việt Nam viết bằng tiếng Pháp (Petit Cours d’histoire d’Anam xuất bản 1875/1877) và hai công trình sử học khác viết bằng tiếng Việt là Truyện đất Nam Kỳ lịch sử đàng trong (1864), Đại nam Việt quốc triều sử ký (1879) đều dựa theo những nguồn thư tịch và truyền thuyết cổ, được biên soạn theo phương pháp mới vào thời đó; hàng loạt tác phầm cổ điển của dân tộc bằng chữ Nôm được phiên âm sang quốc ngữ như Truyện Kiều (1875), Lục Vân Tiên, Phan Trần, Lục súc tranh công…nhiều bộ sách dịch Tứ thư, Ngũ Kinh của Trung Quốc…vào buổi bình minh của nền văn chương quốc ngữ ở nửa thế kỷ thứ 19, xứng đáng nâng tác giả lên tầm cỡ “một nhà bác học, một thủy tổ nghề làm báo, một nhà ngôn ngữ học” như nhiều người ca ngợi(1) . Được tiếp xúc với văn hóa phương tây, thông qua việc học trường đào tạo Thầy tu của các Giáo sĩ thừa sai công giáo, phương pháp tư duy của Trương Vĩnh Ký đã chịu ảnh hưởng rất lớn tư tưởng Khai sáng của Âu tây, khác với tư tưởng Khổng Mạnh của hầu hết nhân sĩ nước Việt thời bấy giờ. Chính nguồn gốc xuất thân đặc biệt của ông và cái vốn tây học phong phú nầy đã quyết định thân phận của một người trí thức thuộc địa, day dứt Trương Vĩnh Ký cho đến ngày tàn hơi mà chúng ta đã thấy ở lời thơ trên. Người mà sự nghiệp chính trị (nếu có) và sự nghiệp văn học luôn đứng giữa làn ranh, đôi bờ của những phê phán, khen-chê gay gắt, không tiếc lời từ trăm năm nay kể từ khi Ông qua đời (1/9/1898) đến ngày nay, khi mà tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ hoàn chỉnh, bác học(2) trong đó có phần đóng góp không nhỏ của những trí thức “tây học” như Huỳnh Tịnh Của, Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký …vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
Lê Đình Bảng đã ghi lại những ý kiến khá ấn tượng về Trương Vĩnh Ký, rằng “bên cạnh những hào quang mà người đọc đã tâm phục, đã tôn vinh ông là nhà bác học, nhà văn hóa, nhà ngôn ngữ, nhà Đông phương học, nhà chính trị, nhà ngoại giao…thì trong chừng mực nào đó, Trương Vĩnh Ký lại là “kẻ đưa chân đạp mũi nhọn”, là “cái bia cho người ta vấp phạm” chẳng những bị xóa sổ như người-không-có-công-lênh-gì, mà Trương Vĩnh Ký còn bị lên án, kết tội là một “tên cơ hội, hoạt đầu chính trị, đứa con hoang Nam kỳ gốc La mã; tên học trò ngoan đạo, tay sai, đặc vụ tình báo phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa thực dân…”(3) với cái lẽ đơn giản là khi Pháp chiếm Gia Định(1859), “tại sao Trương Vĩnh Ký, một thức giả, một sĩ phu lại khoanh tay đóng vai bàng quan mà không tham gia cứu quốc, mà lại còn trùm chăn, tích cực hoạt động giúp quân địch ? Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có khác gì tình báo, chỉ điểm, bày mưu lập kế để giặc chóng đạt mưu đồ xâm lược”(4) . Những ghi chép của Ông trong chuyến đi thăm ở Bắc Kỳ(1876) có phải là bản báo cáo do thám “tiền trạm” cho quân Pháp tiến quân chiếm đóng sau này như từng bị kết tội ?
Nhận xét của Trương Vĩnh Ký về vai trò của chữ quốc ngữ, rằng việc la-tinh hóa tiếng Việt sẽ giúp cho “xứ sở nghèo khốn không được thừa kế nầy…bước vào cộng đồng các dân tộc và hệ quả to lớn mà phương tây đem lại cho thế giới”(5) có khác gì những phát biểu cùng thời và tương tự của Fukuzawa Yukichi trong “Thoát á luận” thời Minh Trị duy tân mở đường phát triển của nước Nhật vào hậu bán thế kỷ thứ 19, chỉ tiếc rằng, khác với Fukuzawa, Ông đã không gặp được một đấng minh quân và hàng quan lại thức thời của triều đình(6), biết lắng nghe gợi ý tâm huyết của quần thần như Minh Trị Thiên hoàng để phò tá … Còn nhiều lời lẽ phê phán gay gắt của nhiều nhà “sử học” viết về Trương Vĩnh Ký như Tô Minh Trung, Trần Huy Liệu(7)… vào những năm 1960 của thế kỷ trước, hay Nguyễn Đắc Xuân, Võ Xuân Đàn… sau nầy theo quan điểm mác-xít máy móc, có chung một lối nhận định, rằng ông là “con đẻ về mặt ý thức của bọn gián điệp đội lốt thầy tu…của chủ nghĩa thực dân xâm lược Pháp…” tuy nhiên theo chúng tôi, đây là một sự áp đặt phi biện chứng, thể hiện một quan điểm hẹp hòi trong phê phán, không đặt đối tượng vào bối cảnh lịch sử và tình huống mà họ đã sống và gặp phải, nghiên cứu theo lối một chiều, quên rằng Chủ nghĩa Mác-Lê Nin được du nhập vào nước ta sau đó gần hơn ba thập niên, kể từ khi đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Nếu áp dụng phương pháp luận nầy, ai không chống Pháp, ở trong “thành” làm việc cho Pháp đều là tay sai của chúng cả sao? Nói khác đi lối chụp mũ “cá mè một lứa” như vậy sẽ không giúp ích gì cho việc tìm hiểu sự phong phú và đa dạng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, nhất là công cuộc đấu tranh chống Pháp và kháng Mỹ kéo dài hơn một thế kỷ trong đó có những phong trào đấu tranh dưới nhiều dạng thức của nhân dân thành thị sau nầy, một tư duy bao biện máy móc “ai không theo ta là địch” theo kiểu “người làm việc cho Tây, Mỹ đều là kẻ phản động” của chủ nghĩa lý lịch “cách mạng” hẹp hòi. Điều giúp chúng ta phủ nhận sự đánh giá đó, lý giải được tại sao khi toàn dân đứng lên vác tầm vông vạc nhọn chống xâm lăng vào năm 1945, tất cả tượng đồng tưởng niệm thực dân trong thành phố bị triệt hạ thì riêng tên trường học và tượng đài của Trương Vĩnh Ký vẫn còn nguyên vẹn(8), phản ánh tình cảm của nhân dân kính trọng Ông đến thế nào.

Lớn mạnh sau 10 năm

BÁO ĐẦU TƯ, Thứ bảy, 28/04/2012

Trần Hữu Hiệp(*)

(baodautu.vn) Trong 10 năm qua, kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) liên tục tăng trưởng 2 con số, gấp hơn 1,5 lần, có năm gấp hơn 2 lần mức tăng trưởng bình quân của cả nước.
Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đã có bước phát triển quan trọng, làm thay đổi hẳn diện mạo của vùng và tạo ra môi trường đầu tư ngày càng thuận lợi, hấp dẫn hơn.

Những thành tựu vượt bậc về nhiều mặt
Ngoài thế mạnh về nông nghiệp, thủy sản, gần đây, vùng ĐBSCL còn được quan tâm đầu tư và thể hiện ngày càng rõ  vị thế của một trong những trung tâm năng lượng lớn của cả nước. Trung tâm Khí - Điện - Đạm Cà Mau là công trình trọng điểm quốc gia, 2 nhà máy khí điện Cà Mau I và II, có công suất 1.500 MW, cung cấp trên 9 tỷ KWh điện/năm và Nhà máy Đạm Cà Mau vừa mới khánh thành và đưa vào sử dụng đầu năm nay, công suất 800.000 tấn urê/năm, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu phân urê của cả nước.
Ngoài ra, đường ống dẫn khí Lô B-Ô Môn, Trung tâm Điện lực Cần Thơ, các nhà máy điện Duyên Hải, Trà Vinh, Long Phú - Sóc Trăng đang được triển khai xây dựng; các nhà máy điện theo sơ đồ điện lực 6, sơ đồ 7, như Trung tâm Điện lực Sông Hậu, các nhà máy điện ở Kiên Lương (Kiên Giang), Long An… sẽ tiếp tục được đầu tư. Đây đều là những công trình lớn, trọng điểm quốc gia, đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế vùng.
Song vẫn còn một số “chỗ trũng”
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, rất cơ bản, nhưng cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những mặt hạn chế, yếu kém, “chỗ trũng” của vùng, để từ đó cần phải nỗ lực vượt qua trong thời gian tới.
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông dù có những cải thiện đáng ghi nhận, song vẫn là điểm yếu kém. Ngoài trục dọc xương sống Quốc lộ 1A được đầu tư nâng cấp, một số tuyến ngang cần được tiếp tục đầu tư, trong đó quan trọng nhất là 3 trục giao thông đường bộ, gồm tuyến hành lang ven biển Tây từ Xà Xía (Kiên Giang) về Cà Mau; tuyến hành lang ven biển Đông về phía Nam, đặc biệt là tuyến xuyên Đồng Tháp Mười từ TP.HCM về Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang cùng các cầu lớn vượt sông lớn, như cầu Cổ Chiên, Vàm Cống... Các tuyến đường thủy, hàng hải huyết mạch như kênh Quan Chánh Bố và luồng tàu biển lớn vào sông Hậu, kênh Chợ Gạo; các công trình thủy lợi cấp vùng, ứng phó biến đổi khí hậu đều cần được tập trung đầu tư nâng cấp.
Thứ hai, dù có lực lượng lao động đông, nhưng chất lượng  chưa cao. Lao động có tay nghề lẫn chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực còn ít. Do đó, cần có một số cơ chế, chính sách đặc thù dành cho vùng, như cơ chế vốn; huy động nguồn lực xã hội bằng cách tạo điều kiện, khuyến khích đào tạo nhân lực theo nhu cầu sử dụng để ĐBSCL đuổi kịp các vùng, miền khác.
Thứ ba, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, nhưng phát triển chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào khai thác các tiềm năng sẵn có là chính, thiếu bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng. Chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và doanh nghiệp trong vùng còn thấp.
Liên kết vùng - xu thế mới để lấp “chỗ trũng”
Gần đây, vấn đề liên kết vùng được đặc biệt quan tâm và từng bước được triển khai thực hiện, bước đầu đạt hiệu quả tốt. Trước tiên, liên kết vùng để phát huy thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; liên kết vùng trong quy hoạch, thực hiện quy hoạch, chia sẻ thông tin, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, đào tạo nguồn nhân lực...
Nhiệm vụ đầu tư phát triển giao thông ĐBSCL trong những năm tới còn khá nặng nề, song đây vừa là thách thức, cũng là cơ hội cho đầu tư và phát triển. Vùng ĐBSCL cần tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ mang tính đột phá này.
Mục tiêu chung là tiếp tục xây dựng ĐBSCL trở thành vùng kinh tế năng động; vùng sản xuất lương thực, thủy, hải sản trọng điểm, một trong những trung tâm năng lượng của cả nước. Vùng ĐBSCL phấn đấu trong giai đoạn 2011 - 2020, GDP tăng bình quân 12%/năm, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch một cách hài hoà, cân đối; thu nhập bình quân đầu người đạt 70 triệu đồng/năm.
Một số chủ trương lớn được đề ra, đó là:  
Đầu tư xây dựng và phát triển ĐBSCL có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, có bước tiến vượt bậc về kinh tế, văn hóa và xã hội, ổn định và vững mạnh về chính trị, vững chắc về an ninh quốc phòng. Trong quá trình đó, vai trò và vị trí của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước - lực lượng chủ công trong mặt trận kinh tế là rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định.
Yêu cầu đặt ra là phải tăng cường hơn nữa liên kết vùng dựa trên đảm bảo hài hòa lợi ích của các thành viên liên kết. Liên kết vùng ngày càng thể hiện là một xu thế tất yếu, không chỉ là cách thức lấp “chỗ trũng” của vùng, mà còn là yêu cầu để vùng ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững

Đất Chín Rồng: Tưng bừng khai hội rồng bay

HỮU HIỆP
Những ngày cuối tháng 4 lịch sử, tại thành phố Cần Thơ - trung tâm vùng, người dân nhiều vùng miền của cả nước, kể cả bạn bè thế giới, với 33 đoàn ngoại giao của các nước và tổ chức quốc tế tụ hội về đây tham dự “ngày hội rồng bay”.

Ngày hội Rồng bay. Ảnh: hiepcantho
 Điểm nút là những sự kiện quan trọng diễn ra từ ngày 27 đến hết đêm 30-4-2012 trong khuôn khổ Triển lãm - Hội chợ thành tựu 10 năm xây dựng và phát triển vùng ĐBSCL gắn với lễ kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Mở đầu là lễ khai mạc ở Khu Nam Cần Thơ, bên bờ sông Hậu, ước hơn 5.000 người tham dự, diễu binh, diễu hành hoành tráng, lớn nhất từ trước đến nay. Tuy vẫn còn đó những khó khăn, trăn trở của vùng đất giàu tiềm năng, nhưng phát triển chưa tương xứng với chính mình. Nhưng, người đồng bằng tự hào trước thành tựu 10 năm xây dựng và phát triển đất Chín Rồng. Nhiều công trình thế kỷ được hoàn thành, nhiều kỷ lục đã được xác lập như một minh chứng cho thế rồng bay của vùng đất này.
Hơn 1.200 gian hàng triển lãm thành tựu, quy mô lớn nhất từ trước đến nay của một sự kiện cấp vùng dường như chưa đủ để minh họa cho thành tựu 10 năm. Sản lượng lúa của vùng đã về đích cũng trước 10 năm, đạt 21,6 triệu tấn năm 2010 (so mục tiêu đến năm 2020 đạt 21 triệu tấn). Năm 2011 nâng lên 23 triệu tấn lúa, đạt kỷ lục xuất khẩu hơn 7,1 triệu tấn gạo. Nhiều công trình tiêu biểu cũng minh chứng cho thành tựu đó như: hoàn thành Tổ hợp khí - điện - đạm Cà Mau, tổng vốn đầu tư giai đoạn I: 17.000 tỉ đồng, gồm 3 công trình chính: Đường ống dẫn khí dài 332km, công suất 1,25 tỉ m3 khí/năm; Nhà máy điện Cà Mau I & II có tổng 1.500 MW; Nhà máy phân đạm 800.000 tấn/năm, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu phân urê của cả nước. Cầu Đầm Cùng, chiếc cầu cuối cùng nối thông tuyến Quốc lộ 1A từ Hữu Nghị quan đến mũi Cà Mau được hoàn thành...
Trả lời báo chí về mục đích, ý nghĩa của triển lãm - hội chợ (TL-HC), ông Nguyễn Phong Quang, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, Trưởng ban Chỉ đạo TL-HC, cho biết: Sự kiện này làm không phải để “kể công” hay vui chơi, mà cái chính là để huy động các nguồn lực đầu tư phát triển, chăm lo an sinh xã hội. Điểm nhấn của sự kiện là 2 hội nghị: Xúc tiến đầu tư phát triển vùng ĐBSCL và Hội nghị Ngoại giao đoàn với địa phương có đại diện 33 nước và tổ chức quốc tế; 3 hội thảo khoa học: Cơ giới hóa nông nghiệp phục vụ sản xuất lúa gạo hàng hóa, cánh đồng mẫu lớn; Phát triển thị trường tín dụng và dịch vụ ngân hàng; Hội thảo tham vấn định hướng phát triển ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các tỉnh, thành đã kêu gọi đầu tư vào 178 dự án trọng điểm của vùng với tổng vốn kêu gọi hơn 171.000 tỉ đồng và 1,5 tỉ USD. Tại TL-HC lần này cũng công bố Quỹ an sinh xã hội với con số huy động kỷ lục trong năm 2012: hơn 7.000 tỉ đồng. Cũng lần đầu tiên, toàn hệ thống ngân hàng tập trung chăm lo an sinh xã hội cho một vùng với tổng số tiền đóng góp kỷ lục (hơn 760 tỉ đồng), trong đó có hơn 436 tỉ đồng đã được giải ngân. Trong điều kiện khó khăn chung, nhưng nhiều doanh nghiệp, đơn vị đã tích cực đóng góp cho vùng ĐBSCL. Đất Chín Rồng đang tưng bừng vào hội rồng bay, nhưng quan trọng hơn trong thế bay lên của Cửu Long luôn có nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế ủng hộ trong thế liên kết phát triển bền vững.

28 tháng 4, 2012

CÁC THAM LUẬN HỘI THẢO “CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ SẢN XUẤT LÚA GẠO HÀNG HÓA - MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN”


Đào tạo nhân lực ĐBSCL: Cuộc rượt đuổi cần tiếp sức!

Hữu Hiệp
Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng sau 5 năm đột phá về GD-ĐT và dạy nghề, nhưng nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực của vùng ĐBSCL vẫn thấp so với các vùng khác.
Vùng lúa gạo miền Tây vẫn là “chỗ trũng”
Theo Báo cáo tổng kết 10 năm (2001-2010) của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, đầu tư ngân sách cho GD-ĐT và dạy nghề cho vùng còn thấp, mới chiếm 18% cuối năm 2010 so chỉ tiêu 20%. Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia mới đạt 11%; học sinh trung học phổ thông đi học đúng độ tuổi đạt 43%; học sinh bỏ học năm học 2009-2010 chiếm 0,1%, cao hơn gần gấp 2 lần so bình quân chung cả nước là 0,56%. Mới đạt tỷ lệ 85 sinh viên/1 vạn dân, mới có 23,5% lao động qua đào tạo. Ở bậc học mầm non cũng còn nhiều điều đáng quan tâm. Toàn vùng còn 215 xã chưa có trường độc lập, 769 phòng học tạm, 3.316 phòng học nhờ, mượn, chiếm tỉ lệ 27,5%, cao hơn nhiều so bình quân cả nước (18,8%). Đặc biệt, nhiều chỉ số giáo dục mầm non đạt rất thấp: trường chuẩn quốc gia mới đạt 10%; trẻ trong độ tuổi đến trường thấp hơn cả Tây Nguyên, Tây Bắc. Tình trạng trường “4 không” (điện, nước, nhà vệ sinh, sân chơi) còn rất phổ biến. 

27 tháng 4, 2012

TỔNG QUAN VỀ TIỀM NĂNG, CƠ HỘI, ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đồng chí NGUYỄN PHONG QUANG
Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ
(Bài phát biểu tại Hội nghị xúc tiến đầu tư vùng ĐBSCL tại Cần Thơ ngày 27-4-2012)

Thưa quý đại biểu,
Hội nghị xúc tiến đầu tư vùng ĐBSCL do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, các Bộ, Ban, ngành Trung ương và địa phương tổ chức hôm nay sự kiện đầu tiên quan trọng trong chuỗi các hoạt động hội nghị, hội thảo của Triển lãm – Hội chợ lần này. Đây là hoạt động có ý nghĩa rất thiết thực, thu hút sự quan tâm của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, nhiều đơn vị, doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia. Sự có mặt đông đủ của quý vị ngày hôm nay là minh chứng cho điều đó.
Thông qua Hội nghị này, các địa phương giới thiệu, quảng bá về tiềm năng, cơ hội hợp tác đầu tư. Chúng ta có thể trao đổi thẳng thắn, đưa ra những nhận định khách quan, trung thực về tiềm năng, thế mạnh, phân tích những hạn chế cũng như chia sẻ kinh nghiệm để các tỉnh, doanh nghiệp trong và ngoài nước tăng cường hợp tác đầu tư và phát triển.
Trong khuôn khổ đó, tôi xin phát biểu mấy ý kiến về tiềm năng, cơ hội, định hướng thu hút đầu tư vào vùng ĐBSCL. Một số văn bản, quy định có liên quan về cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư có liên quan được gửi đến quý đại biểu tại hội nghị này. 

Hình ảnh trước ngày khai mạc Triển lãm - Hội chợ 10 năm thành tựu ĐBSCL

26 tháng 4, 2012

Trồng lúa IR 50404 và chuyện dự báo hay “bấm độn”?

Trần Hiệp Thủy
Chọn giống lúa trồng không phải là trò chơi may rủi
Mới đây, khi các doanh nghiệp đầu mối thu mua lúa gạo vừa báo cáo hoàn thành vượt 108% chỉ tiêu mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, về đích trước 4 tuần, thì lúc giá thị trường lúa gạo ĐBSCL tăng vọt. Điều trớ trêu là giống IR 50404 mới mấy tuần trước bị coi là thủ phạm gây ế hàng, khó tiêu thụ, nay lại được thương lái tìm mua. Cũng mấy tuần trước đó, người ta trách nông dân “nói hoài không nghe”, đua nhau trồng giống lúa cao sản, tuy là “vua” kháng sâu bệnh, nhưng ngặt nổi phẩm cấp thấp, dân “ngoại quốc ít chịu ăn”. Song, không trồng những giống lúa cấp thấp thì trồng gì? Trước những thông tin tù mù, anh nông dân miền Tây phải chọn lựa, thay vì nghe theo “dự báo”, thì đành “bấm độn”.

Sáng lên diện mạo đồng bằng

 Trước thềm Triển lãm - Hội chợ (TLHC) thành tựu 10 năm XD&PT ĐBSCL, ông Nguyễn Phong Quang, Phó Trưởng ban Thường trực BCĐ Tây Nam Bộ, Trưởng ban Chỉ đạo TLHC có cuộc trò chuyện với Báo Lao Động về những thành tựu, kể cả thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế; từ đó đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển vùng đất giàu tiềm năng này. Ông Quang (ảnh) chia sẻ:
Trong 10 năm qua, ĐBSCL đã có sự phát triển toàn diện, tạo ra sự chuyển biến tích cực trên nhiều mặt. Kinh tế vùng liên tục tăng trưởng 2 con số, hơn gấp rưỡi mức tăng trưởng bình quân cả nước. Kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, từ một xuất phát điểm thấp, đã có bước phát triển quan trọng, làm thay đổi hẳn diện mạo của vùng.

24 tháng 4, 2012

23 tháng 4, 2012

“NỢ ĐỌNG VĂN BẢN” & “NỢ XẤU”


Trần Hiệp Thủy
Nợ đọng XDCB là mối lo trong đầu tư công, “nợ đọng văn bản” cũng đang là mối lo của Nhà nước pháp quyền. Nhiều đạo luật được Quốc hội ban hành như Luật phá sản, Luật Trọng tài thương mại … trong tình trạng chờ Nghị định hướng dẫn. Đến lượt mình, Nghị định của Chính phủ lại phải “nhờ vả” Thông tư của các Bộ qui định chi tiết. Thậm chí, Luật Trung ương còn phải chờ chính quyền địa phương “cụ thể hóa”, thì mới đến được với người dân. Đường đi của nhiều đạo luật xem ra còn lắm nhiêu khê.
Với thái độ “quyết liệt”, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo bộ máy của mình (Công văn số 1463/TTg-PL) phải khẩn trương khắc phục “tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành luật”. Mặc dù hơn 90% văn bản Luật của Quốc hội là do Chính phủ dự thảo, trình ban hành, nhưng Chính phủ đang là “con nợ” lớn. Theo “chinhphu.vn”, đến cuối năm 2011, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn chưa ban hành 58 văn bản hướng dẫn thi hành đối với 22 luật, trong đó có 14 văn bản chậm khoảng 2 năm, có 15 Bộ, cơ quan ngang Bộ được “ghi trong sổ nợ” chưa xong nghĩa vụ.
Trong phiên họp Chuyên đề về xây dựng pháp luật cuối tháng 3 vừa qua (Nghị quyết 08/NQ- CP), Chính phủ đã thống nhất nhận định: công tác xây dựng pháp luật mặc dù đã được tập trung, thể hiện được tư duy mới, tính thống nhất, công khai, minh bạch; song, chưa đáp ứng kịp nhu cầu đặt ra. Việc đề xuất xây dựng chương trình luật, pháp lệnh toàn khóa hàng năm chưa được cân nhắc kỹ về cơ sở khoa học và tính thực tiễn nên phải điều chỉnh nhiều lần.
Thậm chí, có những văn bản qui phạm pháp luật của một số Bộ, ngành, địa phương được ban hành bị phản ứng dữ dội của người dân. Cách đây không lâu, Bộ Y tế ban hành Quy định số 83 về tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông, “buộc” người “thấp bé, nhẹ cân, ngực lép” (không đủ 40 kg, cao 1,45m, vòng ngực dưới 72cm) không được lái xe gắn máy trên 50cc. Khi  bị phản ứng gay gắt, phải “xin” không thực hiện văn bản này. Gần đây, dư luận không đồng tình với Bộ GTVT về các dự thảo trình thu phí: hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, xe vào các thành phố lớn, mức thu phí bảo trì đường bộ … Bộ này đã “điều chỉnh” tờ trình bằng cách đề xuất giảm mức thu và giãn thu trong năm nay.
Trong khi Bộ GTVT “chăm bẩm” vào nguồn thu lệ phí giao thông, thì một thông tin gần đây gây chú dư luận. Nhiều đại gia như Google, Facebook kinh doanh dịch vụ xuyên biên giới, mặc dù mỗi năm thu từ thị trường Việt Nam nhiều triệu USD qua dịch vụ quảng cáo trực tuyến, nhưng không phải chịu bất cứ nghĩa vụ thế nào. “Mảnh đất này” chắc chắn không chỉ là sân chơi riêng của 2 đại gia đó. Nên vấn đề đặt ra là cần có luật pháp rõ ràng, vừa thu thuế đúng luật, vừa tạo điều kiện cho các Công ty đa quốc gia hoạt động tốt để có nguồn thu tốt.
Xem ra, yêu cầu xây dựng pháp luật cũng cấp bách như điều hành kinh tế, mà điều cấp bách đầu tiên là giải quyết ngay tình trạng “nợ đọng văn bản”, trước khi nó thành “nợ xấu” để khơi thông “dòng chảy pháp luật” đến được với dân.   

Tăng cường liên kết vùng ĐBSCL

SGGP, thứ hai, 23/04/2012, 14:57 (GMT+7)
Văn phòng Chính phủ vừa có công văn truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh về tăng cường liên kết vùng ĐBSCL.
Theo đó, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ chủ trì, phối hợp với các địa phương trong vùng tiếp tục triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng tại Công văn số 740/VPCP-KTN, ngày 1-2-2010, về chủ trương liên kết vùng. Trong đó, xác định rõ nội dung cần liên kết, hợp tác đầu tư để gắn kết được sự phát triển của từng lĩnh vực, từng địa phương nhằm phát huy lợi thế, hiệu quả đầu tư của các chương trình, đề án đã được phê duyệt trên địa bàn.
Phó Thủ tướng giao Bộ KH-ĐT chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ và các ngành, địa phương liên quan xem xét, nghiên cứu cơ chế điều phối liên kết vùng ĐBSCL, trong đó xác định rõ những nội dung cần phải liên kết; trên cơ sở đó xác định danh mục các chương trình, dự án có tính chất liên vùng để kêu gọi đầu tư từ các thành phần kinh tế, báo cáo Thủ tướng; Bộ NN-PTNT chủ trì, phối hợp với Ban chỉ đạo Tây Nam bộ và các bộ, ngành, địa phương liên quan xem xét, nghiên cứu các mô hình liên kết phát triển trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủy hải sản mang tính chất vùng, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, nhằm tăng tính liên kết, sức cạnh tranh, nâng cao giá trị sản phẩm trong các khâu sản xuất và phân phối tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
H. HIỆP

Chùa “Cử nhân” ở ĐBSCL

(Dân trí) - Chùa Pitu Khôsa Răngsây không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo cho bà con Phật tử đồng bào Khmer mà hơn 16 năm qua nhà chùa còn là nơi cưu mang hàng ngàn tăng sinh, sinh viên Khmer đang theo học tại các trường ĐH trên địa bàn TP Cần Thơ.
Chùa Pitu Khôsa Răngsây (chùa Viễn Quang), tại số 27/18 đường Mạc Đỉnh Chi, phường An Cư, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Từ năm 1996 đến nay, mỗi năm chùa Pitu Khôsa Răngsây tiếp sức cho 45 tăng sinh, sinh viên (SV) là con em dân tộc Khmer ở các tỉnh ĐBSCL có điều kiện ăn, ở học hành.
 
Ông Lý Hùng, Ủy viên Hội đồng trị sự Trung ương giáo Hội phật giáo Việt Nam, Phó thư ký, kiêm Chánh văn phòng Ban trị sự phật giáo TP Cần Thơ. Phó Hội trưởng thường trực Hội đoàn kết sư sải yêu nước TP Cần Thơ, trụ trì chùa Pitu Khôsa Răngsây cho biết thời gian tới ngoài việc tiếp tục giúp đỡ các tăng sinh, SV có điều kiện học hành, nhà chùa xin phép thành lập Quỹ Khuyến học để giúp đỡ kịp thời cho các sinh viên Khmer nghèo, hiếu học cũng như khen thưởng, khích lệ cho các SV học giỏi.
 
Được biết, nhà chùa vừa thực hiện lễ Kiết giới Sima (tức khánh thành ngôi chánh điện - PV). Qua 4 năm xây dựng, ngôi chùa cũng đã hoàn thành với tổng vốn đầu tư 12 tỷ đồng, toàn bộ số tiền này do bà con phật tử trong và ngoài nước ủng hộ.
 
Ngôi chánh điện được xây dựng một trệt ba lầu với chiều cao là 50m, tổng diện tích 800m2. Kết cấu xây dựng vật liệu bằng bêtông cốt thép tường gạch, chót tháp đổ bêtông mái lợp ngói. Kiến trúc hoa văn trang trí: Rồng Ăngkok cách điệu uốn lượn ở các bao lam mặt trước chánh điện, đầu rồng Ăng kok, tiên nữ Keynor - chim thần Krud, phù diêu thần chằn Hanuman, nữ thần Teppanom…

Do mỗi năm chùa Pitu Khôsa Răngsây cưu mang 45 tăng sinh, sinh viên dân tộc Khmer nên được gọi là chùa "Cử nhân".
 Ngô Nguyễn

ĐBSCL: Đồng tâm, hợp lực để phát triển bền vững


SGGP, thứ hai, 23/04/2012, 04:07 (GMT+7)
TRẦN MINH TRƯỜNG
Ngày 22-4, tại TP Cần Thơ, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ phối hợp với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và Đài Truyền hình VTV Cần Thơ tổ chức tọa đàm trực tuyến “Phát triển nhanh và bền vững ĐBSCL”. Tham dự buổi tọa đàm có Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Bùi Ngọc Sương, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận, Thứ trưởng Bộ GTVT Ngô Thịnh Đức, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Vương Bình Thạnh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Trần Thành Lập.
Đầu tư lớn, tăng trưởng nhanh
Theo Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam bộ  Bùi Ngọc Sương, trong 10 năm qua, có thể nói thành tựu hạ tầng là quan trọng nhất. Nguồn vốn đầu tư đã tập trung cho 3 khâu đột phá là giao thông, thủy lợi, giáo dục - đào tạo và y tế, an sinh xã hội. Từ đó, tăng trưởng của vùng gần 12% mỗi năm trong 10 năm qua, quy mô GDP gấp 3,5 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng 2,5 lần; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp và tăng dần khu vực 2 và 3. Đó là kết quả của sự nỗ lực rất lớn của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong vùng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đi vào cuộc sống, sự tập trung chỉ đạo của các bộ ngành Trung ương.
Trong đó, hạ tầng giao thông có bước phát triển, gắn kết giao thông liên vùng. Thứ trưởng Bộ GTVT Ngô Thịnh Đức cho biết, toàn vùng đã xây dựng mới trên 10 tuyến quốc lộ, tổng chiều dài hơn 2.500km, gần 70 tuyến tỉnh lộ, mở mới 9.117km, nâng cấp 23.218km đường các loại, xây dựng 11.453 cầu, kết nối với hệ thống quốc lộ; đồng thời, hệ thống thủy lợi, cụm, tuyến dân cư, nhà ở vùng ngập sâu và xây dựng phát triển đô thị được quan tâm đầu tư.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát, khẳng định: Ngành nông nghiệp đã huy động trên 4.600 tỷ đồng xây dựng các công trình kiểm soát lũ, hoàn thành 35 công trình thủy lợi vừa và lớn, trong đó có 12 công trình phục vụ trên 2.000 ha đất nông nghiệp, 20 công trình kiểm soát lũ ở vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.
Theo Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận, trong 10 năm qua, chỉ riêng chương trình kiên cố hóa trường lớp giai đoạn 2008-2010, Chính phủ đã đầu tư 2.600 tỷ đồng. Mạng lưới trường lớp có bước tăng trưởng nhanh. Giáo dục mầm non tăng 685 trường (73%), giáo dục tiểu học tăng 179 trường (5,6%), trung học cơ sở tăng 230 trường (18,9%) và trung học phổ thông tăng 68 trường (18,9%). Toàn vùng hiện có 12 trường đại học với 1 phân hiệu Đại học Nha Trang tại Kiên Giang và 27 trường cao đẳng. Về cơ bản, các tỉnh trong vùng đều có cơ sở đào tạo cao đẳng và một số nơi có cơ sở đại học. Quy mô sinh viên chính quy hiện trên 118.000 SV, tăng 1,6 lần so với 2002. Tổng số sinh viên là người của các địa phương ĐBSCL đang học trên cả nước năm 2010 là 57.200 SV, tăng 2,7 lần so với 2002.
             Rủi ro cao, thiếu bền vững
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, các tỉnh, thành trong vùng vẫn bộc lộ nhiều tồn tại và yếu kém cần sớm khắc phục. Tình hình kinh tế của vùng ĐBSCL chưa phát triển bền vững; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, yếu tố rủi ro còn cao, chưa tương xứng tiềm năng của vùng, một số nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết 21 chưa đạt.
Là thành phố trung tâm vùng, nhưng thời gian qua, Cần Thơ vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng và lợi thế. Nhìn nhận vấn đề này, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Nguyễn Thanh Sơn cho biết: Đánh giá khách quan, TP Cần Thơ phát triển khá nhanh và toàn diện. Tuy nhiên, sự phát triển của TP chưa đáp ứng được kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân khu vực về vai trò của một trung tâm có tác động lan tỏa tới toàn vùng. Vấn đề này đã được Bộ Chính trị đánh giá khi tổng kết Nghị quyết 45 về phát triển Cần Thơ. Có nguyên nhân từ kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, từ việc TP có điểm xuất phát thấp, hạ tầng yếu kém. Đồng thời, việc đầu tư hỗ trợ của Trung ương cho TP vẫn còn hạn chế và cần sự ủng hộ nhiều hơn từ các bộ, ngành. Về chủ quan, thời gian qua, Cần Thơ chưa khai thác được hết các tiềm năng, thế mạnh, chưa đề ra chiến lược phát triển thực sự phù hợp. Trong khi đó, theo Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Vương Bình Thạnh, bức xúc gần đây của ĐBSCL là vấn đề tiêu thụ sản phẩm. Giải quyết vấn đề này đã có Quyết định 80 của Thủ tướng nhưng triển khai còn chậm và lúng túng.
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các tỉnh, thành không thể nào đi riêng lẻ mà phải có liên kết vùng. ĐBSCL cần có tiếng nói chung, tập trung, có một cơ chế chính sách để tạo liên kết vùng, thúc đẩy phát triển. Chủ tịch Vương Bình Thạnh tha thiết: “Trong xu thế giảm dần tỷ trọng đầu tư công, chúng tôi đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để vùng có thể huy động nguồn lực phục vụ phát triển, bằng nhiều hình thức để tăng cường sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách như ODA, hợp tác công - tư PPP để có thể tạo đột phá trong phát triển”. Về vấn đề này, cần phải có một cơ quan điều phối cấp vùng.
Tuy nhiên, theo ông Bùi Ngọc Sương, lâu nay, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ chỉ thực hiện một phần vai trò điều phối chung. Để có “tư cách pháp nhân”, cần xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng của từng cơ quan và nếu được giao, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ sẵn sàng nhận trách nhiệm thực hiện vai trò điều phối chung cho toàn vùng.
Liên kết toàn vùng
Trong khu vực, không phải tỉnh nào cũng giống tỉnh nào. Như An Giang, lợi thế nhất là dịch vụ, chiếm tới 54% trong cơ cấu. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ cũng có thể đứng đầu khu vực. Ngoài ra, An Giang còn có kinh tế biên mậu, biên giới, giao thương. Kim ngạch của An Giang chiếm gần 70% tổng xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Campuchia. “An Giang đang hướng tới đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa qua biên giới Campuchia, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị, quy mô sản xuất. Tỉnh ủy đã ban hành nghị quyết về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp”- Chủ tịch Vương Bình Thạnh chia sẻ.
Tương tự, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Trần Thành Lập cho rằng với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và sự đồng thuận của địa phương, đồng lòng của người dân, 10 năm tới, ĐBSCL không chỉ lấp các “trũng” về giao thông, giáo dục, nông nghiệp, nông thôn, mà còn cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Với những kết quả đạt được cũng như tìm giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém, mục tiêu từ nay đến năm 2020 là xây dựng vùng ĐBSCL tiếp tục là vùng trọng điểm nông nghiệp, thủy sản, là một trong những trung tâm năng lượng cả nước. Trên cơ sở đó, tập trung xây dựng vùng ĐBSCL trở thành vùng phát triển năng động về kinh tế, các mặt văn hóa, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước, đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế đất nước.
Về nông nghiệp, nông thôn, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát cho biết: Chúng ta tiếp tục đầu tư vào thủy lợi, cùng với việc thực hiện chuyển giao khoa học kỹ thuật để phát huy cao hơn lợi thế so sánh của vùng, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, thủy sản, trái cây nhiệt đới. Nhưng phải làm căn cơ hơn, đồng bộ hơn, để đạt hiệu quả cao hơn, bền vững hơn, phát triển bền vững hơn. Đồng thời gắn phát triển sản xuất với xây dựng nông thôn mới, để nâng cao hơn nữa đời sống nhân dân trong vùng đồng thời chuẩn bị một bước ứng phó có hiệu quả với tác động của biến đổi khí hậu. Bộ trưởng Phạm Bộ GD-ĐT Vũ Luận cho rằng: Chúng ta tập trung mọi giải pháp thúc đẩy nguồn nhân lực cũng như công tác GD-ĐT lên một bước để nhanh chóng đưa ĐBSCL phát triển.
Về lĩnh vực giao thông, trong 10 năm tới, sau khi hoàn thành 3 trục dọc và một số trục ngang cùng 4 hành lang đường thủy, hoàn thành sân bay Phú Quốc, ĐBSCL sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Kết thúc buổi tọa đàm, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Bùi Ngọc Sương nêu những vấn đề cần chú ý về liên kết toàn vùng, trong đó nổi lên liên kết quy hoạch toàn vùng để phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành, quy hoạch lĩnh vực; liên kết đầu tư và liên kết phân bổ vốn đầu tư. Một mối liên kết “thời sự” cũng được các vị khách mời đề cập là liên kết toàn vùng để ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Trong 10 năm tới, theo tờ trình của Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ với Bộ Chính trị, để ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững, toàn vùng sẽ tập trung sức để tăng trưởng ở mức 2 con số; chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực, thu nhập bình quân đầu người đến 2020 là 50 triệu đồng/người/năm.
Khu công nghiệp khí điện đạm Cà Mau đi vào hoạt động đã làm bừng sáng vùng U Minh. Ảnh: Quang Minh
Cơ giới hóa đã tạo ra bước phát triển mới về nông nghiệp nông thôn ở vựa lúa ĐBSCL. Ảnh: Kim Hải
Trong tuần này, tại Cần Thơ sẽ diễn ra rất nhiều hoạt động chào mừng 10 năm xây dựng và phát triển vùng ĐBSCL. Đây cũng là dịp các địa phương trong vùng đánh giá lại kết quả sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ĐBSCL giai đoạn 2001-2010. Thành tựu 10 năm của vùng Tây Nam bộ có thể kể trước hết là việc phát huy nội lực, nhưng điểm quan trọng có thể nhìn thấy rõ nhất là Trung ương quan tâm đầu tư vào 3 lĩnh vực trọng điểm mang tính đột phá là: phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi và giáo dục - đào tạo. Thành tựu đạt được của Tây Nam bộ trong 10 năm qua là khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực quan trọng, tạo tiền đề cho cả vùng ĐBSCL tiếp tục phát triển trong giai đoạn tiếp theo.