30 tháng 10, 2012

Cờ bạc hóa' trong nền kinh tế



Lời người cập nhật Blog: Một bài viết hay để suy ngẫm về dự định cho Casino Phú Quốc, hoạt động thường ngày của các "Nhà cái" công khai - Cty XSKT ở mỗi tỉnh thành và nhiều hoạt động "bài bạc" khác trong lĩnh vực kinh tế lẫn văn hóa, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, kể cả giáo dục ...

Nhìn rộng ra, dường như hình thức "cờ bạc" còn hiện hữu trong các hình thái khác chứ không chỉ có trong các casino.

>Không nên mở sòng bạc tại Việt Nam


Tôi đến Las Vegas lần đầu vào mùa hè 1964. Nhóm sinh viên 4 người chúng tôi hùn hạp để đi du lịch một vòng xứ Mỹ nhân dịp có 26 ngày nghỉ giữa hai khóa học.
Khi dừng chân ở Vegas, chúng tôi đồng ý trích ra 200 đôla từ ngân sách và nếu thua hết sẽ về khách sạn sớm để sáng mai lên đường. Nào ngờ cô bạn gái tôi may mắn, thắng được 3 ngàn đôla. Chúng tôi khoái trá, làm vài ly bia miễn phí rồi về phòng lúc 1h sáng.
Riêng cô bạn còn ham hố, xin ở lại vài phút. Khi chúng tôi ngủ dậy lúc 8h sáng, cô đã thua lại hết tiền và vì muốn gỡ, cô đã lẻn về phòng móc sạch tiền của bọn tôi và nướng trọn cho sòng bài.
Thật nguy kịch vì 4 đứa đều là sinh viên nước ngoài, không bà con thân thuộc để có thể xin ai gởi tiền khẩn cấp. Chúng tôi kẹt lại ở Vegas suốt 7 ngày sau đó, ngủ trong xe và làm đủ mọi chuyện từ rửa chén bát đến quét đường để kiếm tiền ăn và tiền xăng chạy về trường đại học ở tuốt bên Pennsylvania.
Mấy chục năm sau đó, tôi ghé lại Vegas cả trăm lần vì hội nghị và họp hành, nhưng không bao giờ mất một đồng nào cho sòng bài. Tuy nhiên, Vegas không cần tiền của tôi.
Từ chỗ chỉ có 6 sòng bạc cỡ trung bình thời thập niên 60, Vegas đã phát triển trên 120 sòng bài với doanh thu 11.2 tỷ đôla mỗi năm và góp khoảng 3.7 tỷ đôla cho ngân sách của thành phố và tiểu bang, chưa nói đến những doanh nghiệp liên quan sống nhờ vào khách đánh bạc.

Tư duy về cờ bạc và nghèo đói

Từ ngày còn bé, trong cái tứ đổ tường mà cha mẹ răn dạy, cờ bạc là điều cấm kỵ bậc nhất trong gia đình tôi. Ngay cả những ngày Tết, cha tôi thường xua đuổi những gánh “bầu cua cá cọp” muốn tụ họp trước sân nhà.
Với truyền thống đó, khi lớn lên, tôi không những dị ứng với cờ bạc, mà còn xem đó là một tội phạm.
Cho đến khi tôi bắt đầu làm ăn và nhất là khi nhảy vào lĩnh vực tài chánh.
Khi tôi mắng một nhân viên ham mê cá ngựa, bỏ bê công việc, anh ta trả lời: "Tôi chỉ là thằng đánh cò con, ăn thua vài trăm đô mỗi lần. Còn ông, khi đầu tư vào một dự án, con ngựa ông cá cược có thể làm ông thắng hay mất cả triệu đô. Ông đánh bạc lớn hơn tôi nhiều”.
Tôi nhớ lại ngày mới ra trường. Lúc đó tôi làm nhân viên giao dịch hàng hóa cho một ngân hàng ở Wall Street. Tôi đã "đánh bạc" liên tục 7 giờ mỗi ngày, được hay mất cả triệu đôla cho công ty mà không thực sự đóng góp gì cho quy trình sản xuất của nền kinh tế.
Thực ra, tôi chỉ là một con chốt nhỏ, đánh thuê. Nhưng những người chủ của tôi không hề là “thằng bần” như cha mẹ tôi đã giáo dục. Các lãnh đạo này kiếm cả mấy triệu đôla mỗi năm; chưa kể tiền thưởng.

Nền kinh tế cờ bạc

Càng lao đầu vào thương trường, tôi càng thấy tính chất “cờ bạc hóa” trong rất nhiều hoạt động.
Trên mọi sàn giao dịch hàng hóa, 99% hợp đồng là một hình thức cờ bạc vì chỉ 1% người mua kẻ bán là có ý định nhận hay giao hàng.
Khi món hàng là lãi suất, chỉ số hay phát sinh (derivatives) thì 100% là đánh cược. Có tổng cộng 3,5 tỷ hợp đồng trị giá 400 nghìn tỷ đôla được giao dịch mỗi năm. Đây là một sòng bạc lớn hơn Vegas, Macau và mọi sòng bạc trên thế giới cộng lại.
Mặc cho những biện giải về giá trị tạo vốn cho doanh nghiệp, các sàn chứng khoán trên thế giới thực sự là những sòng bạc vĩ đại cho các tay chơi, từ nhà đầu tư cá nhân đến tổ chức.
Ít tay chơi nào quan tâm đến số mệnh của một doanh nghiệp hay việc làm của công nhân mà chỉ lưu ý đến ảnh hưởng của nó trên số tiền kiếm được hay mất.
Một thống kê mới nhất của NYSE (sàn New York) cho thấy 72% giao dịch mua bán chỉ giữ thời hạn là 11 giây. Có đến 70 ngàn tỷ đôla lưu thông mỗi ngày trên các sàn chứng khoán thế giới.
Nhìn ở dạng rộng hơn, trong những nước mà người dân không được phép đánh bạc thoải mái thì vé số kiến thiết, số đề, cá cược bóng đá, đánh bạc trên mạng…trở nên phổ biến.
Tại Mỹ, lối đánh bạc không chính thống này được phỏng đoán lên đến 4,5 ngàn tỷ đôla hay 4% của GDP. Trong khi đó, con số cho Âu Châu là 7,2% và Hong Kong là 8,9%. Tôi không có số liệu của Việt Nam nhưng tôi chắc chắn là phải hơn các con số này.

Người thắng kẻ thua

Tóm lại, dù ta có ghét cờ bạc đến đâu, nó vẫn hiện diện cùng khắp trong mọi ngóc ngách của xã hội. Tác động và hệ quả của nó cũng khác biệt tùy theo đối tượng.
Nhiều con bạc không có kỷ luật và tham lam, thường cháy túi và lâm vào cảnh bần hàn. Những người không chấp nhận nhiều rủi ro, biết kiểm soát cảm xúc, có thể thắng nhỏ và đều đặn. Những tay “làm cái” tổ chức sòng bài, biết rõ xác suất và tâm lý con bạc, luôn luôn thắng.
Đôi khi, những sư tổ quản lý các sòng “tài chánh” như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…này đi quá trớn, tạo nên những mất mát khổng lồ, lại được chính phủ cứu giúp bằng tiền của dân. Những thí dụ gần nhất là cuộc khủng hoảng tài chánh Mỹ năm 2007, số nợ công Âu Châu hiện nay.
Cách đây 40 năm, những đầu tàu của kinh tế Mỹ là các doanh nghiệp nhỏ sản xuất công nghệ, dịch vụ y tế, giáo dục, xã hội…và nông hải sản. Ngành tài chính chỉ chiếm 3,4% của GDP.
Năm 2010, tỷ lệ này lên đến 14,7% và ước tính sẽ còn tăng trưởng ngoạn mục trong tương lai gần.
Hiện tượng “cờ bạc hóa” nền kinh tế Mỹ đang được thế giới sao chép, nhất là Âu Châu và Đông Á. Các trung tâm tài chính thế giới là những điểm hẹn của mọi lối đánh bạc.
Hong Kong, Singapore, Dubai… là 3 nơi mà “cờ bạc kiểu tài chính” đóng góp hơn 70% của GDP.

Sòng bài tại Việt Nam?

Quay về Việt Nam, chúng ta đang có một tranh luận khá thú vị về việc cho giấy phép mở sòng bài của tập đoàn Sands. Phần lớn xoay quanh những tệ nạn xã hội sẽ xảy ra với sòng bài.
Thực sự, bỏ đi những hăng say về nghĩa vụ xã hội còn sót lại từ một tư duy già cỗi, chúng ta phải nhìn nhận là những ai nghèo hay giàu khi đam mê cờ bạc vẫn có rất nhiều cách khác để mất tiền.
Họ không những đã mất phần lớn qua số đề hay cá cược hay các sòng bài bên Campuchia, Singapore… mà còn qua bất động sản, chứng khoán và lối kinh doanh đòn bẫy dùng tiền người khác.
Nếu chỉ nghĩ đơn thuần đến lợi ích kinh tế, một sòng bài sẽ phải đầu tư khoảng vài tỷ đôla, phải thuê và đào tạo cả ngàn nhân viên Việt, thu hút cả trăm nghìn du khách đến chơi và rửa tiền, cùng những lợi ích khác mà không ô nhiễm môi trường hay phá rừng đập núi.
Chính phủ là khi mở cửa cho Sands, thì nên mời luôn Wynn, MGM, Harrah’s, nhóm Galaxy của gia đình Stanley Ho, nhóm Genting…. Phải mở rộng cạnh tranh để tạo cụm ngành (clusters) cho thị trường và tạo thế đứng cho một kỹ nghệ mới.
Nếu TP HCM cạnh tranh hữu hiệu với Macau thì sức bật của chương trình này tốt đẹp hơn bất cứ gói kích cầu nào khác và Chính phủ cũng không phải in tiền hay đi vay để hỗ trợ.

Trong tinh thần minh bạch và khai báo toàn diện, tôi xin nói rõ là tôi không đầu tư vào các công ty liên quan đến cờ bạc và tôi không có một lợi ích kinh tế hay tài chính nào trong các quyết định của Chính phủ.
TS Alan Phan (*)
(*)TS Alan Phan là một doanh nhân hoạt động nhiều năm tại Mỹ và Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách tiếng Anh và tiếng Việt về kinh tế tài chính của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại các đại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) và Southern Cross (Úc).

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992: 9 nội dung lớn, tăng quyền Chủ tịch nướcc hội



Các đại biểu dự phiên họp sáng 29-10-2012 của Quốc hội. Ảnh: nld.com.vn
TCCSĐT - Sáng 29-10-2012, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý, thành viên Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã trình bày Tờ trình Quốc hội về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Dự thảo Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.


Trình bày Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đồng chí Phan Trung Lý nêu rõ, sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định 9 nội dung cơ bản sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là:

Thứ nhất
, sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục thể chế hóa và làm sâu sắc hơn chủ trương phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Thứ hai
, sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Thứ ba
, sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Thứ tư
, sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Thứ năm
, sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.

Thứ sáu
, sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ bảy
, sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ tám
, sửa đổi Hiến pháp để tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong quan hệ quốc tế; tạo cơ sở hiến định để Nhà nước đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thực hiện quyền, nghĩa vụ quốc gia, góp phần giữ gìn hòa bình khu vực và thế giới.

Thứ chín
, sửa đổi kỹ thuật lập hiến và quy trình sửa đổi Hiến pháp để bảo đảm hiệu lực, tính ổn định, lâu dài của Hiến pháp.

Cụ thể hóa 9 nội dung cơ bản nêu trên, Dự thảo Hiến pháp sau khi sửa đổi, bổ sung có 11 chương, 126 điều. So với Hiến pháp năm 1992, Dự thảo Hiến pháp giảm 1 chương, 21 điều, 18 điều giữ nguyên, 95 điều sửa đổi và bổ sung 13 điều mới.


Làm rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng

Trong 9 nội dung cơ bản sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được trình Quốc hội, Ủy ban cho biết, vị trí, vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn.

Theo đó, Điều 4 dự thảo Hiến pháp có thêm quy định Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Và không chỉ các tổ chức của Đảng, mà các đảng viên hoạt động phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Bổ sung quyền của Chủ tịch nước


Trong mối quan hệ với hành pháp, dự thảo đã bổ sung thẩm quyền của Chủ tịch nước bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trái với lệnh, quyết định của Chủ tịch nước để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện rõ hơn mối quan hệ của Chủ tịch nước với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong hoạt động lập pháp; đồng thời, phát huy tốt hơn cơ chế kiểm tra, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về việc thực hiện vai trò thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, dự thảo đã bổ sung thẩm quyền quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp tướng, đô đốc, phó đô đốc, chuẩn đô đốc hải quân trong các lực lượng vũ trang nhân dân, bổ nhiệm Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho Chủ tịch nước.

Một điểm mới nữa là dự thảo đã bổ sung quy định Chủ tịch nước được quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề thuộc nhiệm vụ của Chủ tịch nước.

Việc bổ sung quy định này, theo Ủy ban, là nhằm thực hiện nguyên tắc “kiểm soát” quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đồng thời phù hợp với vị trí, vai trò và thẩm quyền của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước; người đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ, và căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác.

Không ai bị phân biệt đối xử


Ở chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, dự thảo đã thiết kế điều mới (điều 16) quy định mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Điều 17 tại dự thảo đã sửa đổi bổ sung điều 52 “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” thành: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vì bất kỳ lý do nào. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn bằng luật trong trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.

Dự thảo cũng đã có một điều riêng quy định về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân theo yêu cầu của Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Điều này khẳng định rõ: việc khám xét chỗ ở do luật quy định.

Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo


Theo nội dung đã được sửa đổi, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Mục đích phát triển kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân.

Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác được củng cố và phát triển. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển.

Dự thảo cũng quy định, đất đai, nguồn nước, khoáng sản, vùng trời, vùng biển và tài nguyên thiên nhiên khác, các công trình và các tài sản Nhà nước đầu tư, quản lý đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật.

Lấy ý kiến nhân dân về toàn bộ nội dung sửa đổi


Cũng tại phiên họp sáng nay, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân.

Theo đó, đối tượng lấy ý kiến bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và ở địa phương.

Nội dung lấy ý kiến là toàn bộ dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, bao gồm: lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.

Bốn hình thức được quy định cho việc lấy ý kiến là: góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng; các hình thức phù hợp khác.

Từ ngày 2-1 đến ngày 31-3-2013 là thời gian được dành lấy ý kiến nhân dân về dự thảo, kinh phí sẽ do ngân sách Nhà nước bảo đảm. 

Tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ xem xét, thảo luận, cho ý kiến lần đầu về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo này.

Trên cơ sở ý kiến của nhân dân và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban sẽ tập hợp, tổng hợp và dự kiến tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5 (tháng 5-2013); sau đó tiếp tục hoàn thiện trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10-2013)./.
Nguồn: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ngày 29-10-2012

Miếng ăn và những 'nỗi lo thế kỷ


Tác giả: TÂM THỜI (Tuần VIETNAMNET)

(VEF.VN) - Gần đây trên thị trường Việt Nam người ta chứng kiến một làn sóng của cái gọi là những “phát hiện mới” gây chấn động dư luận.
Điều đáng nói, đây không phải là những phát minh khoa học kỹ thuật, những giải pháp kinh tế nào đó mới mẻ mà đó chỉ là những phát hiện để khẳng định thêm về những nỗi lo mà người dân Việt Nam đã phải đối mặt lâu này. Những phát hiện đó đã khiến cho nhiều người phải rùng mình, sởn gai ốc... vì đó thực sự là nỗi lo thế kỷ mà chưa có cách nào giải quyết.
Sau khi một loạt những phát hiện rùng rợn lần lượt được các cơ quan chức năng côn bố, khiến dư luận sôi sung sục lên cao trào rồi rồi tan biến trên thị trường hàng hóa nước ta ví như đồ chơi ngoại nhập có chất độc hại, thậm chí có thể gây ung thư, trong sữa có melamin, trong mực khô có ký sinh trùng gây bệnh...
Gần đây nhất một "phát hiện" gây chấn động lại tiếp tục xuất hiện trong ngành y tế Việt Nam, khi cơ quan này vừa được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng thông tin gây sốc: thuốc Đông y có trộn... xi măng!.
Số là trong đợt kiểm nghiệm của Bộ Y tế về chất lượng thuốc Đông y ở chính các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước, Viện Kiểm nghiệm thuốc T.Ư sau khi lấy gần 400 mẫu dược liệu thì có tới 60% mẫu chưa đạt chất lượng.
Trong đó, 20% số thuốc còn bị trộn rác như cát, xi măng, lẫn tạp chất, giả mạo, tẩm ướp hóa chất độc hại...
Thông tin trên khiến nhiều bệnh nhân tá hỏa, bởi xưa nay không ai nghĩ uống thuốc Đông y trong bệnh viện lại có thể có độc.
Chuyện thuốc Tây y rồi Đông y giả mạo thực ra không phải là vấn đề gì quá mới. Lâu nay người ta vẫn buộc phải làm quen với chuyện này, từ cái hồi các đám mãi võ bán thuốc còn hoạt động nhan nhản như nấm sau mưa, gần đây nhất là chuyện thuốc cam nhiễm độc chì...
Nhưng lần này kể cũng lạ vì sao mà ngay cả bệnh viện cũng bị "nhầm lẫn" thuốc? Lý do chung chung được đưa ra là do "kỹ nghệ" làm giả thuốc đông dược ngày càng cao và rất khó kiểm định vì "để trên bàn là thuốc nhưng dưới đất có thể là rác".
Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm, Việt Nam tiêu thụ khoảng 50.000 tấn dược liệu, nhưng có đến 60-70% là thuốc nhập ngoại, và trong số này 80% là thuốc nhập lậu, trôi nổi, không rõ nguồn gốc.
Nhiều ý kiến cho rằng bên cạnh một số đối tượng ham lợi bất chấp luật pháp, đạo lý kinh doanh và sự quản lý, kiểm soát lỏng lẻo của các cơ quan chức năng, còn có nguyên do không nhỏ từ các biện pháp và chế tài xử lý khi vi phạm bị phát hiện quá nhẹ nên tất cả đều "nhờn".
Nhiều vụ thuốc Đông y bị làm giả, nhưng chỉ xử phạt hành chính với số tiền vài triệu đồng, nên "đâu lại vào đấy". Chuyện xử lý hình sự với hành vi buôn bán, sản xuất thuốc chữa bệnh là thuốc Đông y giả có khi còn hy hữu hơn chuyện thuốc có trộn xi măng vậy!
Cũng như thuốc cam nhiễm chì hồi trước, những ai xấu số mắc phải thuốc đông y trộn xi măng lần này đương nhiên là phải gánh chịu những hậu quả khôn lường rồi, vì xi măng là để xây nhà, cầu cống và công trình chứ đâu phải chữa bệnh cho lục phủ ngũ tạng, cốt nhục của con người?.
Chỉ hơi buồn là ngay từ sau sự cố thuốc cam nhiễm độc chì xảy ra, dư luận và ngay cả các lương y chân chính từng lên tiếng cảnh tỉnh và đòi cơ quan chức năng phải "xử" các đối tượng buôn bán các loại "thuốc cam" trôi nổi. Nhưng rồi mặc cho dư luận "đòi" thế này, lương y "đòi" thế kia rút cục thì cũng "đá ném ao bèo", "cam chì" vẫn thoát tội. Mà khi "cam chì" đã không được xử dứt điểm thì "đông y xi măng" sẽ nối gót, có gì lạ đâu...
Những phần từ làm hàng giả hàng nhái đã không mệt mỏi, "lao động"cật lực, thậm chí miệt mài sáng tạo, rồi liên tục tung ra những "phát minh mới", những "phát minh thế kỷ" về những loại hàng hóa oái ăm, phản cảm và đi ngược lại với đạo đức kinh doanh và báo hại người tiêu dùng.
Trong khi đó, các lực lượng chức năng có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát thị trường, chất lượng hàng hóa đang ngày đêm miệt mài truy đuổi hòng phát hiện, lôi ra anh sáng và loại bỏ những phát minh ghê rợn này ra khỏi cuộc sống.
Trong cuộc đấu tranh sinh tử ấy, có lúc có nơi ưu thế tạm thời có thể nghiêng về bên này hay bên kia. Nhưng rõ ràng, trong bối cảnh hiện nay những "phát minh" của các đối tượng xấu có vẻ đang thắng thế so với những "phát hiện" của cơ quan chức năng.
Chẳng thế, hết vụ làm hàng giả này, hết vụ làm hàng nhái kia bị phát hiện xử lý, nhưng trên thị trường vấn nạn hàng giả, hàng cấm vẫn hoành hành ngày càng phức tạp, khó lường.
Chỉ tội nghiệp người tiêu dùng, bị kẹp chặt trong vòng xoáy thật giả khôn lường trên thị trường cuộc sống của họ quả ngột ngạt. Chưa nói đến chuyện phải sử dụng những loại hàng hóa ghê rợn này, chỉ cần đọc qua những thông tin trên đài báo, hẳn nhiều người đã tim đập, chân run... Đúng là những "nỗi lo thế kỷ"

Dự án tồn hàng như núi



Theo Bộ Xây dựng, hơn 54% doanh nghiệp bất động sản trên cả nước đã “chết” do địa ốc đóng băng

Một dự án căn hộ đang xây dựng ở quận 2 - TPHCM. Ảnh: HỒNG THÚY
Chưa bao giờ doanh nghiệp (DN) bất động sản (BĐS)  khốn khó như hiện nay, đặc biệt là 2 thị trường lớn TPHCM và Hà Nội. Theo ông Đặng Hoàng Vũ, Tổng Giám đốc Công ty Địa ốc Thanh Bình, có đến 90% DN BĐS đã “chết lâm sàng” vì không tiếp cận được vốn và gần như 100% sản phẩm không có thanh khoản.
Nửa đường gãy gánh
Tại TPHCM, trong hơn 10 năm (từ tháng 1-2001 đến ngày 31-12-2011), UBND TPHCM đã giao, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất 2.836 dự án cho các tổ chức để đầu tư xây dựng với diện tích 22.215 ha đất, sử dụng làm nhà ở, công trình phúc lợi công cộng, sản xuất kinh doanh… Tuy nhiên, qua khảo sát mới đây của Sở Xây dựng, nhiều dự án nhà ở dở dang cả chục năm. Trong số hơn 1.100 dự án nhà ở trên địa bàn, có gần 900 dự án chưa hoàn thành (chiếm hơn 80%), thậm chí có dự án triển khai cả chục năm nhưng đến nay hạ tầng không hoàn chỉnh, nhà đầu tư chỉ bán đi bán lại trên “giấy”.
Điển hình như dự án khu đô thị mới Đông Tăng Long (quận 9) có quy mô 160 ha, được UBND TP phê duyệt từ năm 2006 nhưng đến nay vẫn chưa xong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng. Tại dự án Waseco Plaza (phường 2, quận Tân Bình) theo kế hoạch sẽ hoàn thành trong năm 2011 nhưng đến nay, chủ đầu tư mới triển khai được 5% khối lượng công trình. Khu đất dự án hiện nay gần như bỏ hoang, cỏ mọc cao gần đầu người.
Còn nhiều dự án trên địa bàn quận 2 như Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng Đông… hay ở khu Nam Sài Gòn, Tây Bắc Củ Chi.... được triển khai hàng chục năm nhưng hạ tầng vẫn dở dang, chỉ có một số ít căn nhà được xây dựng giữa “cánh đồng hoang”. .
Tại Hà Nội, từ tháng 4-2011 trở về trước đâu đâu cũng thấy người ta bàn tán về BĐS. Dọc những tuyến đường như Lê Văn Lương kéo dài, Trần Duy Hưng,… mọc lên hàng loạt công ty môi giới BĐS. Tuy nhiên, thị trường BĐS chủ yếu được đầu cơ, mua đi bán lại kiếm lời. Khi van tín dụng thắt lại, lãi suất ngân hàng tăng lên cũng là lúc bộc lộ ra một loạt yếu kém. Thống kê mới đây cho thấy Hà Nội cũng đang tồn một lượng BĐS khá lớn và cần khoảng 6-7 năm để tiêu thụ hết số hàng này.
“Bom nổ chậm” từ tăng trưởng nóng
 Khi triển khai dự án, vốn của DN chỉ chiếm 15%-20% trên tổng mức đầu tư, phần còn lại là đi vay của ngân hàng. Do đó, DN phụ thuộc rất lớn vào những thay đổi của chính sách tiền tệ. Trong dự thảo đề án phát triển thị trường BĐS do Sở Xây dựng TPHCM vừa đưa ra lấy ý kiến, số liệu từ Sở Kế hoạch - Đầu tư TP cho thấy có 70,5%  BĐS có vốn dưới 10 tỉ đồng, gần 19%  có vốn 10-50 tỉ đồng, 8% có vốn 50-200 tỉ đồng và chỉ có 2,6% có vốn 200-500 tỉ đồng. Vì vậy, nếu ngân hàng không hỗ trợ thì DN khó có khả năng thực hiện các dự án lớn.
Có thể nói tình hình các DN xấu như hiện nay, chính là hệ quả từ thời kỳ thị trường tăng trưởng nóng. Hiện trạng BĐS tồn kho là một trong những nguyên nhân gây kiệt quệ nguồn vốn của DN trước mắt và lâu dài. Theo số liệu thống kê sơ bộ của hơn 65 DN niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội và TPHCM, lượng hàng tồn kho trị giá hơn 83.804 tỉ đồng, tăng 6,69% so với cuối năm 2011. Như vậy, số BĐS tồn kho đang chiếm tới 45,84% tổng tài sản của các DN này.
BĐS tồn kho quá nhiều được xem như “bom nổ chậm”, nếu không có giải pháp xử lý kịp thời sẽ để lại nhiều hậu quả. Tình hình tiêu thụ chậm các sản phẩm BĐS trong 3 năm trở lại đây (đặc biệt là căn hộ) làm cho tỉ lệ hàng tồn kho của các DN ngày càng phình to. Cá biệt, ở một số DN, tỉ lệ hàng tồn kho trên tổng tài sản lên đến 60%-90%. Theo Sở Xây dựng TPHCM, chỉ tính đến cuối năm 2011, TP có 19.993 DN kinh doanh BĐS. Với số lượng DN hùng hậu như vậy, nếu thống kê đầy đủ, số sản phẩm BĐS tồn kho sẽ cao hơn rất nhiều so với con số nêu trên.
Còn theo một nguồn thông tin khác, hiện số lượng căn hộ chưa bán được lên đến 70.000 căn, trong đó TPHCM có 40.000 căn và Hà Nội 30.000 căn. Đối với khách hàng, việc mua nhà của các DN có tỉ lệ nợ và hàng tồn kho cao là rất rủi ro do các tài sản mua bán chưa được hình thành. Do đó, trong trường hợp công ty không còn khả năng triển khai dự án hoặc trả nợ ngân hàng thì khách hàng sẽ không nhận được nhà và cũng rất khó có khả năng đòi lại vốn góp mua căn hộ.
Thời hoàng kim đã xa
Có lẽ nhiều khách hàng và “cò” nhà đất không thể quên chuyện chưa từng có đã xảy ra trong làng địa ốc TPHCM vào tháng 10-2008, khi muốn mua một căn hộ phải xếp hàng từ ngày hôm trước.
Hòa cùng vào dòng người chờ mua nhà lúc đó, chúng tôi đã phải chầu chực từ 20 giờ ngày 18-10-2012 để mua căn hộ tại dự án The Vista nằm trên xa lộ Hà Nội, phường An Phú, quận 2. Tại đây diễn ra cảnh tượng gần cả ngàn người chen lấn, xô đẩy ngay trong đêm tối để chờ mua căn hộ. Một số người chịu không nổi đã thuê người vào “xí” chỗ. Giá thuê lúc đầu là 500.000 đồng/người nhưng chỉ 1 giờ sau đã tăng lên 4 triệu đồng/người, thậm chí có khách hàng bỏ ra 1.000 USD để thuê người đứng giữ chỗ để lấy giùm phiếu ưu tiên. Do người mua quá đông trong khi số lượng bán ra có hạn nên nhân viên kinh doanh dự án phát loa thông báo: “Khách hàng phải có giấy CMND và cầm theo từ 2.000-5.000 USD để đặt cọc mới được mua căn hộ”.
TẤT THẮNG - THẾ KHA (Người Lao Động)

Mưu sinh mùa nước nổi

ĐBSCL đang vào chính vụ của mùa nước nổi. Khi con nước tràn đồng, mang theo phù sa, tôm cá, cũng là lúc người dân đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu chộn rộn với mùa làm ăn: đan lưới, đan lờ, đóng xuồng để bắt ốc, cua đồng, bắt cá.
Hàng chục ngàn hộ nông dân được hướng dẫn kỹ thuật đã tận dụng lợi thế mùa nước để trồng các loại rau màu như bông điên điển, sen, ấu, rau nhút... Đây là những mô hình sản xuất có vốn đầu tư thấp, phù hợp với hộ nghèo, cần ít đất sản xuất và nhanh thu hồi vốn. Tổng cộng có đến 32 mô hình sản xuất mùa nước nổi có hiệu quả kinh tế cao.
Thống kê sơ bộ của các tỉnh ở vùng ĐBSCL cho thấy mỗi mùa nước nổi, tổng thu nhập lên đến vài ngàn tỷ đồng. Đó là chưa kể các hoạt động du lịch, thu hút khách thập phương về miền Tây tham quan mùa nước nổi. Năm nay, mực nước thấp hơn năm ngoái khoảng 1m, khiến người dân đầu nguồn buồn nhiều hơn vui. Tuy vậy, mưu sinh trên đồng nước vẫn là hoạt động chộn rộn nhất vùng đầu nguồn sông Cửu Long hiện nay.
Theo dòng lũ. Ảnh: Hoàng Trọng
 
Thăm đồng. Ảnh: Duy Bằng
 
Mùa bông điên điển. Ảnh: Hoàng Trọng
 
Bông súng, sản vật mùa nước nổi. Ảnh: Gia Bảo
 
Ráng chiều trên đồng nước. Ảnh: Duy Bằng
 
Rủ nhau đặt trúm. Ảnh: Hoàng Trọng
 
Giăng lưới trên đồng cạn. Ảnh: Hoàng Dũng
Trần Minh Trường (SGGP)

Món ngon: Cá linh Miền Tây mùa nước nổi


Cá linh kho tiêu và lẩu cá linh ăn kèm hoa điên điển là hai món đặc sản đậm chất Tây Nam bộ, chỉ có trong mùa nước nổi.

Mùa nước nổi Nam bộ bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm. Mùa này thường xuất hiện rất nhiều cá linh. Đầu mùa chính là thời điểm cá ngon nhất của năm, bởi cá chưa quá lớn nên xương chưa cứng, bụng cá lại có mỡ nên ăn rất béo. Loại cá này được xem là đặc sản của mùa nước nổi miền Tây.
Nhắc đến cá linh người ta cũng không thể không nhắc đến loại hoa cũng gắn liền với mùa nước nổi - hoa điên điển, loài hoa nở vàng khoe sắc khắp cả mé sông, đầm lầy, ruộng nước. Hoa cho hương vị rất đặc biệt, giòn, thơm, bùi, béo lại nồng đượm hương, mang "hương đồng cỏ nội" được người dân Nam Bộ chế biến thành nhiều món ăn đặc sản bổ dưỡng.
Vào đầu mùa nước nổi, cá linh non sẽ xuất hiện ở các nơi đầu nguồn như An Phú, Tân Châu, Hồng Ngự (Đồng Tháp), hay Thốt Nốt (Cần Thơ), có giá chỉ từ 15.000 đồng đến 20.000 đồng một kg. Càng về sau cuối mùa, loại cá này càng rẻ. Cá cuối mùa nước đã trưởng thành được người dân dùng làm mắm. Mắm cá linh vùng Đồng Tháp, Long An, An Giang, Cần Thơ rất có tiếng. Tại Sài Gòn, thi thoảng cá linh sống vẫn được đưa từ miền Tây lên bán tại chợ với giá vài chục nghìn đồng một kg.
Cá linh và hoa điên điển được xem là đặc sản của mùa nước nổi ở miền Tây Nam bộ.
Nhiều người thưởng thức qua loại cá này chỉ một lần vẫn vương vấn mãi bởi thịt tươi và cái mùi vị đặc trưng không lẫn vào đâu được. Cá linh hầu như ăn được nguyên con, không cần đánh vảy. Bạn chỉ cần cắt ngang rốn cá một đoạn nhỏ rồi nặng hết ruột bên trong ra cho sạch. Cắt đuôi, sau đó rửa sạch và mang chế biến. Cá càng non thì thịt càng ngọt, hầu như không có xương, béo ngậy. Thịt loại cá này rất mềm và mau chín.
Cá linh đầu mùa hay cuối mùa chế biến theo cách nào cũng ngon và hấp dẫn như: cá linh tẩm bột chiên giòn, cá linh kho mắm ruốc, kho mía, kho khóm, canh chua cá linh... Những con cá linh mập ú, bụng đầy mỡ, người ta mang nướng trên bếp than ửng hồng, thịt cá vừa ngọt vừa béo và cũng lại cho hương thơm phương phức. Lẩu cá linh nấu chua ăn cùng hoa điên điển và cá linh kho tiêu là hai món ăn rất phổ biến.

Cá linh nấu lẩu chua

Vì cá linh rất mềm và mau chín, nên trước khi ăn mới trút nhẹ cá linh vào nồi. Vừa ăn, vừa nhúng hoa điên điển để giữ độ giòn và ngọt từ hoa.
Trước hết phải chọn cá linh tươi mang về móc ruột, làm sạch, để vào rổ thưa cho ráo nước, xong ướp với tỏi, ớt, đường, chút muối khoảng 10 phút.
Chặt một trái dừa tươi đổ vào nồi để nấu, dằn vài muỗng nước mắm ngon, đường, ít me dầm lấy nước chua rồi nêm nếm sao cho vừa ăn. Sau đó cho tỏi phi thơm, thêm ít tóp mỡ, rau ngò gai và nấu cho sôi riu lên. Cá linh rất mềm và mau chín, nên trước khi ăn mới trút nhẹ cá vào nồi. Vừa ăn, vừa nhúng hoa điên điển để giữ độ giòn và ngọt từ hoa.
Cái ngon độc đáo của món ăn này là nhờ vị chua chua, ngòn ngọt, thơm thơm kèm thêm hương vị từ hoa điên điển. Ăn kèm với món có thể là bún tươi hoặc cơm nóng, không thể thiếu một ít nước mắm ngon và ớt để chấm cá.

Cá linh kho tiêu

Trước khi kho, cho nước mắm vào nồi kho chung với cá, giữ lửa liu riu độ 15-20 phút để nồi cá sắc màu lại.
Cá linh làm sạch để ráo rồi nêm ít đường, muối, bột ngọt, tiêu, nước màu cho thấm khoảng 10 phút. Món cá kho tiêu này nên nêm nếm sao cho hợp khẩu vị của từng nhà, bởi có người thích kho thật mặn, nhưng lại cũng có người thích vừa mặn, vừa ngọt.
Sau đó cho cá vào một cái nồi đất, thêm ít nước lã. Nước mắm kho cá phải là nước mắm ngon. Trước khi kho, cho nước mắm vào nồi kho chung với cá, giữ lửa liu riu độ 15-20 phút để nồi cá sắc màu lại. Cho ít hành và ớt lên trên cho có mùi thơm và chút cay nhẹ.
Món này dùng với cơm nóng hay nguội đều ngon. Ăn kèm là bông súng, bắp chuối bào, hoa điên điển ngâm chua, rau muống ngâm chua ngọt, hoặc ăn với rau lang, rau trai luộc, đọt nhãn lồng... đều ngon.
Minh Thư (VnExpress)

27 tháng 10, 2012

Bỏ quy định Thủ tướng là Trưởng ban phòng chống tham nhũng


Theo dự thảo Luật phòng chống tham nhũng (sửa đổi) trình Quốc hội sáng nay, quy định Thủ tướng là Trưởng ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng đã được bỏ. Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Văn Hiện nhất trí với sửa đổi này.

Sáng 26/10, Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đã trình dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) trước Quốc hội. So với dự thảo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng trước, ngoài việc ít hơn 2 điều (108 so với 110), dự luật đã có nhiều chỉnh sửa.
Mô hình của Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng với 3 phương án sau khi xin ý kiến Thường vụ Quốc hội được Chính phủ thống nhất không đề cập đến trong luật. Quy định Thủ tướng là Trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trung ương đã được bỏ.
Trước đó, Hội nghị trung ương 5 (tháng 5/2012) đã thống nhất chủ trương thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng trung ương trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban Đảng, vừa là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trung ương.
Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh. Ảnh: Nguyễn Hưng
Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh. Ảnh: Nguyễn Hưng
Đại diện cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nhất trí với việc sửa đổi này và cho rằng: "Việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng bí thư làm Trưởng ban là để bảo đảm sự thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương đối với toàn bộ hệ thống chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng sẽ được quy định trong văn kiện của Đảng".
Về đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài tài sản, thu nhập, Chính phủ nêu 2 ý kiến. Ý kiến thứ nhất cho rằng, đối tượng kê khai gồm người có chức vụ, quyền hạn theo quy định hiện hành và bổ sung thêm những cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên; ý kiến thứ hai cho rằng, đối tượng kê khai cần quy định tất cả những người có chức vụ, quyền hạn theo khoản 3 Điều 1 của Luật hiện hành. Dự thảo Luật thể hiện theo ý kiến thứ nhất.
Theo Ủy ban Tư pháp, quy định của Luật phòng, chống tham nhũng hiện hành quan điểm kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng, tăng cường trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đối với tính hợp pháp về tài sản, thu nhập, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức hữu quan phát hiện hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, qua Báo cáo sơ kết 5 năm thi hành Luật phòng, chống tham nhũng cũng như qua kết quả giám sát, khảo sát của Ủy ban Tư pháp cho thấy, việc kê khai, minh bạch tài sản trên thực tế nhìn chung là hình thức, hiệu quả của việc phòng ngừa, ngăn chặn và phát hiện tham nhũng là rất thấp.
Cả hai phương án được cơ quan thẩm tra đánh giá chưa khắc phục hết các khó khăn, bất cập song đã mở rộng được phạm vi đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập và bổ sung một số quy định cụ thể về xác minh tài sản.

Đối với việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra hành vi tham nhũng, dù được quy định với 5 khoản trong một điều (điều 68) song, qua thẩm tra, Ủy ban Tư pháp cho rằng, việc thực hiện còn gặp lúng túng và ở một số nơi chưa thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là trong Luật chưa quy định rõ căn cứ, cơ sở xác định trách nhiệm. Ví dụ như khái niệm về người đứng đầu, khi có hành vi tham nhũng xảy ra ở một bộ, ngành thì người đứng đầu được xác định là Trưởng phòng, Vụ trưởng, Cục trưởng, Tổng cục trưởng hay Bộ trưởng...

Bên cạnh đó, ngay trong dự án Luật có những quy định còn chung, chưa rõ, có thể dẫn đến triệt tiêu hiệu quả của nhau, đó là “người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình trực tiếp quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” (khoản 1 Điều 68) và “thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng” (khoản 1 Điều 72).
"Trên thực tế, việc thực hiện các quy định này dường như là một nghịch lý. Thủ trưởng càng tăng cường kiểm tra, thanh tra để phát hiện được càng nhiều hành vi tham nhũng trong nội bộ thì người đó lại càng phải chịu trách nhiệm vì để xảy ra nhiều hành vi tham nhũng. Do đó, việc bao che, che giấu hành vi tham nhũng rất khó tránh khỏi", Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nhận xét.
Ngoài ra, dù bổ sung quy định quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng song quy định chung như trong dự luật chưa bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, dẫn tới sự chồng chéo, chức năng, nhiệm vụ giữa Thanh tra Chính phủ với Bộ Công an và Viện KSND tối cao. Ủy ban Tư pháp đề nghị cần quy định cụ thể phạm vi trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đối với công tác quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng.
Để khắc phục được các nhược điểm trong quá trình thực thi luật, Ủy ban Tư pháp đề nghị, các nội dung của dự án Luật sửa đổi lần này cần bám sát vào những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Luật cũng như trong Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, kiên quyết khắc phục tính hình thức, khẩu hiệu trong các quy định; bảo đảm các quy định phải toàn diện, cụ thể.
Về phạm vi sửa đổi, nhiều ý kiến đồng ý với Tờ trình của Chính phủ là cần sửa đổi toàn diện, nhưng cũng có ý nhiều kiến đề nghị chỉ tập trung sửa đổi một số điều thật sự bức xúc đang gây khó khăn, vướng mắc cho việc thi hành luật và thể chế hóa kịp thời Nghị quyết của Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11.
Dự luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) sẽ được thảo luận tại tổ và hội trường trước khi biểu quyết thông qua vào cuối kỳ họp.
Nguyễn Hưng (VnExpress)

Biến tấu với bánh canh


Bánh canh được chế biến thành rất nhiều món khác nhau tùy sự kết hợp nguyên liệu, chẳng hạn bánh canh giò heo, bánh canh cua, bánh canh cá lóc…

Bánh canh cá lóc hương vị đất cố đô

Bánh canh là món ăn phổ biến trong ẩm thực của người Việt, bên cạnh phở, bún bò...

Bánh canh tôm nước dừa

Món này là đặc sản của miền Tây Nam bộ, được nấu từ hai thành phần chính là tôm và nước cốt dừa.
Vị ngọt của tôm, nước cốt dừa mang đến hương vị rất lạ miệng khi thưởng thức. Ảnh: Khánh Hòa.
Vị ngọt của tôm, nước cốt dừa mang đến hương vị rất lạ miệng khi thưởng thức. Ảnh: Khánh Hòa.
Tôm tươi lột vỏ, bỏ chỉ đen và dùng dao đập dẹp. Bắt chảo dầu nóng, cho tôm vào cùng một ít gia vị, đảo đều đến khi tôm vừa chín. Khi chế biến món ăn này, người bán cho sợi bánh làm từ bột gạo vào đun sôi, cho tôm, nước cốt dừa vào và nêm gia vị vừa ăn.
Bát bánh canh đầy màu sắc với màu trắng của sợi bánh, màu trắng đục hơi sệt của nước dùng, màu hồng của tôm điểm xuyết sắc xanh của hành lá trông thật bắt mắt và hấp dẫn. Cái hay của món ăn là mặc dù được nấu chung với nước cốt dừa, có vị béo nhưng lại không gây cảm giác ngấy.

Bánh canh cua

Trong các loại bánh canh hải sản, bánh canh cua là món ăn phổ biến và được nhiều người ưa thích. Ai đã thưởng thức món ăn này sẽ không thể quên được hương vị thơm ngon, đậm đà của nước dùng.
Sợi bánh to, dai mềm hòa quyện với chả cua, tôm, nấm rơm cùng nước dùng sền sệt đặc trưng mùi vị của bánh canh cua. Bên cạnh đó là thịt cua đỏ, thơm ngọt.
Một số địa chỉ cho bạn tham khảo, quán bánh canh cua đường Trần Khắc Chân (quận 1), đường Võ Văn Tần (quận 3), đường Vĩnh Viễn (quận 10)...

Bánh canh ghẹ

Bánh canh ghẹ là biến thể từ bánh canh cua. Món ăn với ghẹ, chả tôm, tiết lợn, nấm cùng với nước lèo được nấu sánh và rất đậm đà. Ghẹ tươi luộc chín sẵn, khi có khách ăn, người bán sẽ cắt đôi con ghẹ và cho vào bát, thêm một lát chả tôm, miếng tiết lợn, nấm rơm cùng với bánh canh.
Những con ghẹ tươi ngon làm nên sự hấp dẫn cho món ăn. Ảnh: Khánh Hòa.
Những con ghẹ tươi ngon làm nên sự hấp dẫn cho món ăn. Ảnh: Khánh Hòa.
Bát bánh canh thơm ngon khi được chan với nước dùng nấu từ gạch của ghẹ, rất sánh, thơm và có vị ngọt thanh. Gia vị ăn kèm không thể thiếu món muối tiêu chanh. Cắn miếng càng ghẹ, chấm ít muối tiêu chanh để cảm nhận thịt ghẹ vừa ngọt vừa thơm trong miệng.
So với các loại bánh canh khác thì bánh canh ghẹ có giá khá cao, vào khoảng 50.000 đồng một bát. Tuy vậy các quán bánh canh ghẹ ở Sài Gòn ít khi nào vắng khách. Nếu muốn thưởng thức món ăn này, bạn có thể ghé đến quán ở Cầu Bông (quận Bình Thạnh) hay đường Lý Thường Kiệt (quận Tân Bình).

Bánh canh cá lóc

Món ăn của người miền Trung với nguyên liệu chính là sợi bánh canh làm từ bột gạo và cá lóc. Gạo ngâm đủ độ mới xay rồi cho vào cối giã thật nhuyễn, đến khi bột quyện chặt vào nhau, dai mà không dính tay mới là đạt. Sau đó, dàn bột vừa giã ra, cán mỏng, cắt thành từng sợi nhỏ và đem luộc cho vừa chín tới là được.
Đây là món ăn dân dã rất quen thuộc của người miền Trung. Ảnh: Khánh Hòa.
Bánh canh cá lóc là món rất quen thuộc của người miền Trung. Ảnh: Khánh Hòa.
Sợi bánh canh của món ăn này rất đặc biệt, không tròn như bánh canh miền Nam nhưng dai hơn. Cá lóc được làm sạch, luộc chín. Miếng cá được lóc hết xương, rim lên vàng ươm. Nước dùng ngoài vị ngọt của cá còn có vị thơm của xương ống, tuy nhiên lượng xương ống thường rất ít để tránh mất mùi vị của cá. Không phải ngẫu nhiên mà cá lóc trở thành nguyên liệu chính của món ăn giản dị nhưng đậm đà hương vị miền Trung. Thịt cá lóc có tính hàn, ăn vào có tác dụng mát gan, thanh nhiệt, rất tốt cho sức khỏe của người dân ở vùng đất quanh năm khô hạn và đầy nắng gió này.
Bánh canh cá lóc phải ăn khi còn nghi ngút khói mới đã. Khi ăn có thể cho thêm loại ớt bột thật cay của người miền Trung, một ít tiêu và nước mắm tùy theo khẩu vị của mỗi người. Bạn có thể thưởng thức món ăn này ở các quán trên đường Nguyên Hồng (quận Gò Vấp), đường Bắc Ái (quận Thủ Đức)...
Khánh Hòa (VnExpress)

Vai trò của khoa học-công nghệ trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long

(ĐCSVN) – Ngày 19/10, tại thành phố Sóc Trăng, Tạp chí Cộng sản, Tỉnh ủy Sóc Trăng và Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Vai trò của khoa học - công nghệ trong phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông thôn mới ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.


 Toàn cảnh Hội thảo

Dự và chỉ đạo Hội thảo có các đồng chí: PGS. TS Vũ Văn Phúc - Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Huỳnh Minh Đoàn - Phó Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ; Quách Việt Tùng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Tham dự Hội thảo còn có lãnh đạo các ban đảng, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và hơn 150 nhà quản lý, nhà khoa học và nhà nghiên cứu.

Theo Ban Tổ chức, Hội thảo đã nhận được 44 bài tham luận của các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà nghiên cứu… tập trung phân tích, làm rõ về vai trò khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông thôn mới ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Huỳnh Minh Đoàn - Phó Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ cho rằng: để giúp ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững, sớm thu hẹp khoảng cách phát triển so với những vùng, miền khác trong nước, kinh tế - xã hội phát triển cao hơn trong những năm tới, Kết luận số 28 của Bộ Chính trị đã xác định: triển khai nghiên cứu và ứng dụng khoa học-công nghệ (KH-CN) tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên diện tích nuôi trồng thủy sản và canh tác nông nghiệp lên 1,2 đến 1,5 lần so với năm 2010” để “xây dựng ĐBSCL trở thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại, phát triển công nghiệp chế biến với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững”. Đó là mục tiêu, giải pháp đòi hỏi KH-CN phải tham gia với một vị thế then chốt, là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế và lực lượng sản xuất, tạo tăng trưởng kinh tế đi vào chiều sâu, hiệu quả trực tiếp là tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo nên giá trị gia tăng; thực hiện quyết liệt triển khai ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn.
Báo cáo Đề dẫn Hội thảo, PGS, TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản khẳng định: những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng KH-CN hiện đại đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, làm thay đổi và chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia. Đồng chí nhấn mạnh: với tinh thần góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân tạo ra một động lực mới cho sự phát triển KH-CN nước nhà phục vụ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước nói chung, phục vụ sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL nói riêng, Hội thảo sẽ tập trung trao đổi, thảo luận một số vấn đề: Thứ nhất, xuất phát từ cơ sở lý luận, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn hoạt động KH-CN ở ĐBSCL thời gian qua, nêu bật,khẳng định những thành tựu và đóng góp của KH-CN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống người dân, nhất là nông dân vùng ĐBSCL. Thứ hai, nhận diện, phân tích làm rõ những hạn chế, yếu kém trong hoạt động KH-CN ở ĐBSCL thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém. Tập trung trao đổi và thảo luận để giải những “nút thắt” đang được quan tâm, như: những bất cập về cơ chế, chính sách trong đầu tư phát triển KH-CN; yếu kém về nguồn nhân lực; hạn chế trong chế độ, chính sách trọng dụng, đãi ngộ nhân tài; hoạt động nghiên cứu, ứng dụng chưa gắn kết với tính đặc thù về văn hóa-xã hội của vùng ĐBSCL; thiếu tính liên kết vùng, liên kết 4 nhà, liên kết đa ngành, hợp tác quốc tế trong định hướng nghiên cứu, trong đầu tư, triển khai các chương trình KH-CN. Thứ ba, đề xuất và kiến nghị với Đảng, Nhà nước và lãnh đạo các tỉnh, thành phố một số giải pháp cơ bản để tạo nền tảng và sức bật mới cho KH-CN ở ĐBSCL phát triển mạnh mẽ, đúng hướng, phục vụ thiết thực cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn thời gian tới. Thứ tư, làm rõ tính lý luận, thực tiễn để thực hiện có hiệu quả tinh thần Hội nghị Trung ương 6 khóa XI “…phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển đất nước. Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của của tất cả các ngành, các cấp, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng có vai trò quyết định, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của các nhà khoa học là điều kiện tiên quyết”.
Trong phần trao đổi, thảo luận: PGS,TS Phương Ngọc Thạch, Chủ tịch Hội khoa học kinh tế và quản lý thành phố Hồ Chí Minh; PGS, TS Nguyễn Duy Cần-Trưởng khoa Phát triển nông thôn-Trường Đại học Cần Thơ;Ths Trần Hữu Hiệp-Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ… cho rằng: KH-CN có vai trò hết sức quan trọng trong liên kết vùng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực và xây dựng nông thôn mới ở vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, trong những năm qua một thực tế cho thấy, lợi ích từ các chương trình liên quan ứng dụng KH-CN trong nông nghiệp đều mang lại hiệu quả rất rõ nét, thế nhưng khi triển khai thực hiện không ít hộ nông dân ở đây vẫn tỏ ra băn khoăn, lưỡng lự. Đáng chú ý, trong lúc nông nghiệp các nước trong khu vực và trên thế giới đã tiếp cận, ứng dụng và sử dụng thành thạo KH-CN hiện đại vào sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có hàm lượng lao động trí tuệ cao, thì nông dân nước ta nói chung, ĐBSCL nói riêng vẫn chưa đạt được ngưỡng chuẩn ở trình độ trung bình của khu vực.
Cùng quan điểm với những tham luận của nhà nghiên cứu, nhà khoa học và nhà quản lý khác tại Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Minh Châu-Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam; TS Lê Văn Bảnh-Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL đã đưa ra một số giải pháp nhằm tạo ra sự đột phá có tính khả thi đối với sự phát triển nhanh, bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn ở ĐBSCL trong thời gian tới: cần nâng cao giá trị gia tăng thông qua các mô hình sản xuất chuyên canh, liên kết doanh nghiệp với nông dân từ đầu vào đến đầu ra, đảm bảo quy trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ thống nhất; đẩy mạnh hợp tác công tư trong nông nghiệp, nối kết chuỗi giá trị trong nước với chuỗi giá trị toàn cầu; liên kết hiệp hội ngành hàng; tăng đầu tư cho bảo quản, chế biến... Bởi vậy, nhất thiết phải có sự đột phá trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để giảm giá thành sản phẩm, tăng năng suất; giảm chi phí giao dịch trong chuỗi giá trị nông sản (hệ thống nhà kho, kho chứa, hệ thống, phương tiện vận chuyện, đường sá... ), tăng chất lượng sản phẩm đầu ra như thương hiệu, hệ thống phân phối. Theo PGS, TS Nguyễn Văn Trình- Phó Hiệu trưởng Trường Đại học kinh tế luật-Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; TS Hoàng Bắc Quốc-Viện lúa ĐBSCL cho rằng: muốn đẩy nhanh và đạt được tỷ lệ cơ giới hóa cao trong sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL cũng cần phải tiến hành quy hoạch cho toàn vùng, phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế hoàn chỉnh và áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp. Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL phát triển góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới trong vùng và ngược lại, quá trình xây dựng nông thôn mới càng nhanh cũng góp phần thúc đẩy quá trình cơ giới hóa ở ĐBSCL. Để làm đạt được điều đó, cần có sự tích cực hơn nữa của vai trò công tác khuyến nông; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để ngành nông nghiệp có một nguồn nhân lực đủ mạnh.
Phát biểu kết luận Hội thảo, PGS, TS Vũ Văn Phúc đánh giá cao tinh thần tích cực, khẩn trương và trách nhiệm cao của các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà nghiên cứu vì đã tập trung làm rõ mục đích, yêu cầu của Hội thảo đặt ra. Đồng chí nhấn mạnh: với những kết quả đạt được tại Hội thảo này, chúng ta sẽ đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước một số giải pháp hữu ích để tạo nền tảng và sức bật mới cho KH-CN ở ĐBSCL phát triển mạnh mẽ, đúng hướng, phục vụ thiết thực cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”./.
Đức Thuận

26 tháng 10, 2012

“Phổ cập” cử nhân?




Lời nói thêm người cập nhật Blog: Bài viết cho rằng "Quyết định đó thể hiện quan điểm duy ý chí, thiếu tính khoa học khi lấy số lượng bù chất lượng. Trong khi nền giáo dục đang khủng hoảng về chất lượng, giáo dục ĐH xuống cấp nghiêm trọng, tại sao Bộ GD-ĐT lại tiếp tục “phổ cập” cử nhân? Bộ GD-ĐT có lẽ đã quên chúng ta còn có những chính sách khác dành cho các vùng kinh tế - xã hội khó khăn như đào tạo theo địa chỉ, cử tuyển, chính sách dành cho 62 huyện nghèo". Ý kiến này cũng rất đáng được cân nhắc, chọn lựa thiệt hơn trong việc giải quyết mâu thuẫn lượng -chất nguồn nhân lực ĐBSCL. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, người có thẩm quyền, khi đưa ra quyết định, có  thể chưa phải là tốt nhất, nhưng nếu nó tốt hơn tất cả những cái có thể làm được thì ... cũng nên. Cách giải quyết của Bộ GDĐT có thể chưa "ngon lắm", như làm cập rập, chưa thật "bài bản, căn cơ", nặng tính đối phó tình hình ... nhưng "cũng được" đó chứ. Cũng xin cung cấp thêm thông tin là, ĐBSCL có 106 huyện, nhưng không có huyện nào được hưởng chính sách ưu đãi theo "62 huyện nghèo" như bài viết nêu, việc cử tuyển với điều kiện hết sức hạn hẹp như chỉ dành cho người dân tộc ít người, đặc biệt khó khăn ... mất chục năm nay đã có, nhưng "vùng trũng" vẫn chậm, nếu không tiếp sức thì tụt hậu sẽ xa hơn. Đứng để đến lúc người đồng bằng bỏ trồng lúa, trái cây, nghỉ nuôi thủy sản ... lúc đó ta mới giựt mình, hết ăn gạo, trái cây, tôm cá rồi, những người "học giỏi" phải lo nhập thôi ! 
Nông dân ĐBSCL

Cách đây không lâu, Ban Chỉ đạo (BCĐ) Tây Nam Bộ có công văn gửi Bộ GD-ĐT đề nghị cho tiếp tục vận dụng điểm c, điều 33 của quy chế tuyển sinh ĐH-CĐ được ban hành năm 2010, áp dụng mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa 2 khu vực kế tiếp là 0,5 lên 1 điểm đối với thí sinh có hộ khẩu thường trú tại khu vực Tây Nam Bộ như những năm vừa qua.

 Đề nghị này, theo BCĐ Tây Nam Bộ, xuất phát từ khu vực này có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực.
Điểm c, điều 33 quy chế tuyển sinh ĐH-CĐ vốn được xem là “phao cứu sinh” cho các trường đứng trước nguy cơ đóng cửa nhiều ngành do không tuyển đủ chỉ tiêu. Bộ GD-ĐT đã nhận ra kẽ hở này nên sau đó ban hành Thông tư số 09/2012/TT-BGD ĐT ngày 5-3-2012, bỏ điểm c, điều 33 để nâng cao chất lượng đầu vào.
Đề xuất của BCĐ Tây Nam Bộ nêu trên được dư luận bình luận rằng nếu Bộ GD-ĐT chấp nhận cũng tức là tự đạp lên chân mình. Vậy mà Bộ GD-ĐT đã chấp nhận! Theo đó, các trường ĐH-CĐ có trụ sở chính đặt tại Tây Nam Bộ, Tây Bắc, Tây Nguyên được xét tuyển bổ sung đối với thí sinh có hộ khẩu thường trú từ 3 năm trở lên tại các tỉnh, TP thuộc 3 khu vực này, có kết quả điểm thi ĐH-CĐ hệ chính quy năm 2012 (đã cộng điểm ưu tiên đối tượng và khu vực) dưới điểm sàn ĐH-CĐ không quá 1. Các thí sinh được xét tuyển thuộc diện này phải học bổ sung kiến thức 1 học kỳ.
Cần chú ý, đề xuất trên của BCĐ Tây Nam Bộ trong lúc các trường ĐH dân lập trên địa bàn này chỉ mới tuyển chưa đầy 50% chỉ tiêu, nhiều ngành học có thể phải đóng cửa. Cho nên, đề xuất này cũng là chiếc “phao cứu sinh” cho các trường ĐH dân lập! Còn Bộ GD-ĐT chấp nhận đề xuất đó cũng có nghĩa là chấp nhận hạ thấp chuẩn đầu vào, tự mâu thuẫn với mình!
Trả lời báo chí về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho rằng việc chấp thuận đề xuất của BCĐ Tây Nam Bộ không có nghĩa là chỉ giúp các trường tuyển đủ chỉ tiêu mà còn giúp các địa phương vùng kinh tế khó khăn nâng cao trình độ lao động. Theo Thứ trưởng Bùi Văn Ga, trong Quyết định 1033 của Thủ tướng Chính phủ về vùng Tây Nam Bộ, đến năm 2015, số lượng sinh viên/10.000 dân là 190 nhưng hiện chỉ mới ở mức 110-120.
Quyết định đó thể hiện quan điểm duy ý chí, thiếu tính khoa học khi lấy số lượng bù chất lượng. Trong khi nền giáo dục đang khủng hoảng về chất lượng, giáo dục ĐH xuống cấp nghiêm trọng, tại sao Bộ GD-ĐT lại tiếp tục “phổ cập” cử nhân? Bộ GD-ĐT có lẽ đã quên chúng ta còn có những chính sách khác dành cho các vùng kinh tế - xã hội khó khăn như đào tạo theo địa chỉ, cử tuyển, chính sách dành cho 62 huyện nghèo.
Cuộc đua theo số lượng này sẽ tiếp tục đẩy chất lượng giáo dục về đến giới hạn nào?
Lưu Nhi Dũ

24 tháng 10, 2012

Việt Nam nhiều tiến sĩ nhất ASEAN, nhưng lại ít chất xám


SGTT.VN - Thiếu một quy chế dân chủ, đó là lý do chúng ta thiếu sự sáng tạo trong khoa học. Chúng ta luôn nói khoa học công nghệ (KHCN) là quốc sách nhưng dường như không bao giờ quan tâm đến quốc sách!
Những con số thống kê đáng xấu hổ
Việt Nam sẽ đào tạo bổ sung ít nhất 20.000 tiến sĩ từ nay đến năm 2010. Tổng kinh phí thực hiện đề án dự kiến là 14.000 tỉ đồng.
“Tình hình khoa học, giáo dục nước nhà rất cấp bách”, đó là chia sẻ của phó tổng thư ký liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) Phạm Bích San tại buổi đóng góp ý kiến cho luật KHCN sửa đổi ngày 18.10 tại Hà Nội. Đã không có một trường đại học Việt Nam nào được đứng trong bảng xếp hạng 500 trường đại học đứng đầu thế giới. Số lượng các bài báo công bố quốc tế của cả nước 90 triệu dân trong một năm chỉ bằng khoảng số lượng của một đại học Thái Lan. Vậy mà số giáo sư, tiến sĩ chúng ta nhiều nhất Đông Nam Á. “Chúng ta gần như không có ai có nghiệp khoa học, tức là những người lao động quên mình trong khoa học và được ghi nhận bằng các giải thưởng khoa học quốc tế tầm cỡ”, TS San nhấn mạnh.
Đồng quan điểm này, PGS.TS Hồ Uy Liêm (nguyên phó chủ tịch VUSTA) cho hay ngay các công trình chuẩn khoa học của nước nhà cũng rất ít. Chúng ta chỉ ngồi nhà khen nhau, bệnh thành tích lan tràn. Trong khi bắt tay vào làm thì lại có nhiều lý do để “sợ” đủ thứ. Đại diện VUSTA khẳng định, Việt Nam chưa bao giờ thống kê được có bao nhiêu đề tài khoa học được nghiên cứu, bao nhiêu phần trăm đề tài đó được ứng dụng trong cuộc sống. Người làm đề tài ít để ý cái mình làm có bị trùng hay không. Thậm chí, người đi sau làm trùng đề tài lại được đánh giá tốt hơn…
Đem tới buổi thảo luận câu chuyện về thực trạng tổ chức KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp, GS.VS Trần Đình Long (chủ tịch hội Giống cây trồng Việt Nam) cho biết, tính riêng khối nông nghiệp thì viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam có tới 18 viện trực thuộc. Ở khối thuỷ lợi, có tám viện, 38 trường, 18 hiệp hội và 19 hội chuyên ngành. Vì các tổ chức cồng kềnh, chồng chéo và nhiều tổ chức trung gian; các bên không kết hợp được nghiên cứu với đào tạo và chuyển giao công nghệ, cơ chế tự chủ bị phớt lờ, không tạo được sản phẩm quốc gia.
Trả lại cho thị trường
TS San đề xuất: khoán gọn và trả tiền theo kết quả được đánh giá bởi các nghiệm thu nghiêm túc. Hiệu quả công việc phải đo bằng kết quả. Còn đánh giá công nghệ thì phải để cho đăng ký bằng phát minh và thị trường làm việc. Công nghệ mà không bán được thì công nghệ đó có để làm gì? Chẳng lẽ cứ để cho những người nông dân trình độ sơ khai cứ phải phát minh mãi?
Phải đưa các viện nghiên cứu cơ bản về lại các trường đại học, các phòng thí nghiệm hay viện công nghệ về doanh nghiệp hoặc thành lập các doanh nghiệp khoa học vận hành theo cơ chế thị trường. Việc tách rời nghiên cứu và đào tạo như hiện nay sẽ khiến các viện thiếu sự tiếp xúc với sinh viên, nguồn cảm hứng và nguồn nhân lực có chất lượng cho nghiên cứu tương lai.
Đồng quan điểm này, TS Đào Trọng Hưng (chuyên viên cao cấp viện KHCN Việt Nam) cho rằng, khi có sự can thiệp của yếu tố thị trường sẽ hạn chế chuyện “xin – cho”, Nhà nước – doanh nghiệp – cá nhân khi đó đều phải “đặt hàng” nếu muốn có các nghiên cứu khoa học. Khi đó nguồn “nuôi” khoa học sẽ không hoàn toàn lấy từ ngân sách mà sẽ được thu hút từ bên ngoài như các doanh nghiệp, các tổ chức và nguồn vốn nước ngoài.
THANH TUYỀN