29 tháng 9, 2015

Cần Thơ: Thành phố công nghiệp trước năm 2020

Trần Hữu Hiệp
Cần Thơ hướng đến mục tiêu cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 trong khi quỹ thời gian vật chất chỉ còn hơn 4 năm nữa. Làm gì để về đích, trở thành thành phố đồng bằng, cấp quốc gia văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, đang là thách thức lớn mà "Tây Đô" phải vượt qua.

Một góc thành phố Cần Thơ
"Cần Thơ phấn đấu cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020” là mục tiêu được xác định tại Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17/2/2005 của Bộ Chính trị. Nhưng đến nay vẫn chưa có một bộ tiêu chí chính thức để đánh giá, công nhận một tỉnh công nghiệp hay thành phố công nghiệp.
Năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã lập Báo cáo nghiên cứu Bộ tiêu chí tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại của Việt Nam, gồm 18 chỉ tiêu, được chia thành 2 nhóm: Kinh tế (6 chỉ tiêu) và nhóm văn hóa, xã hội, môi trường (12 chỉ tiêu). Theo đó, việc xác định tỉnh công nghiệp không nhất thiết phổ cập cho tất cả các địa phương trong cả nước. Mỗi tỉnh có thế mạnh và đặc thù riêng, nên có thể xây dựng kế hoạch phát triển theo điều kiện riêng của mình.
Trong bối cảnh đó, một số tỉnh như Quảng Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ... đã xây dựng, ban hành “Bộ tiêu chí tỉnh công nghiệp” và chỉ đạo thực hiện. Cần Thơ có thể tham khảo để nghiên cứu xây dựng cho phù hợp yêu cầu của một thành phố đồng bằng trực thuộc Trung ương. Theo đó, cần lựa chọn ra một số chỉ tiêu định lượng có thể tính toán được; đồng thời, có phần định tính cho nội hàm “cơ bản trở thành thành phố công nghiệp”.
Có thể nói, Cần Thơ không có con đường nào khác là chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, dựa vào hiệu quả, sức cạnh tranh, nhằm tạo sự tăng trưởng kinh tế cao hơn, bền vững, phát huy lợi thế trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng, chủ động hội nhập quốc tế. Trong ngắn hạn, Cần Thơ cần nỗ lực tập trung cho các khâu đột phá: Nhân lực chất lượng cao và phát triển cơ sở hạ tầng trung tâm vùng.
Hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ cần phải tính đến cho thành phố gồm: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp tục ưu tiên phát triển khu vực công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển cơ sở hạ tầng trung tâm vùng; tập trung cho một số ngành công nghiệp chủ lực và công nghiệp hỗ trợ; đẩy mạnh đô thị hóa; tạo môi trường đầu tư, đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh qua các chỉ số PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh), PAPI (năng lực quản trị hành chính công cấp tỉnh), đặc biệt là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh.
Hai nhóm giải pháp kèm theo chính sách ưu tiên hàng đầu cần được Cần Thơ xem xét.
Một là, đầu tư tạo nguồn lực mới cho phát triển, trong đó trọng tâm là nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn lực mới đến từ cải cách thể chế (tận dụng từ cải cách thể chế từ Trung ương và nỗ lực của thành phố).
Hai là, tập trung phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực (có thể là công nghiệp chế tạo công cụ phục vụ nông nhiệp qua hợp tác với Hàn Quốc với Vườn ươm công nghiệp Việt Nam- Hàn Quốc tại Cần Thơ, hợp tác với Nhật Bản xây dựng Làng doanh nghiệp Nhật tại Cần Thơ); đồng thời, phát triển đồng bộ ngành công nghiệp phụ trợ, tăng cường liên kết với các tỉnh trong vùng.
Các giải pháp này phải là kết quả nghiên cứu khoa học và thực tiễn, mang tính then chốt để đạt được các tiêu chí “thành phố công nghiệp”.
Cần Thơ không có con đường nào khác là chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, dựa vào hiệu quả, sức cạnh tranh, nhằm tạo sự tăng trưởng kinh tế cao hơn, bền vững, phát huy lợi thế trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long.


Ai làm nên tên tuổi một tờ báo?


TBKTSG, Thứ Hai,  28/9/2015, 14:56 (GMT+7)
Nguyễn Vạn Phú

Nhắc nhở này là nhắm tới các hiểu nhầm mà các phóng viên trẻ thường mắc phải nếu như phóng viên không biết hay quên đi chính độc giả, chính lực lượng người đọc đông đảo của tờ báo là sức mạnh nội tại, tạo nên một trọng lượng, một tầm cỡ, một mức ảnh hưởng cho một tờ báo. Người phóng viên không là gì cả nếu anh chỉ biết có anh; còn ngược lại, khi anh nhận sự tin cậy, giao phó của độc giả để truy tìm thông tin, anh không còn chỉ là một con người cụ thể mà anh là đại diện cho cả triệu người đọc khác.(TBKTSG Online) - Một câu hỏi những người làm báo lâu năm thường đem ra để "truy bài" các phóng viên mới vào nghề: Dựa vào đâu để một tờ báo xây dựng sức mạnh cho mình? Hay nói cách khác, ai làm nên tên tuổi, uy tín và trọng lượng một tờ báo?
Chính vì thế một người bạn không ở trong ngành báo, sau khi đọc tin về đề án quy hoạch báo chí mới gọi điện nói: "Tôi thấy đề án ghi rất chi tiết, nào là cơ quan này được ra tờ báo in, cơ quan kia được làm tờ tạp chí... đầy đủ cả. Tôi chỉ có một thắc mắc thôi, vậy ai sẽ nói tiếng nói của người dân đây?"
Một ông bạn khác làm dân doanh phân bì: "Tập đoàn, tổng công ty nhà nước có thể ra báo, thế tiếng nói của bọn tôi, các doanh nghiệp tư nhân trong nước thì sao?"
Đó là góc nhìn từ ngoài ngành báo chí nhìn vào. Họ có những thắc mắc rất cụ thể như vậy. Họ cũng không thể nào hình dung được sẽ có tờ báo chính, tờ báo phụ. Họ cũng không hiểu vì sao mỗi trường đại học chẳng hạn chỉ được có một tờ tạp chí nhưng giả thử trường đại học bách khoa phải ra cả chục tạp chí chuyên ngành từ cơ khí đến tự động hóa thì giải quyết cách nào?
Thử nhìn đề án quy hoạch báo chí từ con mắt của nhà quản lý, có thể chúng ta sẽ phần nào hiểu được mục tiêu sắp xếp lại báo chí. Đó là suy nghĩ nếu hệ thống hành chính có những thứ bậc nhất định thì thứ bậc này phải được phản ánh trong sắp xếp lại các cơ quan chủ quản của báo chí theo đúng quy mô, tầm vóc của từng cơ quan báo chí.
Chính vì thế mà mục tiêu của đề án quy hoạch báo chí được nêu rất rõ: "Sắp xếp hệ thống báo chí gắn với đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý báo chí…" Nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý có nghĩa như thế nào? Đó là "Các cơ quan báo in sau khi được sắp xếp đều có cơ quan chủ quản trực tiếp là tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, cơ quan cấp Bộ, ngành cấp Trung ương tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác chỉ đạo, quản lý".
Nhưng khổ nỗi đó là cách nhìn chỉ hợp lý nếu đối chiếu với báo chí nhà nước… các nước khác. Ở các nước khác, mỗi bộ có một tờ báo đã là quá nhiều, báo này nếu có chỉ lo chuyện của bộ như một tờ quảng bá cho hoạt động của bộ trong quan hệ với công chúng. Đâu có cơ quan nhà nước nào cũng có báo như Việt Nam và lại đảm nhận cho mình chức trách báo chí đầy đủ nữa.
Ở nước ta đây là một đặc thù mang tính lịch sử. Nhiều tờ báo nổi tiếng hơn cả cơ quan chủ quản – và đó là chuyện bình thường. Xin hỏi có nhiều người biết cơ quan chủ quản của tờ VnEconomy là ai không? Rồi tờ VnExpress hay tờ Dân Trí?
Báo chí toàn là báo nhà nước nhưng đã từ lâu gán cho mình nhiệm vụ nói lên tiếng nói của người dân và vì thế vai trò của cơ quan chủ quản mang tính cơ chế trong một thể chế rất riêng của Việt Nam. Có bao nhiêu độc giả nghĩ báo Tuổi Trẻ là riêng của Thành Đoàn TPHCM nữa; ai cũng nghĩ đây là tờ báo của đại chúng, một trong những tờ báo làm nên diện mạo của làng báo Việt Nam.
Nếu sắp xếp theo đề án thì sự sắp xếp này là phá vỡ một truyền thống của làng báo. Truyền thống đó hiện đã gắn với các thương hiệu có những giá trị không thể nào đo lường một cách đơn giản được. Giá trị lớn nhất là những tờ báo đó đã trở thành nơi gởi gắm tiếng nói của xã hội, không lẽ giờ phải sắp xếp lại? Đúng như người bạn thắc mắc: Ai sẽ nói tiếng nói của người dân?
Làm theo đề án quy hoạch trước tiên cần đặt câu hỏi, liệu những nơi được quyền ra báo như đề án nói có thật sự thích thú với nhiệm vụ mới này không? Lấy ví dụ Quốc hội, theo đề án, sẽ có một tờ báo in và một tờ tạp chí! Các cơ quan khác như Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước cũng vậy. Liệu Quốc hội có muốn ra báo ngày không? Hay Quốc hội sẽ nói, nhiệm vụ của chúng tôi không phải là làm báo; nhiệm vụ của tất cả các tờ báo khác là đưa tin đầy đủ về hoạt động của Quốc hội không được chối từ. Kiểm toán Nhà nước cũng nói vậy mà Tòa án nhân dân tối cao cũng nói vậy thì sao?
Bởi đây là các cơ quan công quyền. Họ muốn lắng nghe tiếng nói của người dân thông qua báo chí khách quan chứ đâu phải qua báo do họ làm? Báo của các cơ quan công quyền, nói đúng theo thông lệ, sẽ chỉ là một công cụ xúc tiến quan hệ với người dân, cung cấp thông tin cho dân là đủ.
Làm các tờ báo như thế rất khó. Chẳng hạn một tờ báo của Quốc hội làm sao chê kỳ họp này không sôi nổi, đại biểu vắng trễ nhiều? Một tờ báo của Tòa án làm sao nói một cách khách quan về các vụ xử oan sai? Và đó là chuyện bình thường, không có gì đáng trách hay đáng ngạc nhiên. Nước nào cũng vậy thôi.
Như đã nói ở đầu bài, cái làm nên tờ báo vừa là nội lực tờ báo đó, vừa là sự tin yêu giao phó của bạn đọc. Cho nên đề án mang tính một chiều, đi ngược lại với bản chất hai chiều của báo chí.
Chắc chắn thực tế phong phú sẽ không chấp nhận những tính toán cơ học như đề án được. Cứ để báo chí phát triển tự nhiên như hiện nay kèm theo quyết định cắt hẳn nguồn ngân sách cho các báo không cần thiết cho nhiệm vụ điều hành của nhà nước. Những tờ báo nào còn cần trợ cấp phải có kế hoạch rõ ràng và phải được phê duyệt. Còn lại hãy để bạn đọc quyết định tờ báo nào tồn tại, tờ báo nào phải sáp nhập, giải tán. Lúc đó báo chí sinh ra hay biến mất như một doanh nghiệp trong cơ chế thị trường – đâu có gì là quan trọng.
Một trong những nhiệm vụ của báo chí là giám sát quyền lực. Nay lại trao hết quyền làm báo cho cơ quan quyền lực thì chuyện lạm quyền ắt sẽ nảy sinh. Hãy để hội đoàn làm báo vì đó là gần với tiếng nói của người dân nhất

28 tháng 9, 2015

Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư


Tác động của suy thoái kinh tế, việc giữ vững đà tăng trưởng là thách thức rất lớn cho các địa phương. Năm qua, TP Cần Thơ được cộng đồng doanh nghiệp (DN) thành phố đánh giá có nhiều chuyển biến trong cải thiện môi trường kinh doanh, các chương trình hỗ trợ DN đạt nhiều kết quả thiết thực.
Đẩy mạnh hỗ trợ nhà đầu tư
Môi trường kinh doanh được cải thiện, DN ổn định sản xuất sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của quốc gia, địa phương. Lẽ đó, Chính phủ, các bộ ngành Trung ương và các địa phương đã thực hiện rất nhiều chính sách, chương trình đi kèm với các giải pháp quyết liệt, đồng bộ để tạo môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thông thoáng. Tại TP Cần Thơ, UBND thành phố đã triển khai nhiều Chương trình, Kế hoạch và văn bản điều hành, thể hiện sự quyết tâm của lãnh đạo thành phố trong tạo lập môi trường kinh doanh và đầu tư thông thoáng, minh bạch, thuận lợi nhằm thu hút sự tham gia đầu tư, sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Bí thư Thành ủy Cần Thơ Trần Thanh Mẫn (bìa trái) trao đổi với nhà thầu thi công về tiến độ Dự án Trung tâm Thương mại Tổng hợp Lotte Cần Thơ. Ảnh: MINH HUYỀN
Theo nhận định của nhiều DN đang hoạt động, kinh doanh trên địa bàn TP Cần Thơ, DN nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ chính quyền địa phương. Ông Trần Văn Quang, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH South Vina (chế biến sản phẩm cá tra xuất khẩu), khu công nghiệp Trà Nóc 2, TP Cần Thơ, cho biết: "Lãnh đạo thành phố rất quan tâm đến DN, Tổ hỗ trợ DN của thành phố cũng thường xuyên đến tìm hiểu tình hình hoạt động của DN. Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp hỗ trợ tối đa cho DN trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa, thuê đất. Lẽ đó, DN cũng sẵn lòng đồng hành cùng địa phương trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội tại địa phương. South Vina đã đầu tư dự án khoan cáp ngầm kéo lưới điện quốc gia qua Cồn Sơn, quận Bình Thủy. Dự án có công suất 1.600KW, vốn đầu tư 8 tỉ đồng, tạo điều kiện cung cấp điện cho các hộ dân sinh sống tại đây". Theo ông Quang, các cơ quan công quyền của thành phố không gây phiền hà cho DN, khó khăn lớn nhất của nhiều DN hiện nay là vốn sản xuất, do ngân hàng đang siết vốn. Vấn đề này cần sự nhập cuộc của chính quyền địa phương trong vai trò cầu nối giữa ngân hàng và DN để tạo điều kiện cho DN tiếp cận vốn, đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, thâm nhập nhiều thị trường nước ngoài.
Năm qua, các cơ quan hành chính công của TP Cần Thơ đã nỗ lực rất lớn trong thực hiện cải cách các thủ tục hành chính, giúp DN giảm chi phí và thời gian đi lại. Ông Dương Nghĩa Hiệp, Phó Giám đốc Sở Công thương TP Cần Thơ, cho biết: "Với chức năng của mình, Sở đã nỗ lực rất lớn trong cải cách thủ tục hành chính thông qua bộ phận một cửa, một cửa liên thông giúp DN giảm thời gian đi lại, chi phí. Đồng thời, rà soát các chính sách ưu đãi của Chính phủ, của thành phố để giới thiệu với DN khi họ cần thông tin. Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, sở có nhiệm vụ hỗ trợ DN tiếp cận điện năng; để làm tròn nhiệm vụ của mình, Sở đã nỗ lực quán triệt Thông tư 33/2014/TT-BCT ngày 10-10-2014 của Bộ Công thương quy định một số nội dung về rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng. Theo đó, thời gian tiếp cận điện năng của DN hiện nay được rút ngắn còn khoảng 70 ngày làm việc, so với trước đó là 170 ngày". Trên lĩnh vực đăng ký kinh doanh, các sở, ngành chức năng đã tạo điều kiện thuận lợi cho DN gia nhập thị trường; chất lượng bộ phận "một cửa" trong đăng ký DN có nhiều cải thiện đáng kể. Số ngày đăng ký thành lập DN, thay đổi đăng ký DN được rút ngắn từ 5 ngày xuống còn 3 ngày làm việc và được đánh giá là tương đối ngắn so với bình quân chung cả nước. Tính riêng cơ quan thuế, năm qua đã tổ chức 15 cuộc đối thoại với 1.763 lượt DN tham dự, hướng dẫn chính sách thuế cho hơn 3.856 lượt trực tiếp tại Cục Thuế và 5.186 lượt qua điện thoại…
Tạo cú hích
Mặc dù sự năng động của chính quyền địa phương trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được cộng đồng DN ghi nhận, đánh giá cao, nhưng nhiều ý kiến của DN cho rằng, những hỗ trợ của các cơ quan hành chính công chưa thực sự quyết liệt và có hiệu quả. Kết quả cuộc khảo sát DN do Ban Chỉ đạo nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (gọi tắt là BCĐ PCI thành phố) cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ (VCCI Cần Thơ) thực hiện năm 2014 cho thấy, thành phố cần thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt hơn nữa để tạo cú hích thực sự đối với nhà đầu tư, DN. Theo phản ánh của DN, ngoài những giấy phép cần phải có và chi phí thời gian để xin cấp phép, mỗi năm DN phải tiếp bình quân 4,4 đoàn thanh tra, kiểm tra từ những ban ngành các cấp từ thành phố đến trung ương (cảnh sát phòng cháy chữa cháy, thuế, cảnh sát giao thông thủy, UBND cấp quận và cảnh sát trật tự… được xem là cơ quan tiến hành kiểm tra nhiều trong năm). Có đến 88,4% DN cho rằng những thông tin hướng dẫn từ cán bộ công chức không hữu ích trong quá trình thực hiện thủ tục. Thời gian DN làm việc với các cơ quan địa phương, sở ngành còn dài (bình quân 3,68 giờ cho một lần làm việc). Chỉ có 23% DN tham dự các cuộc đối thoại với lãnh đạo thành phố cho rằng những vấn đề nêu ra được giải quyết đến nơi đến chốn, số còn lại chưa được các cơ quan thành phố trả lời và thực hiện. Ngoài ra, các văn bản liên quan đến đất đai, môi trường và quản lý thị trường hầu như không có thông tin đến DN mà DN chỉ được thông báo sau mỗi đợt kiểm tra, hoặc khi DN vi phạm. Vấn đề lao động và các dịch vụ đào tạo của thành phố chưa đáp ứng được nhu cầu của DN. Có đến trên 90% DN tự tuyển dụng lao động và rất ít sử dụng lao động do nhà nước cung cấp…

Hoạt động sản xuất của Chi nhánh Công ty TNHH Bình Tiên tại Cần Thơ (Chi nhánh Biti’s tại Cần Thơ). Ảnh: MINH HUYỀN
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế- Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, nhận định: "Những kết quả đã đạt được thời gian qua của thành phố Cần Thơ trong thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng cảng, dịch vụ logistics là đáng ghi nhận. Song, chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của thành phố trung tâm động lực ĐBSCL, nên chưa khai thác, phát huy tốt các nguồn lực, tận dụng lợi thế cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn lực tại chỗ. Bên cạnh đó, thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn thấp; chưa tạo được những bứt phá mới trong đầu tư phát triển. Công tác xã hội hóa đầu tư phát triển còn yếu; kênh huy động vốn chưa phong phú, chưa tạo được những bứt phá mới trong đầu tư phát triển". Theo ông Hiệp, để tương xứng vai trò trung tâm ĐBSCL, ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng, Cần Thơ cần đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, coi đây là một trong các động lực chủ yếu của phát triển. Đồng thời, tăng cường liên kết vùng với vai trò trung tâm thu hút, lan tỏa của thành phố đối với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong cải thiện môi trường đầu tư, cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế, hiện đại hóa nền hành chính công.
Để tạo cú hích cho sự phát triển của thành phố, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 07/2014/QĐ-UBND ngày 5-9-2014 về việc hỗ trợ đầu tư cho các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố. Cụ thể, các dự án đầu tư Khu đô thị du lịch sinh thái Cồn Ấu (quận Cái Răng); Dự án Khu du lịch Cồn Sơn (quận Bình Thủy); các dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Hưng Phú 1, Hưng Phú 2A, Hưng Phú 2B, Ô Môn, Bắc Ô Môn: được hỗ trợ 20% lãi suất vốn vay đầu tư của các tổ chức tín dụng đối với vốn vay trong hạn của dự án. Kinh phí hỗ trợ tối đa không quá 10 tỉ đồng. Các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong các khu công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn; có tổng vốn đầu tư từ 60 tỉ đồng/dự án trở lên được hỗ trợ 20% lãi suất vốn vay đầu tư của các tổ chức tín dụng đối với vốn vay trong hạn của dự án; kinh phí hỗ trợ không quá 2 tỉ đồng. Các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp Vĩnh Thạnh; các cụm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp quận, huyện; Dự án xây dựng trung tâm dịch vụ logistics cũng được hỗ trợ lãi suất như trên, mức hỗ trợ không quá 5 tỉ đồng. Các dự án đầu tư Trung tâm hội nghị thành phố và các dự án khách sạn 5 sao, resort tại quận Ninh Kiều, Cái Răng cũng được hỗ trợ lãi suất này, mức hỗ trợ tối đa không quá 3 tỉ đồng. Nguồn hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước; điều kiện để hỗ trợ sau đầu tư là khi hạng mục đầu tư, gói thầu của dự án hoàn thành thì được giải ngân 70% mức vốn hỗ trợ theo hạng mục, gói thầu; sau khi dự án hoàn thành đầu tư và được nghiệm thu thì được giải ngân 30% còn lại… Theo đánh giá của các sở, ngành chức năng thành phố, Quyết định 07 của thành phố là cú hích thực sự trong thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần phát triển kinh tế thành phố.
GIA BẢO - MINH HUYỀN


24 tháng 9, 2015

Liên kết vùng từ thực tiễn đồng bằng sông Cửu Long

Trần Hữu Hiệp
Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII của Đảng có nội dung: “Sớm xây dựng và thể chế hóa cơ chế điều phối liên kết vùng”.
Điều 52 Hiến pháp năm 2013 cũng xác định yêu cầu “thúc đẩy liên kết kinh tế vùng”. Việc đưa “liên kết vùng” vào Hiến pháp và “điều phối liên kết vùng” vào dự thảo Văn kiện Đại hội lần này là kết quả tổng kết thực tiễn, kiểm nghiệm và phát triển lý luận về phát triển vùng, liên kết vùng thời gian qua, cần được thảo luận, thống nhất trong nhận thức và triển khai thực hiện Nghị quyết sắp tới.
Liên kết vùng – mệnh lệnh thực tiễn và yêu cầu hội nhập
Liên tục trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X và XI đều có nội dung “phát triển vùng, lãnh thổ”. Cương lĩnh Đại hội Đảng XI (năm 2011) nêu định hướng lớn về phát triển vùng. Chiến lược phát triển KT-XH đất nước, giai đoạn 2011-2020 cũng có những nội dung định hướng phát triển vùng và liên kết vùng.
Cánh đồng lớn ở ĐBSCCL
Nếu mãi tồn tại tình trạng mạnh ai nấy làm, nông dân vẫn sẽ là người chịu thiệt đầu tiên.
Trong quy hoạch và đầu tư đã có sự tiếp cận và thực hiện theo vùng. Ban Chỉ đạo, điều phối 4 vùng kinh tế trọng điểm (phía  Bắc, miền Trung – Tây Nguyên, phía Nam và ĐBSCL), các Ban Chỉ đạo: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ cũng đã được thành lập ở các địa bàn chiến lược, góp phần quan trọng trong chỉ đạo, phát triển vùng.
Tuy nhiên, các Ban Chỉ đạo này mới thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất, kiểm tra, đôn đốc, chứ chưa được trao quyền lực trong việc ra quyết định. Thời gian qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã quan tâm, phối hợp với các Bộ, Ban, ngành Trung ương, các địa phương, các Viện, Trường xây dựng và trình đề án liên kết vùng ĐBSCL, dự thảo cơ chế thí điểm điều phối liên kết vùng và các cơ chế, chính sách có liên quan.
Song, thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần hoàn thiện, đặc biệt là cần có cơ chế pháp lí về liên kết vùng hiệu quả, thiết thực và hình thành tổ chức có thực quyền điều phối liên kết vùng. Bàn về “Cơ chế điều phối liên kết vùng” không chỉ đóng góp cho văn kiện đại hội, mà còn góp phần tăng cường liên kết, chủ động hội nhập quốc tế, ứng phó biến đổi khí hậu, khắc phục tình trạng không gian kinh tế vùng bị chia cắt theo địa giới hành chính tỉnh, một mệnh lệnh từ thực tiễn và là yêu cầu hội nhập.
Tổ chức thí điểm cơ chế điều phối liên kết vùng ĐBSCL
Liên kết vùng không chỉ luẩn quẩn trong phạm vi “liên kết chính quyền” với các chương trình hợp tác giữa các địa phương với nhau như vừa qua, mà cần đẩy mạnh liên kết thị trường, liên kết doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh theo các mô hình sản xuất mới, ưu tiên các chuỗi giá trị sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ chủ lực của từng vùng.
Để đảm bảo hiệu quả thực sự của hoạt động liên kết và điều phối có trọng tâm, trọng điểm, cần chọn thí điểm thực hiện theo những lĩnh vực đột phá và nội dung ưu tiên. Theo đó, đề xuất tổ chức thí điểm “cơ chế điều phối liên kết vùng ở ĐBSCL”, chọn 2 lĩnh vực ưu tiên. Một là, liên kết trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững, bao gồm: Sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị các nông sản chủ lực vùng như lúa gạo, trái cây, tôm, cá tra. Liên kết phát triển thị trường; tạo thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực. Nâng cao năng lực cho nông dân tham gia các chuỗi giá trị, đa dạng ngành nghề, nâng cao sinh kế, tạo việc làm, tăng thu nhập, chất lượng cuộc sống người dân.
Hai là, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, bao gồm: xây dựng, nâng cấp hạ tầng giao thông, thủy lợi, hệ thống đê bảo vệ bờ biển; vành đai rừng ngập mặn ven biển. 4 nội dung ưu tiên điều phối liên kết vùng ĐBSCL: Một là, điều phối liên kết xây dựng quy hoạch, kế hoạch, gồm: xây dựng, rà soát, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung quy hoạch vùng thay cho các quy hoạch “cắt khúc” của từng tỉnh. Hai là, điều phối liên kết trong đầu tư, lập danh mục các chương trình, dự án, công trình cấp vùng và mang tính chất vùng cần ưu tiên đầu tư; dự kiến phân bổ nguồn lực và phối hợp thực hiện. Ba là, điều phối liên kết xây dựng cơ chế chính sách, bao gồm: xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách đồng bộ. Xây dựng cơ chế, chính sách phân chia quyền lợi về thuế, đầu tư và các nguồn lực khác (nếu có) cho địa phương không được hưởng lợi trong thời gian thực hiện thí điểm điều phối liên kết vùng. Xây dựng, ban hành bộ tiêu chí theo dõi và đánh giá các hoạt động điều phối liên kết vùng. Bốn là, thiết lập hệ thống thông tin vùng. Theo đó, xây dựng cơ sở dữ liệu và thông tin vùng; thông tin về các hoạt động hợp tác đầu tư, cơ chế, chính sách, dự báo thị trường; về các chương trình liên kết nâng cao sức chống chịu của cư dân do tác động của biến đổi khí hậu.
Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra nhiệm vụ “sớm xây dựng cơ chế điều phối liên kết vùng”. Nếu nội dung này được thông qua sẽ là cơ sở, định hướng quan trọng trong việc thể chế hóa cơ chế điều phối liên kết vùng ĐBSCL trong nhiệm kỳ tới. Hoạt động điều phối này cần hướng vào yêu cầu nâng cao thực quyền chỉ đạo, điều phối, giám sát, đánh giá hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá, các chương trình, dự án trọng điểm phát triển vùng mà các Bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai thực hiện.

22 tháng 9, 2015

Ô Môn hội tụ

Trần Hữu Hiệp
"Chiều về, thuyền bồng bềnh trên dòng sông êm trôi/ Em ngắm đôi bờ bâng khuâng trong lòng em chiều nay/ Xa xa cánh cò trắng bay…". Ô Môn quê tôi. Nhạc sĩ Triều Dâng đã giới thiệu về nơi tôi sinh ra, lớn lên và đi học cả quãng đời niên thiếu bằng những câu ca mượt mà, man mác. Nơi đó, một cửa ngõ Đông Bắc của Cần Thơ - Tây Đô hôm nay. Nơi có một phường mang tên nhà cách mạng Châu Văn Liêm, là 1 trong 5 người cùng với Nguyễn Ái Quốc tham gia hội nghị thành lập Đảng Cộng Việt Việt Nam tại Hương Cảng (Trung Quốc).
Một khúc sông quê - Ô Môn

Ô Môn quê tôi. Nhạc sĩ Triều Dâng đã giới thiệu về nơi tôi sinh ra, lớn lên và đi học cả quãng đời niên thiếu bằng những câu ca mượt mà, man mác
Dòng sông hội tụ tinh hoa
Ô Môn xưa bao gồm cả làng Thới Thạnh (xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ), là vùng đất giàu truyền thống cách mạng với các phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra rất sớm. Lịch sử còn ghi lại chuyện Trần Ngọc Trác đánh chết một tên trong ban hội tề làng Thới Thạnh từ trước năm 1930. Tấm gương thầy giáo Châu Văn Liêm sớm giác ngộ và trở thành thủ lĩnh cách mạng. Vùng đất này còn là miền văn hóa giàu bản sắc. Đình làng Thới Thạnh, Ô Môn có lịch sử gần 300 năm, là chứng tích của những tiên hiền đi khai khẩn đất đai xưa. Nơi đây từng nổi danh là một vùng đất dân ca. Mùa nước nổi, những hội phát, hội cấy vừa lao động vừa hò đối đáp. Trên đất Ô Môn có ba dân tộc Việt, Khmer và người Hoa. Nét đặc thù ở đây là cộng đồng dân tộc không sống tách biệt mà cùng cộng cư, nên từ lâu đã có sự giao thoa về văn hóa, ngôn ngữ, sinh hoạt, truyền thống, trong sản xuất và kinh doanh. Dịp tết, lễ hội của từng dân tộc trong năm đã thành lễ hội chung của cả ba dân tộc. Người Việt, người Hoa cúng đình, dâng lễ kỳ yên, ca cải lương tài tử, cũng như hát bội, hồ quảng; nhưng cũng cùng người Khmer ăn mừng Chôl Chnam Thmây, ăn lễ Dôn Ta cũng như lễ Vu Lan. Trung tâm làng Thới Thạnh xưa có cả chùa Khmer, chùa Ông của người Hoa, rồi đình làng với bề dày lịch sử hơn 160 năm. Các Đoàn hát Dù Kê của người Khmer với những vở diễn hấp dẫn như Thạch Sanh chém chằn tinh, tiếng nhạc ngũ âm, điệu múa Lâm Thôn mà bọn trẻ con người Kinh, người Hoa ở đây cũng mê. Ở xã Thới Thạnh, quê tôi có một ngã ba sông. Bên này sông là 2 cái nhà thờ Công giáo và đạo Tin Lành. Bên kia sông là ngôi chùa Khmer và ngôi chùa Phật. Nhiều thiết chế tôn giáo quần cư trong một xóm nhỏ. Dường như người dân xứ này từ xưa đã mở lòng tiếp nhận đủ thứ đạo, miễn là cái đạo đó khuyên con người làm điều tốt, việc thiện.
Tên đất, tên người
Có người so sánh, nếu ở Vĩnh Long bên bờ một đoạn sông có bốn Thủ tướng, trong đó có cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Chủ tịch Hội động Bộ trưởng Phạm Hùng, thì cũng ở một đoạn sông Ô Môn, Cần Thơ có bốn nhạc sĩ nổi tiếng với nhiều tác phẩm để đời. Chợ Ô Môn xưa Những bài hát sống mãi với thời gian đã được sinh ra bởi những người con của vùng đất này. Đó là "Lên đàng", "Hồn tử sĩ", "Tiếng gọi thanh niên", "Tiến về Sài Gòn", "Giải phóng miền Nam" của Lưu Hữu Phước. "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người", "Anh Ba Hưng" của Trần Kiết Tường. Là "Trồng cây nhớ ơn Bác", "Giã từ bến Nhà Rồng", "Tầm Vu", "Cần Thơ gạo trắng nước trong" của Đắc Nhẫn. Là "Chiều về trên dòng sông Ô Môn", "Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ", "Nói chuyện với người trong tranh" của Triều Dâng. Những nhạc sĩ tài ba, cùng với tên tuổi các nhà cách mạng tiền bối như Châu Văn Liêm, Trần Bửu Kiếm mà phần lớn xuất thân từ thầy giáo, là những tấm gương hiếu học. Những tên đất, tên người bao thế hệ đã tạo dựng nên vùng đất học, thơ ca và hội tụ văn hóa. Giờ tên Châu Văn Liêm thành tên một phường trung tâm của quận Ô Môn, tên ngôi trường trung học nổi tiếng Miền Tây tọa lạc ở quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ, trường College Cantho xưa đã hơn 100 tuổi. Tên các nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã là một tên trường trung học phổ thông ngay trên mảnh đất mà ông đã sinh ra và lớn lên. Giữa nội ô TP. Cần Thơ cũng có một công viên văn hóa mang tên Lưu Hữu Phước. Tên của nhạc sĩ Đắc Nhẫn, Trần Kiết Tường cũng đã trở thành tên những con đường quen thuộc ở Ô Môn. Cần Thơ trên đường trở thành một trung tâm thực sự về nhiều mặt của ĐBSCL, một vị thế của Tây Đô, có một Ô Môn - vùng đất giàu truyền thống cách mạng, vùng đất của thơ ca và văn hóa....

Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/o-mon-hoi-tu-post148143.html | NongNghiep.vn

12 tháng 9, 2015

Lào 'quyết' thủy điện Don Sahong: Việt Nam không bỏ cuộc

(Quan điểm) - Quốc hội Lào đã chính thức phê chuẩn kế hoạch xây dựng dự án đập thủy điện Don Sahong, Việt Nam phải kiên trì bảo vệ quyền lợi quốc gia.
Ths. Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ kinh tế - xã hội (Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ) đã khẳng định với Đất Việt thông tin Quốc hội Lào đã phê chuẩn kế hoạch xây dựng dự án đập thủy điện gây tranh cãi Don Sahong.
Lợi ích sống còn của quốc gia
Theo truyền thông, dự kiến, con đập này sẽ bắt đầu được xây dựng trước cuối năm nay sau hàng loạt phản ứng của các nước như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan cũng như các tổ chức quốc tế WWF, IUCN.
Dự án thủy điện Don Sahong là một phần quan trọng trong mục tiêu của Chính phủ Lào với mong muốn có thêm một nguồn doanh thu lớn từ việc xuất khẩu điện sang các nước láng giềng.
Trước đó 3 nước Thái Lan, Campuchia và Việt Nam từng lên tiếng kêu gọi Lào hoãn xây dự án thủy điện nói trên.
Nhiều chuyên gia lo ngại các đập thủy điện ảnh hướng đến đa dạng sinh học, mất nguồn lợi thủy sản của dòng Mekong

Lý do của việc trì hoãn này là vì các nước đều lo ngại con đập sẽ khiến dòng chảy của sông Mekong bị thay đổi mạnh mẽ và làm gián đoạn luồng thủy sản, gây thiệt hại cho các cộng đồng dân cư ở hạ nguồn tại các quốc gia này.
Việt Nam cũng từng đề nghị Lào kéo dài thời gian tham vấn để các bên liên quan có thêm các nghiên cứu bổ sung thêm thông tin, minh chứng và xem xét đánh giá tính khả thi của các giải pháp giảm thiểu đưa ra.
Ngoài ra báo cáo phản hồi quốc gia của Việt Nam đối với dự án thủy điện Don sahong cũng đề nghị nhà đầu tư và chính phủ Lào nghiêm túc tuân thủ các cam kết theo Hiệp định Mekong và các cam kết cấp cao, không được tiến hành khởi công xây dựng đập nào cho đến khi hoàn thành các nghiên cứu bổ sung về tác động tích lũy, minh chứng cho tính khả thi của các giải pháp giảm thiểu.
Theo Ths. Hiệp: "Đây là chuyện sống còn lâu dài của lợi ích quốc gia và người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đã lên tiếng như vậy chúng ta - các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, Ủy hội sông Mekong Việt Nam cần kiên trì, không được bỏ cuộc dù không loại trừ khả năng Lào quyết tâm xây dựng thủy điện Don Sahong".
Quyết định xây thì phải như thế nào?
Đập Don Sahong là dự án thứ hai trải qua quy trình tham vấn ở MRC, sau công trình thủy điện Xayaburi có công suất 1.285 megawatt nằm trên dòng chính của sông Mekong chảy qua Lào.
Theo Ths. Hiệp, ngay cả khi Lào quyết định xây thì cũng phải làm rõ mức độ ảnh hưởng và giải pháp giảm thiểu như thế nào.
"Việt Nam vẫn cần tiếp tục thu thập chứng cứ khoa học, có kết quả để chứng minh bằng nhiều kênh và trên con đường ngoại giao phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng.
Kiên trì bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam gắn với lợi ích chung của dòng Mekong, tiếp tục phát huy mối quan hệ đoàn kết 2 nước nhưng lợi ích của quốc gia phải kiên định", ông Hiệp nói.
Bày tỏ sự lo ngại khi Quốc hội Lào phê chuẩn kế hoạch thì dự án thủy điện Don Sahong sẽ nhanh chóng được triển khai, TS Đào Trọng Tứ, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, nguyên Phó Tổng thư ký Ủy ban sông Mekong Việt Nam cho rằng đây là lúc cần thiết thể hiện vai trò của Ủy hội sông Mekong quốc tế.
"Mọi việc đã quá rõ ràng, Ủy hội sông Mekong quốc tế cần có sự thống nhất trước khi có quyết định lớn liên quan đến phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mekong theo tinh thần của hiệp định sông Mekong năm 1995", ông Tứ nói.
Hội nghị cấp cao lần 2 của Ủy hội sông Mekong quốc tế tổ chức ngày 5/4/2014 tại Việt Nam 4, lãnh đạo các nước Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan đã cùng thống nhất đưa ra Tuyên bố chung TP.HCM, trong đó ưu tiên đẩy nhanh các nghiên cứu, đánh giá về tác động của phát triển đối với dòng Mekong, nhấn mạnh tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính.
Ngoài ra, tuyên bố cũng nhấn mạnh việc phòng tránh, giảm thiểu các rủi ro đối với hệ sinh thái sông, an ninh lương thực, sinh kế và chất lượng nước trên dòng Mekong.
Bích Ngọc


Gỡ thế bí cho gạo Việt

Ở lĩnh vực xuất khẩu, gạo Việt Nam đã bị các “đối thủ” qua mặt vì thiếu thương hiệu cạnh tranh. Nếu không sớm tìm được phương án tối ưu thì chúng ta sẽ bị lép vế trên thị trường gạo thế giới
Myanmar và Campuchia hiện đã qua mặt Việt Nam khi xuất khẩu được nhiều loại gạo thơm với giá rất cao sang thị trường khó tính như Liên hiệp châu Âu (EU), Mỹ...
Sức ép lớn từ bên ngoài
Cụ thể, Myanmar có 2 loại gạo thơm là Lone Thwal Hmwe và Paw San, trong đó Paw San được đánh giá là loại gạo ngon nhất thế giới, giá xuất khẩu khoảng 900 USD/tấn. Campuchia có gạo lài, còn gọi là gạo Phka Romdoul, cũng được bình chọn là một trong những loại gạo ngon nhất thế giới. Việt Nam thì đến nay vẫn chưa có thương hiệu gạo quốc gia.

Theo các chuyên gia nông nghiệp, sắp tới, gạo Việt sẽ phải chịu rất nhiều sức ép về giá, sản lượng và chất lượng. Nhiều nước xuất khẩu gạo đã xây dựng được thương hiệu gạo quốc gia, bảo đảm chất lượng nên gặt hái lợi nhuận khá cao.
Nghiên cứu của ThS Nguyễn Phước Tuyên, Trưởng Phòng Thông tin - Thị trường thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Đồng Tháp, cho thấy việc chính phủ một số nước như Myanmar hay Iran dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo trong thời gian tới sẽ tạo thêm sức ép lớn cho gạo Việt Nam. Chính phủ Indonesia cũng đang chủ trương tự cung tự cấp lúa gạo và ngừng nhập khẩu gạo trong vài năm tới. Dự báo, năm 2015, Indonesia sẽ đạt sản lượng 36,3 triệu tấn gạo (57.170.000 tấn lúa) và chỉ nhập khoảng 1,25 triệu tấn gạo.
Campuchia thì đã xuống giống được 2,12 triệu ha lúa, tương đương 82,7% tổng diện tích đất lúa (2,57 triệu ha) và nước này đang định vị thương hiệu gạo của mình trên thị trường thế giới với các giống thơm như Phka Romdeng, Phka Romeat, Phka Rumduol để có thể cạnh tranh với gạo thơm Thái Lan. Bộ Nông nghiệp Campuchia kêu gọi các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu phải sử dụng tên gọi duy nhất cho thương hiệu của nước này là “Campuchia Jasmine Phka Rumduol”. Năm nay, Campuchia dự tính xuất khẩu 1,1 triệu tấn gạo với giá cao.
Trung Quốc đang tìm cách đẩy mạnh sản xuất lúa gạo để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng. Đáng lo ngại là nạn buôn lậu gạo qua biên giới giữa các quốc gia như Việt Nam, Myanmar, Thái Lan với Trung Quốc ngày càng “nóng bỏng” do chênh lệch lớn giữa giá gạo trong nước và quốc tế. Mỗi năm, hơn 4-5 triệu tấn gạo lậu lọt vào Trung Quốc. Nạn xuất lậu gạo làm giảm nguồn lực của các nước, trong đó có Việt Nam.
Tại Việt Nam, các DN xuất khẩu gạo nội địa quan ngại việc đồng nhân dân tệ Trung Quốc mất giá đang tạo áp lực giảm giá gạo nước ta. Giá gạo nhập từ Việt Nam (vào Trung Quốc) sẽ tăng 4% nếu trả bằng USD, do đó họ đang buộc các DN Việt Nam giảm giá để “bù đắp tổn thất”. Nếu không, họ có thể giảm mua gạo từ nước ta. Riêng gạo xuất qua đường biên mậu, những ngày qua giá đã bị giảm 300 đồng/kg (13 USD/tấn). Hiện Trung Quốc chiếm 38% tổng số 3,72 triệu tấn gạo xuất khẩu Việt Nam. Trước tình hình đó, các DN gạo Việt buộc phải nỗ lực tìm kiếm thêm những thị trường mới.
Loay hoay chọn giống
Gạo Việt Nam ngày nay còn phải cạnh tranh với gạo Ấn Độ và Pakistan - hiện đang giảm giá đáng kể. Hôm 8-9, chính phủ Thái Lan đang chủ trương bán đấu giá 732.806 tấn gạo dự trữ trong tổng số hơn 14 triệu tấn gạo tồn kho nên những ngày tới sẽ cạnh tranh gay gắt với gạo Việt về giá. Hiện, gạo Việt 5% tấm có giá từ 325-335 USD/tấn và 25% tấm là 320-330 USD/tấn, đang thấp hơn gạo cùng chủng loại của Thái Lan từ 15-20 USD/tấn. Giá gạo trong nước tuần này cũng đã giảm 100 đồng/kg (4 USD/tấn) so với tuần trước. Tính đến cuối tháng 8 vừa qua, Việt Nam đã xuất được 3,626 triệu tấn gạo với giá bình quân là 415,10 USD/tấn.
TS Lê Văn Bảnh, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho biết Việt Nam chỉ xuất khẩu chủ yếu gạo trắng hạt dài với giá dao động từ 350-360 USD/tấn nhưng lại rất khó cạnh tranh vì rất nhiều nước cũng xuất khẩu loại gạo này.
“Nếu không chuyển đổi đa dạng mặt hàng xuất khẩu mà chỉ chăm chăm vào gạo trắng hạt dài thì mình sẽ thua nữa. Thị trường Hồng Kông, EU, Mỹ có nhu cầu lớn và chấp nhận mua với giá cao nhưng sản lượng gạo thơm xuất khẩu trên thế giới rất ít. Vừa rồi, tôi có dịp tham quan một công ty xuất khẩu gạo ở Cà Mau và được biết mỗi tấn gạo hữu cơ, công ty này bán được từ 3.000-3.500 USD.
Các thị trường nhập khẩu nói trên cần gạo ngon, bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe và gạo hữu cơ đều đáp ứng được yêu cầu. Vì vậy, thay vì xuất khẩu gạo trắng hạt dài, sao chúng ta không chuyển sang trồng và xuất khẩu gạo hữu cơ cũng như gạo thơm, nếp… có giá bán rất tốt? Làm như vậy, thu nhập của nông dân mới tăng được” - ông Bảnh đặt vấn đề.
Trong khi đó, ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng vấn đề trồng lúa thơm, lúa chất lượng cao (CLC) đã được Bộ NN-PTNT đề cập trong đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. “Không phải chuyển diện tích sang trồng lúa thơm hết là được. Năm 2011, Bộ NN-PTNT chỉ đạo tăng diện tích lúa CLC, riêng tỉnh Kiên Giang chuyển được khoảng 70% diện tích nhưng đến khi thu hoạch, lúa IR50404 lại bán giá cao trong khi lúa CLC giá bán cũng ngang bằng với lúa IR50404 mà chi phí sản xuất lại cao hơn! Do vậy, việc cần làm là phải kết nối sản xuất với thị trường bởi nếu chuyển sang trồng lúa CLC mà không bán được thì nông dân lại thua lỗ” - ông Hiệp phân tích.
Kỳ tới: Xây dựng thương hiệu gạo quốc gia
Chất lượng quyết định tất cả
Chuyên gia nông nghiệp - GS-TS Võ Tòng Xuân cho rằng trước đây, do thiếu đói nên Việt Nam phải trồng lúa cao sản để giải quyết cái ăn. Nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, chúng ta phải tính đến chuyện nâng cao chất lượng hạt gạo để bán được giá cao và dễ dàng trong xây dựng thương hiệu.
“Nếu cứ để nông dân trồng hoài các loại giống lúa cao sản thì đời sống của họ chẳng bao giờ khá lên. Tôi hy vọng Chính phủ sẽ có những chỉ đạo cho ngành nông nghiệp sớm xây dựng được thương hiệu gạo Việt Nam theo hướng nâng cao chất lượng để vừa giải quyết vấn đề tăng thu nhập cho nông dân vừa đủ sức cạnh tranh với gạo của các nước trong khu vực đang trỗi dậy” - GS-TS Võ Tòng Xuân nói.

THỐT NỐT - CA LINH