4 tháng 5, 2017

Chạy lở, “nước đói” và sự biến dạng đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Mấy năm nay, ĐBSCL vắng bóng mùa nước nổi, thưa dần hoặc không còn cảnh chạy lũ. Nhưng nhiều người dân vùng này hiện đang rơi vào tình thế khắc nghiệt hơn, nguy hiểm hơn. Đó là cảnh nhốn nháo, bất an lo chạy lở.
Sông Tiền, sông Hậu vốn hiền hòa, bao đời mang phù sa kiến tạo đồng bằng. Nay sông mẹ như trong cơn đói nước, thiếu thức ăn phù sa, tính khí hung dữ, thất thường, tạo ra cơn cuồng phong bằng các trận sạt lở bờ sông nghiêm trọng.

Mới đây, một góc thị tứ sung túc bên bờ sông Vàm Nao, huyện Chợ Mới (An Giang) bỗng chốc biến mất trước sức mạnh thủy thần, góp thêm nỗi lo cho việc phải di dời khoảng 20.000 hộ dân sống ven sông của tỉnh An Giang.
Các vụ sạt lở xảy ra khá phổ biến, không chỉ ở tỉnh đầu nguồn sông Hậu, mà còn xuất hiện thường xuyên ở nhiều địa phương như Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp... và dọc bờ biển.
Khi sạt lở diễn ra trên diện rộng thì rõ ràng là đã có sự mất cân bằng trên toàn hệ thống. Vấn đề sạt lở ở ĐBSCL cần được tiếp cận hệ thống và nhận diện thủ phạm chính.
Nguyên nhân sạt lở được nhận diện từ những bất cập nội tại của vùng, tình trạng cát tặc lộng hành, việc khai thác, sử dụng bất hợp lý nguồn tài nguyên nước cùng các tác động tiêu cực xuyên biên giới làm thay đổi sự ổn định theo quy luật tự nhiên ngàn đời nay của sông Mekong.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, các vụ sạt lở ở vùng này đã cuốn trôi khoảng 500ha đất mỗi năm. Tình trạng sạt lở đang diễn biến phức tạp, thất thường, không theo quy luật. ĐBSCL hiện có 265 điểm sạt lở, với tổng chiều dài lên đến 450km.
Những vụ sạt lở bờ sông thường diễn ra vào mùa mưa. Tuy nhiên, những năm gần đây thì xuất hiện ngày càng nhiều và ngay giữa mùa khô mà điển hình là vụ sạt lở nghiêm trọng xảy ra ở tỉnh An Giang ngày 22-4 vừa qua.
Trong cơn đói phù sa do các quốc gia đầu nguồn Mekong chặn dòng, xây đập thủy điện, hay chuyển nước trên dòng chính như kiểu “trích máu dòng sông” mà nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy không chỉ làm mất đa dạng sinh học, giảm lượng thủy sản, mà nghiêm trọng hơn là sự sụt giảm khoảng một nửa lượng phù sa sông Mekong vốn là nguồn trầm tích kiến tạo nên và nuôi 
sống đồng bằng.
Sông Tiền, sông Hậu còn bị thêm “cú đấm hội đồng” của tội đồ “cát tặc” lộng hành và hệ thống đê bao cục bộ “mạnh ai nấy làm”. Tình trạng sử dụng nước ngầm quá mức gây lún đất và tạo ra các vết nứt bị khoét rỗng thành hố, từ đó bị tác động bởi thủy triều.
Khi mất lượng phù sa, tài nguyên cát bị vơ vét cạn kiệt, sông Tiền, sông Hậu bị bào mòn nghiêm trọng, làm thay đổi dòng chảy, lòng sông sâu hơn, tạo ra hiện tượng “nước đói”, xâm thực bờ sông.
Thiếu lượng phù sa sông Mekong còn tạo ra hiện tượng “nước biển đói” ở các cửa sông vùng ĐBSCL. Theo các chuyên gia, hiện có hơn 300km bờ biển, tức hơn phân nửa chiều dài bờ biển ĐBSCL đang sạt lở trầm trọng, mỗi năm mất khoảng 5km2 đất.
Bên cạnh việc ứng phó khẩn cấp tạm thời tình huống thiên tai do sạt lở, phải di dời, đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản người dân, đã đến lúc cần có các giải pháp căn cơ trong thế chủ động, khắc phục nguyên nhân trước nguy cơ của thiên tai và thiên tai làm biến dạng đồng bằng.
Cần vẽ bản đồ sạt lở cho đồng bằng kèm theo các giải pháp ứng phó trước mắt 
và lâu dài, mạnh tay dẹp loạn cát tặc.
Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, bố trí dân cư, tổ chức sản xuất đều phải đặt trong bối cảnh tổng thể, phải tính đến những mục tiêu ứng phó dài hạn, nhưng cũng không quên những mục tiêu trước mắt là người dân phải sống, con em phải đi học, tạo sinh kế cho người dân trong an toàn.
Tình trạng sạt lở nghiêm trọng ở ĐBSCL cần được giải quyết ngay từ các vấn đề nội tại của vùng, nhưng cũng rất cần được trợ lực bằng các định chế quốc tế như nâng cao vai trò thực chất và hiệu quả hoạt động của Ủy hội sông Mekong, kèm theo các giải pháp tăng cường ngoại giao, hợp tác song phương và đa phương để giảm thiểu các tác động tiêu cực liên quan 
đến tài nguyên nước sông Mekong.

TRẦN HỮU HIỆP

5 tháng 4, 2017

Sản xuất nông nghiệp như chơi lô tô

Trần Hữu Hiệp
TTO - Báo cáo xuất nhập khẩu lần đầu tiên được Bộ Công thương công bố mới đây cho thấy một bức tranh khả quan. Năm 2016, mặc dù thị trường thế giới có nhiều bất ổn, song Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, tăng 9% so với năm trước, đạt 176,6 tỉ USD. Trong đó, các mặt hàng nông, thủy sản chiếm vị trí quan trọng, góp phần cải thiện cán cân thương mại từ nhập siêu 2,55 tỉ USD năm 2015 sang xuất siêu 2,52 tỉ USD năm 2016. Nhóm hàng này đã góp 7/24 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD.
Nhưng cùng với thông tin khả quan về xuất khẩu năm qua là hàng loạt nỗi lo tắc đầu ra nông sản trong các tháng đầu năm nay. Như có tính chu kỳ, khó khăn lặp đi lặp lại, biết trước nhưng không lường được.

Hàng loạt nông sản lại rớt giá, hậu quả là bà con nông dân lãnh đủ. Nông dân nuôi heo, trồng chuối năm qua đã “bại trận” vì giá heo hơi, giá chuối rớt thảm. Nay nhiều bà con ở miền Tây, miền Trung, Tây Nguyên lại tiếp tục “méo mặt” vì giá dưa hấu, giá ớt, hành tím, vú sữa... rơi tự do từ chục lần đến vài chục lần. Trong khi đó, do giá cá tra nguyên liệu lên cao khiến nhiều người đang mở rộng ao nuôi dù chưa biết chắc vụ sau sẽ thắng hay thua.
Giá các mặt hàng nông sản cứ quay như chong chóng, lên xuống thất thường. Nông dân vì thế cũng xoay xở theo giá như con lật đật. Và tới mùa thu hoạch, bà con lại như chờ quay số lô tô.
Tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập nông dân, không phải bây giờ mới nhận ra là nhu cầu bức xúc. Nhưng tiếc thay, tình trạng “mạnh ai nấy làm” đã đẩy nông dân vào cảnh sản xuất như chơi quay số, phó mặc cho may rủi.
Chọn cây trồng, vật nuôi nào tưởng dễ, hóa ra là câu hỏi khó cho bà con. Người ta trách nông dân “nói hoài không nghe”, cứ chạy theo “phong trào”. Nhưng nghe theo khuyến cáo của chính quyền, ngành chức năng, nhiều lúc cũng phải “chịu thua”.
Mấy năm trước, nhiều nông dân ở miền Tây đã chuyển sang trồng lúa chất lượng cao, có địa phương đạt hơn 70% diện tích canh tác. Trớ trêu là lúa chất lượng cao “bị cào giá” như chất lượng thấp, thương lái không mua, nông dân “lãnh đủ” phần thua thiệt.
Yêu cầu sản xuất phải kết nối với thị trường là vấn đề khó “vượt tầm” của nông dân. Các “chiến dịch giải cứu nông sản”, giúp đỡ nông dân mà nhiều nơi đang làm là cần, nhưng chỉ mang tính đối phó nhất thời.
Bà con nông dân đang cần tập hợp lại cùng với các doanh nghiệp đủ mạnh phát triển sản xuất theo các chuỗi giá trị được quản lý từ đầu vào đến đầu ra. Nông dân cần “cung hàng sỉ” ổn định lâu dài hơn là chính sách “cấp hàng lẻ” nhất thời.
Tư duy làm chính sách cần được đổi mới mang tính chủ động, dựa vào thế mạnh, tiếp cận theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực vùng đang là đòi hỏi hết sức bức thiết.
Những chỉ dấu về việc hàng loạt nông sản rớt giá, đang tắc đầu ra, đòi hỏi nền nông nghiệp phải chuyển đổi để thích ứng trước nhiều thay đổi nhanh chóng của thị trường nông sản thế giới.

Vai trò của các cơ quan nhà nước với các vấn đề xuyên suốt vượt ra ngoài khuôn khổ nông nghiệp truyền thống, cần bớt chỉ đạo, tăng kiến tạo, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân nhiều hơn bằng chính sách và công cụ mà chỉ Nhà nước mới có.

LIÊN KẾT VÙNG ĐỂ XỬ LÝ RÁC

Trần Hữu Hiệp
TTO - Câu chuyện “Đồng bằng sông Cửu Long loay hoay với rác” (Tuổi Trẻ ngày 26-3) đòi hỏi cần giải bài toán căn cơ hơn cho vấn đề rác thải ở khu vực này.

Rác đang là bài toán nan giải đối với nhiều tỉnh thành ở ĐBSCL. Trong ảnh: Nhà máy xử lý rác thải Tâm Sinh Nghĩa (Long An) - Ảnh: An Long
Yêu cầu “xây dựng và ban hành luật tái chế, coi chất thải trong nước là tài nguyên” đã được xác định trong chiến lược quốc gia tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Nhưng con đường đưa rác thải của vùng ĐBSCL từ gánh nặng môi trường trở thành tài nguyên của xã hội cần nhiều nỗ lực và giải pháp đồng bộ hơn nữa
Nhìn ở cấp độ vùng, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện chưa có quy hoạch hệ thống xử lý rác thải. Giải quyết vấn đề môi trường vốn không phụ thuộc vào “ranh giới hành chính tỉnh” nhưng thực tế vừa qua, mỗi tỉnh tự lo kêu gọi, đầu tư cho riêng mình, thiếu phối hợp liên tỉnh.
Đây lại là lĩnh vực đầu tư kém hấp dẫn, khó thu hút dự án, trong khi nguồn lực địa phương hạn hẹp nên xử lý rác thải trở thành gánh nặng ngân sách.
Ngay cả khi đã có quy hoạch xử lý rác thải theo tiểu vùng thì việc triển khai thực hiện cũng chậm, nhiều bất cập. Quyết định số 1873/QĐ-TTg ngày 11-10-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL đến năm 2020 đã đặt mục tiêu là đến năm 2015 có 90%, đến năm 2020 có 100% chất thải rắn phát sinh tại các đô thị, khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau) được 
thu gom và xử lý.
Tuy nhiên, kết quả là đến nay Cần Thơ và An Giang chưa triển khai được dự án xử lý rác nào, Kiên Giang quy hoạch 4 được 1, Cà Mau có nhà máy xử lý rác nhưng mới chỉ xử lý được khoảng 140 tấn rác/ngày.

Trong khi đó, ước tính lượng chất thải rắn chỉ riêng 4 địa phương này hiện nay đã lên đến khoảng 5.000 tấn/ngày, dự báo đến năm 2020, tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 7.550 tấn/ngày, đang là vấn đề bức xúc và nan giải.
Xử lý rác thải được xác định là nhu cầu bức xúc chung của vùng, nhưng trong danh mục dự án ưu tiên của Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL năm 2017 và những năm tiếp theo không tìm thấy dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư xử lý rác, hoặc được xác định thành danh mục ưu tiên bố trí vốn đầu tư từ ngân sách.
Phải chăng đã có tâm lý phó thác cho chủ trương xã hội hóa kêu gọi đầu tư dự án xử lý chất thải? Thực tiễn cho thấy không thể “xã hội hóa thả nổi” cho một vấn đề mang tính cấp thiết về môi trường và phát triển bền vững như vậy.
Việc xây dựng các khu xử lý rác thải liên tỉnh theo quy hoạch cần được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách của trung ương trên cơ sở hài hòa chi phí - lợi ích giữa các bên, chứ không thể phó mặc cho các địa phương tự lo. Xử lý rác thải, đảm bảo môi trường phải là một trong những nội dung của liên kết vùng, phối hợp liên tỉnh trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, việc phát triển năng lượng tái tạo, điện sinh khối và các nguồn năng lượng sạch của vùng ĐBSCL gắn với sản xuất sạch hơn cần được lồng ghép vấn đề xử lý rác và bảo vệ môi trường.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo quyết định 1393/QĐ-TTg ngày 25-9-2012 là xanh hóa sản xuất, lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên.
Để giảm áp lực cho vấn đề xử lý rác thải nói riêng và môi trường nói chung, cần lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu, trong đó có yêu cầu áp dụng các tiêu chuẩn xanh trong phát triển các ngành sản xuất, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, cũng như xây dựng một hệ sinh 
thái tiêu dùng xanh

Thủy sản ĐBSCL và câu chuyện “vỡ nợ”

Kỳ 1: Dễ tổn thương như doanh nghiệp thủy sản
Trần Lưu
Khoảng cuối tháng 10.2016, lãnh đạo Cty Thuận An (Tafishco - An Giang) ra nước ngoài rồi không trở về khiến ngân hàng và các hộ nông dân lâm vào cảnh điêu đứng. Câu chuyện “vỡ nợ” của các đại gia thủy sản một lần nữa đã đặt ra những yêu cầu bức thiết, đòi hỏi phải có giải pháp mạnh mẽ để thải loại những nhân tố vốn đã chết yểu trên “đường bơi” từ trước…
Loại bỏ các yếu tố do chủ doanh nghiệp lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, câu kết với cán bộ ngân hàng rút tiền tín dụng tiêu xài…; hiện tượng các đại gia cá tra vỡ nợ là một bài học vẫn còn nóng hổi, mà ở đó, những yếu kém nội tại đã tạo nên “tử huyệt” - để khi chỉ cần gặp khó khăn trong một đơn hàng, doanh nghiệp ngay lập tức điêu đứng…
Người nuôi cá tra năm nay được mùa giá, nhưng không ai dám chắc năm sau

Quá nhiều bất cập!
Khởi điểm từ cuối thập niên 90, con cá tra ĐBSCL đã lập nên những kỳ tích với mức tăng trưởng đáng kể qua từng năm, vươn lên đứng đầu thế giới, chiếm hơn 90% thị phần cá tra xuất khẩu toàn cầu. Thế nhưng, đằng sau ánh hào quang đó vẫn còn vô số những bất cập tạo nên căn bệnh trầm kha cho ngành thủy sản.
Có giai đoạn, số liệu thống kê chỉ ra rằng, trong 100% tăng thêm của tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, thì có đến hơn 80% là do tăng sản lượng tạo ra, chỉ khoảng 20% là do tăng giá. Sự phát triển nhanh theo chiều rộng đã giải quyết phần nào các mục tiêu kinh tế xã hội cục bộ trước mắt, nhưng chưa khẳng định được sự phát triển nổi trội về chất lượng sản phẩm dẫn đến hệ thống sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản chưa có khả năng đổi mới và đa dạng hóa mạnh mẽ các sản phẩm xuất khẩu nhằm tăng lợi thế cạnh tranh và đáp ứng những đòi hỏi của thị trường.
Bên cạnh đó là sự yếu kém trong công tác dự báo thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, các doanh nghiệp không xây dựng được chiến lược kinh doanh. Nhiều nhà máy chế biến lâm vào tình trạng dư thừa công suất khi được đầu tư rất lớn, nhưng khai thác chỉ đạt 50 - 70%, dẫn đến tăng chi phí sản xuất, giảm sức cạnh tranh trên thị trường… Điều này giải thích vì sao Việt Nam đang “một mình một chợ” trong xuất khẩu cá tra, nhưng lại không làm chủ được thị trường thế giới. Việc các doanh nghiệp cạnh tranh lẫn nhau đã làm giá cá tra sụt giảm, các nhà nhập khẩu thế giới biết được điều này nên luôn tìm cách ép giá.
Thời điểm con cá tra hay con tôm “lên đỉnh” đã kéo theo những hệ lụy do phát triển nóng, thiếu quy hoạch, mạnh ai nấy làm. Nhiều Cty, doanh nghiệp vốn kinh doanh trái ngành như đồ gỗ, dầu khí, nhà đất… cũng nhảy vào đầu tư kinh doanh thủy sản. Như một điều tất yếu, những đơn vị này không có kiến thức chuyên môn về ngành nghề mình đang kinh doanh, không biết quản trị Cty, quản lý dòng vốn, quản lý rủi ro… nên sau một vài phi vụ trúng quả, phất lên như diều gặp gió rồi cũng nhanh chóng vỡ nợ khi gặp khó khăn…
“Tử huyệt” tài chính
Nhìn lại mô hình liên kết nuôi cá tra ở An Giang sẽ thấy đây là một chủ trương đúng và đã mang lại hiệu quả rất khả quan trong 2 năm đầu triển khai thí điểm, song nó cũng bộc lộ không ít lổ hổng về quản lý. Ông Lê Văn Nưng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - cho biết: “Lúc được chọn tham gia chuỗi liên kết, Cty Thuận An có đủ năng lực, nhưng có thể qua quá trình hoạt động, Cty gặp khó khăn nên mới xảy ra tình trạng như hiện nay”. Câu hỏi đặt ra lúc này là ai quản lý việc làm ăn của doanh nghiệp? Khi Thuận An mua cá của dân sẽ bán đi đâu? Nguồn tiền thu về như thế nào? Lời lỗ ra sao?... hầu như không ai biết.
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho rằng: Đằng sau ánh hào quang “vượt vũ môn” của loài “đế ngư” là cảnh lâm nợ, khốn đốn của nhiều người nuôi và doanh nghiệp cá tra xảy ra như có tính chu kỳ năm được, năm mất. Nguyên nhân được nhận diện là giá thị trường xuống thấp, thiếu vốn, hiệu ứng đôminô lây lan, thì người nuôi cá, doanh nghiệp, ngân hàng nợ nần dây chuyền, chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Bên cạnh nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, chật vật trong tìm đầu ra; phải kể đến “tử huyệt” của doanh nghiệp thủy sản là năng lực tài chính yếu kém, sử dụng chủ yếu vốn vay ngắn hạn, gặp lúc lãi suất tăng vọt, lợi nhuận làm ra không đủ trả lãi dẫn đến thua lỗ kéo dài. Nhiều doanh nghiệp thủy sản vừa phất lên, bỗng chốc “lâm bệnh nặng”. Một số chủ doanh nghiệp không có chuyên môn sâu trong ngành, lĩnh vực, đa phần khởi sự từ mua bán chuyển sang nghề nuôi, chế biến thủy hải sản. Nghiên cứu thị trường không kỹ và không am hiểu đầy đủ luật pháp của các nước nhập khẩu, chỉ cần một đơn hàng chậm thanh toán hoặc bị hủy thì doanh nghiệp gặp điêu đứng.
Khi gặp khó khăn thị trường, trong cơn khát vốn, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu làm ăn chụp giựt, đã tự làm khó mình và làm khó lẫn nhau khi liên tục chào bán cá tra với giá thấp để có tiền xoay vòng. Điều này đã tạo cho nhà nhập khẩu quyền xác lập giá trần. Ở nhiều thời điểm, giá cá tra xuất khẩu đã liên tục hạ gây bất lợi cho không chỉ doanh nghiệp, người nuôi mà còn làm suy yếu ngành cá tra Việt Nam. Đó chính là lý giải tại sao chúng ta nắm giữ độc quyền cung ứng cá tra cho cả thế giới tiêu dùng; nhưng “nhà độc quyền” lại không có quyền làm giá. Năng lực tài chính, quản trị và liên kết doanh nghiệp chính là “huyệt đạo” của ngành…

Kỳ 2. Để thủy sản không chết yểu trên “đường bơi”


Tài chính được xác định là “tử huyệt” của các doanh nghiệp thủy sản, nhưng ngay cả khi giải được bài toán này thì nó chỉ thỏa được điều kiện cần chứ chưa đủ. Cần có sự tiếp cận đa ngành, phối hợp hành động liên ngành trên bình diện tổng thể, xa hơn là giải quyết cục bộ chuyện nợ nần của từng doanh nghiệp.
Mạnh tay thải loại doanh nghiệp yếu
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho biết: Ngân hàng cho vay theo chuỗi cá tra, mặc dù tiếp cận đúng, nhưng chỉ mới giải quyết ở khâu cung ứng tín dụng dựa trên các phương thức hợp đồng mà trách nhiệm thường quy về bên yếu thế là người nuôi, phần đông là nông dân hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ. Khi xảy ra nợ nần, các tác nhân yếu thế này lãnh đủ.
Trong khi đó, việc nâng cao năng lực quản trị, tài chính và hoàn thiện chuỗi liên kết lại là vấn đề khác. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này cũng chỉ sờ đến một công đoạn của chuỗi cá tra. Đó là người nuôi, doanh nghiệp chế biến kiêm xuất khẩu. Phần quan trọng nhất của con cá tra đang ở một phân ngành khác. Thực tế hiện nay, 80 - 90% giá thành cá tra là chi phí thức ăn. Trong khi đó, khoảng 80% các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ quyền cung cấp thức ăn thủy sản, quyết định giá nguyên liệu.

Như vậy, sản xuất cá tra, từ đầu vào đến đầu ra, người nuôi với tư cách nhà sản xuất, nhưng không có quyền quyết định đối với sản phẩm của mình làm ra. Khi cá tra được giá, người nuôi chỉ lãi 10 - 20%, còn lại 80 - 90% thuộc phân ngành thức ăn. Thua lỗ, thì người nuôi mất trắng.
Một thực tế tồn tại nhiều năm qua là các địa phương hầu như chưa quan tâm xem xét, đánh giá, thống kê số liệu doanh nghiệp mạnh và yếu để có giải pháp khắc phục. Với nhóm doanh nghiệp còn có thể đứng vững trên thị trường thì hỗ trợ phát triển, còn lại thì cần giải pháp xử lý tránh đổ vỡ gây hậu quả dây chuyền.
“Giải bài toán tái cấu trúc ngành hàng cá tra chắc chắn có tầm chiến lược hơn nhiều so với việc xử lý nợ nần của doanh nghiệp thủy sản và người nuôi. Yêu cầu đòi hỏi tăng cường liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị thực chất, thương hiệu hóa; tái cấu trúc toàn diện ngành hàng thủy sản gắn với ngành công nghiệp thức ăn, đa dạng hóa sản phẩm. Nhưng trước mắt là cần rà soát, thải loại các doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính, quản trị để đảm bảo sự lành mạnh, sức cạnh tranh của các tác nhân tham gia chuỗi, đủ sức cạnh tranh trước thách thức hội nhập” - ông Hiệp nói.
Cần thuốc đủ liều
Theo các chuyên gia, thực trạng yếu kém, thiếu bền vững của chuỗi giá trị cá tra đã được nhận diện mấy năm qua, nhiều giải pháp đã được thực thi. Từ tăng cường quản lý nhà nước, quy hoạch vùng nuôi, nhà máy chế biến đến tiếp cận cho vay theo chuỗi, thành lập Hiệp hội Cá tra… Nhưng các giải pháp này dường như chưa đủ sức tái cấu trúc chuỗi. Sự vỡ nợ của các đại gia trong ngành cá tra cần được xem là một chỉ dấu để rà soát chính sách và hiệu quả của các giải pháp.
Các mô hình liên kết trong thủy sản hiện nay là đúng đắn, ngay cả các hộ dân đang bị Cty Thuận An nợ tiền cũng khẳng định rằng: “Chúng tui sẽ tiếp tục tham gia vào chuỗi liên kết bởi đây là một chủ trương đúng với hiệu quả đã được chứng minh trong thực tiễn. Vấn đề là ngành chức năng phải đánh giá, lựa chọn doanh nghiệp đủ năng lực và có cách quản lý phù hợp, bởi người nông dân không thể nào biết được chuyện mần ăn của doanh nghiệp”.
Liên kết là đúng, song không thể đạt được qua 1 hoặc 2 vụ, mà phải mất nhiều năm, qua nhiều bước đi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để từng bước nâng chất lượng các hình thức kinh tế hợp tác. Đây là giai đoạn chuyển đổi phương thức sản xuất, từ mô hình kinh tế hộ sang kinh tế hợp tác. Bài toán liên kết sản xuất - tiêu thụ là giai đoạn đầu để hướng đến quan hệ sản xuất mới - một yêu cầu tất yếu và bức thiết cho cả nền nông nghiệp ĐBSCL chứ không riêng gì con tôm, con cá…
Các chuyên gia đề xuất: Vấn đề quan trọng hiện nay là cần siết chặt việc quy hoạch vùng nuôi và kiểm soát tốt sản lượng cá của toàn vùng nhằm điều tiết nhu cầu tiêu thụ một cách hợp lý. Mô hình nuôi cá tự phát theo kiểu cũ cần phải xóa dần để tiến tới mô hình nuôi mới có gắn kết với doanh nghiệp tiêu thụ. Tùy theo điều kiện của từng địa phương mà xây dựng mô hình liên kết phù hợp nhất để có hiệu quả và đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia, cùng thúc đẩy nghề cá phát triển…
Dự kiến, trong năm 2017, diện tích nuôi cá tra cả nước đạt hơn 5.350ha, cho sản lượng gần 1,2 triệu tấn. Do nhu cầu tiêu thụ cá tra của các nước nhập khẩu đang tăng cho nên giá cá liên tục tăng nhanh, có thời điểm đã chạm mức 25.000 đồng/kg gần với mức giá kỷ lục - hơn 26.000 đồng/kg từng thiết lập cách đây 6 - 7 năm. Bộ NNPTNT dự báo trong năm nay kim ngạch xuất khẩu cá tra ước đạt hơn 1,7 tỉ USD.


Đại gia cá tra vỡ nợ' và bài học cho một ngành kinh tế

Trần Hữu Hiệp
Việc vợ chồng Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Tafishco - An Giang mấy tháng qua bỏ ra nước ngoài không trở về, để lại khoảng nợ lớn của nhiều khách hàng, làm nhiều người đứng ngồi không yên.
Thực ra, việc các “đại gia thủy sản” lâm nợ, bỏ trốn hay bị bắt đã xảy ra lâu nay. Nó như một “hàn thử biểu” đo độ nóng - lạnh của ngành kinh tế quan trọng này ở miền Tây Nam Bộ. Vì sao, trong mấy năm qua, lại có nhiều đại gia thủy sản vỡ nợ như vậy? Loại bỏ các yếu tố do chủ doanh nghiệp lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, câu kết với cán bộ ngân hàng rút tiền tín dụng tiêu xài hay đầu tư vào bất động sản hay ngành kinh doanh khác rồi vỡ nợ; cần phân tích thấu đáo thực trạng, rút ra bài học cho ngành cá tra. 
Thu hoạch cá tra ở Thốt Nốt, Cần Thơ

Phía sau kỳ tích con cá
Lịch sử hình thành và phát triển của nghề nuôi, chế biến, xuất khẩu cá tra ở ĐBSCL đã tạo ra kỳ tích. Sau lúa gạo và hơn cả lúa gạo, khởi điểm từ cuối thập niên 90, chỉ trong vài năm sau, con cá tra đã vươn lên đỉnh vinh quang.
Từ loài cá tự nhiên miền sông nước, những người nông dân miền Tây sáng tạo, được trợ giúp của khoa học, trở thành những “bà mụ vườn” bắt cá đẻ, tạo ra ngành mới - sản xuất giống cá tra nhân tạo, đáp ứng ngành nuôi theo kiểu sản xuất hàng hóa, qui mô lớn. Với lợi thế điều kiện tự nhiên, vùng nuôi, năng suất cao, đẩy mạnh chế biến xuất khẩu, cá tra ĐBSCL đã vươn lên đứng đầu thế giới, chiếm hơn 90% thị phần cá tra xuất khẩu toàn cầu.
Chính con cá tra ĐBSCL, gần 2 thập niên trước đây đã làm đau đầu những ông chủ tập đoàn, hiệp hội cá nheo bên Mỹ, khơi mào cho cuộc chiến cá da trơn, đã “vô tình” quảng bá cho sự nổi tiếng của loài thủy sản đặc hữu vùng sông nước Cửu Long. Người tiêu dùng Mỹ, châu Âu và hơn 150 quốc gia, vùng lãnh thổ ưa chuộng cá tra phi-lê Việt Nam không chỉ vì giá cả cạnh tranh so với các sản phẩm cá nheo và da trơn cùng loại, mà quan trọng hơn là đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng. Về mặt dinh dưỡng, ngành này đáp ứng xu thế ẩm thực mới, cung cấp lượng thịt trắng, an toàn, ít bị nhiễm kháng sinh.
Nhưng đằng sau ánh hào quang “vượt vũ môn” của loài “đế ngư” là cảnh lâm nợ, khốn đốn của nhiều người nuôi và doanh nghiệp cá tra xảy ra như có tính chu kỳ năm được, năm mất. Nguyên nhân được nhận diện là khi giá thị trường xuống thấp, thiếu vốn, “hiệu ứng đôminô” lây lan, người nuôi cá, doanh nghiệp, ngân hàng nợ nần dây chuyền, chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Bên cạnh nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, chật vật trong tìm đầu ra, phải kể đến “tử huyệt” của doanh nghiệp thủy sản là năng lực tài chính yếu kém, sử dụng chủ yếu vốn vay ngắn hạn, gặp lúc lãi suất tăng vọt, lợi nhuận làm ra không đủ trả lãi dẫn đến thua lỗ kéo dài.
Nhiều doanh nghiệp thủy sản vừa phát lên, bỗng chốc “lâm bệnh nặng”. Một số chủ doanh nghiệp không có chuyên môn sâu trong ngành, lĩnh vực, đa phần khởi sự từ mua bán chuyển sang nghề nuôi, chế biến thủy hải sản. Nghiên cứu thị trường không kỹ và không am hiểu đầy đủ luật pháp của các nước nhập khẩu, chỉ cần một đơn hàng chậm thanh toán hoặc bị hủy thì doanh nghiệp gặp điêu đứng.
“Căn bệnh” của ngành kinh tế cá tra đã được chẩn đoán, bốc thuốc, nhưng dùng thuốc chưa đủ liều. Cần tiếp cận đa ngành, phối hợp hành động liên ngành. Phải chăng “tử huyệt” của doanh nghiệp đang là sự yếu kém về tài chính và quản trị?
Thực trạng yếu kém, thiếu bền vững của chuỗi giá trị cá tra đã được nhận diện mấy năm qua, nhiều giải pháp đã được thực thi. Từ tăng cường quản lý nhà nước, qui hoạch vùng nuôi, nhà máy chế biến đến tiếp cận cho vay theo chuỗi, thành lập Hiệp hội cá tra. Nhưng các giải pháp dường như chưa đủ sức “tái cấu trúc chuỗi”. Sự vỡ nợ của các đại gia trong ngành cá tra cần được xem là một chỉ dấu để rà soát chính sách và hiệu quả của các giải pháp. 
Đại gia cá tra lâm nợ: Lỗi của cho vay theo chuỗi?
Điều đầu tiên cần phải khẳng định là chính sách cho vay theo chuỗi cá tra mà các ngân hàng đã áp dụng mấy năm qua là một chủ trương đúng.
Từ hệ lụy do phát triển nóng, thiếu qui hoạch, mạnh ai nấy làm trước đây, khi gặp khó khăn thị trường, trong cơn khát vốn, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu làm ăn chụp giựt, đã tự làm khó mình và làm khó lẫn nhau khi liên tục chào bán cá tra với giá thấp để có tiền xoay vòng. Khi “bồ nhà chơi xấu nhau trên sân khách” đã tạo cho nhà nhập khẩu quyền xác lập “giá trần”. Ở nhiều thời điểm, giá cá tra xuất khẩu đã liên tục hạ gây bất lợi không chỉ cho doanh nghiệp, người nuôi mà còn làm suy yếu ngành cá tra Việt Nam.
Trong khi đó, ngân hàng cho vay theo chuỗi cá tra, mặc dù tiếp cận đúng, nhưng chỉ mới giải quyết ở khâu “cung ứng” tín dụng dựa trên các phương thức hợp đồng mà trách nhiệm thường qui về bên yếu thế là người nuôi, phần đông là nông dân hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ. Xảy ra nợ nần, các tác nhân yếu thế này “lãnh đủ”. Trong khi đó, việc nâng cao năng lực quản trị, tài chính và hoàn thiện chuỗi liên kết lại là vấn đề khác.

Đã không có quyền lại dễ mất trắng
Cách tiếp cận của ngân hàng hiện cũng chỉ “sờ” đến một công đoạn của chuỗi cá tra. Đó là người nuôi, doanh nghiệp chế biến kiêm xuất khẩu. Phần quan trọng nhất của con cá tra đang ở một phân ngành khác. 
Thực tế hiện nay, 80 - 90% giá thành cá tra là chi phí thức ăn. Trong khi đó, khoảng 80% các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ quyền cung cấp thức ăn thủy sản, quyết định giá nguyên liệu. Và cũng vào khoảng 70 - 80% nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, thủy sản như bắp, cám gạo và các nguyên, phụ liệu khác cũng được nhập khẩu. 
Như vậy, sản xuất cá tra, từ “đầu vào” đến “đầu ra”, người nuôi - với tư cách “nhà sản xuất” nhưng không có quyền quyết định đối với sản phẩm của mình làm ra. Khi cá tra được giá, người nuôi chỉ lãi 10 - 20%, còn lại 80 - 90% thuộc phân ngành thức ăn. Thua lỗ, thì người nuôi mất trắng.
Giải bài toán tái cấu trúc ngành hàng cá tra chắc chắn có tầm chiến lược hơn nhiều so với việc xử lý nợ nần của doanh nghiệp thủy sản và người nuôi. Yêu cầu đòi hỏi tăng cường liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị thực chất, thương hiệu hóa; tái cấu trúc toàn diện ngành hàng thủy sản gắn với ngành công nghiệp thức ăn, đa dạng hóa sản phẩm. 
Nhưng trước mắt là cần rà soát, thải loại các doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính, quản trị yếu kém để đảm bảo sự lành mạnh, sức cạnh tranh của các tác nhân, tăng cường liên kết lại để ngành hàng cá tra đủ sức đương đầu trước thách thức và hội nhập đang mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều khắc nghiệt của cuộc chơi “mạnh được, yếu thua”.


8 tháng 3, 2017

Cây lúa - an ninh lương thực - tư duy kinh doanh nông nghiệp


Bối cảnh hiện nay đang đòi hỏi cần phải có sự nhận thức lại vai trò của cây lúa đặt trong tương quan với an ninh lương thực (ANLT) và kinh tế thị trường. Theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên Chuyên trách BCÐ Tây Nam Bộ, chúng ta cần vượt qua "dấu chân lấm bùn của nông nghiệp truyền thống" để đưa sản phẩm nông nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu.
- Thưa ông, cho đến giờ dường như vẫn tồn tại những tranh luận xoay quanh câu chuyện đổi mới sản xuất lúa gạo,về việc lựa chọn con đường xuất khẩu nào là hiệu quả cho một ngành từng là mũi nhọn nhưng đang bị tụt lại?
- Nâng cao giá trị gia tăng cho hạt gạo bằng tiêu chuẩn chất lượng, phẩm cấp gạo ngon là cần. Nhưng quan trọng hơn, cần có các "phân khúc thị trường" và phát triển các sản phẩm sau gạo. Chúng ta không nên chỉ tập trung vào việc xuất khẩu gạo, trong khi 90 triệu dân Việt đang ăn gạo và đang còn đó một dư địa lớn từ các ngành "công nghiệp phụ trợ từ chuỗi giá trị lúa gạo" chưa được quan tâm. Ðó có thể là các ngành công nghiệp mới sau gạo có giá trị gia tăng cao như thực phẩm tiêu dùng (dầu ăn, sữa gạo, thức uống dinh dưỡng...), vật liệu (đánh bóng kim loại), sơn (na-no chống cháy), ngành dược, mỹ phẩm, ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, thủy sản...
- Vậy theo ông, để hướng đến mục tiêu tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo, nhìn từ vùng ÐBSCL, chúng ta cần quan tâm những vấn đề gì?
- Theo tôi, đã đến lúc ngành nông nghiệp nước ta nói chung, ngành lúa gạo nói riêng, cần vượt qua "dấu chân lấm bùn" của kinh tế tự nhiên, kinh nghiệm nông nghiệp truyền thống để bước sang kinh tế tri thức, tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu. Ðể làm được điều đó cần quan tâm mấy việc như sau:
Thứ nhất, cần tiếp cận linh hoạt hơn đối với quy hoạch sử dụng đất trong việc thực hiện chủ trương giữ hơn ba triệu héc-ta đất trồng lúa. Trong đó cần ưu tiên đầu tư vào một "vùng lõi lúa gạo" của ÐBSCL chỉ với khoảng 30 huyện, nhưng hiện chiếm hơn 50% sản lượng lúa của vùng. "Thung lũng lúa gạo" này được nhận diện nằm ở Tứ giác Long Xuyên và lưu vực phù sa sông Tiền, sông Hậu. Phân biệt khu vực trồng lúa "trọng yếu" và "không trọng yếu" dựa trên sự phù hợp về sinh thái nông nghiệp, năng suất, tác động của biến đổi khí hậu.
Thứ hai, cần áp dụng phân vùng theo không gian, có chính sách hỗ trợ khác nhau ở "vùng lõi", "vành đai" và các khu vực trồng lúa bình thường khác, có xem xét mục tiêu sản xuất lúa cho ANLT hay lúa hàng hóa. Tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược xuất khẩu gạo mang "tính xã hội" và tính thương mại để có chính sách rõ ràng, phân biệt giữa hai mục tiêu, để tăng cường hỗ trợ nhóm thực hiện mục tiêu chính trị - xã hội, giải phóng một phần gánh nặng để tăng lợi nhuận, đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm cho nhóm thương mại. Mặt khác cần định hướng lại trọng tâm, chuyển từ các chức năng thương mại sang tập trung vào các mục tiêu xã hội, "hàng hóa công" và quản trị rủi ro.
Thứ ba, bên cạnh việc đa dạng hóa các sản phẩm sau gạo, cần tiếp tục tăng cường chiến lược đa ngành, lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu như xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, chống suy dinh dưỡng trẻ em... để cùng đảm đương nhiệm vụ ANLT và chống suy dinh dưỡng chứ không đặt hết gánh nặng lên vai người trồng lúa…
- Xin cảm ơn ông!
ĐỨC NGHĨA (Thực hiện)


8 tháng 2, 2017

“Lột xác” con tôm Việt

Trần Hữu Hiệp
TTO - Hơn cả “một công xưởng nuôi tôm của thế giới”, vùng ĐBSCL phải thật sự trở thành một “trung tâm sinh thái nuôi tôm” gắn với nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học... để con tôm Việt thật sự “lột xác”.
Ngay những ngày làm việc đầu năm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng lãnh đạo các bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương đã vào tận Cà Mau chủ trì hội nghị “Phát triển ngành tôm Việt Nam”. 

Một làn gió mới đầu năm được thổi lên với nhiều kỳ vọng cho con tôm Việt vượt qua các điểm nghẽn tăng trưởng, vươn tầm thế giới với vị thế mới. 
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Bến Tre là 5 tỉnh ĐBSCL nhiều năm liền đứng đầu cả nước về diện tích và sản lượng tôm nuôi, cung cấp khoảng 70-80% sản lượng và giá trị xuất khẩu. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành nuôi, chế biến, xuất khẩu tôm nói riêng và thủy sản ĐBSCL, Việt Nam nói chung đã tạo ra kỳ tích đáng ghi nhận.
Sau lúa gạo, rồi vượt lên trên lúa gạo, con tôm Việt đã vươn lên đưa nước ta trở thành cường quốc xuất khẩu tôm thứ 3 thế giới.
So với sản xuất lúa, làm bài toán đơn giản, giá gạo xuất khẩu chỉ khoảng 350 - 400 USD/tấn, tức khoảng 0,35 - 0,4 USD/kg thì giá tôm luôn cao hơn hàng chục lần. Tất nhiên, mức đầu tư và năng lực, trình độ canh tác đối với con tôm khác xa cây lúa.
Nhưng rõ ràng, tiềm năng phát triển của con tôm còn rất lớn. Thế mạnh về điều kiện tự nhiên vùng nuôi, năng lực chế biến và xuất khẩu tôm Việt đã được nhận diện, nhưng để thật sự trở thành một “công xưởng nuôi tôm thế giới”, ngành tôm còn phải làm nhiều việc.
Trên thương trường quốc tế, mặc dù vùng ĐBSCL, Việt Nam đã xuất hiện tên tuổi một vài tập đoàn hàng đầu về con giống, xuất khẩu tôm, nhưng phía sau thành tích đó là đầy ắp những lo toan.
Những lúc giới quan sát “kiểm đếm” có đến 70% doanh nghiệp thủy sản đứng trước nguy cơ ngừng sản xuất.
Nguyên nhân được nhận diện là khi giá thị trường xuống thấp, thiếu vốn, “hiệu ứng đôminô” lây lan khiến doanh nghiệp, người nuôi, đại lý cung cấp thức ăn, thuốc thủy sản, ngân hàng nợ nần dây chuyền, chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Chưa kể tình trạng một số người làm ăn chụp giựt, “tham bát bỏ mâm”, bơm tạp chất vào tôm, đánh mất hình ảnh và giá trị của con tôm Việt mà đến người đứng đầu Chính phủ mới đây đã phải “tuyên chiến” với kiểu làm ăn gian dối này.
Để “lột xác” con tôm, cần sự tiếp cận đa ngành, sự phối hợp hành động liên ngành và một quyết tâm mạnh mẽ. Phải liên kết vùng, thương hiệu hóa và luật hóa “sân chơi” nội địa và quốc tế để các doanh nghiệp ngành tôm ứng xử đúng, liên kết lại “làm sạch con tôm” và đủ sức cạnh tranh với bên ngoài.
Phải có lộ trình “cải tổ” ngành tôm theo hướng tái cấu trúc, liên kết chuỗi giá trị ngành hàng từ con giống, kỹ thuật nuôi, chế biến, năng lực xuất khẩu và phát triển các giá trị gia tăng ở thị trường tiêu dùng nội địa hơn 92 triệu dân để nâng cao giá trị và phát triển bền vững ngành tôm.
Và để ngành tôm đủ lớn cho sản xuất lớn phải tính đến việc tháo gỡ hạn điền, tích tụ ruộng đất, cơ chế liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị ngành tôm…
Hơn cả “một công xưởng nuôi tôm của thế giới”, vùng ĐBSCL phải thật sự trở thành một “trung tâm sinh thái nuôi tôm” gắn với nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, một địa chỉ cung cấp sản phẩm hữu cơ tin cậy cho mạng lưới cung ứng tôm toàn cầu.
Làm được như thế, con tôm Việt thật sự “lột xác”, giấc mơ 8 năm sau, VN đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỉ USD không phải là điều xa vời.


7 tháng 1, 2017

Thư viện VideoCliP Phim tài liệu THVL: HTX KIỂU MỚI Ở ĐBSCL

Ghi nhận của THVL về HTX kiểu mới ở vùng nông nghiệp trọng điểm quốc gia ĐBSCL, lời bình đoạn kết khá hay. HTX kiểu mới có gì mới? Trong phim, có phụ đề ghi tui là Tiến sĩ (đoạn phim từ phút 22'15). Xin nói cho rõ, tui không phải là Tiến sĩ. Tui là một nông dân được đi học và cầm bút, gõ máy tính.