30 tháng 10, 2013

Quy định 'trên mây' trong giáo dục

Hàng loạt quy định về giáo dục - đào tạo không những thiếu khả thi mà còn chỏi nhau khiến người thực hiện chỉ có cách duy nhất là phải làm ngược.

 Rất đông sinh viên nộp hồ sơ học TCCN tại Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM
Rất đông sinh viên nộp hồ sơ học TCCN tại Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Có những quy định hầu như không thể thực hiện được trong thực tế. Còn nếu buộc phải làm thì chỉ có cách lách hoặc chịu phạt.
Không thực tế
Thông tư 24 ban hành ngày 4.7.2013 bổ sung 7 đối tượng vào diện ưu tiên tuyển sinh ĐH, CĐ chính quy. Trong đó, có 3 đối tượng gây nhiều tranh cãi trong dư luận, gồm: bà mẹ Việt Nam anh hùng, người hoạt động cách mạng trước ngày 1.1.1945, người hoạt động cách mạng từ ngày 1.1.1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Mọi người không bàn cãi về tính đúng sai của quy định này mà chỉ buồn cười về tính khả thi. Bởi thực tế rất khó tìm ra người thuộc các đối tượng ưu tiên bổ sung này còn đi thi ĐH, CĐ. Trước phản ứng mạnh mẽ của dư luận, chỉ hơn một tuần sau đó, Bộ lại ban hành thông tư mới bãi bỏ 3 đối tượng được ưu tiên quy định tại thông tư trên mặc dù thời hạn Thông tư 24 có hiệu lực chưa bắt đầu (vào ngày 19.8.2013).
Thông tư 28 do Bộ GD-ĐT ban hành ngày 21.10.2009 về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông bắt hiệu trưởng phải dạy 2 tiết/tuần. Tuy nhiên, theo hiệu trưởng nhiều trường tại TP.HCM, không ai thực hiện được điều này. “Thường một hiệu trưởng làm việc cả ngày 12 giờ nhưng chưa chắc đã hết việc. Đã vậy, còn phải liên tục tham gia các cuộc họp địa phương nên khó lòng đứng lớp cố định. Do vậy, ban giám hiệu thường đối phó bằng những hoạt động ngoài giờ lên lớp”, lãnh đạo một trường tiểu học cho biết.
Quy định về diện tích đất/sinh viên là một trong những điều các trường ĐH rất khó thực hiện được trong bối cảnh hiện nay. Nhưng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sát nhập, chia, tách, giải thể trường ĐH đã bắt buộc: "Thực hiện mức bình quân tối thiểu diện tích 25 m2/sinh viên tính tại thời điểm trường có quy mô đào tạo cao nhất trong kế hoạch đào tạo giai đoạn 10 năm đầu sau khi thành lập".
Theo khảo sát của Bộ GD-ĐT, các trường đóng tại Hà Nội (trừ ĐH Quốc gia và các trường CĐ đóng tại Hà Tây cũ), bình quân số diện tích đất/sinh viên chỉ khoảng 13 m2. Trong đó có tới 40% trường chỉ đạt mức dưới 5 m2/sinh viên. Nhiều trường ĐH lớn như: Xây dựng, Ngoại thương, Kinh tế quốc dân, Bách khoa Hà Nội cũng nằm trong số đó. Tại TP.HCM, con số này chỉ 10 m2, trong đó có khoảng 30% số trường thấp dưới 5 m2.
Trong báo cáo về kế hoạch ngân sách năm 2013, Bộ GD-ĐT cũng thừa nhận nếu đúng theo quy định thì trong số 35 trường ĐH trực thuộc Bộ chỉ có 9 trường đạt tiêu chuẩn.
Cấm rồi lại cho
Luật Giáo dục ban hành năm 2005 chỉ cho phép các trường ĐH đào tạo từ bậc CĐ trở lên, thế nhưng Bộ lại cho phép các trường ĐH đào tạo TCCN thậm chí là trung cấp nghề. Việc cho phép các trường đào tạo như vậy khiến trường TCCN khó tuyển sinh và không có cơ hội phát triển. Điều này cũng dẫn đến thực trạng khó tin là trường ĐH, CĐ lại đào tạo chủ yếu bậc TCCN! Theo thống kê của Bộ, vào năm 2011 các trường ĐH, CĐ đã đào tạo tới 60% tổng chỉ tiêu TCCN, trong khi các trường TCCN chỉ có 40%.
Năm 2010, sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện kiểm tra, giám sát đã lên tiếng cảnh báo tình trạng này. Đến tháng 12.2011, Bộ đã ban hành Thông tư 57 về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, trong đó không cho phép các trường ĐH đào tạo TCCN. Tuy nhiên, thông tư vừa mới triển khai thực hiện thì đến tháng 6.2012, Bộ lại cho phép các trường ĐH được tiếp tục đào tạo TCCN giảm dần đến năm… 2017 để các trường có lộ trình thực hiện (!?). Trong khi đó, tháng 6 năm nay khi ban hành quyết định điều chỉnh mạng lưới các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2006 - 2020, Chính phủ đã đưa ra chủ trương: “Tiếp tục thành lập mới các trường TCCN và mở rộng các chương trình đào tạo TCCN trong các trường CĐ, CĐ cộng đồng...”. Với tình hình thực tế như đã nêu thì chủ trương này liệu có thực hiện được không khi các trường TCCN ngày càng khó tồn tại?
Chặt mà lỏng
Thông tư 57 về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh và Thông tư 08 về mở ngành đào tạo là 2 văn bản quan trọng mà Bộ cho là đã siết chặt quản lý để nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, cả hai thông tư này đều có những khoảng trống để các trường có thể gian lận khi thực hiện.
Trong Thông tư 57 ban hành tháng 11.2011, Bộ đưa ra tiêu chí để đảm bảo chất lượng là tỷ lệ sinh viên/giảng viên. Tuy nhiên, cách tính tiêu chí này lại quá lỏng. Chẳng hạn Bộ cho phép lấy tổng quy mô đào tạo hệ chính quy của cơ sở đào tạo chia cho tổng số giáo viên, giảng viên quy đổi để xác định tổng chỉ tiêu tuyển sinh. Như vậy, Bộ đã không kiểm soát số sinh viên/giảng viên theo từng ngành học, trong khi đây mới là tiêu chí để đảm bảo chất lượng. Ngoài ra, việc các trường được tự phân chia chỉ tiêu cho từng ngành dẫn đến tình trạng có những ngành số sinh viên/giảng viên rất cao, không thể đảm bảo chất lượng đào tạo như y - dược, tài chính - ngân hàng.
Quy định về mở ngành cũng có những bất cập dẫn đến việc có những ngành học mở quá dễ dãi. Ví dụ y - dược là ngành học đặc thù, quá trình đào tạo phải gắn với các cơ sở thực hành. Đồng thời ngành học này đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo cũng phải có kiến thức chuyên môn về ngành y. Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều trường đào tạo đa ngành, trường vừa mới thành lập không đủ điều kiện đào tạo y - dược cũng được mở ngành. Theo quy định của Bộ, việc thẩm định các điều kiện mở ngành được giao cho sở GD-ĐT, trong khi đơn vị này không có chuyên môn, không thể nắm được cơ sở vật chất thế nào thì đạt yêu cầu...
Ông Nguyễn Minh Lợi - Phó cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và đào tạo (Bộ Y tế), cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đào tạo ngành y - dược kém chất lượng là do việc mở ngành đào tạo không có sự tham gia thẩm định của các chuyên gia y tế.
Triển khai quá chậm
Phát biểu tại một hội nghị về giáo dục tại TP.HCM, ông Trịnh Ngọc Thạch, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, cho rằng tiến độ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục - đào tạo nói chung còn chậm so với yêu cầu.
Chính sách thâm niên nhà giáo được quy định trong Nghị quyết 35/2009 nhưng phải sau hơn 2 năm mới ban hành Nghị định 54/2011. Quyết định 85/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú (ngày 21.12.2010) nhưng đến 22.12.2011 liên Bộ GD-ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch - Đầu tư mới có Thông tư liên tịch số 65/2011 hướng dẫn thực hiện.
Minh Luân - Bích Thanh
Vũ Thơ - Hà Ánh

28 tháng 10, 2013

Liên kết vùng trái cây

Trần Hiệp Thuỷ
Cho đến nay, trong 4 dòng nông sản chủ lực vùng ĐBSCL, gồm lúa - gạo, trái cây, cá tra và tôm, thì duy nhất chỉ có cây ăn trái là chưa có quy hoạch theo vùng mà do từng địa phương thực hiện.
Với gần 300.000ha cây ăn trái, lớn nhất cả nước, miệt vườn miền Tây cho sản lượng hơn 3 triệu tấn trái cây/năm, chiếm hơn 70% sản lượng trái cây của cả nước. Trong đó, mới chỉ có khoảng 10% sản lượng được xuất khẩu, 90% còn lại tiêu thụ nội địa. Xứ sở này cũng là quê hương của nhiều loại trái ngon, nổi tiếng như bưởi Năm Roi Bình Minh (Vĩnh Long); xoài cát Hòa Lộc - Cái Bè, vú sữa lò rèn Vĩnh Kim, thanh long Chợ Gạo (Tiền Giang); sầu riêng Chợ Lách, nhãn cơm xuồng (Bến Tre); dâu Hạ Châu (Cần Thơ)...  được người tiêu dùng trong, ngoài nước biết đến.
Xoài cát Hoà Lộc (Tiền Giang)

Tuy nhiên, sản phẩm trái cây của vùng bị “cắt khúc” do quy hoạch được thực hiện theo từng địa phương. Diện tích vườn cây nhỏ lẻ, manh mún, khó xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao. Năng lực đầu tư và trình độ sản xuất của nhà vườn còn nhiều hạn chế, thường xuyên chịu cảnh "trúng mùa, rớt giá". Trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu trái cây thì kêu thiếu nguyên liệu. Theo Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, chỉ mới có hơn 2,5% lượng trái cây trong vùng được bán trực tiếp cho doanh nghiệp, còn lại hơn 97% bán qua trung gian. ĐBSCL đã từng trải qua đại dịch vàng lá gân xanh (greening) trên cây ăn trái. Nhiều mảnh vườn xơ xác vì bị lây nhiễm “bệnh sida cây trồng” quái ác. Nhiều nhà vườn và các địa phương “thấm đòn” khi sản xuất thiếu liên kết. Yêu cầu phòng, chống dịch bệnh cây trồng, thực hành nông nghiệp tốt, kết nối giữa sản xuất với tiêu thụ, giữa vườn cây với thị trường đang đặt ra vấn đề liên kết vùng trái cây ĐBSCL như một mệnh lệnh.
Câu chuyện liên kết vùng trái cây đã được đề xuất từ nhiều năm rồi mà vẫn chưa có cơ chế để thực thi. Bộ, ngành làm chậm, địa phương chờ đợi. Một số tỉnh như Long An, Bến Tre, Tiền Giang đã chủ động bắt tay nhau liên kết. Nhưng những vấn đề như dịch bệnh, nguồn nước, thị trường... phải được giải quyết ít nhất ở cấp vùng, chứ vài ba tỉnh không làm nổi. Phải liên kết vùng và nó cần phải được hỗ trợ bằng khung cơ chế, chính sách và pháp lý từ Trung ương. Liên kết vùng trong sản xuất và tiêu thụ trái cây ĐBSCL đang là đòi hỏi bức thiết.

Về miền Tây ăn cá “cậu ông trời”

Hữu Hiệp
    Lũ về, ruộng đồng, sông rạch miền Tây nhiều cá, tôm hơn. Song, có những loài cá quanh năm vẫn được xếp là đặc sản hàng “anh chị”. Đó là giống cá hô, cá ngát hay cá cóc - nghe tên đã thấy lạ.
    Cá cóc ngày xưa có rất nhiều ở vùng ĐBSCL, nay là hàng hiếm. Cái tên của loài cá này cũng gợi tò mò thú vị: Bình dân, chân chất như tính cách người dân xứ đồng bằng.
    Về miền Tây ăn cá “cậu ông trời”Cá cóc cùng loài với chép, nhưng mình thon dài, thường sống ở vực sâu, nước xoáy, trụ cầu, bến phà thuộc sông Tiền, sông Hậu như đoạn Mỹ Thuận (Vĩnh Long), Cái Bè (Tiền Giang), Vàm Nao (An Giang), Bùng Binh - Bến Bạ (Cần Thơ - Hậu Giang), Cái Côn (Sóc Trăng)... Tên cá cóc được “cắt nghĩa” khác nhau, nhưng không liên quan gì đến loài cóc. Có người nói là do đọc trại ra từ tên tiếng Khmer của loài cá có xuất xứ từ Biển Hồ này, nhưng hỏi tên gì thì chẳng mấy người biết. Cũng có người bảo là do tiếng kêu cóc cóc của nó mà người ta gọi vậy. Biết giải thích sao cho tường tận, cũng giống như tên của con cá linh mùa nước nổi, bồng bềnh theo câu hò sông nước: “Nước không chưn (chân) sau kêu nước đứng/Cá không thờ, sao gọi cá linh?”.
    Từ đặc sản miền sông nước
    Cá cóc nấu canh chua hay kho lạt nước dừa, phải giữ nguyên bộ vảy, ăn với xoài bằm nhuyễn, gạo thơm Nàng Hương chợ Đào, đảm bảo ai đã dùng, chắc chắn thèm ăn nữa. Kho cá cóc hay nấu canh chua cũng là một “nghệ thuật ẩm thực bình dân” mang đậm tính cách dân dã mà thắm đượm nghĩa tình của người miền Tây.Bắc nồi nước dừa xiêm lên bếp, khi nước sôi nhẹ mới được để cá vào cho vừa lấp xấp, thêm ít muối, nước nắm đồng cùng gia vị cho vừa miệng ăn. Để lửa liu riu như kiểu nói lối dạo đầu sáu câu vọng cổ. Khi có tiếng sôi ục ục thì trở bề cho cá thấm đều. Lúc cá chín, nhắc ra bếp, thêm ít tiêu cay tạo ra hương vị đặc trưng. Thịt cá ngọt, bùi mà không ngấy vì ít mỡ. Tương tự, đầu cá cóc nấu canh chua cơm mẻ, me chua hay trái giác – một loại dây leo bờ rào hay vườn tạp, vị chua đượm như quả sấu ở ngoài Bắc - rất ngon. Đầu hay phần đuôi cá cóc nấu chua với rau muống đồng, rau nhúc, bạc hà (dọc mùng), thêm vị ngò gai, ngò om khi nhắt xuống bếp là món canh “số một”. Ở các nhà hàng, quán ăn, người ta “biến thể” nồi canh chua thành lẩu cá cóc, dùng kèm bông súng, so đũa hay bông điên điển mùa nước nổi. Nước chấm món này phải là muối cục đâm “ba sồn ba sựt” với ớt xanh thì ăn mới đúng điệu nghệ. Ngoài ra, cá cóc nướng muối ớt sả, vị thơm ngọt chân phương, dân dã cũng hấp dẫn không kém.
    Giống như bắt cá hô, giới hạ bạc miền Tây cũng đã từng nổi danh các tay săn cá cóc “chuyên nghiệp”, tính cách phóng khoáng, tay nghề “cứng cựa”, hiểu biết từng khúc sông như thuỷ thần. Cuộc đời họ gắn với nghề qua các giai thoại ly kỳ như cha ông họ xưa đi phá sơn lâm, đâm hà bá, mở cõi đất phương Nam.
    Đến bảo tồn loài cá “cậu ông trời”
    Ngày nay, những “thợ săn” cá cóc mất dần, loài này cũng khan hiếm. Dòng Mêkông bị “trích máu” ở đầu nguồn làm thuỷ điện, con người “đối xử tệ” với thiên nhiên và tài nguyên trời phú. Nhiều người lo ngại “cậu ông trời” vùng sông nước có nguy cơ tuyệt chủng. Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ đã có nhiều nỗ lực nhằm bảo tồn loài quý hiếm, nghe nói đã được ghi vào Sách đỏ này. Đàn cá cóc bố mẹ ở trung tâm đã được thuần dưỡng đạt trọng lượng hơn 10kg/con. Mặc dù cá cóc được các “bà mụ cá” - bằng kiến thức khoa học lẫn kinh nghiệm dân gian - cho sinh sản nhân tạo, nhưng việc nhân nuôi trong dân gặp nhiều khó khăn vì cá chậm lớn, không hiệu quả kinh tế, thịt không ngon bằng cá tự nhiên.
    Cũng khó khăn như các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu-Phát triển ĐBSCL đang lưu giữ nguồn gene quý hiếm hơn 2.000 giống lúa của “vựa lúa” bằng kinh phí “tự có”; việc bảo tồn các loài thuỷ sản quý hiếm của vùng ĐBSCL hiện cũng chỉ là những nỗ lực đơn lẻ khi chưa được quan tâm đầu tư bài bản.

    Đừng để mấy mươi năm sau, người đồng bằng chỉ biết “con cá cậu ông trời” qua chuyện kể như ngày nay chúng ta nghe giai thoại bác Ba Phi hay đọc “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi, “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam xưa mà thôi.


    Bắt được cá hô gần 120kg trên sông Tiền

    Trưa 30/12, trên sông Tiền đoạn gần khu vực cầu Mỹ Thuận, ghe cào của chị Nguyễn Thị Hậu (Trà Vinh) cào được một con cá hô có chiều dài 1,2m, nặng gần 120kg.
    Khi cá mắc lưới, chị Hậu đi xuống chợ Vĩnh Long (cách đó khoảng 5km) kêu bán. Sau đó có người hay tin đến trả giá mua 10 triệu đồng để “phóng sinh”. Tuy nhiên, chủ ghe cào không bán.
    Cá hô đang được neo ngoài sông, chủ ghe cào nâng cá lên để người dân xem.
    Đến chiều cùng ngày, có người ở TP.HCM đến mua với giá 1.250.000 đồng/kg và đưa cọc trước 20 triệu đồng.
    Từ trưa đến chiều, trong lúc cá chờ được bán thì có hàng trăm người dân hiếu kỳ đến xem đông nghẹt bờ kè. 
    Theo Dân Việ

    Nếu không đổi mới mạnh mẽ, sẽ tụt hậu xa

    Báo Tuổi Trẻ, 25/10/2013 07:47 (GMT + 7)

    TT - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Bùi Quang Vinh đã phát biểu trước các đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận tổ ngày 24-10. Ông cảnh báo rằng nếu VN không đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt và khẩn trương, đặc biệt là đổi mới thể chế kinh tế, sẽ tụt hậu xa so với khu vực, thậm chí tụt hậu so với Campuchia, Lào.
    Chi đầu tư giảm rất mạnh
    Theo dự toán, chúng ta chi cho đầu tư phát triển năm 2014 là 163.000 tỉ đồng, trong đó có 36.000 tỉ đồng dự kiến thu từ đất (nhưng thị trường bất động sản đang trầm lắng nên cũng không chắc là có đủ số này). Trong khi đó, lẽ ra phải bố trí 260.000 tỉ đồng nhưng do ngân sách mất cân đối nghiêm trọng nên không thực hiện được. Trong tổng số 163.000 tỉ, cân đối cho các địa phương là 86.000 tỉ, còn 77.000 tỉ của trung ương (trừ thêm 16.500 tỉ vốn nước ngoài và vốn cân đối hỗ trợ địa phương 37.000 tỉ nữa thì cuối cùng ngân sách trung ương chỉ còn 39.000 tỉ đồng). Thực tế, chi đầu tư phát triển đang giảm rất mạnh, có thể nói thấp kỷ lục trong lịch sử.
    Trong khi ngân sách đang thâm hụt một cách nghiêm trọng thì tổng vốn đầu tư toàn xã hội cũng sụt giảm. Giai đoạn 2006-2010, tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 35-37%, thậm chí có năm tới 42% so với GDP thì đến bây giờ, năm 2013 chỉ còn 29,1%. Nền kinh tế của chúng ta tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn. Chúng tôi tính rằng năm 2014 muốn đạt GDP 5,8% thì tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt từ 30% GDP trở lên. Muốn đạt được tỉ lệ vốn đó thì phải đảm bảo kế hoạch vốn đầu tư phát triển 234.000 tỉ đồng, vậy mà chúng ta chỉ bố trí được 163.000 tỉ. Như vậy, mục tiêu tăng trưởng GDP 5,8% là rất căng thẳng.
    Phải phát hành thêm trái phiếu
    Chúng ta nói tái cơ cấu nhưng chưa làm được nhiều, trong khi đây lại là nhu cầu và đòi hỏi cấp bách. Muốn tái cơ cấu phải có tiền, các nước khi gặp suy thoái họ có các gói kích cầu. Năm 2009 chúng ta cũng đưa ra gói kích cầu 145.000 tỉ đồng nhưng thật sự chưa hiệu quả. Nó chính là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát, bất ổn của nền kinh tế như hôm nay.
    Bộ trưởng Bùi Quang Vinh - Ảnh: Lê Kiên
    "Bạn bè quốc tế nói với tôi rằng VN nếu không đổi mới căn bản, triệt để thể chế kinh tế, không tiếp tục thị trường hóa một cách mạnh mẽ thì kinh tế VN sẽ đi xuống chứ không phải là đi ngang"
    Bộ trưởng Bùi Quang Vinh
    Bây giờ chúng ta phải phát hành trái phiếu để giải quyết những khó khăn của nền kinh tế. Phát hành trái phiếu không phải là in thêm tiền mà là vẫn cái khối tiền đang có trong lưu thông ấy, chúng ta vay để tiêu và nguồn vốn này chỉ dành để nâng cao hiệu quả đầu tư và góp phần tăng trưởng. Hiện đang có 1.400 công trình dở dang của các bộ, ngành, địa phương. Tôi tính chỉ cần 14.000 tỉ thôi thì có thể hoàn thành 668 công trình đang dở dang.
    Thứ hai là vốn ODA, có khoản người ta cho vay 40 năm, 60 năm, chúng ta đã ký kết rồi, bây giờ mỗi năm cần 7.000-8.000 tỉ tiền vốn đối ứng nhưng ngân sách không còn tiền. Làm được cái này, tức là bỏ ra 20-30% vốn đối ứng thì chúng ta có thể giải ngân được 16-17 tỉ USD. Mà đây là những công trình gì? Đó là cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống, cầu Nhật Tân, sân bay Nội Bài, sân bay Long Thành... Đó là những công trình khổng lồ, nếu không làm thì bỏ phí nguồn lực vô cùng lớn, đất nước không phát triển được. Có mỗi quốc lộ 1 và quốc lộ 14 quan trọng như vậy, nói mãi mà không làm xong.
    Phải đổi mới mạnh mẽ nữa
    Bạn bè quốc tế nói với tôi rằng VN nếu không đổi mới căn bản, triệt để thể chế kinh tế, không tiếp tục thị trường hóa một cách mạnh mẽ thì kinh tế VN sẽ đi xuống chứ không phải là đi ngang hay rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Tôi cho rằng nếu không làm được như vậy thì chúng ta sẽ tụt hậu nhanh so với các nước bên cạnh, không chỉ là Thái Lan, Indonesia, Malaysia mà ngay cả với các nước láng giềng là Campuchia và Lào nữa.
    Chúng ta tuyên bố xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Không sai. Nhưng bây giờ phải rạch ròi ra, thị trường là thế nào và định hướng XHCN là thế nào? Đâu phải nó là một mô hình kinh tế thị trường riêng biệt so với thế giới. Bởi “kinh tế thị trường” là cái tinh hoa của nhân loại rồi, còn “định hướng XHCN” là nói về vai trò của Nhà nước.
    Ví dụ giá điện, suốt bao năm nay ngành điện kêu lỗ. Giá điện của ta chỉ bằng khoảng 70% giá thế giới, thậm chí bán dưới giá thành. Thế nhưng chúng ta đang duy trì cơ chế đó và có người cho rằng đó là XHCN đấy. Hậu quả là gì? Lỗ. Mà lỗ thì không mở rộng đầu tư sản xuất được. Làm gì có chuyện một hàng hóa mà ai ai cũng phải dùng nhưng chúng ta lại bao cấp, không có thị trường gì cả. Tôi nghĩ rằng đổi mới chắc chắn phải tiến hành mạnh mẽ hơn thì chúng ta mới thoát khỏi nghèo đói được, mới tránh được tụt hậu.
    Cuối cùng, tôi cho rằng tài nguyên lớn nhất của VN không phải là khoáng sản, dầu khí, bởi dăm năm nữa hết dầu khí thì không còn cái gì để thu. Tài nguyên lớn nhất của VN là con người. Nhưng chúng ta đã khai thác tài nguyên này thế nào? Tôi là bộ trưởng, muốn nhận một cháu học tiến sĩ giỏi đang làm bên ngoài 50 triệu đồng/tháng, tôi nghĩ về bộ cậu ấy sẽ làm thay được việc của nhiều người khác. Nhưng tôi không nhận được vì không trả lương như vậy được, và nếu tôi cho nghỉ việc mấy người kém để tuyển cậu ấy vào thì tôi sẽ bị kiện ngay. Bộ máy nhà nước xây dựng chính sách mà cán bộ dốt, không thu hút được người tài thì làm sao có chính sách tốt được.
    Gánh nặng khổng lồ đầu tư dàn trải
    Nếu vào đầu nhiệm kỳ, Chính phủ không kiên quyết chấn chỉnh tình trạng đầu tư dàn trải, cứ để tình trạng ồ ạt theo phong trào như các năm trước đó, thì tôi có thể nói là đất nước đến nay đã vỡ nợ. Đến nay cơ bản là đã khống chế được tình trạng tràn lan trong xây dựng cơ bản của Nhà nước, khống chế được các dự án trong kế hoạch nên số nợ đọng không lớn, chỉ khoảng hơn 50.000 tỉ. Nhưng tổng các khoản nợ khác thì có thể hơn.
    Từ hồi tôi về làm bộ trưởng đến giờ hầu như không ký cái nào mới, chỉ lo đi chữa cháy các dự án đang tồn đọng.
    LÊ KIÊN ghi

    Các từ mượn gốc hán hay bị lẫn lộn, vì sao?

    Nguyễn Đức Dương

    (LĐCT) - Số 43 - Chủ nhật 27/10/2013 14:57

      Vốn từ tiếng ta hiện có vào khoảng trên dưới 60% yếu tố gốc Hán. Có tác giả cho rằng con số đó có lẽ còn cao hơn thế. Do quá đông về số lượng, lại cùng sống trà trộn bên nhau, nên các yếu tố ấy rất hay bị lẫn lộn hoặc là với nhau, hoặc là với các yếu tố thuần Việt. Thực tế đó khiến người dùng tiếng Việt ít từng trải dễ mắc lỗi. Dăm dẫn liệu dưới đây là các minh chứng cụ thể.
      1. Người Việt mượn của tiếng Hán hai chữ CỨU. Trong đó, chữ thứ nhất có nghĩa là “giúp” (cứu vớt, cứu giúp, cứu nạn, cứu đói, cứu hộ, cứu trợ, cứu tế, v.v.); còn chữ thứ hai có nghĩa là “cuối cùng”. Do chỉ xuất hiện hạn hẹp trong một kết hợp duy nhất là cứu cánh. Nghĩa đích thực của nó là “mục đích cuối cùng”, bởi trong tiếng Hán, chữ cánh có nghĩa là “mục đích”.

      2. Tương tự, vốn từ tiếng ta hiện có hai chữ TRỮ, và cả hai đều mượn của Hán ngữ. Chữ TRỮ thứ nhất hay dùng với nghĩa “chứa”. Chữ này có thể bắt gặp trong hàng loạt kết hợp, như tích trữ, tàng trữ, tồn trữ, dự trữ, trữ kim, trữ lượng, v.v.. Trong tất cả các kết hợp nêu trên, TRỮ đều được dùng với nghĩa vừa nhắc. Do chữ thứ hai (tức TRỮ2) chỉ được dùng với nghĩa là “bày tỏ”, và chỉ gặp trong một kết hợp độc nhất là trữ tình. Vì bị TRỮ1 lấn át (nhờ được dùng rộng rãi hơn), nên trữ tình hay bị người Việt (thậm chí cả vài vị GS, như GS Nguyễn Lân, chẳng hạn) hiểu chệch là “chứa đựng tình cảm”, trong khi nghĩa đích thực của nó là “bày tỏ tình cảm”.

      3. Đọc câu thơ nổi tiếng “Gác mái ngư ông về viễn phố” của Bà huyện Thanh Quan, phần đông chúng ta đều không khỏi bối rối tự hỏi: Chẳng rõ động cơ nào đã thôi thúc ông lão đánh cá tả trong bài, sau một ngày dài vật lộn với các luồng cá, lại chậm rãi lê bước về một con phố xa xôi vào lúc chiều tà, thay vì đi về nhà nghỉ ngơi khi đã gác mái chèo lên mạn. Họ đâu biết cái địa điểm được nữ sĩ gọi là “viễn phố” kia thực ra chỉ là một bến sông nào đó ở chốn khuất xa.

      4. Như mọi người đều biết, chữ YẾU gốc Hán (hay dùng trong các kết hợp trích yếu, hiểm yếu, trọng yếu, yếu nhân,…) vốn đồng âm với YẾU thuần Việt (vốn có nghĩa là “thể lực kém sung mãn”). Do bị YẾU thuần Việt có khả năng kết hợp rộng rãi hơn nhiều lấn át, nên yếu điểm (tức “điểm hệ trọng”) hay bị hiểu chệch thành “điểm yếu kém”.

      5. THAM QUAN trong Hán ngữ vốn dùng để chỉ hành động “[Tìm tới tận nơi để] được tận mắt ngắm nhìn một địa danh/một cảnh vật nào đó nhằm mở rộng vốn hiểu biết/học hỏi kinh nghiệm”. Ấy thế nhưng vẫn có không ít người Việt lại chả thích thế, mà thích hiểu là “Đến viếng thăm nơi nào để xem xét/thưởng ngoạn”.

      Đó là lý do khiến họ đã “mạnh dạn” đổi yếu tố đầu trong kết hợp trên thành THĂM, do thấy chữ THĂM thuần Việt có tần suất sử dụng cao hơn và nghe “dễ hiểu” hơn gấp bội.

      6. CHÚNG CƯ trong tiếng Hán vốn dùng để chỉ các “công trình kiến trúc cao tầng được thiết kế thành nhiều căn hộ khép kín và riêng biệt dùng làm nơi sinh sống”. Do người Việt chẳng phải ai cũng thạo tiếng Hán, nên cảm thấy yếu tố thứ nhất trong kết hợp trên nghe quá đỗi “lạ tai”, nên đã đổi CHÚNG thành CHUNG cho “thuận tai” và cũng “thuận lý” hơn. Nhất là khi thấy có nhiều hộ cùng chung sống bên nhau trong thứ công trình kiến trúc kiểu vừa nhắc.

      7. Tiếng Việt mượn của Hán ngữ từ THỐNG KẾ, một từ hay dùng để chỉ hành động “tính gộp cả” (như học giả Thiều Chửu từng giảng). Khi đi vào tiếng ta, yếu tố thứ hai (KẾ) trong kết hợp trên khiến lỗ tai của nhiều người Việt cảm thấy “nghịch nhĩ”. Trong khi đó tiếng ta đang sẵn có từ KÊ vẫn hay được dùng với nghĩa “Ghi ra theo thứ tự từng thứ, từng món cho đỡ bị quên/để báo cho ai đó biết”. Đó chính là lý do khiến kết hợp THỐNG KẾ “trái tai” bị đổi thành THỐNG KÊ nghe vừa “thuận tai”, vừa “dễ hiểu” hơn.

      Từ những gì vừa trình bày, chúng ta có thể rút ra một bài học nhỏ: Dù thạo tiếng Hán đến đâu chăng nữa, chúng ta cũng khoan hẵng tự tin vội, bởi lẽ cái giữ vai trò tối hậu quyết định trong ngôn từ lại là khả năng kết hợp rộng hay hẹp và thế thượng phong của các yếu tố hợp thành trong thực tế sử dụng.

      Nâng cao năng lực Quốc hội

      Báo Tuổi Trẻ, 23/10/2013 10:09 (GMT + 7)

      TT - Với ba chức năng hiến định của Quốc hội là lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia thì nâng cao năng lực của Quốc hội là một nhiệm vụ quan trọng và bức thiết.
      GS. Nguyễn Ngọc Trân
      Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ XI nêu lên sự cần thiết “đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân; nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri; cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội”.
      Lãng phí chất xám
      Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có mạnh hay không tùy thuộc vào chất lượng và kinh nghiệm hoạt động nghị trường của đại biểu.
      Tuy có nhiều tiến bộ nhưng khách quan mà nói, năng lực của Quốc hội chưa tương xứng với chức năng và nhiệm vụ. Đại biểu Quốc hội luôn ở tình trạng “học việc” bởi lẽ sau mỗi nhiệm kỳ, theo cơ cấu khoảng hai phần ba số đại biểu được thay mới. Mặt khác, các đại biểu chuyên trách chịu sự quy định về tuổi hưu của công chức. Tình trạng lãng phí chất xám của Quốc hội do vậy là rất lớn.
      Mấy năm gần đây, mỗi đại biểu Quốc hội được trang bị máy tính xách tay. Điều này cần trong thời buổi công nghệ thông tin. Từ năm 2013, hằng năm các đại biểu được chi một số tiền để hỗ trợ công tác. Những khoản chi từ ngân sách nhà nước này nhằm nâng cao chất lượng công tác của đại biểu. Nhưng máy tính chỉ là công cụ hỗ trợ, còn số tiền hỗ trợ không chắc đã “mua” được kỹ năng và kinh nghiệm hoạt động nghị trường. Liệu mục tiêu có đạt được hay không hay “tiền mất mà tật vẫn mang”?
      Có ý kiến cho rằng giải pháp cho bài toán chất lượng là tăng số lượng đại biểu chuyên trách. Trước tiên, chuyên trách không có nghĩa là chuyên nghiệp. Thứ đến, sự bấp bênh của sự nghiệp hoạt động nghị trường chuyên trách hiện nay, làm khóa nào biết khóa đó, không biết khóa tới có còn được cơ cấu hay không, nếu được cơ cấu cũng chưa chắc trúng cử, cộng với tính công chức không tạo ra sự hết mình trong công tác nghị viện, đặc biệt trong phát biểu, giám sát và chất vấn tại nghị trường. Khó mà chuyên nghiệp được trong những điều kiện như vậy!
      Bên cạnh đó, tổng số đại biểu Quốc hội đã được quy định, tăng số đại biểu chuyên trách đồng nghĩa với giảm số đại biểu dân cử ở các địa phương. Quốc hội sẽ giảm tính cơ quan dân cử và nặng thêm tính công chức hành chính.
      Có ý kiến cho rằng phải tăng cường bộ máy giúp việc cho Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Điều này là cần. Nhưng Quốc hội và đại biểu Quốc hội không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao với các tài liệu mà bộ máy giúp việc soạn thảo không có phần đóng góp bằng năng lực của chính mình.
      Giải pháp là gì? Ngoài nỗ lực của mỗi đại biểu dân cử, cái tâm và cái tầm của mỗi người, vì công tác cán bộ thuộc thẩm quyền không chia sẻ, giải pháp bắt nguồn từ chính sách cán bộ và ở các cơ chế, chính sách có nhất quán và tương ứng với yêu cầu đề ra là “bảo đảm Quốc hội thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân; cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội” hay không.
      Nguy cơ hạ thấp vai trò của Quốc hội
      Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp và trên thực tế, từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII, xu hướng rất rõ là tăng cường Ủy ban Thường vụ Quốc hội, từ chỗ là một cơ quan thường trực của Quốc hội điều hành công việc giữa hai kỳ họp Quốc hội, trở thành cơ quan chủ chốt của Quốc hội, có nhiều quyền hạn hơn, lãnh đạo Hội đồng Dân tộc và các ủy ban thường trực của Quốc hội, mà trên nguyên tắc, cũng như Ủy ban Thường vụ, đều là cơ quan do Quốc hội bầu lên.
      Xu hướng này có nguy cơ sẽ dẫn đến chỗ Quốc hội trở thành hình thức, danh nghĩa (giống như ở một vài nước) và Ủy ban Thường vụ là định chế quyết định và quyền lực trên thực tế với danh nghĩa Quốc hội.
      Xu hướng này sẽ hạ thấp vai trò của Quốc hội, của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban thường trực. Các cơ quan này sẽ không còn tính dân cử. Theo dự kiến, ngoại trừ người đứng dầu (theo dự kiến vẫn sẽ là ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội), cấp phó sẽ không được bầu mà do bổ nhiệm, y như trong bộ máy hành chính.
      E rằng với cách cấu tạo Quốc hội hiện hành và cách thiết kế Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên đây, dự thảo Hiến pháp liên quan đến Quốc hội đang đi ngược lại yêu cầu “cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội”, và “đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân” mà Đại hội XI đã nghị quyết.
      Về phương thức lãnh đạo đối với bộ máy nhà nước
      Có một thời kỳ mọi quyết sách, lãnh đạo bàn và quyết định, Chính phủ thực hiện. Có những vấn đề cần thì đưa ra Quốc hội thông qua. Thời kỳ này đất nước đang chiến đấu chống ngoại xâm.
      Sau đó, có một giai đoạn mà phương thức lãnh đạo đối với bộ máy nhà nước manh nha sự chuyển đổi.
      Phải chăng chiều hướng hiện nay là lãnh đạo bàn và quyết định, Quốc hội thông qua và Chính phủ, cơ quan chấp hành của Quốc hội, thực hiện?
      Nhưng còn có phương thức lãnh đạo thảo luận, có ý kiến nhưng chưa vội quyết, để cho lập pháp, hành pháp và tư pháp thảo luận. Lãnh đạo lắng nghe, cân nhắc và quyết định cuối cùng. Có gì ngăn trở lựa chọn phương thức này?
      Sự lãnh đạo vẫn được đảm bảo. Quyền lực nhà nước vẫn thống nhất. Khi Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp có năng lực, cái nhận được thêm là sự nhìn nhận vấn đề sẽ toàn diện và thấu đáo hơn, từ đó quyết định sẽ chính xác hơn vì lợi ích của nhân dân, của đất nước.
      GS.TSKH NGUYỄN NGỌC TRÂN 
      (Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI)

      Tân phó thủ tướng nên có chương trình hành động
      Đó là ý kiến của ông Lê Như Tiến - phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng - trong cuộc trao đổi với Tuổi Trẻ bên hành lang Quốc hội ngày 22-10. Ông Tiến nói:
      - Để chuẩn bị cho công tác nhân sự tại kỳ họp lần này, Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội việc miễn nhiệm Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân để tập trung cho cương vị chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, đồng thời đề nghị Quốc hội phê chuẩn hai phó thủ tướng mới là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh và Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam.
      Như vậy, ngoài vị trí thay thế Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Chính phủ xin Quốc hội cho tăng thêm một phó thủ tướng so với số lượng hiện nay. Theo tôi, việc này là cần thiết. Cụ thể, trong trường hợp Chính phủ ta dự kiến có thêm một phó thủ tướng phụ trách lĩnh vực đối ngoại, tôi nghĩ rằng chắc chắn Chính phủ căn cứ từ thực tế công việc, hơn nữa hiện nay chúng ta đang đẩy mạnh hội nhập để tranh thủ các nguồn lực, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế cho công cuộc phát triển đất nước. Ở nhiệm kỳ khóa trước, chúng ta cũng từng có phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
      * Hai nhân sự phó thủ tướng mới mà Chính phủ đề nghị Quốc hội phê chuẩn đều là các gương mặt trẻ...
      - Yếu tố trẻ có lẽ là nét nổi bật có thể cảm nhận ngay về hai phương án nhân sự này. Chúng tôi cũng thấy mừng vì điều đó. Trong công tác cán bộ phải có nhiều lứa tuổi và nên có thế hệ cán bộ trẻ để đảm bảo sự kế thừa, sự xuất hiện các gương mặt trẻ là tốt.
      Hiện Đảng ta đang tiến hành quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, tôi cho rằng cần có nhiều hơn nữa những gương mặt trẻ được đưa vào vị trí quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Sao cho chúng ta có những phó thủ tướng, bộ trưởng chỉ trên dưới 40 tuổi.
      * Theo quy định, Quốc hội sẽ phê chuẩn các nhân sự do Thủ tướng đề nghị, nghĩa là ở đây không phải Quốc hội bầu, không có việc đề cử hay ứng cử, nhưng theo ông, các nhân sự này có cần trình bày với Quốc hội chương trình hành động hay không?
      - Không chỉ vị trí phó thủ tướng mà nói chung với các vị trí do Quốc hội bầu và phê chuẩn đều nên có chương trình hành động, để cho đại biểu Quốc hội khi bỏ phiếu bầu hoặc phê chuẩn có thêm cơ sở tự tin vào lá phiếu của mình. Chương trình hành động ở đây là việc các nhân sự lên phương án, giải pháp, kế hoạch để thực thi nhiệm vụ trong tương lai nếu được bổ nhiệm, đưa ra được giải pháp đột phá trong lĩnh vực thì càng tốt.
      V.V.THÀNH thực hiện

      24 tháng 10, 2013

      Mở cửa biển Tây


      HỮU HIỆP
      Trong thập niên 80 thế kỷ trước, ý tưởng thoát lũ ra biển Tây của các nhà khoa học gây nhiều tranh cãi; nhưng được sự ủng hộ và chỉ đạo quyết đoán của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ý tưởng này đã trở thành hiện thực bằng hệ thống công trình thủy lợi thoát lũ ra biển Tây, chứng minh hiệu quả trong thực tế. Đó là cách người ĐBSCL "trị thủy", vừa chung sống với lũ, vừa thể hiện tầm nhìn từ đất liền ra biển. Ngày nay, đối mặt trước nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng, trước yêu cầu phát triển bền vững và trù phú, người đồng bằng không chỉ cần "tầm nhìn ra biển", hướng ra biển Đông mà còn phải biết "mở cửa biển Tây". Nổi lên là vai trò của đảo ngọc Phú Quốc.

      Tiềm năng, lợi thế và thách thức

      ĐBSCL là vùng duy nhất của cả nước tiếp giáp 3 mặt biển: Đông, Tây, Nam với bờ biển dài 750 km, chiếm 23% bờ biển quốc gia; hơn 360 ngàn km2 vùng biển và đặc quyền kinh tế, có gần 200 đảo và quần đảo; trong đó có đảo lớn nhất nước là Phú Quốc. Đất Chín Rồng không chỉ là vựa lúa, trái cây, thủy sản của cả nước, một trung tâm sản xuất hàng hóa lớn trong chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu, mà còn có tiềm năng kinh tế biển to lớn. Yêu cầu đặt ra là làm sao giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển theo hướng hiện đại, bền vững. Cùng với mở "cổng trời" – hàng không, mở cánh cửa phát triển kinh tế Tây Nam, liên kết phát triển với phần đất liền còn lại của ASEAN và chiến lược tiến ra biển Đông, thì ĐBSCL rất cần xây dựng chiến lược, hoạch định giải pháp khai thác lợi thế biển Tây. Đây chính là bước chuyển dịch căn bản để vùng đất phù sa này vượt qua khỏi cái bóng của nông nghiệp lúa nước truyền thống từ ngàn đời nay.

      Thách thức mới đang đặt ra cho việc "mở cửa phát triển kinh tế biển Tây" của ĐBSCL cần được nhận diện và có lời giải. Lâu nay, cách tiếp cận phát triển kinh tế biển của ĐBSCL chủ yếu là dựa vào tư duy, cách làm của kinh tế nông nghiệp truyền thống, chưa giải quyết căn bản mối quan hệ giữa phát huy lợi thế nông nghiệp với kinh tế biển. Việc qui hoạch, tổ chức không gian phát triển và đầu tư kinh tế biển cho vùng còn hạn chế. Công tác điều tra cơ bản, phát triển khoa học – công nghệ biển, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng chưa đạt yêu cầu. Trong xu thế vừa tăng cường liên kết, hợp tác, vừa xung đột lợi ích về biển trong khu vực và trên thế giới, thách thức trước biến đổi khí hậu, nước biển dâng và yếu tố "cạnh tranh phát triển" ở biển Tây, đòi hỏi về cân bằng lực lượng cả về kinh tế lẫn quốc phòng an ninh trong khu vực vịnh Thái Lan, gắn kết với phần biển Đông tiếp giáp, càng nổi lên vai trò, vị trí của đảo Phú Quốc hướng đến một đặc khu hành chính – kinh tế trước năm 2020. Một hòn đảo với tiềm năng trù phú bậc nhất khu vực, sánh ngang Singapore, đáng lẽ ra phải được đặt ngang hàng để đủ sức cạnh tranh với Bali (Indonesia), Phukhet (Thái Lan), JeJu (Hàn Quốc) … thì, hòn ngọc quốc gia vẫn còn là một huyện đảo của tỉnh Kiên Giang. Phú Quốc - thành phố biển đảo, du lịch, dịch vụ ngoài khơi trong tương lai cần được định hình dài hạn, cần một không gian xanh, sạch, đẹp, kiểu mẫu gắn cảnh quan biển với chức năng đô thị được xây dựng trong mối quan hệ với ĐBSCL, cả nước và trong mối quan hệ gắn bó với các đô thị lớn của các nước ASEAN và trên thế giới.    

      Cần một "chiếc áo" đủ rộng

      Thời gian qua, để phát triển Phú Quốc, nhiều chuyên gia tư vấn trong nước và quốc tế đã được mời lập quy hoạch; hàng ngàn tỉ đồng đã được ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng, tạo ra diện mạo mới; nhưng thực tế cho thấy, vẫn còn nhiều "lực cản" trong phát triển hòn đảo này. Những "điểm nghẽn" được nhận dạng là cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do Phú Quốc đang thiếu và rất cần một "động lực thể chế" để phát triển. Các qui định pháp luật hiện hành thiếu đồng bộ, văn bản này "đá" văn bản nọ. "Cơ chế ưu đãi cao nhất hiện hành được áp dụng cho Phú Quốc" chỉ là những mỹ từ đẹp, khó dùng; mà cho dù có được thực thi đầy đủ thì vẫn là "chiếc áo chật" cho một Phú Quốc trước yêu cầu vươn ra khu vực và thế giới. Việc xây dựng đặc khu Phú Quốc đang được "tiếp sức" khi dự thảo sửa đổi Hiến pháp được đưa vào mô hình Khu hành chính – kinh tế trong thể chế chính quyền địa phương. Song, đang cần nhiều quyết tâm chính trị hơn nữa.

      Tầm nhìn chiến lược của một "đặc khu" yêu cầu định vị Phú Quốc trong mối quan hệ cạnh tranh sòng phẳng, không chỉ phát huy mà phải tạo ra những lợi thế so sánh của đảo ngọc này trong mối quan hệ với các đặc khu kinh tế như Thâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải (Trung Quốc); Incheon (Hàn Quốc) và các hòn đảo phát triển của các quốc gia như JeJu (Hàn Quốc), Phuket (Thái Lan), Bali (Indonesia)... Muốn xây dựng thành công đặc khu Phú Quốc, không biến nó thành "tỉnh thứ 64 của Việt Nam", phải có tư duy đột phá, chấp nhận vượt ra ngoài những khuôn khổ luật pháp hiện hành. Cái gì chưa có, thấy cần thiết thì đề xuất ban hành. Theo đó, 4 trụ cột trong phát triển đặc khu này cần được quan tâm đó là tài nguyên đất, nước, không gian kiến trúc và tạo dựng "sản phẩm đặc thù" có lợi thế cạnh tranh. 

      Để xây dựng Khu hành chính - kinh tế đặc biệt Phú Quốc còn phải làm nhiều việc. Tầm quan trọng của nó rất cần một nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển đảo, cơ sở pháp lý từ Hiến pháp để làm chỗ dựa cho những thể nghiệm, thí điểm cơ chế, chính sách, thể chế mới như Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 8 vừa xác định. "Chiếc áo" pháp lý cho Phú Quốc trong tương lai phải đủ rộng cho một không gian phát triển mới.
      Ngoài biển Đông, ĐBSCL có tiềm năng kinh tế biển Tây với điều kiện tự nhiên thuận lợi, không bị gió bão. Mở cánh cửa phát triển ra biển Tây, lấy Phú Quốc làm điểm nhấn, là một hướng đi mới cho đất Chín Rồng để hội nhập trong thế chủ động.

      Bà Ba Sương trở lại thương trường

      Báo Tuổi Trẻ, 21/10/2013 11:04 (GMT + 7)

      TT - Có mấy ai biết trong thời gian vướng vào những rắc rối pháp luật, bà Trần Ngọc Sương (Ba Sương) - Anh hùng lao động thời đổi mới, nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu (Cần Thơ), vẫn âm thầm đi tìm con đường riêng cho mình.
      “Năm năm qua là những tháng ngày trải nghiệm cực kỳ ý nghĩa đối với tôi. Tự tay tôi làm những hũ dưa kiệu, dưa hành, dưa món, dưa tai heo... đặc sản của miền Tây chào bán cho bạn bè, người dân Sài Gòn để tích cóp tiền chi tiêu và trả tiền thuê nhà trọ. Tôi đã mày mò nghiên cứu cho ra đời trên 20 sản phẩm từ trái cây, rau củ quả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu” - bà Sương mở đầu câu chuyện.
      Trái cây “Cô Ba Sương”
      Sau một ngày làm việc, bà Trần Ngọc Sương trở về tá túc tại căn nhà của người em gái ở quận Ninh Kiều, Cần Thơ - Ảnh: H.T.Dũng
      Bà Ba Sương cho hay ý định làm trái cây đã được bà ấp ủ từ lâu, nhưng phải đến tháng 11-2009, sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm (bị tòa tuyên 8 năm tù nhưng được tại ngoại vì lý do sức khỏe và bà Sương có đơn kháng án - PV), bà mới từ giã bạn bè, bà con ở Cần Thơ lên TP.HCM thuê một căn nhà trọ nhỏ ở quận 10, vừa kháng án vừa thực hiện ấp ủ của mình.
      “Tôi vốn là con nhà nông nên rất trăn trở khi nhiều năm qua nông dân miền Tây và miền Đông Nam bộ làm ra nhiều sản phẩm nông sản, trái cây ngon nhưng gặp khó trong khâu tiêu thụ. Gia đình đứa em tôi cũng đang có một xưởng sản xuất chế biến hàng nông sản ở Đồng Nai nhưng cứ hoạt động ì ạch vì không có sản phẩm mới đạt chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường. Không thể khoanh tay ngồi nhìn, mình phải tìm cách hỗ trợ nông dân vừa cứu xưởng sản xuất của gia đình” - bà Sương chia sẻ.
      Ý tưởng của bà sau đó được cả gia đình ủng hộ, bà vay mượn thêm bạn bè được gần 300 triệu đồng chi vào việc lo chi phí đi lại, nghiên cứu thị trường, tìm nguyên liệu. Mất gần một năm ngồi xe đò ngược xuôi từ TP.HCM về miền Tây, lên các tỉnh miền Đông, ra tận Phan Rang, Ninh Thuận, bà tìm hiểu thị trường, gặp nông dân tổ chức đặt hàng mua nguyên liệu.
      Bà Ba Sương nhận ra rằng lâu nay doanh nghiệp và thương lái khi mua các loại trái cây của nông dân thường chú trọng hình thức bên ngoài, chọn loại bóng đẹp về đóng thùng để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, ít có doanh nghiệp chú trọng đầu tư cho khâu chế biến sản phẩm.
      Trong khi đó, nhiều bà con nông dân chưa có kinh nghiệm chăm sóc nên trái cây tới mùa thu hoạch không đồng đều về ngoại hình, kích cỡ, màu sắc nên thường bị thương lái chê, bán không được giá. Đây chính là “nút thắt” mà nếu tận dụng tốt cơ hội này đẩy mạnh khâu chế biến, đa dạng hóa sản phẩm sẽ có hiệu quả kinh tế.
      Bà Ba Sương cam kết với bà con nông dân rằng loại trái cây, rau củ quả nào là “hoa hậu”, thương lái mua giá cao thì bà con cứ bán cho họ, số còn lại “xấu xí, xù xì” thì bán cho bà.
      Bởi theo bà, thực tế có những loại trái cây của VN dù hình dáng bên ngoài xấu xí nhưng chất lượng bên trong rất ngon. Bà đưa người đến tận từng hộ dân đặt hàng, tổ chức mua rồi chở về nhà máy tại Đồng Nai chế biến. Các loại trái cây có mẫu mã đẹp thì mua về xuất tươi, loại bên ngoài xấu xí xù xì đưa về nhà máy chế biến thành dạng đông lạnh, đóng hộp, muối mặn, sấy khô...
      Khi có nguồn nguyên liệu dồi dào và sản phẩm đã có thể xuất khẩu được sang thị trường một số nước khu vực châu Á, bà Ba Sương liền nghĩ ngay đến việc phải làm thương hiệu cho sản phẩm của mình.
      Bằng kinh nghiệm làm thương hiệu cho các sản phẩm của Nông trường Sông Hậu trước đây và nhờ sự giúp sức của một số bạn bè có kinh nghiệm trong việc xây dựng thương hiệu hàng nông sản, cuối năm 2012 hơn 20 sản phẩm rau củ quả (dưa chua, dưa mặn, chôm chôm, xoài, chanh dây, bắp hạt, bắp non đóng hộp...) do bà mày mò nghiên cứu làm ra đã được Cục Sở hữu trí tuệ VN cấp giấy chứng nhận thương hiệu độc quyền “Cô Ba Sương”.
      Ngày 25-7-2013, bà thành lập công ty TNHH chế biến hàng nông sản mang tên Ba Sương ở TP.HCM, với mong muốn đi xa hơn nữa trong lĩnh vực mà bà lên nhiều kế hoạch với bao dự định tốt đẹp.
      Thách thức mới
      Đầu tháng 8-2013, bà Ba Sương nhận được tin Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Sông Hậu - nơi bà và cha ruột của mình là ông Trần Ngọc Hoằng gầy dựng - gặp khó khăn, chủ tịch HĐQT cũ làm đơn xin từ nhiệm...
      Biết bà là người có kinh nghiệm, các thành viên HĐQT Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Sông Hậu đề cử bà về hỗ trợ, tái cấu trúc công ty với vai trò là chủ tịch hội đồng quản trị kiêm quyền giám đốc.
      Hay chuyện bà được mời về tham gia điều hành công ty này sẽ đối mặt với vô vàn khó khăn, mọi người trong gia đình ai nấy đều khuyên: “Cô Ba đã lớn tuổi rồi, nghỉ ngơi cho khỏe, đừng về đâm đầu vào chỗ khó khăn mà đổ bệnh”.
      Thế nhưng, bà vẫn có quyết định cho riêng mình. “Công ty này là do cha tôi và tôi lập ra nuôi sống nó từ nhiều năm qua, bây giờ gặp khó khăn, các anh em trong HĐQT ngỏ lời mà mình cũng buông xuôi luôn thì không đành. Cứu công ty cũng chính là cứu bà con nông dân nên tôi quyết định tạm dừng việc kinh doanh ở TP.HCM về Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Sông Hậu” - bà Sương kể.
      Bà Sương đón xe đò về Cần Thơ. Ngày 13-8, bà được bầu giữ chức chủ tịch HĐQT kiêm quyền giám đốc Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Sông Hậu. Bà bắt tay vào rà soát các khâu từ kinh doanh, kế hoạch sản xuất, đối chiếu các khoản nợ nần, hàng tồn kho.
      “Công ty có một bộ máy khá hoàn chỉnh với trên 800 cán bộ, công nhân, nhiều người khá giỏi, tâm huyết đã gắn bó với nhau nhiều năm nay, có sẵn vùng nuôi với diện tích 140ha của công ty cổ phần thủy sản... Nếu tái cơ cấu, sản xuất đa dạng sản phẩm, tôi tin công ty sẽ vượt qua khó khăn” - bà Sương tính toán.
      Vướng mắc lớn nhất hiện nay công ty cần tháo gỡ là phải trả khoản nợ tiền bán cá của dân. Công ty đã cố gắng giải phóng lượng hàng tồn kho để trả bớt một phần cho dân, nhưng muốn giải quyết dứt khoản nợ này buộc phải có sự hỗ trợ của ngân hàng.

      “Nếu được các ngân hàng và nhà đầu tư hỗ trợ, công ty sẽ giải quyết hết nợ cho dân trong năm nay, mong bà con chia sẻ để tôi lo. Bằng kinh nghiệm thực tiễn quản lý của mình trước đây và hiện nay, tôi sẽ quyết tâm tìm cách vực dậy công ty. Đây là tâm huyết của tôi và cũng là thực hiện di nguyện của cha tôi khi còn sống, không để công ty phá sản. Khi công ty đi vào ổn định trở lại, tôi sẽ tìm anh em trẻ tuổi hơn giao lại để anh em điều hành kinh doanh” - bà Sương nói.
      HOÀNG TRÍ DŨNG
      4 năm dông bão
      Bà Trần Ngọc Sương sinh năm 1949, công tác tại Nông trường Sông Hậu từ năm 1981, đến năm 2000 được bổ nhiệm giữ chức giám đốc nông trường. Cũng trong năm 2000, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời đổi mới.
      * Tháng 4-2008: Công an TP Cần Thơ khởi tố vụ án “lập quỹ trái phép”, khởi tố bị can đối với bà Trần Ngọc Sương.
      * Tháng 8-2009: TAND huyện Cờ Đỏ xử phạt bà Sương 8 năm tù tội “lập quỹ trái phép”, buộc bồi thường thiệt hại cho nông trường hơn 4,3 tỉ đồng và phạt các đồng phạm khác từ 1 năm 6 tháng tù đến 6 năm tù.
      * Tháng 11-2009: TAND TP Cần Thơ xử phúc thẩm tuyên y án 8 năm tù với bà Sương.
      * Tháng 5-2010: TAND tối cao ra quyết định hủy bản án đã tuyên với bà Sương, yêu cầu điều tra lại.
      * Ngày 21-2-2011: Công an TP Cần Thơ hoàn tất kết luận điều tra mới về vụ án.
      * Ngày 19-1-2012: Viện KSND TP Cần Thơ công bố quyết định đình chỉ vụ án “lập quỹ trái phép” ở Nông trường Sông Hậu.
      * Ngày 9-2-2012: Bà Sương được khôi phục sinh hoạt Đảng.
      * Ông Võ Thành Thống (phó chủ tịch UBND TP Cần Thơ):
      “Việc chị Ba Sương (bà Trần Ngọc Sương) về làm quyền giám đốc Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Sông Hậu, UBND TP có biết và đây cũng là chuyện bình thường. Về vấn đề công ty nợ tiền bán cá của người dân, UBND TP đã chỉ đạo Sở Kế hoạch - đầu tư yêu cầu và công ty đã cam kết thời gian, lộ trình trả nợ cho dân mới cấp giấy công nhận người đại diện mới của công ty và chị Ba Sương có cam kết, văn bản gửi người dân. Cơ quan chức năng cũng đã động viên bằng cách này cách khác công ty phải ưu tiên xử lý nợ cho dân. Chính quyền TP luôn mong muốn công ty sớm phục hồi, phát triển để có thể trả nợ cho dân và giải quyết việc làm cho người lao động”.
      * Ông Nguyễn Văn Tiến (cán bộ Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Sông Hậu):
      “Tôi biết cô Ba Sương về đây là thực hiện tâm huyết, gầy dựng lại mô hình của bác Năm (ông Năm Hoằng, cha bà Trần Ngọc Sương) ngày trước. Tôi thấy cô đã cố gắng hết sức trong thời gian về đây, nhưng có cái khó là công ty đang gặp khó khăn quá. Tuy nhiên, nếu được sự hỗ trợ của tập thể cán bộ công nhân viên và đặc biệt là của người dân mà công ty nợ tiền mua cá thì tôi nghĩ dưới sự lãnh đạo của cô Ba Sương, công ty cũng sẽ vượt qua được”.
      CHÍ QUỐC ghi

      Xu hướng “doanh nghiệp xã hội”

      Báo Tuổi Trẻ, 19/10/2013 07:22 (GMT + 7)

      TT - Doanh nghiệp xã hội không còn là điều mới mẻ nhưng loại hình này đang trở thành một xu hướng mới và được dự báo sẽ cất cánh trong tương lai.
      Tại Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp toàn cầu (GES) lần 4 diễn ra tuần qua ở Kuala Lumpur (Malaysia), vấn đề doanh nghiệp xã hội được đề cập đến trong ít nhất ba phiên thảo luận và có một phiên dành riêng cho chủ đề này. Nhiều diễn giả cho rằng doanh nghiệp xã hội sẽ là xu hướng mới.
      Ngay từ đầu phiên thảo luận về chủ đề này hôm 12-10, chuyên gia về doanh nghiệp xã hội người Anh, cô Melody Hossaini, chia sẻ: “Xin chào mừng bạn đến với tương lai của sự thịnh vượng trong kinh doanh, đó là doanh nghiệp xã hội”. Theo cô, nói nôm na doanh nghiệp xã hội là nơi kinh doanh với mục đích tốt, một sứ mệnh xã hội. Nó cũng khác với các tổ chức từ thiện, nơi không kinh doanh mà chỉ nhận tiền quyên góp.
      Dùng kinh doanh hóa giải tệ nạn
      Xuất hiện trên sân khấu của phiên thảo luận hôm ấy có một người đàn ông với vẻ ngoài giản dị trong bộ trang phục batik truyền thống của người Indonedia, ông Silverius Oscar Unggul. Người đàn ông gần 40 tuổi này nổi tiếng không chỉ ở Indonesia mà còn trên thế giới vì vai trò của ông trong việc bảo vệ rừng. Câu chuyện của ông bắt đầu từ năm 2005.
      Khi đó, có tới 2/3 diện tích rừng của Indonesia nằm trong tình trạng nguy kịch vì nạn khai thác gỗ trái phép. Theo thông tin của tổ chức về doanh nghiệp xã hội Ashoka, nếu tình trạng này tiếp diễn, chẳng bao lâu sau rừng của Indonesia sẽ không còn.
      "Doanh nghiệp xã hội sẽ là một xu hướng kinh doanh mới trong tương lai vì chúng ta có quá nhiều vấn đề để giải quyết. Doanh nghiệp xã hội không phải là thứ mới có. Nó đã có từ lâu nhưng giờ trở thành xu thế và bắt đầu hòa nhập vào dòng chảy chính của kinh doanh"
      Chuyên gia Melody Hossaini
      Ông Silverius, một cư dân vùng đông nam Sulawesi, cùng năm người bạn đã có ý tưởng để các cộng đồng dân cư quản lý mọi công đoạn từ trồng rừng cho đến việc xây dựng các doanh nghiệp khai thác gỗ bền vững thay vì đi khai thác gỗ lậu. Sau một năm thí điểm mô hình khai thác gỗ bền vững và thân thiện với môi trường cùng sự hỗ trợ của chính quyền, mỗi người dân theo chương trình này có thu nhập cao gấp bốn lần so với trước đây.
      Ngoài ra, ông Silverius còn giúp người dân biết cách quản lý số liệu về rừng, canh gác rừng trước nạn khai thác gỗ lậu, kết nối họ với những người mua trong và ngoài nước. Năm 2008, ông Silverius nhận giải thưởng Doanh nhân xã hội của năm của Ernts & Young, giải thưởng môi trường cùng năm của tạp chí lữ hành Conde Nast và các giải thưởng khác những năm sau đó.
      Xu hướng tương lai
      Nói một cách tổng thể, doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp tập trung vào việc xác định và giải quyết các vấn đề của xã hội, cộng đồng trên quy mô rộng lớn. Không giống như các doanh nghiệp làm ăn kiểu truyền thống, doanh nghiệp xã hội hướng đến việc tạo ra các giá trị xã hội hơn là tìm kiếm lợi nhuận.
      Và cũng không giống với phần lớn các tổ chức phi chính phủ, mục tiêu của các doanh nghiệp xã hội không chỉ hướng tới các hiệu ứng tức thời và quy mô nhỏ mà còn là những thay đổi lâu dài và trên quy mô rộng hơn.
      Ngoài ra, công việc của các doanh nghiệp xã hội còn là việc nhận thức được khi một phần xã hội hay cộng đồng bị vướng mắc bởi vấn đề gì đó và đưa ra cách làm mới để tháo gỡ khúc mắc, truyền bá các giải pháp sâu rộng, thuyết phục xã hội hay cộng đồng có những bước nhảy mới.
      “Doanh nghiệp xã hội, đó là việc biến mối đe dọa thành cơ hội, biến gánh nặng thành lợi ích - ông Silverius trao đổi với Tuổi Trẻ bên lề phiên thảo luận - Doanh nghiệp bình thường tập trung vào việc kiếm tiền trước, rồi sau đó khi đã có đủ tiền họ mới quay sang nghĩ đến việc giải quyết các vấn đề xã hội. Còn chúng tôi lại tìm cách giải quyết vấn đề xã hội trước và dùng việc kinh doanh để giải quyết vấn đề”.
      Nói về câu chuyện của mình, ông Silverius giải thích thêm: “Ví dụ, khai thác gỗ lậu là một vấn nạn. Nhưng nếu khai thác gỗ được quản lý bền vững thì chúng ta có thể sản xuất được gỗ “sạch”. Ở đây kinh doanh là một giải pháp cho vấn đề xã hội”.
      Cô Melody Hossaini, người Anh gốc Iran, nói thêm ngay cả những doanh nghiệp đang kinh doanh vì lợi nhuận cũng đang chậm rãi chuyển sang xu hướng kinh doanh với những mục đích tốt cho xã hội, cộng đồng. “Thế giới đang thay đổi, sự thịnh vượng trong kinh doanh cũng đang thay đổi, và chúng ta nhận thấy có một điều quan trọng hơn những thứ khác là làm những việc tốt” - cô Hossaini bày tỏ.
      Đồng ý với quan điểm này, anh Ben Simon thuộc Mạng lưới tái chế thực phẩm (FRN) của Mỹ nói: “Xu hướng doanh nghiệp xã hội đang bùng nổ khắp nơi, dù cho đó là ở Malaysia hay nơi nào trên thế giới. Nhiều bạn trẻ hiện nay rất hăng say với các mục đích tốt đẹp và tôi thấy có rất nhiều dự án như vậy, như FRN mà chúng tôi đang làm”.
      FRN do Simon cùng những người bạn của mình lập ra năm 2011, thu gom đồ ăn thừa mà sinh viên bỏ lại tại nhà ăn của các trường đại học. Số thực phẩm vô cùng nhiều này được chia sẻ lại cho những người vô gia cư hay những người nghèo trong xã hội.
      VIỆT PHƯƠNG