28 tháng 8, 2012

Cơ chế đặc thù cho các sản phẩm chủ lực vùng

Hữu Hiệp
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã giao BCĐ Tây Nam Bộ chủ trì phối hợp các bộ, ngành trung ương và địa phương đề xuất cơ chế đặc thù phát triển 3 sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL là lúa gạo, thủy sản (cá tra, tôm) và cây ăn trái. Đầu bài rõ, nhưng giải bài toán không dễ. Vấn đề quan trọng là “làm ra” cơ chế, chính sách gì và nó đi vào cuộc sống như thế nào để thực sự là cái mà người nông dân (ND), doanh nghiệp (DN) cần, tiếp thêm sức mạnh cho các sản phẩm chủ lực cạnh tranh trong môi trường hội nhập và phát triển bền vững?
Thời gian qua, đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho ND, DN. Nhà nước đã quan tâm đầu tư từ cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông, quy hoạch vùng nguyên liệu, đến hỗ trợ ND từ khâu giống, cơ giới hóa trong nông nghiệp, hỗ trợ sau thu hoạch, đến tiêu thụ nông sản, hỗ trợ vay tín dụng. Nhưng, thực tiễn ở nhiều địa phương cho thấy, chính sách chưa đi vào trọng tâm, không đồng bộ, khó phát huy tác dụng, chậm hoặc khó đi vào cuộc sống.
Nhiều địa phương, DN, ND rất phấn khởi trước chính sách hỗ trợ “cơ giới hóa trong nông nghiệp”, nhưng do bị buộc mua máy móc nội địa hóa ít nhất 60%, nên họ đành “từ chối hỗ trợ” để chọn máy ngoại giá cả chấp nhận được, tiện dụng và chất lượng tốt hơn. Các DN hưởng ứng chủ trương xây kho tạm trữ lúa vừa qua, đến nay vẫn chưa được hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư do nhiều điều kiện, thủ tục khó đảm bảo. Tương tự, còn nhiều ND, DN không tiếp cận được vốn vay hỗ trợ khó khăn vì việc hỗ trợ vốn vay luôn kèm theo điều kiện “đòi thế chấp tiếp”. Chủ trương hỗ trợ phát triển hệ thống trạm bơm điện để chủ động tưới tiêu trong vùng nguyên liệu lúa, mía... là đúng đắn, đã có từ lâu, nhưng khó thu hút các thành phần kinh tế đầu tư do thực hiện thiếu đồng bộ vì cho đến nay Tập đoàn điện lực VN vẫn chưa có đề án phát triển lưới điện cung cấp điện cho các trạm bơm điện qui mô vừa và nhỏ cho vùng ĐBSCL. Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” được triển khai mấy năm qua, được nhiều người quan tâm cũng đang chờ “tháo gỡ” bằng các chính sách “tiếp sức” như đầu tư kênh mương thủy lợi, hỗ trợ giống, hỗ trợ đầu tư máy nông nghiệp, hệ thống sấy lúa... 
Các chính sách hỗ trợ kinh tế thường “theo đuôi” các thiệt hại, như hỗ trợ người nuôi khi heo bị dịch bệnh lở mồm, long móng, cúm gia cầm, người trồng lúa khi lúa bị bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, hỗ trợ người trồng dừa khi dừa xuống giá, mua lúa tạm trữ, mua cá tra ... khi hàng tồn đọng. Nên chính sách luôn đi sau, bị động. Nay “tư duy làm chính sách” được đổi mới mang tính chủ động, dựa vào thế mạnh, tiếp cận theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực vùng. Để có được một cơ chế, chính sách đặc thù cần tư duy tiếp cận thực tiễn - thước đo hiệu quả của cơ chế chính sách và tính chủ động như vậy. Vấn đề còn lại là phải gắn lợi ích của ND, DN với định hướng và qui hoạch của nhà nước.  

Từ chuyện thương nhân nước ngoài “làm mưa, làm gió”: Phải hoàn thiện hợp đồng tiêu thụ nông sản

Trần Hiệp Thủy

Hôm qua 27.8, tại TP.Cần Thơ, Bộ Công thương phối hợp UBND TP.Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL tổ chức hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật có liên quan hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân nước ngoài tại VN (ảnh). Báo cáo của Vụ Thị trường trong nước về tình hình thương nhân nước ngoài, chủ yếu là người Trung Quốc (TQ) tranh mua nông sản theo kiểu chụp giựt cho thấy bức tranh đáng lo ngại, gây nhiều hệ lụy mà nạn nhân là bà con nông dân (ND).

Thương nhân ngoại gây rối thị trường nội
Ở ĐBSCL thời gian qua, nhiều ND dở khóc, dở cười vì ham giá cao, bán nông sản cho người TQ chủ yếu bằng thỏa thuận miệng, không thông qua hợp đồng (HĐ) thương mại. Mấy ông A Đẩu, A Lũ, A Lũng ... gần như có mặt khắp các địa phương trong vùng, giao dịch trực tiếp với ND, mua hàng tận gốc theo kiểu chụp giựt, thoắt ẩn, thoắt hiện. Họ thu gom lúa IR 50404 ở nhiều nơi khi chính quyền khuyến cáo bà con hạn chế trồng giống lúa này, mua dừa khô ở Bến Tre, khoai lang tím ở Vĩnh Long, cua biển ở Cà Mau, Bạc Liêu... Có nơi như Bình Minh, Bình Tân (Vĩnh Long) họ còn nhảy vào thuê đất trồng khoai để tạo lòng tin, rồi mở láng trại thu mua cua biển ở Năm Căn (Cà Mau) với nhiều hoạt động mua hàng nhộn nhịp. Bằng nhiều “chiêu thức”, họ thu hút các thương lái Việt, bà con ND ồ ạt trồng hoặc gom hàng, rồi đột ngột ngưng mua hoặc sử dụng các chiêu “kiểm hóa gia truyền” để từ chối nhận hàng hay quỵt nợ...
Theo Vụ Thị trường trong nước, các thương nhân TQ thời gian qua sang VN thu mua nông sản trái phép, đẩy giá các mặt hàng nông sản lên cao bất thường, làm rối loạn thị trường, ảnh hưởng; thậm chí phá vỡ qui hoạch vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến. Nhiều nhà máy bị mất nguồn nguyên liệu, hoạt động cầm chừng, ND đổ xô đi nuôi, trồng các giống cây, con theo “đơn hàng ngoại” cấp tốc, khi lượng ít thì họ mua giá cao, nhiều hàng thì hạ giá hoặc mua “gối đầu” rồi quỵt nợ.
Biết nhiều “quả lừa” sao cứ mắc?
Theo đại diện Vụ Quản lý Xuất nhập cảnh (Bộ Công an), đến nay nước ta đã áp dụng miễn thị thực nhập cảnh cho công dân của 72 nước. Nhưng không có qui định miễn thị thực nào cho người nước ngoài vào VN vì mục đích thương mại. Bất kỳ người ngoại quốc nào vào nước ta đều phải thông qua cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức bảo lãnh với mục đích, lý do nhập cảnh rất rõ ràng. Song, việc phối hợp quản lý giữa các cơ quan chức năng chưa chặt. Nhiều người nước ngoài sử dụng hộ chiếu du lịch, khảo sát thị trường rồi “ở lì”. Để buộc họ “hồi cố hương”, thời gian qua cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đã tiêu tốn hơn... 12 tỉ đồng chi thuê chỗ ở, tiền ăn, vé máy bay đưa họ về nước. Trong khi nhiều cơ quan bảo lãnh nhập cảnh gần như buông lỏng.
Các “phi vụ” mua bán bát nháo của thương nhân TQ được báo chí phanh phui, nhiều người biết, nhưng vẫn có người trúng tiếp “quả lừa”. Lý giải điều này, các chuyên gia chỉ ra nhiều nguyên nhân. Trước tiên là các qui định pháp luật lạc hậu, thiếu chặt chẽ, dễ bị “lách luật”. Nghị định 90/2007/NĐ-CP của Chính phủ qui định về quyền XNK của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại VN khó chế tài các thương nhân TQ. "Đã muốn làm ăn gian dối thì họ dại gì đi đăng ký ở Vụ XNK, sở công thương. Sang VN bằng hình thức du lịch vừa dễ dàng về thủ tục nhập cảnh, lại dễ thu mua nông sản thông qua thương lái VN. Nếu có bị cơ quan quản lý "hỏi thăm" họ vẫn "qua mắt" được vì không có giấy tờ, hóa đơn, HĐ để làm bằng chứng" - GS Võ Tòng Xuân phân tích. Cũng cần thấy rằng, nhiều doanh nghiệp trong nước thiếu gắn kết với ND, quá thụ động khi thương nhân nước ngoài vào thu mua nông sản ở vùng nguyên liệu của mình. Về phía ND, nhiều người cả tin, hám lợi trước mắt, bán hàng thường không có HĐ, hóa đơn, chứng từ, hoặc dùng các “HĐ viết tay” không có giá trị pháp lý... 
Xác lập kênh tiêu thụ chính thức, hoàn thiện “HĐ tiêu thụ nông sản”
Làm ăn, không ai thích “chơi” kiểu bấp bênh, nhưng trong khi thiếu một kênh thu mua nông sản chính thức năng động, hiệu quả và ổn định, còn phải qua nhiều trung gian, mất nhiều chi phí nên nhiều ND dễ chấp nhận may rủi. Qua các vụ “thương lái ngoại”, các cơ quan chức năng cần phải xây dựng kênh phân phối chính thức, vận hành hiệu quả. Thương nhân nước ngoài nào tham gia phải có tư cách pháp nhân để cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân. Cần có nhiều giải pháp đồng bộ, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, phối hợp quản lý, kiểm soát, xử lý. Nhưng quan trọng hơn là xây dựng cơ chế hiệu quả, ổn định gắn kết được giữa lợi ích của nhà nông – doanh nghiệp theo “hợp đồng tiêu thụ nông sản” thực chất. Từ vụ các thương nhân nước ngoài “làm mưa, làm gió” vừa qua, cần xác lập kênh tiêu thụ chính thức, ổn định và hoàn thiện cơ chế HĐ tiêu thụ nông sản - đó là cách thức cơ bản lâu dài vừa tạo điều kiện cho thương nhân ngoại làm ăn chân chính vừa bảo vệ được lợi ích ND.

Húy kỵ thời nay

Thời phong kiến húy kỵ tên của vua chúa khiến bao người tài giỏi như cụ Tú Xương (1870 -1907) đã phải "Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui".
Húy kỵ còn làm biến dạng ngôn ngữ như "hoàng" biến thành "huỳnh", "cảnh" hoá ra "kiểng", đến như tên cha mẹ đặt từ đời trước cũng phải đổi lại bởi húy kỵ tên của ông vua đời sau, như Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) sau khi qua đời hơn 40 năm phải đổi thành Ngô Thời Nhiệm. Bởi vì tên của ông trùng với 2 tên của vua Tự Đức (1829 - 1883) là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm và Nguyễn Phúc Thì. Đến thời nay tưởng ngôn ngữ không còn bị húy kỵ vô lối, hóa ra nó vẫn bị nạn húy kỵ theo một dạng khác rất lạ lùng. 

Nghệ sĩ nhân dân Hồng Vân chuyển thể tiểu thuyết "Làm đĩ" của Vũ Trọng Phụng sang kịch bản sân khấu cho nhà hát kịch Phú Nhuận. Gia đình nhà văn Vũ Trọng Phụng yêu cầu phải giữ đúng tên "Làm đĩ" của tiểu thuyết. Vậy là gặp rắc rối, Sở Văn hóa Thông tin TPHCM không chấp nhận vì cho rằng hai tiếng "Làm đĩ" thô tục, nhất thiết không cho phép có chữ "đĩ". Cuối cùng, phía nhà hát tìm được cách xử lý cho tình huống "tế nhị" này bằng cách bỏ từ thứ hai, vỡ kịch phỏng tác được mang tên "Làm..." và được cấp phép. Đó là vận dụng lại bài học kinh nghiệm đã có, "Xin lỗi em chỉ là con đĩ" cũng đã bị cắt bỏ hai từ cuối: "Xin lỗi em chỉ là..."

Cũng lạ không hiểu vì sao các nhà quản lý văn hóa của chúng ta có xu hướng không chấp nhận dùng tiếng ta, nhưng lại rất dễ dàng chấp nhận một ngôn từ Trung Quốc đồng nghĩa là mại dâm. Thật ra thì mại dâm bẩn thỉu hơn làm đĩ, vì nó có nghĩa là đem bán đi cái quý giá của mình cho người ta vui chơi. Hai tiếng cha mẹ thiêng liêng, ngành giáo dục thay bằng "phụ huynh", nhiều khi dưới bức ảnh của người mẹ có dòng chú thích: "phụ huynh của em..."!

Cách đây đã lâu quyển tiểu thuyết "Phong nhũ phì đồn" của nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) nếu dịch sát nghĩa là mông to vú nở. Nhưng có lẽ vì muốn tránh sự húy kỵ , dịch giả đã chuyển ngữ là "Báu vật của đời", nghe đèm đẹp, nhưng không rõ nghĩa. Hóa ra ở xứ sở "Khổng giáo gốc" người ta ăn nói cởi mở hơn hẳn xứ "Khổng giáo ăn theo" của ta. Tại sao vậy nhỉ?

Nhớ lại bậc danh nho Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) được xem là nhà thơ có "tâm hồn tiêu biểu cho bản sắc dân tộc Việt Nam", đã sáng tác bài thơ "Đĩ Cầu Nôm" trước phong trào Thơ Mới và tiểu thuyết "Làm đĩ" hơn 30 năm, có những câu:

"Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích.
Đĩ bao tử càng chơi càng lịch,
Tha hồ cho khúc khích chị em cười:
Người ba đấng, của ba loài,
Nếu những như ai thì đĩ mốc. 
Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc.
Khá khen thay làm đĩ có tông..."

Như vậy là từ thời Nho học cho đến thời Tây học đều không húy kỵ từ "Làm đĩ". Chẳng rõ những nhà quản lý văn hóa thời nay lấy căn cứ của nền văn hóa nào mà thực hiện sự húy kỵ chưa từng có, không làm trong sáng cho tiếng Việt mà làm cho nó rối loạn.
Tống Văn Công

26 tháng 8, 2012

Hai Sắc Hoa Tigôn

T.T.K.H.

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi cảm thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng

Người ấy thuờng hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: "Hoa, dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng thế thôi!"

Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng,
Là chút lòng trong chẳng biến suy!"

Đâu biết một đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá! Tồi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...

Từ đấy, thu rồi, thu lại thụ..
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một muà thu trước rất xa xôị..
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu nhạt nắng mờ
Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
Người ấy sang sông đứng ngó đò

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi! Người ấy có buồn không
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

THÂN PHẬN LÀM CHỒNG
(nhái thơ T.T.KH.)

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Tới tháng lãnh lương mới hết hồn
Bạn rủ đi chơi nào có dám
Tôi chờ người tới để giao lương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Xấp tiền lương mỏng hỏi lung tung
Rằng lương sao có bao nhiêu đấy
Chắc dấu bớt rồi phải thế không

Người ấy thường hay móc bóp tôi
Khảo tiền mỗi lúc bóp tôi vơi
Bảo rằng tôi móc còn hơn để
Gái móc tiền ông mới khổ đời

Thuở ấy nào tôi đã biết gì
Trẻ người non dạ quá ngu si
Bao nhiêu tiền bạc tôi dâng hết
Chẳng giữ cho mình được tí ti

Đâu biết tiền đưa bả tháng này
Là tiền dành dụm bấy lâu nay
Bao nhiêu tiền mặt người xơi tuốt
Biết lấy gì vui với bạn đây

Từ đấy thu rồi thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Người kia đã biết tôi vơi túi
Người ấy cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên một con người
Dữ như sư tử của lòng tôi
Và từng thu chết từng thu chết
Vẫn sợ vợ hơn cả sợ trời

Buồn quá hôm nay xem lại túi
Chỉ còn tiền lẻ để ăn xôi
Bao nhiêu tiền chẵn người gom hết
Chỉ tặng cho tôi một nụ cười

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Đưa tiền người giữ khỏi lôi thôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Lầm lỡ đời trai muộn mất rồi

21 tháng 8, 2012

Vị trí số 1 và phía sau

Hữu Hiệp
Ngày 14-8 vừa qua, Hãng Thông tấn Nga ITAR-TASS dẫn nguồn Tổ chức Cà phê Quốc tế (IOC) xác nhận lần đầu tiên trong lịch sử, VN đã vượt Brazil để trở thành nước xuất khẩu (XK) cà phê số 1 thế giới. Thống kê của Hải quan VN, 7 tháng đầu năm 2012, nước ta đã XK 1,16 triệu tấn cà phê, trị giá 2,54 tỷ USD, tăng 25,3% về lượng và 19,9% giá trị so với cùng thời kỳ năm trước, nhiều hơn 13% so với Brazil.
Tương tự, hạt tiêu VN cũng đã chiếm vị trí số 1 khi XK cao hơn gần gấp 5 lần Ấn Độ trong năm 2011. Theo thống kê của Hải quan, 7 tháng đầu năm nay, giá trị kim ngạch XK hạt tiêu đạt khoảng 524 triệu USD, tăng 15,3% so cùng kỳ. Con cá tra VN là sản phẩm “đặc hữu” của ĐBSCL từ nhiều năm qua cũng đã chiếm ngôi đầu bảng thế giới về sản lượng, giá trị XK và thị phần tiêu thụ.

Cơ giới hóa trong nông nghiệp
VN cũng là quốc gia đứng đầu thế giới về lượng XK, số 2 về chế biến và số 3 về sản lượng. Ước tính có đến 60% lượng điều nhân giao dịch trên thị trường quốc tế hiện nay là từ VN. Theo sau cà phê, cá tra, tiêu, điều, là lúa gạo XK của VN luôn chiếm ngôi vị á quân – chỉ sau cường quốc số 1 thế giới Thái Lan.
Nhưng đằng sau ngôi vị số 1, số 2 thế giới đó là những nỗi lo. Trước hết là vị thế và thu nhập của người nông dân – tác giả tạo ra kỳ tích cùng doanh nghiệp - gắn bó với họ, giúp những con cá, hạt cà phê, tiêu, điều vươn xa khắp năm châu đang đứng trước nhiều thách thức. Đó là nỗi lo trước hàng loạt doanh nghiệp thủy sản VN đang oằn mình vượt qua khó khăn, nợ nần dây chuyền, kéo theo nhiều doanh nghiệp, người nuôi cá bên bờ vực vỡ nợ. Những bài học về thương hiệu cà phê, lúa gạo. Những điệp khúc: “trồng – chặt” tiêu – điều, mía – lúa, “treo ao” nuôi cá, mất mùa, trúng giá, … diễn ra thường xuyên chưa được giải quyết căn cơ từ bài toán tổng thể. Yêu cầu nâng cao chất lượng qui hoạch, quản lý qui hoạch, thông tin dự báo thị trường, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, tăng cường liên kết để nâng cao thu nhập của người nông dân, gắn kết chặt chẽ các chuỗi nghiên cứu ứng dụng – sản xuất – chế biến và tiêu thụ nông sản để tăng sức cạnh tranh trên thương trường.
Đạt được vị trí “đứng đầu thế giới” về xuất khẩu các mặt hàng nông sản như cà phê, tiêu, điều, cá tra, lúa gạo là kỳ tích. Nhưng quan trọng hơn là phía sau kỳ tích đó, đời sống người nông dân được đảm bảo, gắn bó họ phát triển bền vững cùng với nghề. Còn quá nhiều việc phải làm cho những vị trí số 1 thế giới mà hàng nông sản VN đã chiếm lĩnh. 

19 tháng 8, 2012

Bổ sung cảng biển Hòn Khoai vào qui hoạch cảng biển

Bổ sung cảng biển Hòn Khoai vào qui hoạch cảng biển Sông nước Cà Mau. Ảnh: Hữu Hiệp
(DĐĐT) -  VPCP vừa có Thông báo số 282/TB-VPCP ngày 03-8-2012 truyền đạt ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, giao: Bộ GTVT chủ trì phối hợp Bộ Công thương xem xét bổ sung cảng trung chuyển Hòn Khoai (Cà Mau) vào qui hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam.
Trước đó, UBND tỉnh Cà Mau có văn bản đề nghị cho xây dựng cảng biển nước sâu tại đảo Hòn Khoai cho tàu trên 100.000 tấn bốc dỡ hàng hóa, tổng mức đầu tư khoảng 1,8 tỉ USD do nhà đầu tư Úc thực hiện.
Theo đó, cảng Hòn Khoai sẽ có 12 cầu cảng bốc, xếp hàng hóa tổng hợp, bao gồm mười bến tàu, một vùng quay trở và một luồng dẫn tàu.Vị trí đề xuất xây dựng Cảng Hòn Khoai ở phía Đông Nam, cách trung tâm thị trấn Năm Căn khoảng 42km.
Hữu Hiệp

17 tháng 8, 2012

“Anh giành phần em”

TRẦN HIỆP THỦY
Thời gian qua, ĐBSCL đã hình thành và phát triển nhanh mạng lưới đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) đến cao đẳng, đại học (CĐĐH). Toàn vùng hiện có 62 cơ sở đào tạo TCCN (trong đó có 35 trường); có 39 trường CĐĐH (gồm 12 trường ĐH và 27 trường CĐ), bình quân mỗi năm thành lập mới 1 trường ĐH.
Sức trẻ (ảnh: Nguyễn Công Thủy)
Nếu như năm 2000, toàn vùng chỉ có Trường ĐH Cần Thơ, thì nay 10/13 tỉnh, thành đã có trường ĐH, tất cả các tỉnh đều có trường CĐ. Theo quy hoạch, đến năm 2020, ĐBSCL sẽ có khoảng 70 trường CĐĐH.
Nhiều trường được mở ra, đua nhau “nâng hạng” từ TC lên CĐ, từ CĐ lên ĐH. Nhưng lên CĐĐH rồi vẫn xin chỉ tiêu được đào tạo TC với nhiều lý do nghe qua rất “chính đáng”. Nào là tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, đội ngũ giáo viên và nhu cầu người học. Đây cũng là nguồn để các trường tiếp tục “tận dụng” xin mở thêm các lớp liên thông ĐH. Về mặt tâm lý, nhiều người thích được học ở trường ĐH hơn, cho dù chỉ ngồi ở lớp TC. Thực trạng này vừa gây khó khăn nguồn tuyển cho các trường TC, vừa góp phần làm mất cân đối nguồn nhân lực của vùng.
Trong khi ở nhiều quốc gia, qui mô đào tạo bậc TC luôn chiếm tỷ lệ nhiều hơn CĐĐH, thì nước ta ngược lại. Cả nước trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, ĐBSCL càng đáng lo ngại hơn theo “hình chóp lật ngược”. Số liệu thống kê cho thấy, trong 8,3% lao động (LĐ) được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật vào thời điểm 2010, số LĐ có trình độ CĐ, ĐH chiếm tỉ lệ cao nhất với (4%), tức gần một nửa, tỉ lệ còn lại là các trình độ trung cấp nghề, đào tạo nghề ngắn hạn ...
Trên thực tế, nhiều trường đang đào tạo cái mình có chứ không phải cái xã hội cần. Thời gian qua, mặc dù Bộ GDĐT đã rất kiên quyết để chấn chỉnh việc các trường CĐĐH đào tạo TC. Nhưng nhiều trường CĐĐH “kêu ca”, xin được “gia hạn”, nên phải giãn lộ trình. Tất nhiên, để khắc phục tình trạng đào tạo theo kiểu “anh giành phần em” này phải có nhiều giải pháp đồng bộ. Phải dựa vào chiến lược nguồn nhân lực quốc gia, của ngành, vùng và từng địa phương. Ngành GDĐT và LĐTBXH cần phối hợp sắp xếp lại hệ thống các trường đào tạo, thay đổi cơ cấu đào tạo để đảm bảo phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực.
Các cơ quan, đơn vị sử dụng LĐ cũng cần thay quan điểm tuyển dụng LĐ, không phải vị trí công việc nào cũng tuyển cho được người có bằng ĐH, trong khi TC có thể làm tốt hơn. ĐBSCL cũng đang rất cần một trung tâm dự báo nguồn nhân lực để cung cấp thông tin cho các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, cơ quan sử dụng LĐ và người học để định hướng nghề nghiệp và đào tạo đáp ứng nhu cầu sử dụng.

16 tháng 8, 2012

ĐBSCL sau 5 năm gia nhập WTO: Sân chơi lớn nhiều thách thức

Hữu Hiệp
Lúa gạo - sản phẩm XK chủ lực của đbscl (ảnh: Tăng Quầy) 
5 năm Việt Nam gia nhập WTO cũng là thời điểm xảy ra 2 cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 và 2011, như “liều thuốc thử” cho nền kinh tế ĐBSCL. Cần nhìn lại một chặng đường quan trọng mà vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước này đã vươn mình hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Qua đó, nông dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương trong vùng nhận diện được thế mạnh, điểm yếu, đặc biệt là nắm bắt cơ hội, đối mặt thách thức của lộ trình mới để vượt qua rào cản, tận dụng thời cơ.

Nhìn ra bên ngoài, thay đổi bên trong

Cái được lớn nhất của ĐBSCL sau 5 năm gia nhập Tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu WTO là sự chuyển mình tích cực trong việc “thay đổi về chất” từ nền sản xuất “làm ra nhiều sản lượng” nông sản, hướng đến sản xuất hàng hóa “gia tăng giá trị”, đáp ứng nhu cầu thị trường. Các sản phẩm chủ lực của vùng như lúa gạo, thủy sản (cá tra, tôm) đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của quốc gia, chiếm lĩnh thị trường và thị phần thế giới. Trong khi nền kinh tế đất nước trong tình trạng nhập siêu, thì ĐBSCL luôn giữ vững cán cân thương mại của “xuất siêu” nhiều năm liền nhờ đóng góp của các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực. Tư duy, nhận thức từ đồng ruộng, mảnh vườn của người nông dân, doanh nghiệp và năng lực quản trị công của chính quyền đã có “bước chuyển” quan trọng, tầm nhìn hướng ra “sân chơi” rộng lớn hơn với 149 quốc gia và nền kinh tế thành viên WTO.

Đối mặt nhiều thách thức

Thách thức lớn nhất của ĐBSCL là năng lực cạnh tranh của nông sản hàng hóa, do trong bước chuyển từ “nhiều lượng” sang “tăng chất”, do nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, lẻ, dễ bị tổn thương, giá thành sản xuất cao, còn nặng “thói quen,  sức ì” từ sự hỗ trợ trực tiếp. Trước các định chế tài chính toàn cầu của “luật chơi chung”, mở cửa thị trường, xóa bỏ rào cản bảo hộ từ thuế quan, … cộng với “sức ép” của các cường quốc thành viên WTO, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia với lắm “chiêu trò”, biết sử dụng các rào rản kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm để cạnh tranh, chèn ép thành viên mới … là những “vật cản lớn” của nông sản ĐBSCL trên đường hội nhập.
Quá trình gia nhập WTO vừa qua, nhiều DN ở ĐBSCL đã trưởng thành, có bước phát triển quan trọng; song, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ nhìn chung còn thấp, chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất, xuất khẩu chậm, ước tính có khoảng 98% DN trong vùng thuộc qui mô vừa và nhỏ. “Sân chơi lớn” đòi hỏi “đẳng cấp cao” vừa là yêu cầu, vừa là thách thức của các DN trong vùng. Hơn ai hết, DN phải “thích ứng” để tự điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh theo tín hiệu thị trường, tái cấu trúc để tồn tại và không ngừng hiện đại hóa công nghệ, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản trị, nguồn nhân lực.
Thách thức của chặng đường WTO tiếp theo còn đặt ra cho khu vực công với những yêu cầu về tư duy, chiến lược phát triển, chất lượng qui hoạch, kiến tạo môi trường đầu tư … là những “đầu bài mới” cần lời giải cho của các chính quyền địa phương trong vùng.
Tăng cường liên kết vùng
Yêu cầu đang đặt ra cho chính quyền địa phương, doanh nghiệp và nông dân ĐBSCL là phải tăng cường liên kết vùng trong “cuộc chơi mới”. Cần phối hợp xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách liên kết tốt hơn các chuỗi giá trị sản phẩm có lợi thế cạnh tranh của vùng. Thì vì phải phải loay hoay lo “ban phát, chờ đợi” các hỗ trợ “đầu ra” vì mất mùa, rớt giá, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thì tập trung nhiều hơn cho “đầu vào”, hỗ trợ theo chuỗi giá trị để tăng sức cạnh tranh, sức “đề kháng” của nông dân, doanh nghiệp và hàng nông sản. Theo đó; nhà nước phải chủ động bảo vệ doanh nghiệp, hệ thống phân phối trong quá trình hội nhập bằng ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao năng lực cạnh tranh; tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Doanh nghiệp và nông dân phải tích cực chuyển đổi từ nhận thức, phương thức sản xuất kinh doanh đến cách hành xử, ứng phó nhanh nhạy. Yếu tố quyết định trong cuộc chơi toàn cầu là năng lực cạnh tranh ở ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Sân chơi thương mại toàn cầu WTO đang mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng nhiều thácch thức cho ĐBSCL, đòi hỏi vai trò, vị trí của “vùng trọng điểm sản xuất nông sản lớn của thế giới” này phải nỗ lực nhiều hơn nữa.




14 tháng 8, 2012

Đường chờ cầu, cảng chờ luồng

Trần Hiệp Thủy
Lộng lẫy cầu Cần Thơ
Hạ tầng giao thông là 1 trong 3 khâu đột phá của vùng ĐBSCL, thời gian qua luôn được quan tâm đầu tư, đã gắn kết được giao thông liên vùng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đầu tư, phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Song, do chưa quan tâm đúng mức tính kết nối, đồng bộ, liên hoàn giữa các công trình đã dẫn đến tình trạng “đường chờ cầu, cảng chờ luồng” gây lãng phí.
Đó là tình trạng dự án (DA) nâng cấp QL1, đoạn Cần Thơ - Cà Mau sau khi hoàn thành, phải “chờ” DA nâng cấp 16 cầu trên tuyến này do thi công chậm. Nhiều xe tải trọng lớn, container phải “xé lẻ” hàng hóa để lưu thông qua một vài cầu yếu còn sót lại trên tuyến. Tương tự là tình trạng cảng Cái Cui (Cần Thơ) phải chờ luồng Định An và kênh Quan Chánh Bố.
Cảng Cái Cui là DA trọng điểm của Nhóm cảng biển VI, lớn nhất vùng ĐBSCL, đã được đầu tư hàng trăm tỉ đồng, hoàn thành giai đoạn I, một phần giai đoạn II, có khả năng tiếp nhận tàu 20 vạn tấn, nhưng mới được khai thác khoảng 10-20% công suất. Nguyên nhân chính là do các tàu lớn luôn bị “mắc cạn” không vượt qua được luồng Định An. DA Luồng tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu qua kênh Quan Chánh Bố - một “kênh đào Suez” của ĐBSCL - sau thời gian dài tranh cải về sự cần thiết đầu tư, đã được Thủ tướng Chính phủ phát lệnh khởi công cuối năm 2009, với tổng vốn đầu tư khoảng 3.200 tỉ đồng, sau khi hoàn thành giải quyết được tàu 20 vạn tấn ra vào, đã được đầu tư khoảng 1.000 tỉ đồng, nhưng phải đình hoãn thi công do khó khăn về vốn.
Số liệu thống kê cho thấy, khoảng 70% hàng hóa xuất khẩu của ĐBSCL phải trung chuyển lên các cảng khu vực TPHCM đã làm phát sinh chi phí, giảm lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, hàng năm còn một lượng lớn phân bón, nguyên-nhiên liệu nhập khẩu vào vùng phải qua trung gian. Việc giải quyết luồng cho tàu vào cảng Cái Cui nói riêng và cụm cảng ĐBSCL nói chung đổ hàng, ăn hàng vẫn đang là nỗi xốn xang của các cảng và nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu, vận tải trong vùng.
 Vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh đã thống nhất chủ trương tiếp tục triển khai DA Luồng tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu để sớm đưa DA vào khai thác, sử dụng; đồng thời giao Bộ GTVT phối hợp bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất nguồn vốn và hình thức đầu tư phù hợp cho việc nạo vét luồng Định An, chú ý phương án tận thu cát nạo vét để xuất khẩu, hoàn vốn đầu tư. Phó Thủ tướng cũng giao bộ này chủ trì phối hợp BCĐ Tây Nam Bộ và UBND các địa phương rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên các công trình mang tính động lực, đột phá, có vai trò kết nối vùng để tập trung nguồn lực đầu tư đến năm 2015. Trong đó, chọn 1 đến 2 công trình để thí điểm đầu tư theo hình thức PPP.
Giải bài toán kinh phí cho những công trình giao thông là rất quan trọng. Nhưng tính toán tiến độ thi công, hoàn thành các công trình để khắc phục cảnh “đường chờ cầu, cảng chờ luồng” tránh lãng phí còn quan trọng hơn. Nó không nằm ngoài tầm tay của những người có trách nhiệm thực thi.

9 tháng 8, 2012

Tăng cường liên kết doanh nghiệp vùng ĐBSCL

Trần Hiệp Thủy
Vừa qua, Thường trực Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế ĐBSCL - Tiền Giang 2012 đã làm việc, thống nhất với Phòng Thương mại Công nghiệp (VCCI) việc tổ chức Diễn đàn doanh nghiệp (DĐDN) ĐBSCL vào ngày 6.12.2012 tại Tiền Giang. Đây là diễn đàn cấp vùng được tổ chức thường niên từ năm 2010 đến nay, là kênh đối thoại trực tiếp giữa DN với chính quyền địa phương về cơ chế, chính sách, thực tiễn môi trường kinh doanh và những vấn đề có tầm chiến lược, tác động trực tiếp đến cộng đồng DN trong vùng. VCCI đang tích cực phối hợp các hiệp hội DN địa phương thông qua quy chế hoạt động, dự kiến nhân sự, nội dung và phương thức hoạt động... để ra mắt hội đồng tại DĐDN ĐBSCL năm 2012.
Theo ông Hoàng Quang Phòng - Trưởng ban công tác hiệp hội, Chánh Văn phòng VCCI - hiện đã có 8/13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL thành lập hội DN. Song, vấn đề đặt ra từ nhiều năm qua là cần tăng cường liên kết vùng, nâng cao chất lượng hoạt động các hội. Hội đồng các hiệp hội DN ĐBSCL trực thuộc Ban Chấp hành VCCI, là tổ chức tự nguyện, tập hợp các hội, hiệp hội DN trong vùng. Việc ra đời hội đồng này sẽ tạo ra cơ chế tổ chức, tập hợp và phát huy mạnh mẽ hơn vai trò các hiệp hội DN địa phương, khắc phục tình trạng hoạt động “cầm chừng” hoặc hành chính hóa hội. Hội đồng sẽ hoạt động theo cơ chế chủ tịch luân phiên. Nhiều hoạt động liên kết DN sẽ được nâng tầm cấp vùng, với kỳ vọng có nhiều đóng góp, tư vấn, phản biện cho chính quyền địa phương trong việc hoạch định, xây dựng cơ chế, chính sách kinh tế, chiến lược phát triển DN, cải thiện môi trường đầu tư; cách thức tổ chức mạng lưới xúc tiến trong vùng; liên kết các DN để trở thành mạng lưới SXKD liên vùng...
Hội nhập quốc tế đang mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng đầy thách thức. Những khó khăn kinh tế vừa qua đã tác động mạnh đến sự phát triển của đội ngũ DN, nhất là đội ngũ DN non trẻ tại ĐBSCL, chủ yếu với qui mô vừa và nhỏ. Cùng với việc hình thành các “vườn ươm DN”, phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho DN, cổ súy cho sự hình thành các hiệp hội DN, thì việc ra đời Hội đồng các hiệp hội DN vùng đang được kỳ vọng tạo cơ chế tăng cường liên kết vùng các DN hiệu quả, thiết thực hơn trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng của đội ngũ DN ĐBSCL.

7 tháng 8, 2012

“Kê toa” cho y tế ĐBSCL

Bài đăng báo SÀI GÒN GIẢI PHÓNG, Thứ ba, 07/08/2012, 01:10 (GMT+7)
TRẦN HIỆP THỦY
So với cách đây 10 năm, diện mạo ngành y tế ở ĐBSCL đã có nhiều thay đổi, ngành y tế ĐBSCL đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của y tế cả nước và phục vụ sức khỏe cộng đồng. Hệ thống các bệnh viện từ cấp vùng, tỉnh, huyện và các trạm y tế xã được quan tâm đầu tư. Một số bệnh viện tư nhân ở khu vực đô thị xuất hiện, góp phần giảm tải các cơ sở y tế công lập. Theo thống kê, toàn vùng có đến 85% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 95% trẻ em được tiêm chủng. Một số bệnh viện chuyên khoa hình thành, nhiều kỹ thuật điều trị được hỗ trợ từ TPHCM, giúp bệnh nhân không phải vượt tuyến.
Khám bệnh cho con em đồng bào dân tộc ở Miền Tây Nam Bộ (Ảnh: Tăng Bình Quốc - dự thi ảnh đẹp TNB)

Tuy nhiên, “vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản” của cả nước vẫn còn nhiều chỉ tiêu như tỷ lệ giường bệnh, số bác sĩ, cán bộ y tế/vạn dân thấp hơn nhiều vùng miền khác. Đặc biệt bức xúc vẫn là y tế tuyến huyện và cơ sở.
Ai cũng có thể dễ dàng nhận ra 2 căn bệnh trầm kha của ngành y tế ĐBSCL từ nhiều năm qua: cơ sở vật chất và nguồn nhân lực yếu kém, nhưng vấn đề là “bốc thuốc” và “điều trị”. Xét trên phương diện này, “thuốc” đã được chọn đúng, nhưng dường như chưa “đủ liều” và cần một “phác đồ điều trị” thích hợp.

Ngoài các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế như các vùng miền khác, ĐBSCL rất cần những “liều thuốc đặc trị”. Tất nhiên, “thuốc” nào cũng có tác dụng phụ. Trong điều kiện khó thu hút người từ nơi khác về, không có cách nào khác hơn phải chấp nhận ở mức chấp nhận được về chất lượng như đầu vào đào tạo ngành y được tăng chỉ tiêu, tuyển “trên sàn, dưới chuẩn” để tạo thêm cơ hội học tập cho con em, cán bộ y tế vùng này.
Về đầu tư cơ sở vật chất ngành y tế, trong điều kiện vốn xây dựng cơ bản theo kế hoạch hàng năm hạn hẹp, nhu cầu đầu tư lớn, không có cách nào khác phải khơi thông nhiều kênh vốn khác như ưu tiên vốn trái phiếu chính phủ, ODA cho vùng, siết chặt kỷ luật đầu tư từ các nguồn giao địa phương được tự chủ như nguồn vốn xổ số kiến thiết, nguồn thu vượt (như trường hợp của TP Cần Thơ).
Cần khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa các kênh huy động vốn ngoài ngân sách, đặc biệt phải có cơ chế đặc thù để tăng tốc đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực y tế cho đồng bằng. “Phác đồ điều trị” cho y tế đồng bằng chính là mức độ ưu tiên trong đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo nguồn nhân lực. Cần sớm có đề án tổng thể phát triển nguồn nhân lực y tế đặc thù cho vùng ĐBSCL. Trên cơ sở đó, triển khai chương trình mục tiêu y tế vùng tương ứng với sự đóng góp của nó cho cả nước trên mặt trận nông nghiệp. Theo đó, ưu tiên đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa tuyến huyện, liên huyện và trung tâm y tế theo chuyên khoa tại một số tỉnh, thành để phục vụ cả vùng.

Về đào tạo nhân lực cũng cần sự đột phá hơn nữa. Trong các năm qua, ngoài đào tạo hệ chính quy, các địa phương đã có nhiều nỗ lực phát triển đội ngũ y - bác sĩ bằng nhiều hình thức như đào tạo liên thông, theo địa chỉ sử dụng, vừa làm vừa học... Nhưng thực tế còn không ít vướng mắc theo kiểu người đạp ga, kẻ đạp thắng trong vòng luẩn quẩn giải quyết mâu thuẫn giữa số lượng và chất lượng y - bác sĩ. Các địa phương, cơ sở đào tạo hồ hởi, sẵn sàng chi ngân sách tỉnh để đẩy nhanh hơn việc đào tạo cán bộ, nhưng khó thoát khỏi cái vòng chỉ tiêu được phân bổ.

Từ năm 2010, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ phối hợp Trường Đại học Y Dược TPHCM và UBND 13 tỉnh, thành trong vùng xây dựng, đề xuất Bộ Y tế, Bộ GD-ĐT cho triển khai đề án “Đào tạo bác sĩ đa khoa theo địa chỉ sử dụng cho miền Tây Nam bộ”.
Với mong muốn sau 5 năm, ĐBSCL sẽ có thêm 1.840 bác sĩ được đào tạo theo địa chỉ sử dụng cho các địa phương, bao gồm các loại hình bác sĩ đa khoa chính quy, liên thông – một loại hình đào tạo giúp giữ chân cán bộ y tế tiếp tục phục vụ tại vùng sâu, vùng xa.
Để tăng số lượng, phải chấp nhận giảm ở mức có thể được chất lượng đầu vào hệ đại học y dược theo nguyên tắc “trên sàn, dưới chuẩn”. Tuy nhiên, mùa tuyển sinh 2010 - 2011 vừa qua, Trường ĐH Y Dược TPHCM cũng chỉ tuyển được 120 chỉ tiêu đào tạo bác sĩ liên thông của đề án này, chưa thể tuyển đầu vào hệ chính quy do còn vướng chỉ tiêu và nhiều thủ tục ràng buộc...
Một “phác đồ điều trị” bệnh trầm kha cho y tế ĐBSCL cần sự quyết đoán ở cấp cao hơn. 

Cần thêm giải pháp tích cực

Trần Hiệp Thủy
Ngày 5.8,  tại TP. Cần Thơ, Bộ GDĐT tổ chức sơ kết phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (THTTHSTC). Một trong những thành tích ấn tượng của 4 năm thực hiện phong trào này trên cả nước là...  60.000 nhà vệ sinh/40.000 trường đã được xây mới, góp phần làm các mái trường “thân thiện với học sinh” hơn và cũng “thân thiện hơn với cư dân” xung quanh trường.
Trẻ con Miền Tây đến trường (ảnh: hiepcantho)
Chuyện trường học thiếu nhà vệ sinh mấy năm qua ở miền Tây Nam Bộ có lúc còn bức xúc hơn cả “gian lận trong thi cử và bệnh thành tích” trong giáo dục. Cũng phải thôi, trước khi lo “đầu ra” - chất lượng giáo dục học sinh, thì các em cũng cần “đầu mà ai cũng phải ra”, nhưng do người lớn chỉ lo chuyện lớn mà quên chuyện thường... ngày. Theo báo cáo của Bộ GDĐT, thời gian qua, các địa phương trong vùng ĐBSCL đã triển khai xây dựng hơn 20.300 phòng học (chiếm khoảng 82% tổng số phòng học của chương trình), 3.785 nhà công vụ giáo viên (chiếm 50,3% tổng số phòng công vụ của chương trình). Còn nhiều việc phải làm để “kiên cố hóa trường lớp” cho “vùng trũng” giáo dục ĐBSCL. Nhưng kết quả đáng ghi nhận trong việc “xây nhà vệ sinh cho trường học” của cả nước cũng cần được phát huy trong chương trình “kiên cố hóa trường lớp học giai đoạn II” ở ĐBSCL.
Theo đánh giá của ngành GDĐT, phong trào thi đua xây dựng “THTTHSTC" đã có sự “chuyển biến về chất” và đã được “cả xã hội chung tay thực hiện”. Nhiều con số thống kê đáng phấn khởi. Tỉ lệ trường mầm non, phổ thông tham gia phong trào đạt tỷ lệ 99,75%. Nhờ đó, quang cảnh nhà trường tiếp tục được cải thiện, khang trang, xanh, sạch, đẹp, an toàn và các trường thực hiện “3 đủ” (đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở). Phong trào này đã tác động mạnh mẽ tới việc giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống cho học sinh. Tính đến nay, toàn quốc có 59/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Riêng ĐBSCL, 13/13 tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS từ cuối năm 2008 và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi từ cuối năm 2011. Hiện nay đang tập trung củng cố vững chắc và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục THCS, phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, mở rộng quy mô đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề.
Tuy nhiên, đằng sau những con số báo cáo, vẫn còn nhiều nỗi lo trong trường học: Bạo lực học đường, chuyện chạy trường, gian lận thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục, bệnh dạy thêm, học thêm... đang cần những liều thuốc mạnh mẽ hơn nữa. Để trường học thật sự là môi trường thân thiện, học sinh tích cực, còn phải làm nhiều việc. Chuyển biến về chất của giáo dục cần những giải pháp mang tính giáo dục chuyên sâu và khoa học hơn là phát động phong trào, sơ - tổng kết với các con số báo cáo.