13 tháng 12, 2017

Ì ạch du lịch đồng bằng

Thứ Hai, 27/6/2016 10:09
Du lịch đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không phải đi xuống, vẫn đang phát triển, chỉ có điều sự phát triển không được như kỳ vọng, chưa xứng với tiềm năng… 
Bao năm… chưa lớn

Theo Tổng cục Du lịch, năm 2014, ĐBSCL thu hút 1,7 triệu lượt khách quốc tế; trong khi đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc đạt 8,2 triệu lượt khách, duyên hải Nam Trung bộ 4,3 triệu lượt khách; vùng Đông Nam bộ 5,1 triệu lượt khách. Năm 2015, vùng ĐBSCL đạt 1,8 triệu lượt khách quốc tế, thấp hơn nhiều so với đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc với 8,4 triệu lượt khách; duyên hải Nam Trung bộ 4,9 triệu lượt khách và Đông Nam bộ 5,6 triệu lượt khách.

Vẻ đẹp hấp dẫn của biển Phú Quốc
Trong khi đó, lượng khách nội địa đến với ĐBSCL tuy có nhỉnh hơn vùng duyên hải Nam Trung bộ và Bắc Trung bộ, nhưng chưa bằng 40% lượng khách nội địa của vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ. Giữa các địa phương ở ĐBSCL cũng có chênh lệch rất lớn. Tiền Giang, Bến Tre chiếm đến 50% tổng lượng khách quốc tế cả vùng. An Giang chiếm 1/3 tổng lượng khách nội địa cả vùng. Kiên Giang, Cần Thơ dù chỉ chiếm 17% lượng khách nội địa và 23% lượng khách quốc tế của cả vùng nhưng đạt gần 50% trong tổng thu (8.636 tỷ đồng) từ khách du lịch toàn vùng… Tổng cục Du lịch cho rằng, hoạt động du lịch của ĐBSCL từ năm 2006 đến nay không có nhiều thay đổi. Và đã đến lúc cần nhìn thẳng vào thực trạng “nuôi hoài không chịu lớn” để có sự chuyển biến của du lịch đồng bằng.
Nguyên nhân chính là do sản phẩm du lịch ĐBSCL trùng lắp, thiếu nét độc đáo, không rõ tính đặc thù trong phát triển tour, tuyến… Khách đến và đi chủ yếu chỉ trong ngày, kéo theo thời gian lưu trú ngắn, chi tiêu ít khiến doanh thu thấp. Hiện nay tỷ lệ lưu trú của khách ở ĐBSCL chỉ đạt bình quân 1,95 ngày với khách quốc tế và 1,7 ngày với khách nội địa. Theo các chuyên gia du lịch, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ là 3 trong 5 địa phương nằm trong tuyến du lịch “Một điểm đến 4 địa phương +” (thêm Cà Mau và Bạc Liêu) thuộc vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL; nổi trội bởi sông, biển, núi, rừng và sinh thái vườn; có 2 cơ sở nghỉ dưỡng cao cấp cùng hệ thống cảng sông, cảng biển, cảng hàng không thuận lợi… nhưng chỉ số lưu trú trung bình cũng chỉ có... 1 ngày.
Chờ tư duy, diện mạo mới
Tăng số ngày khách lưu trú, số lần khách quay lại chính là bài toán “cốt tử” của du lịch ĐBSCL và cả nước. Muốn vậy, trước tiên phải tạo ra sản phẩm du lịch mới, độc đáo, khác biệt, hấp dẫn. “Cái gì ĐBSCL cũng có, nhưng rất ít món đủ chuẩn”, chuyên gia du lịch Phan Xuân Anh nhận định. Muốn “đủ chuẩn” cần đầu tư chuyên nghiệp, đúng hướng, đúng trọng điểm, tránh dàn trải...
ĐBSCL có hơn 700km bờ biển của 8/13 tỉnh, thành giáp biển, có biển Tây (vịnh Thái Lan) thông thoáng và xu hướng gia tăng du lịch biển trên thế giới. Nhưng thật lạ, một tuyến liên vận biển quốc tế Phú Quốc (hoặc Hà Tiên) ngược dòng Mekong huyền thoại để nối với các điểm du lịch nổi tiếng Kep, Kampot, Sihanoukville, KohKong (Campuchia); Chanthaburi, Pattaya, Bangkok (Thái Lan) đến giờ vẫn chỉ là suy nghĩ? Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), nơi thể hiện cao nhất “văn minh sông nước” đang “hụt hơi, đuối sức”, sụt giảm đến phân nửa số ghe, thuyền chỉ trong vòng mấy năm. Mới đây, đề án “Bảo tồn và phát triển chợ nổi Cái Răng” kinh phí 63 tỷ đồng được chính quyền thông qua với phương án giữ nguyên hiện trạng, có sắp xếp, điều chỉnh như lắp đặt phao tiêu, đầu tư cầu tàu, nhà vệ sinh, du thuyền; quy hoạch địa điểm tập kết hàng hóa và các kho vựa… Tuy nhiên, vẫn thiếu điểm nhấn, chưa xứng tầm. Do sự “rụt rè, tự ti” khiến điểm du lịch nổi tiếng này vẫn do cấp quận quản lý; mới cung cấp chủ yếu một sản phẩm (tham quan), chỉ 15 phút loanh quanh khắp chợ rồi… về.
Để thay đổi, cần sự đầu tư trọng điểm, tạo sự bứt phá cho du lịch cả vùng như hình thành một “trung tâm dịch vụ du lịch chợ nổi” tầm cỡ, chuyên nghiệp; với “Bảo tàng ghe xuồng Nam bộ”; nhà biểu diễn nghệ thuật các dân tộc, nhà trình diễn ẩm thực dân gian, cùng đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng (hàng hóa, quà lưu niệm…) ngay trên sông nước sẽ giúp nơi này “lột xác”, mang dáng vóc mới, hấp dẫn, sôi động hơn... Các chuyên gia cho rằng, với sự đa dạng và tầng sâu văn hóa truyền thống bản địa (Kinh -  Khmer - Hoa - Chăm) luôn là mục tiêu “săn tìm” của du khách, đặc biệt là khách quốc tế.
Sự quan tâm, đầu tư thiết thực từ ngành dọc sẽ giúp “đứa con xa” bớt “bơ vơ, tủi thân” và “lớn” nhanh hơn nữa. Đề án “Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL” và đề án “Thành lập Ban điều phối phát triển du lịch vùng ĐBSCL” đã trôi qua cả năm. Vì vậy, sắp tới cần triển khai quyết liệt nhằm thúc đẩy du lịch đồng bằng cất cánh…
 
 Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách (Ban chỉ đạo Tây Nam bộ), chỉ rõ: Cách làm du lịch còn mang nặng tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp. Các sản phẩm chủ yếu dựa vào thiên nhiên, thiếu sự đầu tư dài hạn, thiếu liên kết. Đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, nguồn nhân lực và cơ chế điều phối, liên kết chuỗi giá trị du lịch ĐBSCL để phát triển bền vững là “ba điểm yếu” cần phải thay đổi…

VŨ THỐNG NHẤT


28 tháng 11, 2017

Nên giảm diện tích lúa vụ 3

Công Tuấn
Báo Người Lao Động, 23/10/2017 22:28
Nhiều chuyên gia về nông nghiệp cho rằng đã đến lúc phải giảm diện tích trồng lúa vụ 3 để chuyển đổi sang mô hình canh tác khác hiệu quả hơn
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã hiện hữu ở ĐBSCL trong thời gian gần đây. Tác động kép này đang làm tổn hại mạnh đến sản xuất nông nghiệp ở vùng đất thấp như ĐBSCL. Trong đó, lúa vụ 3 được xem là thiệt hại nặng nhất.
Nhiều rủi ro
Lúa vụ 3 canh tác trong điều kiện thời tiết ít thuận lợi nên nhiều rủi ro. Nếu năm nào may mắn, nhà nông được tăng thêm một ít thu nhập từ vụ lúa này, ngược lại thì trắng tay. Ở khu vực Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, vụ 3 là lúa thu đông, trong cơ cấu 3 vụ đông xuân - hè thu - thu đông. Theo đó, vụ thu đông sản xuất trong các tháng mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 10 dương lịch). Giai đoạn này, thời tiết bất lợi từ lúc xuống giống đến khi thu hoạch do nước lũ đe dọa, lúa dễ bị đổ ngã gây thất thoát nhiều khi thu hoạch, năng suất và chất lượng lúa thường rất thấp nên giá bán không cao.
Mới đây, vào cuối tháng 7 đến giữa tháng 8 vừa qua, nông dân trồng lúa ở vùng Tứ giác Long Xuyên đã đứng ngồi không yên do lúa vụ 3 đang trong giai đoạn trổ bông nhưng gặp mưa, lũ lên nhanh gây ngập úng cục bộ. Tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, khoảng 5.000 ha lúa vụ 3 đã bị ngập úng. Bà Phạm Thị Vẹn (ngụ xã Mỹ Thái, huyện Hòn Đất) cho biết do ảnh hưởng của mưa bão và nước lũ đổ về khiến cho hơn 30 công lúa của bà chìm trong nước, trong đó 20 công trồng giống Nhật không kịp thu hoạch. "13 công lúa, tương đương 1,3 ha nhưng chỉ thu được 5 tấn. Sau khi trừ hết chi phí, gia đình tôi lỗ gần 300.000 đồng/công lúa" - bà Vẹn nói. Tuy nhiên, theo bà, dù biết làm lúa vụ 3 khó tránh khỏi rủi ro nhưng nếu không làm thì nông dân không biết phải làm gì.

Sản xuất lúa vụ 3 thường phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt Ảnh: NGỌC TRINH
Trong khi đó, đối với các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu..., vụ 3 lại là vụ xuân hè trong cơ cấu 3 vụ đông xuân sớm - xuân hè - hè thu. Vụ này, dù thời tiết thuận lợi do trong mùa nắng (từ tháng 1 đến tháng 4 dương lịch) nhưng thủy văn thì bất lợi vì hạn hán, xâm nhập mặn. Liên tiếp những năm gần đây, do biến đổi khí hậu đã khiến hạn, mặn diễn ra gay gắt nên lúa vụ 3 ở những địa phương này thiệt hại nặng nề.
PGS-TS Nguyễn Bảo Vệ (Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng Trường ĐH Cần Thơ) đưa ra 9 yếu tố có ảnh hưởng đến tính bền vững của sản xuất lúa 3 vụ ở ĐBSCL, trong đó 7 yếu tố thuộc về nông học, như: Sâu bệnh nhiều hơn là do canh tác lúa liên tục đã tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển bởi thức ăn lúc nào cũng có; đất không còn nhận được phù sa vì xây đê bao không cho nước nổi hay triều cường chảy vào đồng ruộng; ô nhiễm môi trường nặng hơn; gây ngộ độc hữu cơ cho lúa; đất mau suy thoái vì nông dân không có thời gian để cày ải phơi đất…; hiệu quả kinh tế thấp do năng suất và chất lượng thấp; năng suất lúa giảm theo thời gian.
ThS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập sinh thái ĐBSCL, cho rằng thâm canh 3 vụ liên tục trong đê bao khép kín làm cạn kiệt đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực về sau. Bởi lẽ, đê bao khép kín làm gia tăng ngập lụt nơi khác vào mùa lũ, gia tăng hạn - mặn ven biển vào mùa khô. Nói cách khác, canh tác 3 vụ lúa tính đúng, tính đủ chi phí thì không giúp nông dân thoát nghèo. "Canh tác 3 vụ sẽ sử dụng nhiều phân bón và nông dược gây ô nhiễm nguồn nước mặt, tăng sử dụng nước ngầm, gây sụt lún đất nhanh hơn. Theo tính toán của chúng tôi, canh tác lúa vụ 3 khiến cho xã hội thiệt hại khoảng 47,8 triệu đồng/ha" - ông Thiện phân tích.
Mạnh dạn chuyển đổi
Ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, nhìn nhận nhiều năm qua, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hay tỉnh Đồng Tháp thường quan tâm đến các số liệu về năng suất, sản lượng và lượng gạo xuất khẩu. Trong khi đó, yếu tố đầu vào hay chi phí sản xuất hầu như không được đề cập. Nông dân cũng quên tính đến yếu tố quan trọng này trong hoạt động của mình nên gia tăng sản xuất 3 vụ/năm, có nơi 7 vụ/2 năm.
Tại Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu tổ chức ở Cần Thơ vào cuối tháng 9 vừa qua, ông Lê Minh Hoan thừa nhận tỉnh này đang triển khai tái cơ cấu nông nghiệp theo định hướng chuyển đổi tư duy độc canh và tăng sản lượng lúa gạo bằng giảm dần diện tích lúa vụ 3, luân canh các loại cây trồng, thủy sản khác để tận dụng nước lũ… Từ định hướng này, tỉnh đang đánh giá lại hiệu quả hoạt động của hệ thống HTX, chuyển đổi các HTX cũ và thành lập các HTX mới theo đúng mục tiêu và tinh thần Luật HTX năm 2012. HTX không chỉ hướng đến lợi nhuận kinh doanh mà còn đem lại lợi ích cho thành viên nhờ giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, liên kết với doanh nghiệp thông qua "Cánh đồng liên kết", cải tiến quy trình canh tác, ứng dụng công nghệ bảo quản, chế biến nông sản, trong đó có lúa.
Trong khi đó, UBND tỉnh Bến Tre cũng vừa ban hành văn bản nhất trí với chủ trương chung là nên sản xuất 2 vụ lúa/năm (nếu có thể thì nên luân canh 2 lúa + 1 màu) để đất có thời gian ổn định, cắt vòng đời của sâu bệnh, phát triển theo hướng ổn định, bền vững và hiệu quả.
Ngày 3-10 vừa qua, Văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang có thông báo về kết luận của chủ tịch UBND tỉnh này tại kỳ họp UBND tỉnh thường kỳ quý III/2017. Theo đó, về sản xuất nông nghiệp, trước tình hình thời tiết bất thường, diễn biến phức tạp do biến đổi khí hậu, chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với một số cơ quan có liên quan phân tích, đánh giá hiệu quả trong việc sản xuất lúa vụ 3. Từ đó, khuyến cáo việc có nên tiếp tục sản xuất lúa vụ 3 hay chuyển sang mô hình sản xuất khác hiệu quả hơn, tránh tình trạng khai thác đất quá mức, định hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị là chính, không chạy theo sản lượng.
Theo GS Võ Tòng Xuân, lúa gạo nước ta đang được sản xuất thặng dư trên 10 triệu tấn/năm. Theo quy luật cung cầu, cung tăng nhiều mà cầu không tăng tương xứng thì giá phải sụt giảm triền miên. Hơn nữa, trồng lúa cần nhiều nước ngọt nhưng giá gạo lại quá thấp, dân trồng lúa không hưởng lợi bao nhiêu. Do vậy, dứt khoát phải giảm diện tích lúa vụ 3. "Hạn chế vụ 3 để lấy nước lũ được phù sa, cá tôm… Chuyển các diện tích lúa bấp bênh, vốn đầu tư cao ở vùng phèn nặng, nhiễm mặn sang nuôi trồng cây con khác có giá trị cao, như lên liếp trồng cây ăn trái thích hợp, nuôi cá đồng, nuôi tôm…" - GS Võ Tòng Xuân đề xuất.
Cũng theo GS Võ Tòng Xuân, Thái Lan đã chuyển hàng trăm ngàn ha lúa sang trồng mía từ 3 năm nay và đang tiếp tục chuyển đổi. Do vậy, chúng ta nên mạnh dạn chuyển đổi lúa vụ 3. 
Những người làm nên "cường quốc" vẫn quá khó khăn!
Nói về việc các địa phương chưa mạnh dạn giảm diện tích lúa vụ 3 vì còn chạy theo sản lượng xuất khẩu, ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, nhận định danh xưng "vựa lúa quốc gia" dành cho ĐBSCL đã có từ lâu nhưng cần nhận thức lại. Đã đến lúc không cần tự hào về mỹ từ "vựa lúa". Nhìn rộng hơn, người Việt cũng không cần thiết phải tự hào là cường quốc thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, cá tra… "Tự hào làm chi khi những người làm ra rất nhiều nông sản cung ứng cho toàn cầu mà vẫn còn nhiều khó khăn" - ông Hiệp bày tỏ.
Công Tuấn


4 điểm nghẽn trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao

TTXVN,  24/11/2017
Thanh Liêm

Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã chỉ ra 4 điểm nghẽn trong đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Tại Hội thảo “Phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội và thách thức” trong khuôn khổ Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế Việt Nam 2017 diễn ra tại Cần Thơ do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ tổ chức ngày 24/11, Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã chỉ ra 4 điểm nghẽn trong đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đó, nhận thức về nông nghiệp công nghệ cao và thị trường khoa học công nghệ còn nhiều bất cập; quy hoạch không gian và yêu cầu tích hợp trong quy hoạch phát triển các khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao ở Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều tồn tại, hạn chế; chưa có không gian đủ lớn hoặc tiềm lực đầu tư lớn trên diện tích nhỏ cho nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; thị trường tiêu thụ, hệ thống tiêu thụ chưa đủ mạnh và ổn định, tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cho nông sản công nghệ cao chưa rõ ràng. Ông Trần Hữu Hiệp cho rằng, các điểm nghẽn trên cần được nhận diện và có giải pháp khơi thông để nông nghiệp công nghệ cao của Đồng bằng sông Cửu Long có thể phát triển.
Những vấn đề còn tồn tại đó phải được nhận thức đúng đắn, có giải pháp khả thi, tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững cho vùng để đến năm 2050 tỉ trọng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm trên 80% theo Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chinh phủ về “Phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long thích nghi với biến đổi khí hậu”.
Với diện tích đất tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, dân số gần 18 triệu người, Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực rộng và đông dân cư thứ hai trong các vùng kinh tế của Việt Nam. Đây là trung tâm sản xuất nông nghiệp, hàng năm đóng góp 55% sản lượng lương thực, 95% sản lượng gạo xuất khẩu, 70% lượng trái cây, 65% lượng nuôi thủy sản và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Thời gian qua, triển khai nông nghiệp công nghệ cao dù được nhiều địa phương trong vùng quan tâm thực hiện, nhưng kết quả đạt được còn hạn chế.
Đến nay, Đồng bằng sông Cửu Long đã có 2/3 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập là Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang và Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu. Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp đã đề xuất 5 giải pháp để hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao hiệu quả và bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong đó, cần quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở cung - cầu của thị trường; các địa phương cần tạo môi trường thuận lợi để thiết lập và tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người dân và giữa người dân nhằm hình thành mối liên kết sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phảm…
Cũng theo ông Hiệp, trong quy hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần tránh tình trạng mỗi địa phương tự làm, tỉnh nào cũng có khu nông nghiệp công nghệ cao, trong khi nguồn lực đầu tư hạn hẹp, dàn trải. Nhận định từ các chuyên gia cho thấy, hệ thộng pháp lý chưa đảm bảo chế tài đủ mạnh bảo vệ nhà đầu tư, nhà sản xuất, ràng buộc trách nhiệm nhà thương mại về truy xuất nguồn gốc nông sản.
Thực trạng này đang tác động tiêu cực trở lại, ảnh hưởng xấu đến đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lang, Viện nghiên cứu nông nghiệp công nghệ cao Đồng bằng sông Cửu Long (HATRI) chia sẻ: Có 3 thách thức mà nhà đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đang phải đối diện: kế hoạch vốn đầu tư bao nhiêu trong chặng đường trước mắt hoặc lâu dài, thị trường ở đâu và ai là đối tác trong phối hợp tổ chức, quản lý.
Theo bà Lang, không phải nhà đầu tư nào vào nông nghiệp công nghệ cao đều có thể đem lại thay đổi tích cực, thậm chí sẽ là “thảm họa” nếu trồng trên quy mô lớn mà không có đầu ra. Do đó, tổ chức lại sản xuất là yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết. Trong đó, đầu tư và phát triển khoa học công nghệ, tăng cường ứng dụng những công nghệ này vào sản xuất nông nghiệp mới là nội dung cốt lõi trong tái cấu trúc nông nghiệp Việt Nam. Do vậy, cần phải nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp, trong đó tập trung đào tạo, tập huấn kỹ thuật và chuyển giao cho doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Thanh Liêm

Theo TTXVN

21 tháng 11, 2017

Can thiệp “thô bạo” vào các dòng sông sẽ phải trả giá
Trung Chánh

Một đoạn sạt lở bờ sông Tiền (photo: hiepcantho)

(TBKTSG) - Chúng ta cần hành động như thế nào để không phải hối tiếc về những hậu quả có thể xảy ra trong tương lai xuất phát từ việc can thiệp “thô bạo” vào những dòng sông từ hôm nay?
Giờ đây, các dự án lấn sông, lấn biến ngày càng trở nên phổ biến ở nước ta, cả ở Bắc, Trung, Nam. Phải chăng vì nhu cầu phát triển mà con người ta sẵn sàng xâm hại tới môi trường thiên nhiên?
Thấy gì qua dự án công viên trái cây ở Tiền Giang?
Mới đây nhất, dự án công viên trái cây ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã bị dư luận lên tiếng phản đối và Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị UBND tỉnh Tiền Giang chỉ đạo chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan tạm dừng việc thi công dự án. Bộ này yêu cầu các đơn vị liên quan tiến hành rà soát lại công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM), nhất là đánh giá tác động của dự án tới thoát lũ; lưu thông dòng chảy; bồi lắng; sạt lở lòng, bờ bãi sông theo quy định...
Sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như trên, ông Nguyễn Quốc Thanh, Chủ tịch UBND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã có buổi gặp mặt báo chí để trao đổi về dự án công viên trái cây. Ông Thanh cho biết, tiền thân dự án công viên trái cây là dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại và dịch vụ cặp sông Tiền.
Chủ tịch huyện này khẳng định dự án công viên trái cây đã thực hiện đầy đủ mọi thủ tục có liên quan trước khi xây dựng, kể cả lập báo cáo ĐTM. Thế nhưng, khi cho báo chí xem bản báo cáo ĐTM hiện sử dụng để thi công dự án công viên trái cây, báo chí nhận thấy tên dự án ghi trong đó không phải là dự án công viên trái cây mà là dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại, dịch vụ cặp sông Tiền.
Sau khi “chuyển đổi” dự án, quy mô của dự án đã thay đổi theo. Cụ thể, báo cáo ĐTM của dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại, dịch vụ cặp sông Tiền thể hiện diện tích là 8,97 héc ta, trong khi đó quy mô đang triển khai của dự án công viên trái cây là 9,78 héc ta. Diện tích phần lấn sông Tiền cũng đã thay đổi, mức gần 5 héc ta của dự án trước được nâng lên thành 6,8 héc ta trong dự án sau.
Với những thay đổi như nêu trên, rõ ràng không thể “châm chước” lấy báo cáo ĐTM của dự án hạ tầng khu dân cư, thương mại, dịch vụ cặp sông Tiền sử dụng cho dự án công viên trái cây. Khoản 2, điều 19, Luật Bảo vệ môi trường quy định việc đánh giá ĐTM phải thực hiện trong giai đoạn “chuẩn bị dự án”. Dự án công viên trái cây đã được triển khai thi công, nên rõ ràng nó đã thực hiện không đúng quy định của pháp luật.
Từ dự án công viên trái cây này, không thể đánh đồng các dự án lấn sông, lấn biển khác cũng sai như vậy. Thế nhưng, với không ít dự án, báo cáo ĐTM chưa bao giờ được công khai, thì những hoài nghi về sai phạm hay có dư luận không tốt cũng là điều dễ hiểu.
Để không hối tiếc vì lấn sông
Trao đổi với TBKTSG, ông Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ, cho biết: các dự án lấn sông chắc chắn sẽ có tác động ở rất nhiều phương diện khác nhau, như điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái, kinh tế, xã hội, thậm chí sức khỏe của người dân. Bên cạnh đó, về mặt nguyên tắc, ít nhiều chúng cũng vi phạm các quy định về quản lý sông ngòi. Ví dụ, quy định hiện nay là cấm lấn dòng chảy, thu hẹp dòng chảy...
Tuy nhiên, việc xác định chính xác có hành vi vi phạm hay không, mức độ tới đâu là rất khó. “Bởi, chúng ta không nắm được hồ sơ dự án và báo cáo ĐTM”, ông Tuấn nói.
Vì vậy ông Tuấn đề nghị thứ nhất là phải công khai các báo cáo ĐTM, thứ hai là công khai hội đồng phê duyệt gồm những ai để họ phải có trách nhiệm với quyết định phê duyệt của mình.
Chuyên gia Trần Hữu Hiệp cho rằng vấn đề nào liên quan đến tài sản dùng chung, dù nó nằm trên địa bàn một tỉnh, cũng cần xem xét tác động chung đến các tỉnh xung quanh. “Khi làm sân bay, cảng biển hay khai thác sử dụng tài nguyên nước của những dòng sông lớn, cần phải xem xét để việc khai thác sử dụng của địa phương này không tác động đến địa phương khác”, ông Hiệp nêu ví dụ.
Một bài học đã thấy rất rõ, theo ông Hiệp, đó là việc lấn sông Đồng Nai, con sông nằm trên địa bàn Đồng Nai nhưng liên quan đến nhiều địa phương khác ở hạ nguồn, trong đó có TPHCM. “Xét về mặt quy trình là đầu tư trên địa bàn thì chính quyền địa phương được toàn quyền. Thế nhưng, công trình đó có thể ảnh hưởng đến nhiều địa phương nên cần thiết đặt ra vấn đề phải xem xét tác động liên hoàn, vượt qua ranh giới hành chính tỉnh”, ông Hiệp nói.
Ông Hiệp đề nghị cần có quy hoạch hệ thống, chẳng hạn, dọc sông Tiền, sông Hậu được làm cái gì, có thể có những công trình lớn nào. Đầu tư để phát triển kinh tế là việc làm chính đáng của một địa phương nhưng theo ông, “để tránh hối tiếc, tránh việc được cho ông này, mất của ông kia hay cái chung của xã hội, thì phải có cách tiếp cận ít nhất là tiểu vùng”.
Thông điệp “không thô bạo” của thế giới
Trao đổi với TBKTSG, ông Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển tài nguyên nước bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu (CEWAREC) kiêm Trưởng ban điều hành mạng lưới lưới sông ngòi Việt Nam (VRN), khẳng định: “Một trong những nguồn tài nguyên thiên thiên vô cùng quan trọng cho cuộc sống của con người, sự phồn thịnh của một quốc gia, đó là các con sông, là tài nguyên nước”.
Theo ông Tứ, tại “Diễn đàn nước thế giới lần thứ 7” diễn ra tại thành phố Daegu, Hàn Quốc hồi tháng 4-2015, một số nước đã đưa ra những thông điệp rất rõ ràng về cách ứng xử với những dòng sông theo hướng không can thiệp “thô bạo”.
Dẫn thông điệp của bảy tổ chức quản lý nước ở Pháp đưa ra tại diễn đàn nêu trên, ông Tứ nhấn mạnh: “Hãy trả lại cho các dòng sông không gian để chúng có thể làm tốt chức năng tự nhiên đã tạo nên nó. Chúng ta cần trả lại bản chất thiên nhiên cho các dòng sông để nó có thể thích ứng với biến đổi khí hậu và nhờ đó nó mới có thể bảo vệ được chúng ta”.
Đi liền thông điệp trên, các tổ chức của Pháp đã đề xuất một kế hoạch là phải thay đổi cách sử dụng đất để trả lại khu vực đất ngập nước dọc theo chiều dài dòng sông. Cụ thể, phải trả lại ít nhất 20% diện tích đất ngập nước dọc các dòng sông vào năm 2050 hoặc nối các vùng đất ướt với nhau để chúng tạo thành những túi trữ nước.
Gần đây, ông Tứ cho biết, như một hành động thiết thực, Hàn Quốc đã quyết định khôi phục lại dòng sông ở Seoul bị lấn chiếm. “Quyết định này tạo nên sự phấn khích cho toàn xã hội Hàn Quốc vì nó tạo nên một dòng sông “sống” giữa thủ đô của nước này”, ông Tứ nói.



14 tháng 11, 2017

Hậu của “thẻ vàng" EU

Trần Hữu Hiệp
Liên hiệp châu Âu (EU) cảnh báo: Hải sản Việt Nam nhập khẩu vào thị trường này không bảo đảm quy định IUU về nguồn gốc đánh bắt minh bạch. Sau tấm “thẻ vàng” này sẽ là hồi chuông cảnh báo đòi hỏi một giải pháp toàn diện.
Cảng cá Bình Đại, Bến Tre
Trong “nguy” có “cơ”
IUU (illegal, unreported and unregulated fishing) là quy định của EU buộc nhà thương mại phải chứng minh nguồn gốc minh bạch của hải sản khai thác nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ mọi hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý. Năm 2008, IUU được Hội đồng châu Âu chính thức thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2010. Quy định này cũng đang được Hoa Kỳ xem xét áp dụng vào năm 2018.
Theo Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn), đã có 25 quốc gia, vùng lãnh thổ xuất khẩu thủy sản vào thị trường châu Âu bị vướng “thẻ vàng”, trong đó có sáu quốc gia bị phạt “thẻ đỏ”. Tuy nhiên, đến nay, 10 nước được dỡ thẻ vàng, ba nước được dỡ thẻ đỏ. Các nước vướng thẻ thường mất từ một đến hai năm để khắc phục. Ngay cả quốc gia nông nghiệp hàng đầu như Thái-lan, dù có nhiều nỗ lực, nhưng đã ba năm vẫn chưa được EU gỡ thẻ vàng.
Mặc dù “thẻ vàng EU” mới chỉ là một cảnh báo được đưa ra để Việt Nam có biện pháp khắc phục mà chưa có bất kỳ chế tài thương mại nào; nhưng nó cũng đang tác động tiêu cực đến xuất khẩu thủy sản nước ta, dẫn đến hệ lụy 100% lô hàng xuất khẩu vào châu Âu bị kiểm tra nguồn gốc, làm mất thời gian, chi phí và có khả năng tạo hiệu ứng đô-mi-nô, tác động xấu đến việc xuất khẩu sang các thị trường khác như Mỹ.
Bởi vậy, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cần nhanh chóng hành động thích ứng với sân chơi và luật chơi hội nhập ngày càng khắt khe hơn. Rất cần các Bộ quản lý chuyên ngành, Tổng cục Thủy sản và Hiệp hội nghề cá, VASEP phải vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa hỗ trợ cho việc đầu tư, chuyển đổi phương thức đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy sản. Và hơn cả là cần phải tạo dựng môi trường minh bạch, chủ động hội nhập sân chơi lớn và tuân thủ luật chơi chung.
Nhìn ở góc độ tích cực, việc EU rút thẻ vàng đối với mặt hàng thủy sản đánh bắt của Việt Nam cũng chính là cơ hội để chúng ta đánh giá lại thực trạng, tổ chức lại sản xuất, hoàn thiện hệ thống quản lý nghề cá hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Quốc hội cũng đang xem xét thông qua dự thảo Luật Thủy sản (sửa đổi) với những quy định mới về “Khai thác thủy sản bất hợp pháp và chứng nhận, xác nhận thủy sản có nguồn từ khai thác” theo quy định của IUU. Thách thức và cơ hội đan xen nhau, phụ thuộc vào kết quả của nỗ lực và hành động cụ thể.
Thị trường nội cũng có quyền đòi hỏi?!
Việt Nam xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là nông, thủy sản đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng cũng là một thị trường tiêu thụ lớn với hơn 90 triệu dân. Người tiêu dùng Việt hoàn toàn có quyền đòi hỏi thông tin minh bạch đối với các sản phẩm mình bỏ tiền ra mua!
Trong bối cảnh ấy, cần ủng hộ mạnh mẽ hơn những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đã có nhiều ý kiến trái chiều khi UBND tỉnh An Giang ra lệnh cấm và gia tăng kiểm soát việc ngư dân bắt cá linh non đầu mùa lũ năm nay để bảo vệ loài cá đặc sản dòng Mê Công này. Song, tăng cường kiểm soát cùng với những hỗ trợ sinh kế thiết thực cho người dân là cần thiết.
Không chỉ trong lĩnh vực thủy sản, các quy định và điều kiện minh bạch để người tiêu dùng có quyền truy xuất nguồn gốc nông sản đang được áp dụng ngày càng phổ biến hơn ở Việt Nam. Tuy nhiên, quyền này chỉ có thể bảo đảm thực thi khi chúng ta có nền sản xuất được quản lý chặt chẽ theo chuỗi, từ đồng ruộng đến siêu thị và bàn ăn.
Việc ngành thủy sản nỗ lực thoát “thẻ vàng” của EU cần được nhìn rộng hơn, trước yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển. Cần tạo môi trường thuận lợi để thiết lập và tăng cường các mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, HTX; giữa doanh nghiệp, HTX với người dân; giữa người dân với người dân… nhằm tổ chức, hình thành mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm chặt chẽ hơn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc cải tiến, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi giá trị, và thông tin minh bạch để bảo đảm truy xuất nguồn gốc.
Tái cơ cấu, liên kết hợp tác và hội nhập ở ngành thủy sản vừa là yêu cầu, vừa là động lực cho giai đoạn mới đang mở ra, chứ không chỉ là câu chuyện đối phó với IUU.
Muốn quy trách nhiệm đối với nhà cung cấp thương mại, phải có hệ thống pháp luật chặt chẽ, quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng và bộ máy thực thi hiệu quả.


30 tháng 10, 2017

Sản xuất lúa gạo theo hướng bền vững Bài 1: Còn nhiều cản lực

Hằng năm, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất hơn 50% sản lượng lương thực, cung cấp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Lúa gạo khu vực này đã trở thành ngành hàng có ưu thế lớn.

Thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: TTXVN
Tuy nhiên, trước những thách thức của biến đổi khí hậu, thị trường nhiều biến động, cần thiết sớm có giải pháp phát triển bền vững lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ngành hàng này lại đang gặp không ít cản lực tồn tại nhiều năm qua.
Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng sau 30 năm đổi mới, ngành lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đạt nhiều thành tựu quan trọng; góp phần đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực vươn lên thành cường quốc xuất khẩu gạo, tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.
Tuy nhiên, những thành tích đã qua, không phải là một đảm bảo chắc chắn cho thành công tới. Sản xuất nhiều gạo hơn, xuất khẩu gạo thô nhiều hơn không hẳn là giải pháp cho an ninh lương thực và giúp nông dân làm giàu.
Mà cần cách tiếp cận đa ngành, có sự phân biệt rõ ràng giữa đáp ứng cho mục tiêu chính trị - xã hội – công cộng và kinh tế - thương mại – tạo lợi nhuận hợp lý và bền vững cho nông dân.
Trồng lúa trước yêu cầu mới, không chỉ đơn thuần là một ngành trồng trọt, mà nó phải gắn kết theo chuỗi giá trị lúa gạo.
Chia sẻ về thực trạng hiện nay, ông Trần Hữu Hiệp cho hay, sản xuất lúa của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún.
Dựa trên quy mô và hình thức liên kết sản xuất, thì 86% hộ dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long có quy mô nhỏ, diện tích dưới 2ha; hộ trồng lúa quy mô lớn hơn, diện tích từ 2 ha trở lên chỉ chiếm khoảng 14%.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Cần, Trường Đại học Cần Thơ, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối đầu với sự cạnh tranh của nhiều đối thủ sản xuất kinh doanh mạnh.
Cụ thể nông dân phải cạnh tranh với hàng hóa nông sản nhập khẩu và cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu của nông dân các nước mạnh hơn; với sự tổ chức rất tốt về hệ thống và quy mô, cũng như sự hợp tác trong sản xuất kinh doanh ở đỉnh cao.
Trong khi đó, một thực tế nghiệt ngã là nông dân Đồng bằng sông Cửu Long chịu nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Đó là được mùa rớt giá, tổ chức sản xuất lỏng lẻo đơn độc, kinh doanh thiếu hợp tác mạnh ai nấy làm, thiếu kế hoạch.
Ước tính có trên 50% giá trị sản xuất nông nghiệp cho xuất khẩu của Việt Nam theo kiểu "ăn xổi ở thì", các rủi ro về giá cả thị trường nông dân gánh lấy. ác hình thức kinh tế hợp tác như tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp chưa đủ mạnh, chưa đem lại hiệu quả.
Cùng với đó, chuỗi giá trị lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều khâu trung gian và phụ thuộc rất lớn vào thương lái, đại lý vật tư nông nghiệp.
Ngành lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động rất lớn bởi yếu tố rủi ro do thiên tai, biến động của giá cả thị trường lúa gạo trong nước và trên thế giới.
Sự hưởng lợi của khâu trung gian và việc thiếu vắng tiếng nói của nông dân trong quá trình hoạch định, ban hành chính sách liên quan cũng là những vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong ngành lúa gạo hiện nay.
Một trong những trở lực nữa mà theo Tiến sĩ Đoàn Mạnh Tường, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long là việc tổ chức liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long những năm qua gặp không ít thách thức và khó khăn.
Đó là liên kết sản xuất lúa giữa nông dân với nông dân còn rất khiêm tốn, chưa phát huy hết vai trò của liên kết sản xuất nâng cao giá trị hàng hóa của sản phẩm lúa gạo làm ra.
Cụ thể như trong thực hiện cánh đồng mẫu lớn tại Đồng bằng sông Cửu Long đã bước sang giai đoan thứ hai, dựa trên quy mô liên kết để trở thành cánh đồng lớn và định hình vùng nguyên liệu sản xuất ổn định nhiều năm, tiến tới giai đoạn thứ ba là xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam.
Tuy nhiên, qua số liệu của Cục Trồng trọt cho thấy, toàn vùng năm 2014 đã triển khai được gần 150.000 ha và năm 2015 triển khai hơn 200.000 ha, nhưng đến vụ Hè Thu năm 2017 thực hiện cánh đồng lớn với diện tích hơn 100.000 ha, giảm gần 30.000 ha so với vụ Hè Thu 2016.
Điều đáng lo ngại là so diện tích canh tác lúa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì diện tích triển khai cánh đồng lớn vẫn còn quá nhỏ.
Năm 2014 diện tích cánh đồng lớn của vùng chỉ chiếm hơn 3% tổng diện tích canh tác cả vùng, qua năm 2015 diện tích tăng được gần gấp đôi và diện tích này tăng thêm chưa được 1%, chiếm 6,35% tổng diện tích lúa vụ Hè Thu năm 2017 của vùng.
Cùng với đó, việc liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp cũng nằm trong tình trạng chung như liên kết sản xuất giữa nông dân với nông dân trong xây dựng cánh đồng lớn.
Nhiều doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo bắt đầu tham gia liên kết với nông dân thời gian gần đây như Công ty Hoàng Nhật Minh, Công ty Gentraco, Công ty Hiệp Lợi, Công ty Vinacam, Công ty Cờ Đỏ, Công ty Mê Kong; Công ty Lương thực Sông Hậu, Công ty Vinafood I, Công ty Vinafood II,…
Tuy nhiên, sự tham gia sâu trong liên kết của các công ty là chưa nhiều. Năm 2013, diện tích lúa được bao tiêu sản phẩm chỉ chiếm khoảng 4,5% tổng diện tích canh tác lúa và chiếm khoảng 17% diện tích cánh đồng lớn.
Năm 2014, diện tích lúa được bao tiêu sản phẩm chỉ chiếm gần 8% tổng diện tích canh tác lúa và chiếm gần 30% diện tích cánh đồng lớn.
Vụ Hè Thu năm 2017 diện tích lúa được các doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho toàn vùng đạt 3,45% tổng diện tích lúa và chiếm 54,32% diện tích cánh đồng lớn.
Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng hiện phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu gạo chưa có liên kết, hợp tác chặt chẽ với nhau để tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới; chủ yếu tự mình tìm kiếm khách hàng, đặt giá, xây dựng thương hiệu.
Một số doanh nghiệp đầu tư sản xuất gạo hữu cơ, bước đầu quan tâm đầu tư xây dựng thương hiệu và một số sản phẩm sau gạo, tuy chưa nhiều, nhưng cũng đáng ghi nhận, cần được khuyến khích.
Tuy nhiên, nhìn chung, các nhà xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam vẫn chưa có sự liên minh, liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở các nước khác để đạt được thế mặc cả cao hơn trên thị trường.
Ở một khía cạnh khác về sự lỏng lẻo trong liện kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, ông Nguyễn Văn Vui, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, nhìn nhận có nhiều nguyên nhân mà mô hình liên kết sản xuất lúa theo cánh đồng lớn là rất tốt, nhưng không tăng được diện tích trong thời gian qua.
Đó là việc tham gia của chính quyền địa phương trong giải quyết các khó khăn, vướng mắc giữa nông dân và doanh nghiệp chưa được kịp thời. Nhất là việc nông dân mãi chạy theo năng suất mà quên quan tâm chất lượng, chạy theo cái lợi trước mắt mà phá vỡ hợp đồng làm ăn trong lâu dài.
Rõ ràng, liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn là một mối liên kết yếu, đặc biệt chưa thể hiện được nhiều trong mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa nông dân và doanh nghiệp.
Hơn bao giờ hết, người nông dân cần sớm liên kết lại, tổ chức lại theo hình thức hợp tác xã kiểu mới, tiên tiến và đủ mạnh, đủ lớn để giúp họ quản lý, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, sản xuất theo chuỗi giá trị và áp dụng công nghệ cao một cách tốt hơn./.
Bài 2: Nâng cao năng lực hợp tác xã trồng lúa
Xem thêm:
Phạm Duy Khương/TTXVN


7 tháng 10, 2017

Cụm dân cư vượt lũ ĐBSCL

TTO - Trong hai ngày 26 và 27-9 tại Cần Thơ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ chủ trì “hội nghị Diên Hồng” đặc biệt quan trọng đối với ĐBSCL.

Trẻ em vui chơi bên cạnh những ngôi nhà bỏ hoang ở tuyến dân cư Cà Dăm, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An - Ảnh: Vân Trường
Hàng loạt vấn đề lớn liên quan đến sinh kế của người dân, trong đó có cụm dân cư vượt lũ, sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông - thủy lợi, cơ chế điều phối nguồn nhân lực và ngân sách trung ương... sẽ được các chuyên gia quốc tế và VN thảo luận để giúp Chính phủ đưa ra những quyết sách đột phá nhằm phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Đồ họa: VIỆT THÁI


Ông Trần Hữu Hiệp (ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ):"An cư" nhưng không "lạc nghiệp"
Ảnh: C.QUỐC
Sau hơn 15 năm thực hiện cho thấy chương trình xây dựng các cụm - tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL là một chủ trương đúng. 
Nó không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, mà còn mang tính nhân văn sâu sắc vì đã giúp hơn 200.000 hộ với hơn 1 triệu dân vùng ngập lũ có chỗ ở an toàn.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận những tồn tại, hạn chế đã và đang xảy ra. 
Thứ nhất, việc chọn vị trí đầu tư xây dựng các cụm - tuyến dân cư chưa phù hợp, có biểu hiện chạy theo phong trào xây dựng và tiến độ. 
Hai là việc đầu tư "cắt khúc", hạ tầng giao thông, thương mại, điện, trường học, các thiết chế văn hóa không đồng bộ, chưa đảm bảo môi trường sống lâu dài, bền vững. 
Và đặc biệt là phát triển sinh kế cho người dân tại nơi ở mới chưa được chú trọng đúng mức. Đó là lý do nhiều người dân không vào ở hoặc xây dựng nhà xong không ở.
Một không gian sống mới của người dân cần phải được đảm bảo 2 điều kiện là "phần cứng" (hạ tầng kỹ thuật, nhà ở) cho an cư, nhưng "phần mềm" (sinh kế, thu nhập, học hành cho con cháu, sinh hoạt văn hóa, tinh thần) cho lạc nghiệp còn quan trọng hơn. 
Vì vậy, hệ quả là còn nhiều người nghèo vùng lũ chưa được hưởng lợi từ chính sách này và sự lãng phí nguồn lực đầu tư.
Ông Nguyễn Mạnh Khởi (phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng):
Đề xuất chấp thuận mua bán lô nền
Để xử lý tình trạng cụm - tuyến dân cư ít người ở hoặc có tình trạng nhà bỏ hoang, tháng 12-2016, Bộ Xây dựng đã thành lập đoàn công tác liên ngành kiểm tra, rà soát tình hình thực hiện chương trình xây dựng cụm - tuyến dân cư một số địa phương; đồng thời tổ chức cuộc họp với các bộ, ngành để trao đổi và đề xuất hướng xử lý.
Trên cơ sở ý kiến của các bộ ngành, Bộ Xây dựng đã có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ kiến nghị thực hiện một số giải pháp như:
- Cho phép địa phương chủ động điều tiết bán đấu giá nền linh hoạt được xây dựng trong giai đoạn 1 và giai đoạn 2 để có kinh phí đầu tư phát triển, duy tu và bảo trì hệ thống hạ tầng của cụm - tuyến.
- Chấp thuận việc mua bán lô nền để xây dựng nhà giữa những người thừa kế của các hộ được nhận lô nền hoặc giữa các hộ nghèo hoặc cận nghèo hoặc chấp thuận công nhận các trường hợp đã nhận chuyển nhượng lô nền hoặc nhà ở tại các cụm - tuyến để tránh tình trạng bỏ trống lô nền.
- Đối với lô nền còn thừa mà không còn hộ thuộc chính sách để bố trí thì cho phép địa phương bán đấu giá để thu hồi vốn xây dựng cụm - tuyến và có thêm nguồn kinh phí duy tu, bảo trì hệ thống hạ tầng kỹ thuật của cụm - tuyến dân cư...
Tiền Giang: xây nhà ở khu vực đông dân
Ông Trần Phương Nam - phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Tiền Giang - cho biết trong hai giai đoạn chương trình cụm - tuyến dân cư vượt lũ, toàn tỉnh có 125 dự án. Hiện đã có trên 90% hộ dân vào ở, cuộc sống tương đối ổn định.
Theo ông Nam, ngay từ đầu tỉnh quyết định chọn địa điểm xây dựng cụm - tuyến dân cư là ở các khu vực đông dân, gần trung tâm xã, có trường học, trạm y tế, chợ.
Tập quán của người dân nông thôn không muốn đi quá xa nơi họ sinh sống, nên không xây dựng ở nơi đồng trống hoặc quá xa trung tâm xã.
Cũng vì không phải di dời xa và có điều kiện làm thuê làm mướn kiếm sống nên họ "an cư", không đòi trả nhà.
Đồng Tháp: không đưa ra đồng trống nữa
Ông Nguyễn Văn Dương - chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp - nói một số cụm - tuyến dân cư có tỉ lệ dân vào ở thấp (như ở huyện Tân Hồng) là do trong giai đoạn 1 quy hoạch xây dựng chưa hợp lý, hạ tầng giao thông chưa tốt, không kết nối được với trung tâm xã.
Giai đoạn 2 tỉnh rút kinh nghiệm chỉ xây dựng ở các khu trung tâm nên tỉ lệ dân vào ở cao, chỉ xây dựng ở gần trung tâm chứ không đưa ra đồng trống.
VÂN TRƯỜNG - LÂM HOÀI