30 tháng 9, 2014

“Chỉ dẫn địa lý” cho du lịch Mekong

Trần Hữu Hiệp

Tổ chức Kỷ lục Việt Nam vừa công bố "Tốp điểm đến hấp dẫn của Việt Nam". Làng cổ Long Tuyền, Bình Thủy, Cần Thơ nằm trong "Tốp 5 ngôi làng cổ có niên đại hàng trăm năm nổi tiếng của Việt Nam". Miếu Bà Chúa xứ Núi Sam, Châu Đốc, An Giang cũng vào tốp 10 điểm đến du lịch tâm linh thu hút khách nhiều nhất. 
Sông nước miền Tây

Trước đó, đảo Phú Quốc, Kiên Giang và đảo Hòn Khoai, Cà Mau được xếp trong tốp 10 đảo đẹp tự nhiên hấp dẫn du khách nhất Việt Nam. Ngoài ra, Phú Quốc còn nằm trong “Tốp 10 thắng cảnh du lịch biển hấp dẫn nhất”.
Các khu Ramsar vườn quốc gia Tràm Chim, Tam Nông, Đồng Tháp và Mũi Cà Mau; nét đẹp tự nhiên, sinh thái đa dạng của Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, lung Ngọc Hoàng, U Minh, … là những điểm đến du lịch hấp dẫn du khách trong, ngoài nước mang tên Mekong.
Chảy qua 6 nước, dòng Mekong mang theo những giá trị kinh tế, lịch sử, văn hóa và môi trường. Vào đất Việt, dòng sông huyền thoại này đã tạo ra cảnh quan sông nước miệt vườn, núi non cùng với biển đảo phía Đông và Tây Nam, tạo nên sức quyến rũ khó cưỡng lại của du lịch Mekong.
ĐBSCL không chỉ sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên, mà còn là kho tàng văn hóa giàu bản sắc. Du lịch đồng bằng có nhiều khả năng kết nối tour, tuyến với TPHCM, các vùng, miền trong nước, hợp tác quốc tế với các nước tiểu vùng sông Mekong. Ngành du lịch có thể khai thác phát triển nhiều loại hình du lịch sinh thái miệt vườn; nghiên cứu - nghỉ dưỡng, văn hóa, lễ hội, tâm linh đến du biển đảo chất lượng cao, du lịch mạo hiểm.
Gần đây, các địa phương đã quan tâm “bắt tay nhau” khai thác du lịch, tạo ra nét đặc thù của từng nơi, đưa ra sảm phẩm du lịch mới như “Một điểm đến 4 địa phương +”, cùng với nhiễu nỗ lực khác rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch Mekong chưa được quan tâm đúng mức. Thương hiệu du lịch vùng với các “chỉ dẫn địa lý” hấp dẫn sẽ tạo ra không gian du lịch sống động hơn với nhiều “sản phẩm dùng chung” và điểm riêng độc đáo của từng địa phương.
Phát triển thương hiệu du lịch vùng không chỉ có ý nghĩa trong việc tiếp thị, quảng bá điểm đến, mà còn nâng cao giá trị sản phẩm, dịch vụ du lịch. Thương hiệu “du lịch Mekong” được phát huy sẽ lấp lánh trên bản đồ du lịch quốc gia và thế giới.


29 tháng 9, 2014

7 bộ, ngành quản lý 1 cái xúc xích

Thông tin này được doanh nghiệp phản ánh tại hội thảo “Tác động của luật Doanh nghiệp (sửa đổi)”, do Phòng Thương mại - Công nghiệp VN tổ chức hôm qua 29.7, cho thấy sự chồng chéo trong quản lý và rất nhiều rào cản kìm hãm doanh nghiệp phát triển. 
Thủ tục hành chính là nút thắt của môi trường kinh doanh VN nhiều năm nay - Ảnh: M.Q

Description: http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/news-pbdes.jpg;pv8b664f0583babad9
Công ty chúng tôi có một sản phẩm là cái xúc xích mà hiện giờ có tới 7 bộ quản lý: Bộ NN-PTNT, Bộ Y tế, Bộ TN-MT, Bộ Công thương, ngành thuế, hải quan và kể cả Bộ Công an. Họ đi soi mói, phạt cả việc sơn thùng không đúng màu
Description: http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/news-pbdes-2.jpg;pvbfb510943cb34975
Ông Mai Huy Tân, Chủ tịch Công  ty thực phẩm Đức Việt

DN thành lập mới giảm
Theo tin từ Tổng cục Thống kê, số DN đăng ký thành lập mới của cả nước trong tháng 7 là 5.083 DN với tổng vốn đăng ký 31.518 tỉ đồng, giảm 16,5% về số lượng và giảm 45% về vốn so với tháng 6. Số lao động được tạo việc làm tại các DN mới thành lập trong tháng 7 là 88.000 người, giảm 1,1% so với tháng trước. Trong khi đó, dù số DN gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động của tháng 7 là 4.931, giảm 22,6% so với tháng trước, nhưng số DN ngừng hoạt động quay trở lại làm ăn trong tháng giảm tới 17%. Tính chung 7 tháng, cả nước có 42.398 DN đăng ký thành lập mới, giảm 7% và số công ty quay trở lại hoạt động là 9.428, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước.
N.Trần Tâm

Thông tin này được doanh nghiệp phản ánh tại hội thảo “Tác động của luật Doanh nghiệp (sửa đổi)”, do Phòng Thương mại - Công nghiệp VN (VCCI) tổ chức hôm qua 29.7, cho thấy sự chồng chéo trong quản lý và rất nhiều rào cản kìm hãm doanh nghiệp phát triển.
Tiền kiểm, hậu kiểm đều buông
Luật gia Vũ Xuân Tiền, Trưởng ban Tư vấn và phản biện chính sách của Hội Các nhà quản trị doanh nghiệp VN (CACD), nêu vấn đề: “Điều kiện kinh doanh hiện nay rất tinh vi, có những quy định rất khắt khe, ngoài luật. Ví dụ như luật Quản lý thuế có những quy định buộc doanh nghiệp (DN) ở mức nào mới được khai thuế, Bộ Tài chính đưa thêm các quy định mới ngoài luật… Nhiều bộ, ngành khác cũng vậy, khiến tình trạng giấy phép con ban hành quá nhiều và không chấm dứt được, hạn chế quyền kinh doanh
của DN”.
Từ thực trạng này, ông Tiền cho rằng để cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động của DN, chỉ nên để cơ quan quyền lực cao nhất - Quốc hội - quy định về những lĩnh vực hạn chế kinh doanh, điều kiện kinh doanh. Trong trường hợp điều kiện kinh doanh đã quy định, cần thay đổi nhưng chưa sửa luật được thì giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết sửa đổi. “Nếu để Chính phủ quy định sẽ kéo dài mãi tình trạng các bộ, ngành ban hành một loạt giấy phép con”, ông Tiền nói.
Cũng theo ông Tiền, một khiếm khuyết của luật DN hiện hành là không quy định rõ về vấn đề hậu kiểm nên để xảy ra tình trạng nhiều DN thành lập chỉ để mua, bán hóa đơn, dẫn đến thực trạng Bộ Tài chính siết chặt, ban hành quy định không cho phép các DN nhỏ và vừa mới thành lập được khấu trừ thuế VAT. “Tình trạng hiện nay là tiền buông mà hậu cũng buông. Có những DN nói rằng, không nên quy định hậu kiểm vì chưa có quy định, một năm cũng mấy đoàn vào kiểm tra, thanh tra nhưng theo tôi, việc nào ra việc đó. Nếu luật quy định, một năm chỉ có một đoàn vào thanh tra thì DN chỉ tiếp một đoàn thôi. Như vậy, sẽ rõ ràng hơn”, ông Tiền lập luận.
Tạo thuận lợi cho DN được “chết”
Ông Lương Đức, đại diện Sở Công thương Hà Nội, cho rằng trong việc sửa đổi lần này cần phải có những quy định làm rõ vai trò của luật DN và các luật chuyên ngành. Nếu luật DN mới ra mà luật chuyên ngành không sửa thì không có ý nghĩa gì hết. Lâu nay, người ta thường nghiêng về áp dụng luật chuyên ngành, chứ không căn cứ vào luật DN nên nếu chỉ làm đúng luật DN vẫn chưa ổn. Ông Vũ Xuân Tiền cũng cho rằng, cơ quan hành pháp luôn có xu hướng đặt ra các thủ tục, quy định để thuận tiện cho công việc và quyền của họ, cho nên các quy định về kinh doanh ở các luật chuyên ngành nên đưa hết về luật DN.
Theo ông Mai Huy Tân, Chủ tịch Công ty thực phẩm Đức Việt, việc sửa luật DN lần này cũng cần phải quan tâm sửa đổi các chính sách tạo thuận lợi cho cả nửa triệu DN tư nhân hiện đang hoạt động. “Công ty chúng tôi có một sản phẩm là cái xúc xích mà hiện giờ có tới 7 bộ quản lý: Bộ NN-PTNT, Bộ Y tế, Bộ TN-MT, Bộ Công thương, ngành thuế, hải quan và kể cả Bộ Công an. Họ đi soi mói, phạt cả việc sơn thùng không đúng màu, trong khi ở nhiều nước DN kinh doanh thực phẩm chỉ chịu sự quản lý của Cục Quản lý thực phẩm mà thôi”, ông Tân nói. Ông Tân kiến nghị, cần bổ sung quy định làm sao cho việc giải thể DN được nhanh chóng. “Tôi có một DN chăn nuôi, cũng không phải thua lỗ nhưng đã qua thời điểm kinh doanh rồi, không muốn cho tồn tại nữa nhưng đã 8 năm không làm được thủ tục phá sản. Không hoạt động gì mà năm nào cũng phải nhận công văn, giấy tờ thông báo của Cục Thuế”, ông Tân nói.
Về ý kiến này, bà Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký VCCI, cho rằng trong 3 năm qua, số lượng DN ngừng hoạt động, giải thể rất lớn nên việc sửa luật cũng phải xem lại các điều kiện, thủ tục phá sản. Bên cạnh đó, luật DN sửa đổi cần phải tạo điều kiện hơn nữa để 4,6 triệu hộ kinh doanh cá thể hiện nay xúc tiến, chuyển qua đăng ký, lập DN dễ dàng hơn.  
Mạnh Quân


27 tháng 9, 2014

Doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động vẫn tăng

TTO - Cứ 10 doanh nghiệp (DN) thành lập mới có khoảng 9 DN giải thể, ngừng hoạt động trong 9 tháng đầu năm 2014.
Ảnh minh họa: TTO
Bộ KHĐT vừa có báo cáo số 6597/BC-BKHĐT nêu rất rõ về tình hình doanh nghiệp thành lập mới, phá sản, giải thể. 
Bộ KHĐT cho biết trong tháng 9-2014, VN có 5742 doanh nghiệp thành lập mới nhưng có 4549 doanh nghiệp phải chấm dứt hoặc tạm ngừng hoạt động.
Tính chung chín tháng đầu năm 2014, VN có 53.192 doanh nghiệp thành lập mới và cũng có 48.330 doanh nghiệp phải giải thể, dừng hoạt động.
Theo ông Bùi Hà, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, Bộ KHĐT, thực tế số doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động trong chín tháng qua vẫn tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013.
Trong số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động, Bộ KHĐT nêu có trên 7000 doanh nghiệp đã chính thức “khai tử” vì đã hoàn thành thủ tục giải thể, trên 8.400 doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động có thời hạn.
Có trên 32.000 doanh nghiệp vẫn trong trạng thái chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc tự đóng cửa không đăng ký.
Bộ KHĐT cho biết số doanh nghiệp thành lập mới trong ba tháng vừa qua chỉ là 15.877 doanh nghiệp. Số vốn các doanh nghiệp này đăng ký là 89.425 tỷ.
Như vậy, sau hai quý đầu năm 2014 có xu hướng số doanh nghiệp thành lập mới và số vốn đăng ký tăng thì quý này, số lượng đã sụt giảm. 
C.V.KÌNH

25 tháng 9, 2014

Trăm năm tranh kiếng

Trần Hữu Hiệp
Không như trẻ con bây giờ sớm được nghe nhìn nhiều phương tiện truyền thông hiện đại, lứa chúng tôi lớn lên thời chiến tranh, thiếu thốn mọi bề. Cùng với nhiều mẩu chuyện đời xưa của ông già quê xóm tôi thường kể cho con nít nghe, tôi rất thích những bộ truyện bằng tranh kiếng 4 tấm như Thoại Khanh - Châu Tuấn, Phạm Cộng - Cúc Hoa, … Càng thích hơn, khi vào ngày rằm hay dịp đầu năm, được theo má tôi viếng chùa, cúng phật. Trong ngôi chùa cổ ở xóm tôi có nhiều bộ tranh kiếng phật giáo, hình phật tổ, bồ tát, ông thiện – ông ác, hay cảnh thiên đàng, địa ngục là cõi đi về của người hiền, kẻ ác sau khi chết.

Má tôi, một phụ nữ miền Tây Nam Bộ chân quê, không biết chữ, không biết dạy con bằng danh ngôn, triết lý. Nhưng bà biết nhiều truyện đời xưa và thuộc nhiều ca dao, hò vè từ ngoại tôi truyền lại. Những tấm tranh kiếng nhà quê thành hình ảnh trực quan minh họa sinh động những mẩu truyện đời xưa, câu ca dao của má, theo tôi suốt những chặng đường đời.
Lớn lên, tôi mới biết cái độc đáo của tranh kiếng. "Trăm năm tranh kiếng Nam Bộ" năm 2013 - một cuộc triển lãm về loại hình mỹ thuật độc đáo này được tổ chức tại chùa Xá Lợi, Q.3, TP.HCM. Điểm lạ của tranh kiếng là phải vẽ từ phía sau mặt kiếng giống như khắc tranh mộc bản. Tranh được vẽ bằng mực tàu, sơn màu đa sắc, tráng thủy hay cẩn ốc xà cừ. Nghe nói loại tranh này đã có tại cung điện nhà Nguyễn thời Minh Mạng, Thiệu Trị. Nhưng có người nói, tranh kiếng theo chân những di dân người Hoa du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ XX, hợp với tài hoa của các nghệ nhân Việt, Khmer, hình thành các dòng tranh kiếng nổi danh Nam Bộ. Tôi chẳng rõ, nhưng nhớ ngày xưa ở quê, thỉnh thoảng thấy mấy ông lái tranh chạy xe đạp thồ hay chở ghe hàng bán dạo tranh kiếng. Nghe nói, những bộ truyện tranh này bôn ba tứ xứ từ các làng nghề miệt An Giang chở xuống, Gò Công, Cai Lậy chở qua hay xa hơn, tận trên Lái Thiêu, Chợ Lớn. Những hình ảnh từ tranh kiếng nhà quê như những nét vẽ vào ký ức tuổi thơ tôi về những bài học làm người; chân phương, bình dị như những mẩu chuyện đời xưa hay tiểu thuyêt truyền miệng của văn hào Nam Bộ Hồ Biểu Chánh.
Do nhiều nguyên nhân, nghề vẽ tranh kiếng mai một, những tấm tranh kiếng từng hiện diện trong nhiều gia đình Nam Bộ gần như bị lãng quên. Nhớ tranh kiếng là nhớ đến một nghề truyền thống độc đáo, là nét đẹp văn hóa một thời hưng thịnh. Với tôi, tranh kiếng còn là ký ức tuổi thơ và những bài học làm người.

Liên kết vùng phát triển nhân lực ĐBSCL

Trần Hữu Hiệp
Điểm yếu của nhân lực vùng ĐBSCL đã được nhận diện từ nhiều năm qua. Cùng với hạ tầng giao thông, thủy lợi, phát triển nguồn nhân lực được xác định là khâu đột phá trong phát triển vùng.
Không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực trong giáo dục-đào tạo (GDĐT) và dạy nghề vùng ĐBSCL thời gian gần đây, góp phần nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực. Nhiều chương trình đầu tư kiên cố hóa trường lớp học, liên kết vùng trong đào tạo do BCĐ Tây Nam Bộ phối hợp các bộ, ngành Trung ương, địa phương triển khai thực hiện thời gian qua. Hơn 500 tiến sĩ, thạc sĩ thuộc chương trình Mê Kông 1.000 được đào tạo ở nước ngoài là kết quả nỗ lực của trường đại học Cần Thơ cùng với các tỉnh, tuy còn những bất cập, nhưng đã trở thành điểm sáng trong vùng. Song, nhu cầu nhân lực, đặc biệt là lao động cho khu vực kinh tế, lao động trong nông nghiệp, nông thôn đang đặt ra bài toán khó.

Vươn lên từ vùng trũng
ĐBSCL có 17,3 triệu dân; trong đó, hơn 10,3 triệu lao động trong độ tuổi. Toàn vùng hiện có 17 trường đại học, gồm 11 trường đại học công lập và 6 trường ngoài công lập; có 26 trường cao đẳng và 30 trường trung cấp chuyên nghiệp; có 12 trường cao đẳng nghề, 38 trường trung cấp và 129 trung tâm dạy nghề. Bên cạnh thực trạng nghèo, thì ĐBSCL còn là “vùng trũng” trong bản đồ GDĐT của cả nước. Toàn vùng mới đạt tỉ lệ 167 sinh viên/vạn dân so cả nước đạt 277 sinh viên/vạn dân. Hiện có khoảng một phần tư dân số đang học tại một cơ sở GDĐT và dạy nghề; song, tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, chỉ khoảng 36% và lao động qua đào tạo nghề mới đạt 28% là một trong những vùng có tỉ lệ thấp của cả nước.  
Cần khẳng định, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng trường học, xoá đói giảm nghèo, dạy nghề, giải quyết việc làm, đào tạo nghề lao động nông thôn, tín dụng chính sách, xây dựng nông thôn mới, ... đã được triển khai có hiệu quả. Nhưng cũng cần thẳng thắn nhìn nhận, còn nhiều bất cập trong cơ chế, chính sách và thực thi. Trong khi cả nước và từng tỉnh đã xây dựng chiến lược nguồn nhân lực quốc gia và địa phương, thì đến nay vẫn chưa có một chiến lược cho từng vùng, miền. Đào tạo nghề nhưng chưa gắn được với tạo việc làm bền vững, có tình trạng “học nghề cũng ngồi nhầm lớp”. Một số nơi, việc thực thi chính sách rập khuôn, cứng nhắc trong áp chuẩn nghèo và chính sách đào tạo dẫn đến một số hệ luỵ. 
Cuộc chiến chống lại nghèo khó ở vựa lúa gạo, thuỷ sản và vươn lên thoát khỏi vùng trũng về chất lượng nhân lực rất cần được tăng tốc với cách làm hiệu quả hơn. Cần có giải pháp khác nhau đối với các nhóm nghèo khác nhau (nghèo trạng thái động, trạng thái tĩnh và các hàm ý chính sách, nghèo “kinh niên” và nghèo “nhất thời”) để có chính sách khuyến khích trong GDĐT phù hợp. Trong đó, phải khắc phục cho được tư tưởng “làm chơi ăn thiệt”, lấy táu đong lúa chứ không đong chữ. Mỗi người dân phải thực sự cảm cái nhục nghèo và thất học để phấn đấu vươn lên. Nghèo khó và tính chất nhân lực ở vựa lúa miền Tây có “cái chung”, nhưng cũng có “cái riêng” khác nhiều nơi, nên cần có cơ chế, chính sách riêng, phù hợp.
Liên kết vùng đào tạo nhân lực
Từ xuất phát điểm thấp, nhiều khó khăn, TNB đã “đi tiên phong” trong việc chủ động phối hợp với các trường ĐH, cơ sở đào tạo nhằm “tăng tốc” trong cuộc “rượt đuổi” các vùng, miền khác về phát triển nhân lực. Cơ quan này đã chủ động phối hợp với Bộ GDĐT xây dựng chính sách ưu tiên cho con em đồng bào 22 huyện nghèo vùng biên giới, hải đảo trong vùng ĐBSCL (không thuộc 62 huyện nghèo). Các đề án đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành cho Tây Nam Bộ của các trường đại học (ĐH) Kiến trúc TPHCM, ĐH Kinh tế TPHCM, ĐH Y dược TPHCM và Cần Thơ đã được xây dựng công phu, áp dụng từ 4 năm qua. Các hoạt động liên kết đào tạo không chỉ tạo điều kiện cho con em miền Tây được “rộng đường” vào ĐH mà còn phải đảm bảo chất lượng, giữ “thương hiệu” cho các trường, gắn chặt với địa phương trong việc xác định nhu cầu, trách nhiệm bố trí, sử dụng các em sau khi học.
Tuy nhiên, Nỗ lực liên kết vùng trong GDĐT của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và các tỉnh, các trường có thể chỉ mới là hoạt động “kết nối”, “lấp khoảng trống” do các qui định hành chính tạo ra, nhưng bước đầu cũng có tác dụng thiết thực hỗ trợ ĐBSCL tăng tốc để nâng cao chất lượng nhân lực. Thực tế đòi hỏi cần phải quan tâm lồng ghép, kết nối, tập hợp để tạo ra chuyển biến tốt hơn từ nhiều chương trình, tạo ra cuộc vận động lớn, thiết thực và hiệu quả hơn. Về lâu dài, việc đào tạo nhân lực cho miền Tây cần chính sách căn cơ hơn. Cùng với Chiến lược nguồn nhân lực quốc gia và các tỉnh, rất cần một Chiến lược nguồn nhân lực cho vùng ĐBSCL. Qui hoạch phát triển hệ thống các trường ĐH, cao đẳng, trường nghề, trường phổ thông… phải dựa trên chiến lược này. Cần “hướng cầu” là thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị trong vùng làm động lực phát triển hơn là chủ yếu dựa trên năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất của các trường.
Những “cơ chế đặc thù” trong GDĐT ưu tiên cho vùng khó khăn như ĐBSCL là cần thiết để tăng tốc, đuổi kịp các vùng, miền khác. Nhưng vùng này cần phải đi lên bằng chính “đôi chân” của mình chứ không thể dựa vào sự hỗ trợ “đặc thù”. Hệ thống GDĐT từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, ĐH đến các trường nghề, hệ thống giáo dục xã hội trong vùng cần được quan tâm đầu tư để đủ sức tạo ra “sản phẩm nhân lực” tốt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, chứ không phải trông chờ vào chính sách ưu tiên “điển sàn, điểm chuẩn” hay tăng chỉ tiêu đào tạo, chỉ tạo ra “lợi thế ảo”. Hoạt động liên kết vùng ĐBSCL trong phát triển nguồn nhân lực cần được tiếp tục tăng cường về chất; nội dung, phương thức phù hợp hơn nữa. Phải thật sự gắn kết được lợi ích, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động trong đào tạo nhân lực của vùng, kèm theo là các chính sách khuyến khich thích hợp.

Liên kết vùng trong phát triển nguồn nhân lực không chỉ là cách làm, yêu cầu đặt ra mà còn là mệnh lệnh của phát triển vủng trong thời kỳ mới.

24 tháng 9, 2014

“Quả táo cắn dở” của Mỹ và trái cây Việt

                                                                                          Trần Hữu Hiệp

Mới xuất hiện trên thị trường vài ngày qua, nhưng giá iPhone 6 và iPhone 6 Plus đã lên thẳng như trực thăng và tạo ra cơn sốt trên khắp các châu lục. Cổ phiếu Apple trên thị trường chứng khoán Mỹ đã tăng gần 5% trong ngày 9-9 khi iPhone 6, iPhone 6 Plus, Apple Watch và dịch vụ Apple Pay được giới thiệu.Tương tự nhiều quốc gia khác, ở đảo quốc Singapore nhỏ bé, lượng người xếp hàng chờ mua “quả táo mới” rất đông, có nhiều người còn giữ chỗ từ vài ngày trước. Ở Việt Nam, hàng tuông và người mua ồ ạt, giá từ 40-60 triệu đồng/chiếc. Để sở hữu chiếc iPhone 6 Plus xách tay, có người đã bỏ ra số tiền hơn cả giá một chiếc Vespa Sprint. Chưa có con số thống kê người Việt đã tiêu tốn bao nhiêu tiền mua “quả táo mới”, chỉ biết nó đã thục sự tạo ra cơn sốt tiêu dùng trong nước.

Tất nhiên, hiện tương này rồi sẽ được bảo hòa như trường hợp của iphone 5 được tung ra thị trường cách đây 2 năm. Nhưng chỉ cần thế, Apple và những người kinh doanh chính thức hoặc ăn theo trong chuỗi giá trị của “quả táo cắn dở” này đã kiếm chát không ít. Đặt “Quả táo cắn dở” của Mỹ bên cạnh trái cây Việt là một so sánh khập khiễng, một bên là giá trị của công nghệ cao, hàm lượng chất xám và đại diện của “kinh tế tri thức”, còn một bên là hoa lợi của tự nhiên, sức lao động phổ thông. Nhưng cũng rất đáng để suy ngẫm!
Theo số liệu thống kê, điện thoại và các loại linh kiện thuộc mặt hàng hạn chế nhập khẩu vào nước ta, nhưng trong năm 2013 cũng đã ngốn hơn 8 tỷ USD, trong khi các nhà vườn, nông dân phải còng lưng làm ra lượng rau quả xuất khẩu, mặc dù lần đầu tiên đạt được giá trị kim ngạch xuất khẩu kỷ lục hơn 1 tỉ USD, nhưng cũng chỉ bằng khoảng 1/8 giá trị số ngoại tệ phải chi cho nhập khẩu các loại “máy a lô” này.
ĐBSCL không chỉ là vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản, quyết định kim ngạch XK nông sản của cả nước, mà còn là nơi đảm bảo “sức khỏe”cho nền nông nghiệp VN. Trong khi cả nước luôn nhập siêu thời gian dài, thì gần 30 năm qua ĐBSCL liên tục xuất siêu nhờ sự đóng góp từ các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực. Có thể nói vùng đất này cho nhiều hơn nhận. Nhưng nghịch lý là tác giả của sự hào phóng đó - nông dân ĐBSCL đang chịu nhiều thiệt thòi. ĐBSCL vẫn là “vùng trũng” về y tế, giáo dục, thấp kém về hạ tầng giao thông. Những sản phẩm chủ lực của vùng vẫn phát triển trong thế “bị đe dọa”: “Hạt gạo cắn chia 8 phần”, “Con cá tra chặt nhiều khúc”, “Cây mía chặt làm nhiều lóng”, “trái dừa bị bửa ra nhiều miếng”, nhiều mặt hàng trái cây làm ra tiêu thụ bấp bênh, phần thua thiệt thuộc về nông dân.
Câu chuyện “quả táo cắn dở” và trái cây Việt được nêu ra không phải là sự đố kỵ trước thành công của một tập đoàn Mỹ hay sự tự ti về nền nông nghiệp VN. Nhưng sự khác biệt quá lớn của nó cần được các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước và cả người nông dân ĐBSCL - vốn đã tham gia vào chuỗi sản xuất hàng hóa toàn cầu suy ngẫm.
Mấy tuần ngày qua, thông tin Bộ Nông nghiệp Mỹ cho phép trái vải, nhãn Việt Nam được tiếp bước thanh long và chôm chôm xuất khẩu sang nước này là một tin vui, nhưng để khơi thông thị trường, còn phải làm nhiều việc. Làm sao để đưa càng nhiều chất xám vào trái cây hơn là chất bảo quản để nâng cao chất lượng vá trị những mặt hàng nông sản này đang là đòi hỏi ở phía trước. Làm sao để nông dân ĐBSCL có thể kiếm sống và làm giàu bằng nghề nông trước nhiều thách thức?

Lời giải cho bài toán này cần có sự tiếp cận đa ngành, cần quy mô sản xuất lớn hơn, cần tích tụ ruộng đất nhiều hơn để thích nghi với phương thức sản xuất chuyên nghiệp hơn, để trái cây Việt, dẫu không sánh được bằng “quả táo cắn dở” của Mỹ, cũng cần được “chuyển đổi căn bản” với tư duy kinh doanh bằng chất xám nhiều hơn là dựa vào lợi thế tự nhiên. Trái cây Việt, nếu không tạo được hiện tượng như quả táo cắn dở của Mỹ, thì ít ra cũng tạo được niềm tin cho khách hàng và tạo ra nhiều giá trị hơn nữa cho nông dân Việt Nam an tâm làm nông nghiệp và làm giàu. 

Comment trên Tuổi Trẻ:
  • thanhlang 15:57 24/09/2014
    Một bài viết có tâm và có tầm, đáng để cho chúng ta, nhất là các nhà hoạch định chính sách suy ngẫm.
    Thiết nghĩ, vấn đề được đề câp không chỉ đối với nhóm hàng nông sản của Đồng bằng Nam bộ, mà còn là sản phẩm xuất khẩu khác của cả nước.
  • Nu 07:58 25/09/2014
    Bài viết có sự so sánh rất hay. Ai đọc bài viết cũng phải suy nghĩ về chất lượng công việc của mình. Tại sao trong các cơ quan nhà nước cũng có những người sáng cắp cặp đi, chiều cắp cặp về, doanh nghiệp thì ép giá nông dân, phải lo lót để mà tồn tại còn nông dân trồng rau thì chia ra làm hai loại rau nhà ăn và rau để bán... Ai cũng nghĩ và làm như vậy thì làm sao nâng được chất lượng cuộc sống?
  • Ho Thanh Tuyen 08:14 25/09/2014
    Có một thực tế đáng buồn là phần lớn các lãnh đạo địa phương ở những vùng nông nghiệp trong cả nước nói chung và đồng bằng sông cửu Long nói riêng vẫn chưa có nhiều tâm huyết với nông dân. Họ lo cho cái ghế của họ nhiều hơn là lo cho nông dân.
    Khi những vụ tham nhũng, vi phạm hay các vụ bê bối liên quan đến lối sống nhiều quan chức ở những địa phương này bị báo chí phanh phui thì họ phát biểu rất ngô nghê, rất "vô tư và trong sáng". Những người như vậy làm sao có đủ tầm nhìn như tác giả bài báo để đưa nông sản địa phương bước ra thị trường thế giới được. Cần lắm những người có tâm, có tầm như tác giả Trần Hữu Hiệp đây.
  • 7K 21:33 24/09/2014
    Bài nói rất đúng ý, tâm tư của nhiều người.

23 tháng 9, 2014

Thương hiệu CTU

Trần Hữu Hiệp
Hơn 53.200 sinh viên ĐH Cần Thơ – Trường ĐH lớn nhất và lâu đời nhất vùng ĐBSCL đã bước vào năm học mới trong khí thế mới, tiếp tục khẳng định thương hiệu CTU – Cần Thơ University trong bản đồ giáo dục quốc gia và khu vực.
Trải qua 48 năm hình thành và phát triển, CTU đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Với quy mô đào tạo trên 5 vạn sinh viên, hàng năm có gần 7.000 sinh viên tốt nghiệp, trường đã cung cấp nguồn nhân lực lớn, có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển vùng ĐBSCL.

Là trường ĐH đa ngành, đa lĩnh vực, CTU không chỉ có chức năng đào tạo mà còn có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ có giá trị. Nhiều giống lúa mới, cây trồng, vật nuôi, cá tra; thành tích chống dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá trên lúa, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, tăng cường liên kết vùng, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng … đều mang dấu ấn của nhà trường. CTU còn là nơi hợp tác có hiệu quả của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các viện, trường uy tín trên thế giới.
PGS.TS. Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng CTU khẳng định: sẽ “thương mại hóa” kết quả nghiên cứu khoa học, để các kết quả này thực sự đi vào cuộc sống. Một chương trình hợp tác gắn nhà trường với doanh nghiệp, với nông dân và các địa phương trong vùng đã, đang và sẽ tiếp tục được triển khai sâu rộng hơn. Theo đó, CTU có chương trình hợp tác dài hạn với các tỉnh, thành; hợp tác với Công ty Bảo vệ thực vật An Giang thương mại hóa sản phẩm Trichoderma, với Công ty Phân bón - Dầu khí Cà Mau sản xuất phân bón; hợp tác với Công ty Bóng đèn và phích nước Rạng Đông, Công ty Bia Việt Nam, … để đóng góp tích cực hơn nữa vào sự phát triển vùng ĐBSCL và của cả nước.
Kết luận số 28-KL/TW ngày 14-8-2012 của Bộ Chính trị xác định: “Xây dựng Trường ĐH Cần Thơ thành trường ĐH xuất sắc về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; có chức năng đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực”. Tiếp sức cho CTU khẳng định thương hiệu, Thủ tướng Chính phủ thống nhất chủ trương xác định CTU là trường ĐH trọng điểm với cơ chế tự chủ cao hơn, cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư phát triển trường; đồng ý chủ trương thành lập Viện Theo dõi biến đổi khí hậu cho vùng Đông Nam Á; chủ trương thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn tài nguyên biển vùng ĐBSCL …

Thương hiệu CTU đã được nhận diện, đang được lan tỏa trên bước đường chinh phục “khách hàng”, cần tiếp tục được giữ gìn và phát huy, xứng đáng với kỳ vọng phát triển vùng ĐBSCL. 

22 tháng 9, 2014

Dự thảo sửa đội Bộ Luật Dân sự: Sửa đổi 297 điều, bãi bỏ 149 điều

(SGGPO).- Sáng 22-9, phiên họp thứ 31 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chính thức khai mạc tại Hà Nội. Sau phát biểu khai mạc phiên họp của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, Ủy ban đã nghe Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bàyTờ trình về sửa đổi Bộ luật Dân sự.
Phó Thủ tướng cho biết, phạm vi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự lần này là cơ bản và toàn diện. Dự thảo Bộ luật có tổng số 672 điều, giữ nguyên 263 điều, sửa đổi 297 điều, bổ sung 126 điều, bãi bỏ 149 điều so với Bộ luật hiện hành.
“Dự thảo Bộ luật có nhiều quy định mới, quan trọng còn có ý kiến khác nhau”, ông Nguyễn Xuân Phúc báo cáo.
Đáng lưu ý, về tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự, có hai loại ý kiến. Dự thảo quy định theo hướng bổ sung quy định khi người dân có yêu cầu về giải quyết vụ, việc dân sự thì Tòa án Nhân dân không được từ chối vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Trong trường hợp chưa có điều luật thì Tòa án cần áp dụng quy định về áp dụng tập quán, áp dụng tương tự quy định của pháp luật, các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật Dân sự và lẽ công bằng để xem xét, giải quyết vụ, việc dân sự của người dân. Ý kiến thứ hai chưa đồng thuận với quy định này. 
Về thời hiệu, dự thảo thể hiện theo hướng Bộ luật Dân sự chỉ quy định về thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; không quy định thời hiệu khởi kiện. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, nên tiếp tục kế thừa quy định về thời hiệu khởi kiện như Bộ luật Dân sự hiện hành.
Về hình thức sở hữu, cũng có hai loại quan điểm khác biệt.
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, Bộ luật Dân sự chỉ nên quy định hai hình thức sở hữu trong giao lưu dân sự là sở hữu riêng và sở hữu chung. Trong đó, sở hữu riêng là sở hữu của một chủ thể, bao gồm cá nhân, pháp nhân; sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể. Trong hai hình thức sở hữu này đã bao gồm   tài sản thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu toàn dân. Khi tham gia vào các quan hệ dân sự, quyền của chủ sở hữu thuộc các hình thức sở hữu đều được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật không phụ thuộc vào tính chất sở hữu, thành phần kinh tế, tài sản thuộc sở hữu toàn dân hay tài sản thuộc sở hữu tư nhân. Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, được quản lý, sử dụng theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật này và các luật khác có liên quan. Ý kiến này được thể hiện trong Dự thảo.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, ngoài quy định sở hữu chung và riêng thì Bộ luật Dân sự cần quy định cả sở hữu toàn dân (có ý kiến đề nghị sở hữu nhà nước)...
Nhấn mạnh rằng đây là bộ luật gốc, có tầm quan trọng đối với toàn xã hội “chỉ sau Hiến pháp”, do đó sẽ được thảo luận, cho ý kiến qua 3 kỳ họp Quốc hội, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu bàn thảo thật kỹ, cân nhắc toàn diện vấn đề; lựa chọn những vấn đề cơ bản nhất để xin ý kiến nhân dân. 
ANH PHƯƠNG
- See more at: http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2014/9/361899/#sthash.HDo2nO1f.dpuf

Thêm đầu mối bán gạo vào thị trường tập trung: Vẫn lối cũ ta về!


Trung Chánh
(TBKTSG) - Chính phủ vừa đồng ý bổ sung Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) cùng Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) là hai đầu mối được phép tham gia đàm phán, giao dịch trực tiếp ở những thị trường tập trung. Tuy nhiên, theo một số nhà chuyên môn, điều này vẫn chưa đủ để có đột phá cho ngành lúa gạo.
XK gạo

Chưa thể tạo ra sự đột phá
Trao đổi với TBKTSG, ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Thịnh Phát - doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cho rằng về nguyên tắc bổ sung Vinafood 1 cùng Vinafood 2 đi đàm phán ở những thị trường tập trung cũng là hợp lý.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, trong kinh doanh thương mại, có nhiều người bán thì người nhập khẩu sẽ “làm eo”, không có lợi gì cho người bán. “Đưa 1-2 đầu mối hay nhiều đầu mối không thành vấn đề nhưng càng đưa nhiều càng rối, khó thống nhất với nhau về chỉ đạo điều hành”, ông Tuấn cho biết.
Một yếu tố khác được ông Tuấn đưa ra để lý giải cho việc không nên đưa quá nhiều đầu mối đi giao dịch ở thị trường tập trung, đó là việc thể hiện năng lực và uy tín của quốc gia. “Nếu như đưa một đơn vị nhỏ như đợt rồi mà “gánh” 50.000-100.000 tấn gạo cho Philippines (lần Việt Nam giành được hợp đồng bán 800.000 tấn cho Philippines hồi tháng 4-2014), ký thời điểm đó giá cũng không phải thấp nhưng sau đó giá trong nước biến động, lỗ cả 1.000 đồng/ki lô gam, đơn vị nhỏ nhắm có thực hiện được không? Nếu không thì chẳng những công ty đó mà cả ngành gạo của Việt Nam cũng mất uy tín”, ông Tuấn nói.
Nêu quan điểm cá nhân của mình với TBKTSG, ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, cho biết đối với những hợp đồng tập trung cấp chính phủ chỉ nên có một số đầu mối, không nên có quá nhiều đầu mối vì sẽ dẫn đến những khó khăn, thậm chí là thua thiệt.
Theo ông Hiệp, xuất khẩu gạo là ngành kinh doanh có điều kiện, một khi doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện thì nên cho xuất khẩu, không phân biệt hình thức sở hữu là Nhà nước hay tư nhân vì trong Nghị định 109 (Nghị định 109/2010/NĐ- CP về kinh doanh xuất khẩu gạo) không có hạn chế sở hữu nhà nước hay tư nhân, mà chỉ quy định về điều kiện. “Riêng đối với các hợp đồng cấp chính phủ thì nên có vai trò của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là vai trò của Bộ Công Thương và một vài đầu mối nhưng các đầu mối đó là ai là một chuyện khác”, ông Hiệp cho biết.
Cũng theo ông Hiệp, “điều quan trọng là phương thức quản lý sao cho đầu mối không phải là đặc quyền, đặc lợi mà phải thật sự là đại diện cho doanh nghiệp”.

Nên mời các doanh nghiệp tư nhân
TS. Nguyễn Ngọc Đệ, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ), cho rằng việc tăng cường Vinafood 1 để cùng Vinafood 2 đảm đang thị trường xuất khẩu gạo tập trung với hy vọng giữ được thị trường, nâng cao hiệu quả... thì e là ta đã kỳ vọng quá lớn vào nhóm các doanh nghiệp nhà nước. Thay vào đó, chỉ cần chọn một số doanh nghiệp mạnh để giao cho họ “quán xuyến” các thị trường này hiệu quả sẽ cao hơn. Và tốt nhất là nên mời thêm một số doanh nghiệp tư nhân tham gia thị trường để có sự so sánh, đánh giá hiệu quả một cách khách quan và chính xác hơn.
Trong khi đó, ông Nguyễn Ngọc Đệ, Phó trưởng khoa Phát triển nông thôn (trường Đại học Cần Thơ), cho rằng đưa Vinafood 1 vào danh sách đầu mối đi giao dịch ở những thị trường tập trung cũng không tạo ra được đột phá gì cho ngành lúa gạo.
Theo ông Đệ, nên có nhiều doanh nghiệp tham gia giao dịch vào thị trường tập trung sẽ tốt hơn. “Theo tôi, nên có thêm những doanh nghiệp khác nữa, chứ chỉ có hai đơn vị đó (Vinafood 1 và Vinafood 2) thì các doanh nghiệp khác sẽ thiệt thòi”, ông nói.
Thiếu động lực để liên kết
GS.TS. Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường Đại học Nam Cần Thơ, chuyên gia ngành nông nghiệp Việt Nam, cho rằng Tổng công ty Lương thực (Vinafood) không nên trực tiếp tham gia xuất khẩu, mà chỉ nên là đầu mối tham gia tìm kiếm, mở rộng thị trường. Sau đó, Vinafood đứng ra kết nối với những công ty lương thực ở các tỉnh ĐBSCL để các đơn vị đó ký kết làm ăn với nhau và Vinafood được chia “huê hồng”.
Theo ông Xuân, các công ty lương thực ở các tỉnh ĐBSCL có nông dân, có vùng nguyên liệu để sản xuất. Trong khi đó, Vinafood dù ở miền Nam hay miền Bắc đều không có nông dân, không có vùng nguyên liệu, thậm chí ngay cả Vinafood 1 còn phải mua gạo từ miền Nam. “Như vậy, tại sao chỉ có họ mới được giao dịch xuất khẩu?”, ông Xuân đặt vấn đề.
Theo ông Xuân, ở Nhật Bản, tổng công ty của họ không xuất khẩu trực tiếp mà chỉ làm đại diện cho công ty con nhằm mục đích gắn kết công ty con với đối tác ở nước ngoài rồi “ăn huê hồng” thôi.
Theo ông Tuấn của Thịnh Phát, bản thân người được cử làm đại diện đi đàm phán (Vinafood 2 và Vinafood 1) về cũng đưa cho tổ điều hành phân giao chỉ tiêu xuất khẩu cho các đơn vị khác cùng làm. Quy chế thực hiện các hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung của VFA cũng nêu rõ: “Doanh nghiệp trúng thầu hoặc được chỉ định để ký hợp đồng tập trung được xuất khẩu trực tiếp tối thiểu 30% số lượng hợp đồng. Số còn lại hiệp hội phân giao cho các doanh nghiệp thành viên có năng lực khác ủy thác xuất khẩu theo nguyên tắc dân chủ, công khai”.
Tuy nhiên, theo ông Xuân, dù có phân giao chỉ tiêu xuất khẩu cho các doanh nghiệp thành viên khác (sau khi trúng thầu) cũng hạn chế sự phát triển của họ vì vẫn phải thông qua VFA và thực chất quyền lực phần lớn nằm trong tay của Vinafood.
Một doanh nghiệp xuất khẩu gạo lớn ở ĐBSCL (không muốn nêu tên), cho rằng chính cơ chế xuất khẩu phải thông qua một đầu mối đi đàm phán ở những thị trường tập trung đã làm hạn chế khả năng mở rộng thị trường của họ và khả năng phát triển ngành lúa gạo Việt Nam. “Chúng tôi đáp ứng được Nghị định 109, chúng tôi phải được tự do xuất khẩu chứ”, vị này nói.
Xuất khẩu tập trung hay tiểu ngạch?
Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tính đến cuối tháng 8-2014, xuất khẩu gạo của doanh nghiệp hội viên đơn vị này đạt hơn 4,2 triệu tấn, trị giá FOB đạt trên 1,8 tỉ đô la Mỹ, lần lượt giảm 9,1% về lượng và 8,5% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Riêng trong tháng 8-2014, xuất khẩu đạt trên 627.000 tấn, trị giá FOB đạt trên 270 triệu đô la Mỹ, trong đó, xuất khẩu sang Philippines - một trong những thị trường tập trung - chiếm gần 24%, tăng trên 211% so với cùng kỳ.
Nhiều doanh nhân ngành gạo ở ĐBSCL đặt vấn đề, tại sao Trung Quốc có lượng gạo nhập khẩu từ Việt Nam rất lớn nhưng họ không chịu tác động bởi thị trường tập trung mà chỉ nhập tiểu ngạch? Thậm chí Trung Quốc tổ chức cả mạng lưới thương lái cạnh tranh thu mua lúa tận vùng nguyên liệu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Sản lượng gạo xuất khẩu theo đường tiểu ngạch hàng năm ước trên 1,5 triệu tấn. Đầu mỗi vụ thu hoạch các địa phương khuyến khích xuất khẩu kể cả tiểu ngạch để tránh ứ đọng lúa hàng hóa trong dân. Tới cuối vụ, nguồn nguyên liệu đã cạn doanh nghiệp xuất khẩu chính ngạch thiếu hàng phải nâng giá thu gom, gây lỗ lã... Vòng luẩn quẩn đó khiến doanh nghiệp ngành gạo không thể lớn lên được do thiếu tự chủ.
N.T


20 tháng 9, 2014

Đương chức: ký duyệt dự án, về hưu: làm cho dự án!

TT - Không có nước nào chấp nhận chuyện một quan chức hôm trước cấp phép cho một dự án rồi hôm sau về hưu đi làm cho dự án này trong cương vị điều hành cả. 
Các đơn vị thi công phần mái ở cửa phía bắc đường hầm chính qua đèo Cả - Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ.
NGUYỄN VẠN PHÚ
Ở nhiều nước, một người có chuyên môn cao có thể dễ dàng chuyển đổi công việc từ khu vực kinh tế tư nhân qua làm quan chức nhà nước hay ngược lại từ vị trí một quan chức, từ nhiệm rồi làm cho doanh nghiệp. 
Hoàn toàn là chuyện bình thường khi ngoại trưởng Mỹ về hưu và trở lại nghề dạy học, hay tổng giám đốc một tập đoàn lớn tạm thời nghỉ kinh doanh đi làm thị trưởng một thành phố lớn.
Thế nhưng không có nước nào chấp nhận chuyện một quan chức hôm trước cấp phép cho một dự án rồi hôm sau về hưu đi làm cho dự án này trong cương vị điều hành cả.
Cái đó người ta gọi là một trong những dạng “xung đột lợi ích” phải tránh. Nước nào cũng ra những điều luật, quy định hay quy tắc ứng xử để liệt kê hết mọi trường hợp “xung đột lợi ích” và buộc bộ máy hành chính phải tuân thủ nghiêm ngặt.
Nước ta cũng đã có những quy định chặt chẽ như vậy. nghị định 102 ban hành năm 2007 quy định thời hạn không được kinh doanh (theo nghĩa không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp...) trong lĩnh vực có trách nhiệm quản lý đối với cán bộ khi thôi giữ chức vụ.
Các đơn vị thi công phần mái ở cửa phía bắc đường hầm chính qua đèo Cả - Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ.
Nói theo ngôn ngữ đời thường, người có liên quan (ví dụ được giao thẩm tra hay ký quyết định phê duyệt) một dự án thì khi nghỉ hưu, tùy theo lĩnh vực mà không được làm cho dự án đó trong một thời gian nhất định.
Với Bộ Giao thông vận tải, thời gian đó từ 12 đến 18 tháng; nhưng với người trực tiếp thẩm định, phê duyệt dự án thì thời gian đó hoặc là cho đến khi thực hiện xong dự án hoặc là 36 tháng nếu dự án có thời hạn thực hiện trên năm năm.
Đối chiếu với quy định này thì ông Hồ Nghĩa Dũng đã vi phạm nghị định 102 bởi ông nghỉ hưu, không làm bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải nữa vào tháng 8-2011 thì đến tháng 4-2012 đã tham gia làm thành viên HĐQT Công ty cổ phần đầu tư Đèo Cả (theo quyết định của đại hội đồng cổ đông Công ty CP đầu tư Đèo Cả số 12/2012/QĐ-ĐHĐCĐ).
Theo thông tin trên chính trang web của Công ty Đèo Cả, ông Hồ Nghĩa Dũng (lúc đó là bộ trưởng Bộ GTVT) đã ký quyết định số 2860/QĐ-BGTVT về việc phê duyệt hồ sơ đề xuất đầu tư xây dựng hầm đường bộ qua đèo Cả - quốc lộ 1 theo hình thức BOT & BT vào ngày 5-10-2009.
Một ngày sau, chính ông Dũng ký quyết định số 2886/QĐ-BGTVT về việc chỉ định chính Công ty cổ phần đầu tư Đèo Cả làm nhà đầu tư dự án này!
Trường hợp này thì quá rõ. Vấn đề nằm ở chỗ những trường hợp vi phạm nghị định 102, mắc vào lỗi “xung đột lợi ích” như thế không phải hiếm.
Vấn đề còn nằm ở chỗ nhiều người không nghĩ đây là một mâu thuẫn cần loại bỏ. Ví dụ Công ty Đèo Cả ghi nhận mọi thông tin chúng tôi trích dẫn ở trên tại chính trang web của họ như một niềm tự hào đã mời được một cựu bộ trưởng làm cố vấn và là thành viên HĐQT cho họ!
Nghị định 102 chỉ xử lý một dạng xung đột lợi ích trong khi thực tế cuộc sống còn hàng ngàn trường hợp xung đột lợi ích từ chỗ trắng trợn đến các trường hợp tinh vi, khó nhận ra.
Từ những chức vụ rất bình thường như thầy cô tiểu học ép học sinh đi học thêm, như vợ ông trưởng phòng ép bán hợp đồng bảo hiểm đến ông chủ tịch vô tư ký lệnh bắt mua sản phẩm của một công ty địa phương...
Đó là chưa kể việc “chia sẻ” thông tin hay “lobby” ngược chính sách - toàn là những dạng tham nhũng quyền lực chưa bị phát hiện.
Nếu không xử lý nghiêm những vi phạm đã rõ thì xung đột lợi ích sẽ biến tướng thành lợi ích nhóm được bảo kê bằng quyền lực và công bằng xã hội sẽ biến mất.