22 tháng 6, 2017

Miền Tây - những mảnh giáp bảo vệ cuối cùng đang vỡ: Giải pháp thì nhiều, kết quả chẳng thấy đâu...

Vài lời của tôi: Tôi không phải là Tiến sĩ, nhưng thỉnh thoảng một vài bạn nhà báo vẫn hay nhầm. Bài viết này của bạn Hoàng Văn Minh có tâm, nhưng có phần bi quan. Vì bạn Văn Minh có vài đoạn trích dẫn tôi, có thể do khuôn khổ bài báo có hạn, nên khó diễn đạt đầy đủ, nên tôi cũng cần nói cho rõ. Cá nhân tôi trăn trở, nhưng không bi quan về tương lai của đồng bằng. Tôi vẫn có niềm tin về con người miền Tây khí phách, không chịu khuất phục, còn mang trong người khí chất thời đi mở đất của “Hương rừng Cà Mau” mà ông già Nam Bộ học Sơn Nam đã ghi tạc một góc trời Nam qua mấy dòng thơ “Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu/ Mang theo chiếc độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên/ Với câu chữ: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả...”. Tất nhiên, niềm tin đó không phải là “ngồi cầu trời, khấn phật”.

“Tôi không muốn nói là u ám, nhưng đúng là rất… u ám” - câu cảm thán của TS Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - với chúng tôi cách đây 3 năm, khi nói về những bước chân liêu xiêu đói nghèo của người dân cuối Việt. Sau 3 năm gặp lại, hỏi chuyện cũ, ông Hiệp vẫn nhắc lại câu nói cũ kèm thêm những cái lắc đầu: “Không những không thay đổi được gì mà tình hình ngày càng xấu hơn…”.
Những tan vỡ và mất mát
“Thành phố Bavet” (tỉnh Soài Riêng, Campuchia) bên kia Mộc Bài một trưa nắng tháng 6. Lại là một casino bỏ hoang, nhưng lần này chúng tôi ghé lại bởi ngạc nhiên khi thấy trước cổng có cô bé đầu trần ngồi ôm cái thùng nhựa với ánh mắt chờ đợi đặc trưng của người bán hàng ế khách. Lượm - tên cô bé, 14 tuổi, đến từ bên kia cửa khẩu Mộc Bài ở tận dưới miệt Sóc Trăng, theo ba mẹ qua đây kiếm sống đã nhiều năm sau một thời gian bỏ ruộng, bỏ nhà bôn ba lên Sài Gòn, qua Bình Dương làm công nhân. Lượm bán đồ ăn vặt “xách tay” bỏ trong thùng nhựa.
Em gái Lượm - nhỏ hơn một tuổi, đi bán vé số. Mẹ của chị em Lượm thì bán cóc ổi xoài và tất tần tật những gì có thể ăn được trên một chiếc xe đẩy. Đối tượng phục vụ của gia đình lượm, tất nhiên là những người Việt “vượt biên” sang đây chơi đỏ đen trong các casino còn sót lại đang lay lắt cầm chừng...
Hôm trước ở Long An, chúng tôi vừa “xâm nhập” vào một khu nhà trọ có đến mấy chục gia đình từ Campuchia “vượt biên” qua kiếm sống bằng nghề bán vé số. Chưa hết ngạc nhiên thì hôm nay ở Campuachia lại “đụng” phải không chỉ một cô Lượm mà nhiều những người Việt cũng qua đây kiếm cơm bằng đủ thứ nghề buồn chán, trong đó có rất nhiều cô gái có chút nhan sắc đang “làm gái” trong các casino với giá “dò hỏi” lên đến 1.500.000 đồng cho một lần “tàu nhanh” từ “bọn chăn dắt”.
Mà đâu chỉ có mỗi “thành phố Bavet” này. Ở Singapore, Malaysia, Trung Quốc vùng giáp biên… ở đâu chúng tôi cũng gặp rất nhiều người Việt dắt díu nhau kiếm sống với những nghề cũng rất buồn chán. Và thật buồn là phần lớn trong số họ có xuất xứ từ miền Tây - nơi từng là “mảnh đất xanh”, là “đất hứa” của nhiều thế hệ người dân miền Trung, miền Bắc. Khá giả hơn cả là “biệt đội” những cô gái lấy chồng ngoại, nhưng bi kịch thì đầy rẫy, hơn chục năm nay báo chí kể mãi không hết chuyện.
3 năm trước, trong loạt phóng sự “Liêu xiêu nơi cuối Việt”, chúng tôi đã đi qua những ngôi làng bị “đổi ngôi” khi phụ nữ trong gia đình là người kiếm tiền chính bằng cách đi làm công nhân, còn đàn ông ngược lại ở nhà lo quét dọn nhà cửa, cơm nước, đưa đón con đi học và… nhậu! Đó là một sự tan vỡ, mất mát, bắt đầu từ bữa cơm và sự phân công việc làm trong mỗi gia đình, chỉ dấu báo hiệu cho những tan vỡ và mất mát lớn hơn.
“Thời gian gần đây, tỉ lệ ly hôn ở các gia đình có vợ làm công nhân ở Long An do vợ chủ động tăng đột biến” - một chánh án ở Long An than thở. Một khảo sát bỏ túi của chúng tôi cho thấy, cứ 10 gia đình “đổi ngôi” thì có đến 3-4 đã ly hôn hoặc đang ly thân và người “đâm đơn” hoặc chủ động khép mình là người vợ với một lý do chung như thú nhận của một người vợ rất đau lòng: Sau một thời gia “đi ra” làm công nhân, họ tiếp xúc với nhiều người, nhiều không gian sống cùng bao chuyện mới lạ. Cứ thế một hôm, bỗng dưng họ thấy “thằng chồng” suốt ngày say xỉn và không làm ra tiền của mình ở nhà thật là nhạt nhẽo!
Thời sự, vẫn là hạt gạo bị cắn làm 8

Nếu như gốc rễ của chuyện sạt lở ở ĐBSCL là nạn khai thác cát tràn lan thì gốc rễ của những thân phận bị “tước đoạt” tư liệu sản xuất với nhiều hình thức, đang ngập ngụa trong tín dụng đen trá hình thành “ngân hàng trụ điện” và những hành vi “ác hồn nhiên” đang ngày càng phổ biến ở vùng đất này là gì? Là ĐBSCL sau bao nhiêu năm vẫn là một “vùng trũng” về giáo dục, văn hóa, nhận thức và các thiết chế đi kèm. Là sự đi xuống của hình sin đói nghèo và chưa có dấu hiệu dừng lại.
TS Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - nói “đó là thực tế, một thực tế đau lòng!”. Cách đây hơn 5 năm, chính ông Hiệp là người phát triển “lý thuyết” hạt gạo Việt Nam đang bị cắn chia làm 8 nên lợi nhuận của người trồng lúa teo tóp của TS Nguyễn Văn Sánh - Giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ).
Ông Hiệp bảo, trong 8 phần đó, 4 phần đầu tiên phải chia cho “4 nhà” gồm: Nhà băng (nông dân phải trả vốn, đóng lãi ngân hàng, kể cả vay lãi cao bên ngoài để có tiền đầu tư sản xuất); nhà cung ứng vật tư (mua chịu phân bón, thuốc trừ sâu đầu vụ, trả lãi cao cuối vụ, chiếm tới khoảng 65% chi phí sản xuất); nhà mình (ăn uống, chữa bệnh, học hành, các khoản đóng góp... chiếm thêm 21%); nhà hàng xóm (hoan, hôn, tang, tế…). Còn 4 phần sau?
Ông Hiệp liệt kê: Đó là nhà xuất khẩu (nhà gần như có đặc quyền quyết định giá lúa hằng năm căn cứ vào hiệu quả kinh doanh, mà không nhìn vào hầu bao lép kẹp của nông dân); “ông CPI” (lúa gạo do nông dân làm ra phải làm nhiệm vụ bình ổn giá tiêu dùng, không thể tăng-giảm tự nhiên theo nhịp điệu thị trường thế giới); nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần tích cực vào an ninh lương thực thế giới.
Rồi ông Hiệp ví von: “Sản xuất lúa gạo của nông dân hiện nay như cây đòn gánh. Gánh nặng đầu vào là nguyên liệu, vật tư, phân bón, chi phí ngày càng cao; đầu kia là tiêu thụ lúa gạo bấp bênh; cả 2 đầu đều đang “có vấn đề”. Người nông dân vừa gánh, vừa bị “lắc lư” trong thế dễ ngã”.
Mà đâu mỗi hạt gạo bị “cắn” làm 8 phần, ngay cả con cá, cây mía và các loại nông sản khác cũng bị chặt làm nhiều khúc, chia ra nhiều phần nhưng phần của người nông dân được nhận lại quá nhỏ và bất hợp lý, không tương xứng với công sức họ bỏ ra.
Bất cứ con gì, cây gì, bây giờ nếu bán có lời thì hết 70% tiền lời là những thương lái trung gian, phần lớn là thương lái nước ngoài hưởng. Nhưng nếu lỗ thì người dân chịu hoàn toàn. TS Trần Hữu Hiệp cay đắng: “Câu chuyện sản xuất ở ĐBSCL hiện nay như cái đòn gánh. Một bên là đầu vào nặng trĩu giá vật tư, phân bón, tiền lãi vay; một bên là đầu ra với giá cả bấp bênh, phập phù theo giá thị trường sớm nắng chiều mưa, nên người nông dân ở giữa cứ bước liêu xiêu với tương lai mờ mịt”.
Những “mảnh giáp” bảo vệ của ĐBSCL không những ngày càng mỏng đi mà còn đã và đang vỡ ra, bắt đầu từ việc vắng bóng những mùa lũ “đặc sản” hằng năm mang theo nguồn phù sa vô tận cùng với hạn mặn, thiếu nước và sạt lở bủa vây quanh năm.
Là một nền nông nghiệp bị “bỏ hoang” theo nhiều nghĩa khiến vùng đất này thành “túi nghèo” của đất nước và những dòng người “đóng cửa” ruộng vườn, nhà cửa dắt díu nhau ngược lên Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai… làm công nhân kiếm sống qua ngày. Những kết cấu xã hội và các giá trị đạo đức bị xáo tung, đảo lộn, từ bữa cơm gia đình nguội lạnh và người đàn ông phải chăm con, quét nhà… để vợ yên tâm ra ngoài làm công nhân kiếm tiền lo gia đình. Là những cô gái không chỉ ngược xuôi Nam-Bắc mà còn đến hầu khắp khu vực Đông Nam Á kiếm cơm bằng đủ thứ nghề buồn tủi cùng triết lý “lấy chồng nước ngoài thì có hạnh phúc, có khổ đau nhưng ở nhà lấy chồng quê thì chỉ là bất hạnh”.
Một kết quả nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: Bình quân đất sản xuất của người dân ở đây chỉ có 0,4ha/hộ. Và do quy mô nhỏ lẻ nên thu nhập chia cho số nhân khẩu trong hộ thuần nông còn thấp hơn 1USD/người/ngày - chưa đủ để mua một tô phở! Một con số không thể nào tin được!
Sau nhiều năm gặp lại TS Trần Hữu Hiệp, thời sự của ĐBSCL vẫn là chuyện hạt gạo bị “cắn” làm 8 phần và con cá, cây mía, các loại nông sản bị chặt ra nhiều khúc, chia ra nhiều phần… Hỏi giải pháp và kết quả? Ông Hiệp lắc đầu, thở dài bảo “giải pháp thì nhiều nhưng kết quả lại chẳng thấy đâu và nguy hiểm hơn là thực tế lại ngày mỗi xấu đi…”.

Điều kiện kinh doanh bị 'chặt khúc', doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó

Mặc dù đã đạt được thành tích tăng trưởng vượt bậc trong nhiều năm nhưng ngành lúa gạo vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức và rào cản về chính sách khiến năng lực cạnh tranh bị giảm sút.
Bốc xếp gạo xuất khẩu tại cảng Sài Gòn. Ảnh: Đình Huệ/TTXVN
Vẫn còn bất cập
Không thể phủ nhận, suốt một thời gian dài, Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo đã giúp cải thiện tình hình lộn xộn về xuất khẩu gạo của Việt Nam. Cùng với đó, những quy định khắt khe của Nghị định này còn giúp sàng lọc và loại bỏ các thương nhân không có thực lực cũng như định hướng thương nhân đầu tư lâu dài. 
Tuy nhiên, sau 7 năm áp dụng vào thực tiễn, đến nay Nghị định 109/2010/NĐ-CP đã có những bất cập cần phải thay đổi cho phù hợp. Nhưng, “chỉnh sửa” hay “làm mới” đang là vấn đề được nhiều ý kiến đưa ra và đề nghị Chính phủ cân nhắc. Bởi, nếu thiếu công cụ quản lý hiệu quả thì ngành kinh doanh nhạy cảm như xuất khẩu gạo dễ trở nên bát nháo. Nhưng nếu “bó” quá sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp, thương nhân và tác động tiêu cực trở lại.

Theo giới phân tích, thời gian qua, Nghị định 109/2010/NĐ-CP đã giải quyết cơ bản những bất cập tồn tại nhiều năm trong việc thu mua, tiêu thụ thóc gạo và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Thế nhưng, các điều kiện về kho bãi, vùng nguyên liệu, điều kiện hợp đồng đã trở nên hình thức hoặc trở thành rào cản đối với thương nhân.
Lý giải rõ hơn về vấn đề này, ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ nhấn mạnh, nếu dựa theo quy định hiện nay thì cách tiếp cận để định ra các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo bị “chặt khúc” theo từng tác nhân chứ chưa dựa trên nền tảng mối quan hệ của chuỗi giá trị lúa gạo, mà xuất khẩu chỉ là đầu ra.
Điều này khiến các doanh nghiệp phải gồng mình, đầu tư từ vùng nguyên liệu, năng lực chế biến, kho chứa đến xuất khẩu, không phát huy tính chuyên môn hóa theo thế mạnh của từng doanh nghiệp rồi liên kết lại.
Đưa ra ví dụ cụ thể, ông Trần Hữu Hiệp cho biết, chẳng hạn như doanh nghiệp tư nhân Cỏ May (Đồng Tháp), Công ty CP Thương mại và Sản xuất Viễn Phú (Cà Mau) là những doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gạo đặc sản, hữu cơ với số lượng nhỏ, nhu cầu và khả năng đầu tư xây dựng kho chứa, cơ sở xay, xát thóc gạo còn hạn chế nên không đáp ứng điều kiện theo quy định.

Ngoài ra, một số thương nhân khác lại có thế mạnh về khách hàng, thị trường nhưng không có năng lực tài chính, vốn hoặc đất đai và nguồn nhân lực cần thiết để đầu tư vận hành kho chứa, cơ sở xay xát thóc gạo nên cũng được xếp vào loại không đủ điều kiện. 
Một bất cập nữa cũng được đặt ra là Nghị định số 109 buộc thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc và có ít nhất 1 cơ sở xay, xát thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ. Trong khi doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng dịch vụ này thông qua việc liên kết với một doanh nghiệp chuyên ngành mà không nhất thiết bỏ vốn đầu tư tốn kém.
Do đó, dự thảo Nghị định 109/2010/NĐ-CP đã được Bộ Công Thương điều chỉnh về khung pháp lý và thể chế, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp hội nhập sâu và hiệu quả với thị trường thế giới trong bối cảnh thị trường gạo thế giới đang ngày càng khó khăn khi thị trường do người mua quyết định và tình trạng mất cân đối cung - cầu. 
Tuy nhiên, những khó khăn này bắt buộc phải tính toán để giải phóng lực lượng sản xuất, nhất là các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường thế giới.

Hoàn thiện thể chế 
Bộ Công Thương cho biết, năm 2017 sẽ có sự đổi mới thật sự mạnh mẽ cả về quan điểm, chủ trương và thể chế để hình thành các vùng sản xuất lớn nhằm phục vụ cho việc cơ giới hóa, tự động hóa và đưa công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tạo tiền đề xây dựng thành công thương hiệu gạo.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để làm được điều này ngành lúa gạo sẽ tiếp tục phải đối mặt với không ít khó khăn. Vì vậy, ngành gạo Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện những yếu kém nội tại như sản xuất còn manh mún, khâu chế biến chưa bảo đảm tính liên tục và đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.

Theo kiến nghị của Công ty TNHH xuất khẩu lương thực Khiêm Thanh, dự thảo Nghị định mới cần tạo điều kiện, hỗ trợ để giữ uy tín và chất lượng, tiến tới xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam.
Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách giúp doanh nghiệp xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định qua liên kết với nông dân, cũng như tạo điều kiện mở rộng hệ thống phân phối ở nước ngoài. Đặc biệt hơn cả là phải bình đẳng, công bằng và đảm bảo quyền lợi để các doanh nghiệp tự xuất khẩu các loại gạo chất lượng cao.

Đồng tình quan điểm này, ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty TNHH Trung An bày tỏ, dự thảo Nghị định mới cần đưa ra chính sách thuận lợi giúp các doanh nghiệp tạo được vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước tiến tới việc xây dựng thương hiệu gạo chung.
Đặc biệt, cần có biện pháp kiểm soát, loại trừ tình trạng cạnh tranh không lành mạnh bằng việc giảm giá bán, thiếu ổn định về chất lượng của một số doanh nghiệp gây ảnh hưởng chung tới hoạt động xuất khẩu gạo. 
Các chuyên gia thương mại cho rằng, để xuất khẩu gạo phát triển bền vững, ngành lúa gạo Việt Nam cần một tầm nhìn mới đi kèm với hoạch định chiến lược, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và đem lại giá trị gia tăng tốt nhất cho người nông dân trồng lúa ở Việt Nam cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu.

Ngoài việc hỗ trợ từ phía Nhà nước, các Bộ, ngành địa phương rất cần sự nỗ lực của mỗi doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng để tạo ra bước đột biến đưa hạt gạo mang thương hiệu Việt Nam tương xứng với vị thế mới của đất nước. 
Uyên Hương (TTXVN)

19 tháng 6, 2017

Giải quyết từ gốc



Mục sự kiện & Vấn đề, báo SGGP

“Giải cứu” thịt heo đang làm nóng nghị trường Quốc hội và truyền thông thời gian qua.

Vào Google gõ 2 từ “giải cứu”, trong 0,61 giây lập tức có ngay hơn 9,6 triệu kết quả như một ma trận. Từ việc kêu gọi giải cứu các mặt hàng nông sản như dưa hấu, chuối, hành tím, ớt, gừng, cá tra, cá sấu, thịt lợn đến... giải cứu giáo viên.
Để giải cứu nông sản, nhiều hoạt động mang tính nhân văn được phát động, từ kêu gọi, vận động đến quy định chỉ tiêu phấn đấu kiểu như: mỗi giáo viên phải mua ít nhất 10kg thịt lợn/tháng, đoàn viên, thanh niên đi bán dưa hay ăn dưa hấu là yêu nước, thương nông dân, rồi chỉ đạo “bộ đội ăn thịt lợn” để góp phần tiêu thụ lợn. Tình trạng này đã xảy ra mấy năm qua, là câu hỏi cũ chưa có lời giải mới. “Tín hiệu trục trặc” của thị trường nông sản và điểm yếu trong kết nối cung - cầu của nó đã bộc lộ với điệp khúc nông sản “trúng mùa mất giá, được giá hết hàng” trong vòng luẩn quẩn nhiều năm qua.
Nông nghiệp, nông dân gặp khó như hiện nay đã được phản ánh, nhận diện chủ yếu do các nguyên nhân nội tại. Một là, thời kỳ “hái trái ở cành thấp” trong sản xuất nông nghiệp với khai thác tài nguyên sẵn có, nhân công giá rẻ, sản xuất nhỏ lẻ đã lỗi thời. Hai là, những yếu kém nội tại của ngành, đặc biệt thiếu tư duy đổi mới trong nông nghiệp - vốn được ca tụng một thời, đang chậm lại, không thấy những đột phá mới.
Ba là, kênh tiêu thụ, phân phối, phân khúc thị trường nông sản gặp “vấn đề”; năng lực tài chính, quản trị yếu kém của doanh nghiệp, thiếu liên kết giữa các tác nhân nên chưa tạo ra sức mạnh chung trong chuỗi giá trị nông sản. Nhìn tổng thể, các nông sản quốc gia như lúa gạo, thủy sản, cà phê, tiêu, điều, rau quả đang “bị chặt ra” thành nhiều khúc mà phần thiệt thòi nhiều nhất đang thuộc về nông dân.
Xét ở góc độ kinh tế, việc liên tục phải “giải cứu” nông sản thời gian qua đã cho thấy những tồn tại đáng lo ngại của ngành nông nghiệp. Ai cũng biết các quy luật ngàn đời của kinh tế thị trường là quy luật cung - cầu và quy luật giá trị chi phối từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trên thương trường. Khi không đạt đến “thẻ điểm cân bằng” trong mối quan hệ cung - cầu, hàng hóa sẽ tác động đến giá cả, tác động tiêu cực hoặc tích cực đến sản xuất và tiêu dùng. Cuộc vận động “Người Việt dùng hàng Việt” là cần thiết, nhưng không thể cứ kêu gọi mãi việc “giải cứu” nông sản. Một xã hội cứ chạy theo việc “giải cứu” thì còn thời gian và năng lượng nào để phát triển? Nền kinh tế không thể vận hành trên cơ sở lòng hảo tâm phi thị trường! Không giải quyết vấn đề gốc rễ này, thì việc “giải cứu” chỉ là “vuốt ở phần ngọn” mà thôi. 
Trong khi đó, việc hoạch định cơ chế, chính sách, cách thức quản lý của các cơ quan chức năng dường như vẫn chưa có nhiều thay đổi căn bản đáp ứng kịp với thể chế thị trường hiện đại, còn nặng đường cung, nhẹ đường cầu. Chỉ tiêu phấn đấu của nhiều nơi vẫn còn nặng về lượng, nhẹ về chất nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế dựa trên quy mô số lượng ví như phải sản xuất được bao nhiêu tấn lúa, xuất chuồng bao nhiêu con lợn. Cấp lãnh đạo vẫn quen chỉ đạo nuôi con gì, trồng cây gì bằng điều kiện hiện có mà chưa dựa trên dự báo khoa học từ kết nối cung - cầu và tham gia vào chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu để nắm giữ những phân khúc then chốt của các chuỗi giá trị nông sản. 
Để tạo ra nhiều giá trị, lợi nhuận hợp lý cho nông dân và các tác nhân liên quan để họ có thể sống được với nghề, làm giàu được bằng nghề nông, phát triển các dịch vụ nông nghiệp tương xứng; phải chuyển được từ “quyết tâm chính trị”, vận động phong trào, hô hào cứu giúp sang giải “bài toán kinh tế”.
Tư duy về lợi thế cần được thể hiện trong một chiến lược quốc gia để tạo ra sức cạnh tranh hơn là quanh quẩn trong địa giới hành chính tỉnh, huyện như vừa qua. “Chiếc bánh nông sản” cần được chế biến ngon hơn, bán giá cao hơn, lãi hợp lý hơn cho những người làm ra nó. Nông sản có được phát huy lợi thế cạnh tranh hay không bằng chính tư duy, tầm nhìn và cách làm. Đừng mắc kẹt trong chuỗi các cuộc “giải cứu” như thời gian qua.

Thư viện VideoClip: SẠT LỞ Ở ĐBSCL - NHÌN TỪ BẤT CẬP KHAI THÁC CÁT

7 tháng 6, 2017

Chuyện buồn ở xã Ba Chúc làm nhức nhối lòng người

Trần Hữu Hiệp
TTO - Sự việc 'Hàng trăm huân, huy chương bị bỏ quên suốt 30 năm' ở xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã gây bức xúc trong dư luận. Giải pháp nào để không tái diễn chuyện nhức nhối này?
Các liệt sĩ hy sinh, chắc chắn không vì muốn có tấm bằng để treo trong nhà. Hãy ứng xử trân trọng với quý khứ là ươm mầm cho tương lai.
 
Sau khi vụ việc được phát hiện, cơ quan chức năng tỉnh An Giang đã vào cuộc, lập đoàn thanh tra liên ngành làm việc với huyện và cơ sở, tổng kiểm tra, rà soát các chế độ đối với hàng trăm trường hợp người có công, gia đình chính sách bị bỏ quên, với cam kết “không để đối tượng chính sách nào bị thiệt thòi” và làm rõ trách nhiệm của cá nhân, đơn vị.
Nhức nhối lòng người
Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ “khắc phục hậu quả” hay “bù lỗ” cho sự thiệt thòi của người có công do tiền thưởng bị mất giá qua mấy mươi năm, mà quan trọng hơn là yêu cầu xử lý trách nhiệm những người liên quan.
Bên cạnh đó là đòi hỏi phải có giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách và thực thi hiệu quả, trách nhiệm rõ ràng, công khai, minh bạch một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công nhìn từ cấp địa phương.
Tại sao khi một cán bộ phụ trách lao động - thương binh và xã hội chết mới phát hiện vụ việc bị bỏ quên 30 năm liên quan đến hàng trăm người có công? Đó không thể là do sơ suất của một cá nhân mà thuộc về trách nhiệm của cả bộ máy được giao thực hiện một chính sách lớn, đòi hỏi phẩm chất đạo đức công vụ, thể hiện cái tâm của người làm chính sách “đền ơn, đáp nghĩa”.
Thực hiện chính sách ưu đãi người có công là nghĩa vụ của chúng ta, thể hiện sự ghi nhận, trân trọng những cống hiến của họ đối với đất nước. Đó không chỉ là công vụ, dựa trên nền tảng pháp luật, mà còn mang tính nhân văn, dựa trên nền tảng đạo đức và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Đó cũng không chỉ là thái độ ứng xử của hiện tại đối với quá khứ mà còn đối với tương lai, mang ý nghĩa giáo dục cho thế hệ trẻ về trách nhiệm, ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên để cống hiến cho sự nghiệp gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ những giá trị tốt đẹp, những thành quả to lớn mà cha ông xây đắp nên.
Qua báo Tuổi Trẻ, người đọc rưng rưng với tâm sự của bà Vi Thị Kim Niên, con ông Vi Văn Tòng, một trong hàng trăm trường hợp người có công bị bỏ quên: “Mấy ổng kêu làm giấy ủy quyền để nhận bằng khen nên anh em tui mất ăn mất ngủ đi làm giấy tờ liền. Tại sao bằng khen ký năm 1987 mà không phát lúc đó, đợi khi mấy cụ chết hết mới trao tặng?”.
Câu hỏi đó làm nhức lòng người.
Công khai đến tận cộng đồng dân cư
Vụ việc ở An Giang là bài học chung, nhưng đừng để bài học trách nhiệm này cán bộ học hoài không thuộc, rút kinh nghiệm hoài mà vẫn còn phải rút. Cần quan tâm mấy việc sau đây:
Một là, tránh cách làm “theo đuôi sự việc”, tức khi có sai phạm xảy ra mới kiểm tra, xử lý. Mà cần có cơ chế kiểm tra và chủ động rà soát, quy trách nhiệm cho từng cán bộ, ngành chức năng.
Cần nhớ rằng cách đây mấy năm, các địa phương đã thực hiện chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 27-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình “Tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong 2 năm 2014-2015”. Nhưng tại sao hàng trăm trường hợp này vẫn không được phát hiện? Liệu có còn trường hợp tương tự như An Giang nào nữa không? Nên việc rà soát, kiểm tra phải thực chất, xử lý đến nơi đến chốn các sai phạm.
Hai là, cần tiến tới ứng dụng tốt công nghệ thông tin quản lý việc thực thi chính sách người có công từ trung ương đến cơ sở, địa bàn dân cư với yêu cầu công khai, minh bạch hơn, đến tận cộng đồng dân cư. Làm như vậy, vừa gắn việc vinh danh đóng góp của người có công và giáo dục truyền thống, vừa tăng cường kênh thông tin giám sát của người dân trong việc thực thi các chính sách người có công, để việc thực hiện chính sách quan trọng này không bị đóng khung trong ranh giới các cơ quan hành chính mà là trách nhiệm chung của cộng đồng.
Ba là, cần xã hội hóa hoạt động ưu đãi người có công với cách mạng, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa ba chủ thể Nhà nước, đối tượng ưu đãi và cộng đồng, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Đến từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng để thực hiện chính sách người có công với thái độ trân trọng, trách nhiệm cao phải là phương châm công tác của cán bộ lao động, thương binh - xã hội và yêu cầu công tác của cấp ủy, chính quyền thời gian tới.


1 tháng 6, 2017

Lập “bản đồ tư duy” ứng phó sạt lở

Trần Hữu Hiệp
Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng cùng đoàn công tác Trung ương vừa thị sát thực tế tình hình sạt lở nghiêm trọng tại Cà Mau, đồng thời, chỉ đạo các giải pháp ứng phó trước mắt cũng như lâu dài các tình huống thiên tai cũng như “nhân tai” gây nên.
Thời gian qua, liên tục các vụ sạt lở nghiêm trọng dọc bờ sông Tiền, sông Hậu và ven biển ĐBSCL đã xảy ra, tạo ra các cuộc “chạy lở” bất an. Chính quyền tỉnh An Giang phải dùng biện pháp cưỡng chế để bảo vệ an toàn tính mạng người dân, còn lại chấp nhận để miệng hà bá nuốt chửng một góc thị tứ sung túc bên bờ sông Vàm Nao.
Liền sau đó, Đồng Tháp cũng phải ban bố tình trạng khẩn ứng phó sạt lở. Các đoàn công tác của các nhà khoa học, lãnh đạo bộ, ngành Trung ương liên quan và Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã trực tiếp khảo sát, chỉ đạo các giải pháp khắc phục trước mắt, lâu dài ứng phó căn cơ tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển ở vùng này.

Theo số liệu của Bộ NN-PTNT, ĐBSCL hiện có 406 đoạn sạt lở, với tổng chiều dài 891km. Trong đó, An Giang có 51 đoạn bờ sông bị sạt lở với tổng chiều dài khoảng 162km, đe dọa an toàn hơn 20.000 hộ dân, hơn 5.380 hộ dân cần di dời khần cấp.

Nguyên nhân sạt lở được nhận diện từ tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng; đặc biệt là sự thiếu hụt lượng phù sa, cát sỏi lòng sông do việc xây đập thủy điện và chuyển nước dòng chính Mê Công của các quốc gia đầu nguồn, tạo ra các tác động tiêu cực xuyên biên giới làm thay đổi sự ổn định theo quy luật tự nhiên ngàn đời nay của sông Mê Công. Cùng với đó là những nguyên nhân nội tại do việc quản lý, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước trời cho của chúng ta, tình trạng cát tặc lộng hành và những lỗ hổng trách nhiệm trong quản lý. Trên hết là hệ quả của những tác động tích lũy, liên hoàn, cộng hưởng từ các tác động tiêu cực nêu trên.
Sạt lở bờ sông không phải đến bây giờ mới có. Nhưng cái đáng lo bây giờ là khai thác cát tràn lan, rồi lượng phù sa sông Mê Công không được về đồng bằng như các nhà khoa học đã đề cập. Các thị trấn, thị tứ đông đúc, mua bán sầm uất, cất nhà, xây dựng các công trình ngay bên bờ sông, kè lấn sông... lại “nện” thêm vào phần đất vốn yếu, mỏng do bị nước xâm thực, càng gia tăng nguy cơ sạt lở. Theo các nhà khoa học, 23 hố xoáy của ĐBSCL nằm trong khoảng 500 hố xoáy trên dòng Mê Công và đã có từ lâu. Nhưng một khi tính quy luật “thủy động lực” của dòng chảy con sông bị tác động, lượng phù sa giảm sút nghiêm trọng làm thay đổi dòng chảy, không chỉ làm cho các hố xoáy hung dữ hơn mà còn bào mòn lòng sông sâu hơn, sạt lở bờ sông nghiêm trọng hơn.

Rõ ràng, vấn đề sạt lở ở ĐBSCL cần được tiếp cận hệ thống chứ không thể quanh quẩn tại các điểm sạt lở hay trong ranh giới hành chính một tỉnh, một huyện. Với thực trạng “thiếu phối hợp, thừa chồng chéo” trong quản lý, liên kết vùng, rất cần giải pháp công trình khi cần thiết, nhưng quan trọng hơn đó là các giải pháp phi công trình. Cần một “bản đồ tư duy” ứng phó sạt lở trước khi vẽ ra bản đồ sạt lở. Bản đồ tư duy không chỉ vẽ ra chuỗi thông tin mà còn dựng lên cấu trúc tổng thể vấn đề với mức độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó đối với nhau; giúp liên kết các giải pháp kết nối để ứng phó trước các tác động tích lũy, liên hoàn, mà hiện tượng sạt lở chỉ là một chỉ dấu.

Rất cần một cuộc tổng khảo sát, điều tra, đánh giá tổng hợp khoa học cả về tình hình, nguyên nhân sạt lở bờ sông, bờ biển để  đề ra giải pháp, lộ trình phù hợp. Trên cơ sở đó, huy động các nguồn lực phù hợp với điều kiện hoàn chỉnh các hệ thống quy chuẩn chống sạt lở bờ sông. Trước mắt, cần tận dụng nguồn vốn đầu tư Chương trình cụm tuyến dân cư ngập lũ ĐBSCL cũng như ổn định dân cư “chạy lở”. Giải pháp dài hạn là phải xây dựng kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu cho mỗi địa phương và cả vùng ĐBSCL; rà soát lại quy hoạch xây dựng, giao thông, thủy lợi, thủy điện để có những điều chỉnh hợp lý, đảm bảo sự an toàn về nhà ở cho người dân và các công trình xây dựng.


29 tháng 5, 2017

Truy xuất nguồn gốc cát

Trần Hữu Hiệp
TTO - Tại sao hàng gian, thực phẩm bẩn truy xuất được nơi sản xuất để xử lý, còn cát thì không? Có hay không “khoảng trống trách nhiệm” khi có sự chồng chéo giữa các bên quản lý khai thác cát để cát tặc lợi dụng?
Các vụ sạt lở bờ sông Tiền, sông Hậu nghiêm trọng xảy ra liên tục gần đây đã được nhận diện bởi thủ phạm chính là cát tặc.
Đó cũng chính là “nhân tai” bị các nhà khoa học vạch mặt trong việc làm hỏng “chiếc áo giáp phù sa” bồi lắng từ hệ thống sông chảy ra biển, vốn là vũ khí lợi hại bảo vệ vùng bờ, nay phải gánh hệ lụy 600km bờ biển ở ĐBSCL bị xói mòn.
Cát tặc không chỉ xảy ra ở vùng sông nước Cửu Long, mà đã trở nên phổ biến ở khắp các nơi trên cả nước, có lúc hoạt động ngang nhiên.

Những con số thống kê sơ bộ không khỏi làm nhiều người giật mình. Mặc dù từ cuối năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã cấm xuất khẩu cát, nhưng nhiều phi vụ lại nghiễm nhiên khoác lên mình “chiếc áo” cát nhiễm mặn từ việc tận thu do nạo vét luồng lạch, chỉ trong các năm 2013-2016 đã có khoảng 43 triệu khối cát xuất sang Singapore. Nhu cầu cát xây dựng trong nước cũng tăng nhanh, làm nóng thị trường. Nếu như thống kê nhu cầu sử dụng cát trong nước năm 2015 chỉ vào khoảng 92 triệu m3, thì ước đến năm 2020 sẽ tăng lên 130 triệu m3.
Với tốc độ khai thác và “xuất khẩu tài nguyên” như vừa qua, các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho rằng 15 năm sau nguồn tài nguyên cát sẽ cạn kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái dưới nước vùng sông và bờ biển.
Mấy ngày nghỉ lễ vừa qua, chỉ riêng TP Cần Thơ cơ quan công an đã kiểm tra, bắt giữ 30 tàu chở cát trên sông không xuất trình được hóa đơn, chứng từ. Chắc chắn đó chỉ là một vài vụ lẻ bị phát hiện trên đường đi bằng các “tàu ngầm” nửa chìm, nửa nổi vận chuyển “cát đen” từ các điểm khai thác, mua bán trái phép đến nơi tiêu thụ.
Thủ tướng đã ban hành nhiều văn bản, chỉ đạo chấn chỉnh tình trạng khai thác cát trái phép. Nhưng vấn đề tại sao cho đến nay vấn nạn này chưa được ngăn chặn hiệu quả?

Rõ ràng đang có những “lỗ hổng” quản lý lớn cần khắc phục. Theo Luật khoáng sản, việc cấp phép thuộc chính quyền địa phương và quản lý của ngành tài nguyên - môi trường, nhưng ngành giao thông lại có quyền cho nạo vét luồng lạch.
Các nhà quản lý cũng đã nhận diện được “khoảng trống trách nhiệm” khi có sự chồng chéo giữa các bên quản lý khai thác cát nên dễ bị cát tặc lợi dụng. Vấn đề đặt ra là tại sao hàng gian, thực phẩm bẩn truy xuất được nơi sản xuất để xử lý, còn đối với cát thì không?
Câu chuyện cát tặc không chỉ đòi hỏi phải siết chặt quản lý, các biện pháp hành chính như xử phạt nghiêm, thậm chí xử lý hình sự mà cần các giải pháp đồng bộ. Khai thác cát hợp lý và khoa học sẽ góp phần khơi thông dòng chảy, hạn chế tình trạng sạt lở đất bờ sông và đáp ứng nhu cầu xây dựng.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, sản xuất vật liệu thay thế cát và áp dụng tiêu chuẩn “trách nhiệm xã hội, môi trường”, cụ thể hóa thành quy chuẩn ngành xây dựng. Quan trọng hơn, phải áp dụng tiêu chí “truy xuất nguồn gốc cát” đối với tất cả các công trình xây dựng có sử dụng vật liệu cát tự nhiên.

Yêu cầu này là bắt buộc trong đấu thầu và với các nhà thầu xây dựng. Truy xuất nguồn gốc cát sẽ tạo ra công cụ theo dõi, nhận diện và truy nguyên nguồn gốc để loại trừ, góp phần quan trọng chống cát tặc.

27 tháng 5, 2017

Xuất khẩu gạo cần “hệ điều hành” mới


Trần Hữu Hiệp
Báo Công Thương, ngày 20/05/2017
Bộ Công Thương đang chủ trì phối hợp các bộ, ngành, địa phương tổ chức tổng kết, đánh giá thực tiễn 7 năm thi hành Nghị định 109/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo để lấy ý kiến, trình ban hành Nghị định mới. Thay thế Nghị định 109 là cần thiết, nhưng vấn đề đặt ra là chỉ “chỉnh sửa” hay phải “làm mới” cho phù hợp yêu cầu, tình hình thực tế?

Một số quy định về kho chứa gạo không phù hợp cần được bãi bỏ
Điều kiện xuất khẩu gạo -“chiếc áo chật”!
Các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo cần được nhìn nhận dưới góc độ: Tại sao cần? Quá trình thực hiện đã bộc lộ những bất cập gì cần thiết phải thay đổi? Bởi, nếu thiếu công cụ quản lý hiệu quả thì ngành kinh doanh nhạy cảm như xuất khẩu gạo dễ trở nên bát nháo, nhưng “bó” quá thì gây khó khăn cho doanh nghiệp, thương nhân, tác động tiêu cực trở lại.
Không thể phủ nhận, Nghị định 109 đã có những đóng góp tích cực, góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động xuất khẩu gạo và công tác điều hành xuất khẩu có trật tự, nâng cao năng lực thương nhân khi tham gia vào ngành kinh doanh quan trọng này của đất nước.
Một thời gian dài xuất khẩu gạo lộn xộn. Nghị định đã có tác dụng sàng lọc, loại bỏ các thương nhân không có thực lực, số lượng đầu mối xuất khẩu gạo ổn định khoảng 140-150 doanh nghiệp. Qua đó, định hướng thương nhân đầu tư lâu dài phục vụ xuất khẩu gạo. Theo số liệu thống kê, đến đầu năm 2016, tổng lượng kho chứa thóc, gạo của 143 thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo đạt trên 5,34 triệu tấn, tổng công suất bóc vỏ đạt 20.731 tấn thóc/giờ, năng lực xát trắng, đánh bóng đạt 25.360 tấn gạo/giờ; năng lực sấy đạt gần 10.915 tấn thóc/giờ; giải quyết cơ bản những bất cập tồn tại nhiều năm trong việc thu mua, tiêu thụ thóc gạo, sơ chế, chế biến kịp thời sản phẩm thóc, gạo cho người nông dân, giảm tổn thất sau thu hoạch, nhất là vào thời điểm thu hoạch rộ, nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo ràng buộc có tác dụng thúc đẩy các các thương nhân thực hiện trách nhiệm liên kết sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, tiêu thụ lúa gạo.
Thế nhưng, các điều kiện về kho bãi, vùng nguyên liệu, điều kiện hợp đồng… đã trở nên hình thức hoặc trở thành rào cản đối với thương nhân. Có điều kiện được xác lập, các hợp đồng được ký kết chỉ để thỏa điều kiện theo quy định; trong khi quy định về điều kiện bộc lộ nhiều bất cập.
Thứ nhất, cách tiếp cận để định ra các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo bị “chặt khúc” theo từng tác nhân là thương nhân chứ chưa dựa trên nền tảng mối quan hệ của chuỗi giá trị lúa gạo, mà xuất khẩu chỉ là đầu ra. Buộc doanh nghiệp phải gồng mình, đầu tư từ vùng nguyên liệu, năng lực chế biến, kho chứa đến xuất khẩu, không phát huy tính chuyên môn hóa theo thế mạnh của từng doanh nghiệp rồi liên kết lại.
Thực tế, có doanh nghiệp mạnh về tổ chức sản xuất, chế biến. Có doanh nghiệp mạnh về năng lực dịch vụ xuất khẩu, kinh doanh logistics. Họ có thể tập trung đầu tư theo từng công đoạn và hợp lực theo chuỗi liên kết. Một số doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gạo đặc sản, hữu cơ với số lượng nhỏ, nhu cầu và khả năng đầu tư xây dựng kho chứa, cơ sở xay, xát thóc gạo còn hạn chế nên không đáp ứng điều kiện theo quy định như trường hợp Doanh nghiệp tư nhân Cỏ May (Đồng Tháp), Công ty CP Thương mại và Sản xuất Viễn Phú (Cà Mau). Một số thương nhân chuyên kinh doanh thương mại, mặc dù có khách hàng, thị trường; nhưng không có năng lực tài chính, vốn hoặc đất đai và nguồn nhân lực cần thiết để đầu tư vận hành kho chứa, cơ sở xay xát thóc gạo theo quy định; do đó không đáp ứng đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận.
Thứ hai, các quy định về điều kiện dựa trên quy mô số lượng, chưa coi trọng giá trị và chất lượng. Nghị định số 109 buộc thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc và có ít nhất 1 cơ sở xay, xát thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ. Trong khi doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng dịch vụ này thông qua hợp đồng mà không nhất thiết bỏ vốn đầu tư tốn kém và không hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp có thế mạnh chuyên ngành. Vị trí đặt các kho chứa hay cơ sở xay xát cũng bị “gò” theo ranh giới hành chính. Trong khi doanh nghiệp hoàn toàn có thể chọn lựa vị trí sinh lợi tốt nhất để đầu tư.
Ngoài ra, nhiều ý kiến đề nghị xem xét bãi bỏ các quy định như: Bắt buộc thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 10% số lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong 6 tháng trước đó; về đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo...
Rõ ràng, mặc dù có những đóng góp quan trọng, nhưng Nghị định 109 đang là “chiếc áo chật”, cần thay đổi.
Cần “hệ điều hành” mới
Khi những bất cập của chuỗi giá trị lúa gạo đã bộc lộ mang tính hệ thống, thì giải pháp phải được hoạch định trên cơ sở tư duy hệ thống, cách tiếp cận theo chuỗi và giải quyết tổng thể.
Cần cân đối hài hòa giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu lương thực, thực phẩm. Xây dựng cơ chế điều hành xuất khẩu gạo linh hoạt, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước là yêu cầu đặt ra từ nhiều năm nay nhưng vẫn chưa làm được. Nhà nước tham gia chuỗi giá trị lúa gạo với vai trò của một tác nhân quan trọng, hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chỉ đạo sản xuất lúa, điều tiết thị trường, xuất khẩu gạo gắn với chiến lược an ninh lương thực quốc gia.
Điều kiện mới về kinh doanh xuất khẩu gạo cần bỏ các quy định bất cập như đã nêu trên. Các điều kiện “thô” về quy mô kho chứa, cơ sở xay, xát thóc gạo, không khống chế địa bàn đầu tư xây dựng, mà cần tập trung các tiêu chí “mềm” như: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, điều kiện về an toàn thực phẩm, ưu tiên đầu tư theo hướng gạo sạch, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao... Thương nhân được xuất khẩu gạo không hạn chế về số lượng. Khi xuất khẩu chỉ cần thực hiện thông báo, thủ tục xuất khẩu thực hiện tại cơ quan hải quan để kiểm soát tối thiểu đầu ra. Cần bổ sung thêm các quy định cần thiết về liên kết xây dựng vùng nguyên liệu được tiếp cận theo chuỗi giá trị chứ không phải bằng các thủ tục hành chính, bảo đảm chất lượng gạo xuất khẩu, công tác phát triển thị trường xuất khẩu, việc ký kết các thỏa thuận về thương mại gạo với các nước.
Đã đến lúc cần hành động cho việc nhận thức lại về ngôi vị “cường quốc xuất khẩu gạo”. Xuất gạo thô vốn có giá trị gia tăng rất thấp, trong khi nhiều quốc gia kém lợi thế hơn đang chọn con đường “sáng tạo” hơn là phát triển các ngành công nghiệp sau gạo. Cách thức lập trình “hệ điều hành mới” chắc chắn quan trọng hơn nhiều những điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo được siết chặt hay nới lỏng hơn đối với thương nhân thời gian tới.
Trần Hữu Hiệp


4 tháng 5, 2017

Chạy lở, “nước đói” và sự biến dạng đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Mấy năm nay, ĐBSCL vắng bóng mùa nước nổi, thưa dần hoặc không còn cảnh chạy lũ. Nhưng nhiều người dân vùng này hiện đang rơi vào tình thế khắc nghiệt hơn, nguy hiểm hơn. Đó là cảnh nhốn nháo, bất an lo chạy lở.
Sông Tiền, sông Hậu vốn hiền hòa, bao đời mang phù sa kiến tạo đồng bằng. Nay sông mẹ như trong cơn đói nước, thiếu thức ăn phù sa, tính khí hung dữ, thất thường, tạo ra cơn cuồng phong bằng các trận sạt lở bờ sông nghiêm trọng.

Mới đây, một góc thị tứ sung túc bên bờ sông Vàm Nao, huyện Chợ Mới (An Giang) bỗng chốc biến mất trước sức mạnh thủy thần, góp thêm nỗi lo cho việc phải di dời khoảng 20.000 hộ dân sống ven sông của tỉnh An Giang.
Các vụ sạt lở xảy ra khá phổ biến, không chỉ ở tỉnh đầu nguồn sông Hậu, mà còn xuất hiện thường xuyên ở nhiều địa phương như Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp... và dọc bờ biển.
Khi sạt lở diễn ra trên diện rộng thì rõ ràng là đã có sự mất cân bằng trên toàn hệ thống. Vấn đề sạt lở ở ĐBSCL cần được tiếp cận hệ thống và nhận diện thủ phạm chính.
Nguyên nhân sạt lở được nhận diện từ những bất cập nội tại của vùng, tình trạng cát tặc lộng hành, việc khai thác, sử dụng bất hợp lý nguồn tài nguyên nước cùng các tác động tiêu cực xuyên biên giới làm thay đổi sự ổn định theo quy luật tự nhiên ngàn đời nay của sông Mekong.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, các vụ sạt lở ở vùng này đã cuốn trôi khoảng 500ha đất mỗi năm. Tình trạng sạt lở đang diễn biến phức tạp, thất thường, không theo quy luật. ĐBSCL hiện có 265 điểm sạt lở, với tổng chiều dài lên đến 450km.
Những vụ sạt lở bờ sông thường diễn ra vào mùa mưa. Tuy nhiên, những năm gần đây thì xuất hiện ngày càng nhiều và ngay giữa mùa khô mà điển hình là vụ sạt lở nghiêm trọng xảy ra ở tỉnh An Giang ngày 22-4 vừa qua.
Trong cơn đói phù sa do các quốc gia đầu nguồn Mekong chặn dòng, xây đập thủy điện, hay chuyển nước trên dòng chính như kiểu “trích máu dòng sông” mà nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy không chỉ làm mất đa dạng sinh học, giảm lượng thủy sản, mà nghiêm trọng hơn là sự sụt giảm khoảng một nửa lượng phù sa sông Mekong vốn là nguồn trầm tích kiến tạo nên và nuôi 
sống đồng bằng.
Sông Tiền, sông Hậu còn bị thêm “cú đấm hội đồng” của tội đồ “cát tặc” lộng hành và hệ thống đê bao cục bộ “mạnh ai nấy làm”. Tình trạng sử dụng nước ngầm quá mức gây lún đất và tạo ra các vết nứt bị khoét rỗng thành hố, từ đó bị tác động bởi thủy triều.
Khi mất lượng phù sa, tài nguyên cát bị vơ vét cạn kiệt, sông Tiền, sông Hậu bị bào mòn nghiêm trọng, làm thay đổi dòng chảy, lòng sông sâu hơn, tạo ra hiện tượng “nước đói”, xâm thực bờ sông.
Thiếu lượng phù sa sông Mekong còn tạo ra hiện tượng “nước biển đói” ở các cửa sông vùng ĐBSCL. Theo các chuyên gia, hiện có hơn 300km bờ biển, tức hơn phân nửa chiều dài bờ biển ĐBSCL đang sạt lở trầm trọng, mỗi năm mất khoảng 5km2 đất.
Bên cạnh việc ứng phó khẩn cấp tạm thời tình huống thiên tai do sạt lở, phải di dời, đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản người dân, đã đến lúc cần có các giải pháp căn cơ trong thế chủ động, khắc phục nguyên nhân trước nguy cơ của thiên tai và thiên tai làm biến dạng đồng bằng.
Cần vẽ bản đồ sạt lở cho đồng bằng kèm theo các giải pháp ứng phó trước mắt 
và lâu dài, mạnh tay dẹp loạn cát tặc.
Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, bố trí dân cư, tổ chức sản xuất đều phải đặt trong bối cảnh tổng thể, phải tính đến những mục tiêu ứng phó dài hạn, nhưng cũng không quên những mục tiêu trước mắt là người dân phải sống, con em phải đi học, tạo sinh kế cho người dân trong an toàn.
Tình trạng sạt lở nghiêm trọng ở ĐBSCL cần được giải quyết ngay từ các vấn đề nội tại của vùng, nhưng cũng rất cần được trợ lực bằng các định chế quốc tế như nâng cao vai trò thực chất và hiệu quả hoạt động của Ủy hội sông Mekong, kèm theo các giải pháp tăng cường ngoại giao, hợp tác song phương và đa phương để giảm thiểu các tác động tiêu cực liên quan 
đến tài nguyên nước sông Mekong.

TRẦN HỮU HIỆP

5 tháng 4, 2017

Sản xuất nông nghiệp như chơi lô tô

Trần Hữu Hiệp
TTO - Báo cáo xuất nhập khẩu lần đầu tiên được Bộ Công thương công bố mới đây cho thấy một bức tranh khả quan. Năm 2016, mặc dù thị trường thế giới có nhiều bất ổn, song Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, tăng 9% so với năm trước, đạt 176,6 tỉ USD. Trong đó, các mặt hàng nông, thủy sản chiếm vị trí quan trọng, góp phần cải thiện cán cân thương mại từ nhập siêu 2,55 tỉ USD năm 2015 sang xuất siêu 2,52 tỉ USD năm 2016. Nhóm hàng này đã góp 7/24 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD.
Nhưng cùng với thông tin khả quan về xuất khẩu năm qua là hàng loạt nỗi lo tắc đầu ra nông sản trong các tháng đầu năm nay. Như có tính chu kỳ, khó khăn lặp đi lặp lại, biết trước nhưng không lường được.

Hàng loạt nông sản lại rớt giá, hậu quả là bà con nông dân lãnh đủ. Nông dân nuôi heo, trồng chuối năm qua đã “bại trận” vì giá heo hơi, giá chuối rớt thảm. Nay nhiều bà con ở miền Tây, miền Trung, Tây Nguyên lại tiếp tục “méo mặt” vì giá dưa hấu, giá ớt, hành tím, vú sữa... rơi tự do từ chục lần đến vài chục lần. Trong khi đó, do giá cá tra nguyên liệu lên cao khiến nhiều người đang mở rộng ao nuôi dù chưa biết chắc vụ sau sẽ thắng hay thua.
Giá các mặt hàng nông sản cứ quay như chong chóng, lên xuống thất thường. Nông dân vì thế cũng xoay xở theo giá như con lật đật. Và tới mùa thu hoạch, bà con lại như chờ quay số lô tô.
Tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập nông dân, không phải bây giờ mới nhận ra là nhu cầu bức xúc. Nhưng tiếc thay, tình trạng “mạnh ai nấy làm” đã đẩy nông dân vào cảnh sản xuất như chơi quay số, phó mặc cho may rủi.
Chọn cây trồng, vật nuôi nào tưởng dễ, hóa ra là câu hỏi khó cho bà con. Người ta trách nông dân “nói hoài không nghe”, cứ chạy theo “phong trào”. Nhưng nghe theo khuyến cáo của chính quyền, ngành chức năng, nhiều lúc cũng phải “chịu thua”.
Mấy năm trước, nhiều nông dân ở miền Tây đã chuyển sang trồng lúa chất lượng cao, có địa phương đạt hơn 70% diện tích canh tác. Trớ trêu là lúa chất lượng cao “bị cào giá” như chất lượng thấp, thương lái không mua, nông dân “lãnh đủ” phần thua thiệt.
Yêu cầu sản xuất phải kết nối với thị trường là vấn đề khó “vượt tầm” của nông dân. Các “chiến dịch giải cứu nông sản”, giúp đỡ nông dân mà nhiều nơi đang làm là cần, nhưng chỉ mang tính đối phó nhất thời.
Bà con nông dân đang cần tập hợp lại cùng với các doanh nghiệp đủ mạnh phát triển sản xuất theo các chuỗi giá trị được quản lý từ đầu vào đến đầu ra. Nông dân cần “cung hàng sỉ” ổn định lâu dài hơn là chính sách “cấp hàng lẻ” nhất thời.
Tư duy làm chính sách cần được đổi mới mang tính chủ động, dựa vào thế mạnh, tiếp cận theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực vùng đang là đòi hỏi hết sức bức thiết.
Những chỉ dấu về việc hàng loạt nông sản rớt giá, đang tắc đầu ra, đòi hỏi nền nông nghiệp phải chuyển đổi để thích ứng trước nhiều thay đổi nhanh chóng của thị trường nông sản thế giới.

Vai trò của các cơ quan nhà nước với các vấn đề xuyên suốt vượt ra ngoài khuôn khổ nông nghiệp truyền thống, cần bớt chỉ đạo, tăng kiến tạo, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân nhiều hơn bằng chính sách và công cụ mà chỉ Nhà nước mới có.

LIÊN KẾT VÙNG ĐỂ XỬ LÝ RÁC

Trần Hữu Hiệp
TTO - Câu chuyện “Đồng bằng sông Cửu Long loay hoay với rác” (Tuổi Trẻ ngày 26-3) đòi hỏi cần giải bài toán căn cơ hơn cho vấn đề rác thải ở khu vực này.

Rác đang là bài toán nan giải đối với nhiều tỉnh thành ở ĐBSCL. Trong ảnh: Nhà máy xử lý rác thải Tâm Sinh Nghĩa (Long An) - Ảnh: An Long
Yêu cầu “xây dựng và ban hành luật tái chế, coi chất thải trong nước là tài nguyên” đã được xác định trong chiến lược quốc gia tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Nhưng con đường đưa rác thải của vùng ĐBSCL từ gánh nặng môi trường trở thành tài nguyên của xã hội cần nhiều nỗ lực và giải pháp đồng bộ hơn nữa
Nhìn ở cấp độ vùng, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện chưa có quy hoạch hệ thống xử lý rác thải. Giải quyết vấn đề môi trường vốn không phụ thuộc vào “ranh giới hành chính tỉnh” nhưng thực tế vừa qua, mỗi tỉnh tự lo kêu gọi, đầu tư cho riêng mình, thiếu phối hợp liên tỉnh.
Đây lại là lĩnh vực đầu tư kém hấp dẫn, khó thu hút dự án, trong khi nguồn lực địa phương hạn hẹp nên xử lý rác thải trở thành gánh nặng ngân sách.
Ngay cả khi đã có quy hoạch xử lý rác thải theo tiểu vùng thì việc triển khai thực hiện cũng chậm, nhiều bất cập. Quyết định số 1873/QĐ-TTg ngày 11-10-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL đến năm 2020 đã đặt mục tiêu là đến năm 2015 có 90%, đến năm 2020 có 100% chất thải rắn phát sinh tại các đô thị, khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau) được 
thu gom và xử lý.
Tuy nhiên, kết quả là đến nay Cần Thơ và An Giang chưa triển khai được dự án xử lý rác nào, Kiên Giang quy hoạch 4 được 1, Cà Mau có nhà máy xử lý rác nhưng mới chỉ xử lý được khoảng 140 tấn rác/ngày.

Trong khi đó, ước tính lượng chất thải rắn chỉ riêng 4 địa phương này hiện nay đã lên đến khoảng 5.000 tấn/ngày, dự báo đến năm 2020, tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 7.550 tấn/ngày, đang là vấn đề bức xúc và nan giải.
Xử lý rác thải được xác định là nhu cầu bức xúc chung của vùng, nhưng trong danh mục dự án ưu tiên của Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL năm 2017 và những năm tiếp theo không tìm thấy dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư xử lý rác, hoặc được xác định thành danh mục ưu tiên bố trí vốn đầu tư từ ngân sách.
Phải chăng đã có tâm lý phó thác cho chủ trương xã hội hóa kêu gọi đầu tư dự án xử lý chất thải? Thực tiễn cho thấy không thể “xã hội hóa thả nổi” cho một vấn đề mang tính cấp thiết về môi trường và phát triển bền vững như vậy.
Việc xây dựng các khu xử lý rác thải liên tỉnh theo quy hoạch cần được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách của trung ương trên cơ sở hài hòa chi phí - lợi ích giữa các bên, chứ không thể phó mặc cho các địa phương tự lo. Xử lý rác thải, đảm bảo môi trường phải là một trong những nội dung của liên kết vùng, phối hợp liên tỉnh trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, việc phát triển năng lượng tái tạo, điện sinh khối và các nguồn năng lượng sạch của vùng ĐBSCL gắn với sản xuất sạch hơn cần được lồng ghép vấn đề xử lý rác và bảo vệ môi trường.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo quyết định 1393/QĐ-TTg ngày 25-9-2012 là xanh hóa sản xuất, lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên.
Để giảm áp lực cho vấn đề xử lý rác thải nói riêng và môi trường nói chung, cần lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu, trong đó có yêu cầu áp dụng các tiêu chuẩn xanh trong phát triển các ngành sản xuất, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, cũng như xây dựng một hệ sinh 
thái tiêu dùng xanh

Thủy sản ĐBSCL và câu chuyện “vỡ nợ”

Kỳ 1: Dễ tổn thương như doanh nghiệp thủy sản
Trần Lưu
Khoảng cuối tháng 10.2016, lãnh đạo Cty Thuận An (Tafishco - An Giang) ra nước ngoài rồi không trở về khiến ngân hàng và các hộ nông dân lâm vào cảnh điêu đứng. Câu chuyện “vỡ nợ” của các đại gia thủy sản một lần nữa đã đặt ra những yêu cầu bức thiết, đòi hỏi phải có giải pháp mạnh mẽ để thải loại những nhân tố vốn đã chết yểu trên “đường bơi” từ trước…
Loại bỏ các yếu tố do chủ doanh nghiệp lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, câu kết với cán bộ ngân hàng rút tiền tín dụng tiêu xài…; hiện tượng các đại gia cá tra vỡ nợ là một bài học vẫn còn nóng hổi, mà ở đó, những yếu kém nội tại đã tạo nên “tử huyệt” - để khi chỉ cần gặp khó khăn trong một đơn hàng, doanh nghiệp ngay lập tức điêu đứng…
Người nuôi cá tra năm nay được mùa giá, nhưng không ai dám chắc năm sau

Quá nhiều bất cập!
Khởi điểm từ cuối thập niên 90, con cá tra ĐBSCL đã lập nên những kỳ tích với mức tăng trưởng đáng kể qua từng năm, vươn lên đứng đầu thế giới, chiếm hơn 90% thị phần cá tra xuất khẩu toàn cầu. Thế nhưng, đằng sau ánh hào quang đó vẫn còn vô số những bất cập tạo nên căn bệnh trầm kha cho ngành thủy sản.
Có giai đoạn, số liệu thống kê chỉ ra rằng, trong 100% tăng thêm của tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, thì có đến hơn 80% là do tăng sản lượng tạo ra, chỉ khoảng 20% là do tăng giá. Sự phát triển nhanh theo chiều rộng đã giải quyết phần nào các mục tiêu kinh tế xã hội cục bộ trước mắt, nhưng chưa khẳng định được sự phát triển nổi trội về chất lượng sản phẩm dẫn đến hệ thống sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản chưa có khả năng đổi mới và đa dạng hóa mạnh mẽ các sản phẩm xuất khẩu nhằm tăng lợi thế cạnh tranh và đáp ứng những đòi hỏi của thị trường.
Bên cạnh đó là sự yếu kém trong công tác dự báo thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, các doanh nghiệp không xây dựng được chiến lược kinh doanh. Nhiều nhà máy chế biến lâm vào tình trạng dư thừa công suất khi được đầu tư rất lớn, nhưng khai thác chỉ đạt 50 - 70%, dẫn đến tăng chi phí sản xuất, giảm sức cạnh tranh trên thị trường… Điều này giải thích vì sao Việt Nam đang “một mình một chợ” trong xuất khẩu cá tra, nhưng lại không làm chủ được thị trường thế giới. Việc các doanh nghiệp cạnh tranh lẫn nhau đã làm giá cá tra sụt giảm, các nhà nhập khẩu thế giới biết được điều này nên luôn tìm cách ép giá.
Thời điểm con cá tra hay con tôm “lên đỉnh” đã kéo theo những hệ lụy do phát triển nóng, thiếu quy hoạch, mạnh ai nấy làm. Nhiều Cty, doanh nghiệp vốn kinh doanh trái ngành như đồ gỗ, dầu khí, nhà đất… cũng nhảy vào đầu tư kinh doanh thủy sản. Như một điều tất yếu, những đơn vị này không có kiến thức chuyên môn về ngành nghề mình đang kinh doanh, không biết quản trị Cty, quản lý dòng vốn, quản lý rủi ro… nên sau một vài phi vụ trúng quả, phất lên như diều gặp gió rồi cũng nhanh chóng vỡ nợ khi gặp khó khăn…
“Tử huyệt” tài chính
Nhìn lại mô hình liên kết nuôi cá tra ở An Giang sẽ thấy đây là một chủ trương đúng và đã mang lại hiệu quả rất khả quan trong 2 năm đầu triển khai thí điểm, song nó cũng bộc lộ không ít lổ hổng về quản lý. Ông Lê Văn Nưng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - cho biết: “Lúc được chọn tham gia chuỗi liên kết, Cty Thuận An có đủ năng lực, nhưng có thể qua quá trình hoạt động, Cty gặp khó khăn nên mới xảy ra tình trạng như hiện nay”. Câu hỏi đặt ra lúc này là ai quản lý việc làm ăn của doanh nghiệp? Khi Thuận An mua cá của dân sẽ bán đi đâu? Nguồn tiền thu về như thế nào? Lời lỗ ra sao?... hầu như không ai biết.
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho rằng: Đằng sau ánh hào quang “vượt vũ môn” của loài “đế ngư” là cảnh lâm nợ, khốn đốn của nhiều người nuôi và doanh nghiệp cá tra xảy ra như có tính chu kỳ năm được, năm mất. Nguyên nhân được nhận diện là giá thị trường xuống thấp, thiếu vốn, hiệu ứng đôminô lây lan, thì người nuôi cá, doanh nghiệp, ngân hàng nợ nần dây chuyền, chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Bên cạnh nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, chật vật trong tìm đầu ra; phải kể đến “tử huyệt” của doanh nghiệp thủy sản là năng lực tài chính yếu kém, sử dụng chủ yếu vốn vay ngắn hạn, gặp lúc lãi suất tăng vọt, lợi nhuận làm ra không đủ trả lãi dẫn đến thua lỗ kéo dài. Nhiều doanh nghiệp thủy sản vừa phất lên, bỗng chốc “lâm bệnh nặng”. Một số chủ doanh nghiệp không có chuyên môn sâu trong ngành, lĩnh vực, đa phần khởi sự từ mua bán chuyển sang nghề nuôi, chế biến thủy hải sản. Nghiên cứu thị trường không kỹ và không am hiểu đầy đủ luật pháp của các nước nhập khẩu, chỉ cần một đơn hàng chậm thanh toán hoặc bị hủy thì doanh nghiệp gặp điêu đứng.
Khi gặp khó khăn thị trường, trong cơn khát vốn, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu làm ăn chụp giựt, đã tự làm khó mình và làm khó lẫn nhau khi liên tục chào bán cá tra với giá thấp để có tiền xoay vòng. Điều này đã tạo cho nhà nhập khẩu quyền xác lập giá trần. Ở nhiều thời điểm, giá cá tra xuất khẩu đã liên tục hạ gây bất lợi cho không chỉ doanh nghiệp, người nuôi mà còn làm suy yếu ngành cá tra Việt Nam. Đó chính là lý giải tại sao chúng ta nắm giữ độc quyền cung ứng cá tra cho cả thế giới tiêu dùng; nhưng “nhà độc quyền” lại không có quyền làm giá. Năng lực tài chính, quản trị và liên kết doanh nghiệp chính là “huyệt đạo” của ngành…

Kỳ 2. Để thủy sản không chết yểu trên “đường bơi”


Tài chính được xác định là “tử huyệt” của các doanh nghiệp thủy sản, nhưng ngay cả khi giải được bài toán này thì nó chỉ thỏa được điều kiện cần chứ chưa đủ. Cần có sự tiếp cận đa ngành, phối hợp hành động liên ngành trên bình diện tổng thể, xa hơn là giải quyết cục bộ chuyện nợ nần của từng doanh nghiệp.
Mạnh tay thải loại doanh nghiệp yếu
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho biết: Ngân hàng cho vay theo chuỗi cá tra, mặc dù tiếp cận đúng, nhưng chỉ mới giải quyết ở khâu cung ứng tín dụng dựa trên các phương thức hợp đồng mà trách nhiệm thường quy về bên yếu thế là người nuôi, phần đông là nông dân hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ. Khi xảy ra nợ nần, các tác nhân yếu thế này lãnh đủ.
Trong khi đó, việc nâng cao năng lực quản trị, tài chính và hoàn thiện chuỗi liên kết lại là vấn đề khác. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này cũng chỉ sờ đến một công đoạn của chuỗi cá tra. Đó là người nuôi, doanh nghiệp chế biến kiêm xuất khẩu. Phần quan trọng nhất của con cá tra đang ở một phân ngành khác. Thực tế hiện nay, 80 - 90% giá thành cá tra là chi phí thức ăn. Trong khi đó, khoảng 80% các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ quyền cung cấp thức ăn thủy sản, quyết định giá nguyên liệu.

Như vậy, sản xuất cá tra, từ đầu vào đến đầu ra, người nuôi với tư cách nhà sản xuất, nhưng không có quyền quyết định đối với sản phẩm của mình làm ra. Khi cá tra được giá, người nuôi chỉ lãi 10 - 20%, còn lại 80 - 90% thuộc phân ngành thức ăn. Thua lỗ, thì người nuôi mất trắng.
Một thực tế tồn tại nhiều năm qua là các địa phương hầu như chưa quan tâm xem xét, đánh giá, thống kê số liệu doanh nghiệp mạnh và yếu để có giải pháp khắc phục. Với nhóm doanh nghiệp còn có thể đứng vững trên thị trường thì hỗ trợ phát triển, còn lại thì cần giải pháp xử lý tránh đổ vỡ gây hậu quả dây chuyền.
“Giải bài toán tái cấu trúc ngành hàng cá tra chắc chắn có tầm chiến lược hơn nhiều so với việc xử lý nợ nần của doanh nghiệp thủy sản và người nuôi. Yêu cầu đòi hỏi tăng cường liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị thực chất, thương hiệu hóa; tái cấu trúc toàn diện ngành hàng thủy sản gắn với ngành công nghiệp thức ăn, đa dạng hóa sản phẩm. Nhưng trước mắt là cần rà soát, thải loại các doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính, quản trị để đảm bảo sự lành mạnh, sức cạnh tranh của các tác nhân tham gia chuỗi, đủ sức cạnh tranh trước thách thức hội nhập” - ông Hiệp nói.
Cần thuốc đủ liều
Theo các chuyên gia, thực trạng yếu kém, thiếu bền vững của chuỗi giá trị cá tra đã được nhận diện mấy năm qua, nhiều giải pháp đã được thực thi. Từ tăng cường quản lý nhà nước, quy hoạch vùng nuôi, nhà máy chế biến đến tiếp cận cho vay theo chuỗi, thành lập Hiệp hội Cá tra… Nhưng các giải pháp này dường như chưa đủ sức tái cấu trúc chuỗi. Sự vỡ nợ của các đại gia trong ngành cá tra cần được xem là một chỉ dấu để rà soát chính sách và hiệu quả của các giải pháp.
Các mô hình liên kết trong thủy sản hiện nay là đúng đắn, ngay cả các hộ dân đang bị Cty Thuận An nợ tiền cũng khẳng định rằng: “Chúng tui sẽ tiếp tục tham gia vào chuỗi liên kết bởi đây là một chủ trương đúng với hiệu quả đã được chứng minh trong thực tiễn. Vấn đề là ngành chức năng phải đánh giá, lựa chọn doanh nghiệp đủ năng lực và có cách quản lý phù hợp, bởi người nông dân không thể nào biết được chuyện mần ăn của doanh nghiệp”.
Liên kết là đúng, song không thể đạt được qua 1 hoặc 2 vụ, mà phải mất nhiều năm, qua nhiều bước đi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để từng bước nâng chất lượng các hình thức kinh tế hợp tác. Đây là giai đoạn chuyển đổi phương thức sản xuất, từ mô hình kinh tế hộ sang kinh tế hợp tác. Bài toán liên kết sản xuất - tiêu thụ là giai đoạn đầu để hướng đến quan hệ sản xuất mới - một yêu cầu tất yếu và bức thiết cho cả nền nông nghiệp ĐBSCL chứ không riêng gì con tôm, con cá…
Các chuyên gia đề xuất: Vấn đề quan trọng hiện nay là cần siết chặt việc quy hoạch vùng nuôi và kiểm soát tốt sản lượng cá của toàn vùng nhằm điều tiết nhu cầu tiêu thụ một cách hợp lý. Mô hình nuôi cá tự phát theo kiểu cũ cần phải xóa dần để tiến tới mô hình nuôi mới có gắn kết với doanh nghiệp tiêu thụ. Tùy theo điều kiện của từng địa phương mà xây dựng mô hình liên kết phù hợp nhất để có hiệu quả và đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia, cùng thúc đẩy nghề cá phát triển…
Dự kiến, trong năm 2017, diện tích nuôi cá tra cả nước đạt hơn 5.350ha, cho sản lượng gần 1,2 triệu tấn. Do nhu cầu tiêu thụ cá tra của các nước nhập khẩu đang tăng cho nên giá cá liên tục tăng nhanh, có thời điểm đã chạm mức 25.000 đồng/kg gần với mức giá kỷ lục - hơn 26.000 đồng/kg từng thiết lập cách đây 6 - 7 năm. Bộ NNPTNT dự báo trong năm nay kim ngạch xuất khẩu cá tra ước đạt hơn 1,7 tỉ USD.