26 tháng 12, 2015

Nông thôn mới ở ĐBSCL: DIỆN MẠO MỚI, NHƯNG ĐÍCH ĐẾN CÒN PHÍA TRƯỚC

Trần Hữu Hiệp
Điều kiện khó khăn, kinh tế vùng chủ yếu là nông nghiệp, địa bàn nông thôn rộng khắp, lực lượng nông dân đông đảo, nguồn lực trong dân hạn chế, hỗ trợ từ ngân sách hạn hẹp; sản xuất nông nghiệp bấp bênh, hiệu quả thấp, doanh nghiệp nông thôn nhỏ bé, kết nối cung - cầu nông sản bất cập… Đó là những "điểm nghẽn" của hầu hết các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long khi bắt tay xây dựng nông thôn mới (NTM).
Giải quyết các vấn đề trên phải trả lời câu hỏi đầu tiên, tiền đâu? Nguồn lực vật chất nào bên cạnh động lực tinh thần xây dựng NTM? Làm gì để khơi thông dòng vốn cho nông thôn, phát huy sức dân? Đó là những câu hỏi lớn không dễ có lời giải. Nhưng bài học từ thực tiễn cho thấy sự năng động, sáng tạo, vượt khó, huy động sức dân và nhiều kinh nghiệm quý trong của vùng này cần được tiếp tục phát huy sau 5 năm - chặng đường đầu tiên của công cuộc xây dựng NTM.
Diện mạo mới
Sau 5 năm xây dựng NTM, ĐBSCL đã xuất hiện nhiều "điểm sáng" đáng ghi nhận, bước đầu tạo ra một diện mạo mới. Kết quả chung cho thấy, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng trong thực tế đã xuất hiện nhiều cách làm mới sáng tạo, mô hình hay trong tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp và cả hệ thống chính trị "chung tay xây dựng nông thôn mới". ĐBSCL đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung (lúa gạo, thủy sản và cây ăn quả). Nhiều mô hình mới như "Cánh đồng lớn" nhanh chóng trở thành hình mẫu của cả nước. Bên cạnh "cánh đồng lớn" là nhiều hình thức hợp tác kiểu mới, các câu lạc bộ sản xuất theo ngành hàng như mía, thủy sản, trái cây. Nhiều mô hình hay trong nông nghiệp của vùng đã góp phần quan trọng nâng cao thu nhập một bộ phận dân cư nông thôn. Qua các phong trào xây dựng nông thôn mới, hệ thống chính trị của các tỉnh, thành không ngừng được củng cố, nhất là ở cơ sở, đội ngũ cán bộ, công chức các xã được chuẩn hóa; chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở được nâng lên; các tổ chức chính trị xã hội tiếp tục được củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động.
  

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm một HTX áp dụng GlobalGAP ở Đồng Tháp. Ảnh: HỮU HIỆP

Kết quả chung, ước đến cuối năm 2015, toàn vùng có 236/1.260 xã đạt tiêu chí nông thôn mới, chiếm 18,7% tổng số xã, cao hơn bình quân chung cả nước (ước khoảng 17%). ĐBSCL đã có 1 đơn vị cấp huyện đạt NTM là thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, dự kiến đến cuối năm 2015, có 4 huyện đạt NTM. Ngoài ra, toàn vùng còn có 203 xã đạt từ 15 đến 18/19 tiêu chí, chiếm 16,11%; 598 xã đạt từ 10 đến 14 tiêu chí, chiếm 47,46%; 222 xã đạt từ 05 đến 09 tiêu chí, chiếm 17,62% ...
Nhiều địa phương đã thực hiện lồng ghép nội dung xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; quan tâm đẩy mạnh nghiên cứu, thực hiện thí điểm nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp, có kế hoạch đào tạo, thu hút nguồn nhân lực, phát triển các mô hình kinh tế tập thể, xúc tiến đầu tư và thương mại, gắn kết kinh tế nông thôn với đô thị; tận dụng tối đa lợi thế của vùng, địa phương, phát huy nội lực để xây dựng nhiều mô hình canh tác hiệu quả và khơi thông đầu ra cho nông sản.
Cùng với nông nghiệp, lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ cũng được tập trung chỉ đạo, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Bên cạnh phát triển sản xuất, các xã NTM còn tập trung làm tốt công tác dạy nghề, tạo việc làm, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, nâng cao thu nhập cho người lao động; biến địa bàn nông thôn thành "hệ đệm" cho các đô thị.
Đích đến vẫn đang ở phía trước
Đích đến của NTM vẫn còn đang ở phía trước. Hạ tầng giao thông, thương mại, thủy lợi tuy được quan tâm đầu tư, bước đầu tạo ra diện mạo mới, nhưng còn khoảng cách xa trước yêu cầu phát triển sản xuất qui mô lớn. Phần lớn đường giao thông nông thôn trên địa bàn vùng mới phục vụ cho đi lại, chưa đáp ứng tốt vận chuyển hàng hóa, nông sản và nhu cầu giao thông kinh tế; hệ thống thủy lợi chưa kết nối tốt cho vùng nguyên liệu sản xuất lớn, thủy lợi đa mục tiêu; hệ thống chợ nông thôn còn tạm bợ, chưa thật sự trở thành kênh phân phối 2 chiều và cầu nối cho nông thôn và đô thị. Đó là những cản trở khó thu hút nhiều doanh nghiệp vào địa bàn nông thôn tạo ra "cốt vật chất", tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Trong thời gian tới, xây dựng NTM vùng ĐBSCL cần tiếp tục tập trung giải quyết những khó khăn từ "điểm nghẽn" về vốn, phát huy nội lực, nhất là đầu tư phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng và chăm lo an sinh xã hội. Xây dựng NTM là "cuộc cách mạng ở nông thôn". Việc đạt tiêu chí là yêu cầu bắt buộc để được công nhận theo "chuẩn quốc gia". Nhưng trên hết vẫn là đời sống của người dân, môi trường nông thôn văn minh, đáng sống và phát triển bền vững.

NTM thực sự là một môi trường đáng sống phải được đo lường bằng sự hài lòng của người dân hơn là những tiêu chí mang tính kỹ thuật. Yêu cầu đó, phụ thuộc vào kết quả sáng tạo của quá trình lãnh đạo "cuộc cách mạng ở nông thôn", vận động quần chúng, phát huy vai trò làm chủ của người dân. Năm 2020 khi Việt Nam "cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển" cũng chưa phải là cái đích cuối cùng trong xây dựng NTM.

18 tháng 12, 2015

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐE DỌA ĐBSC - Phóng sự của VTC16

Đường vào Mỹ của cá tra sau năm 2017

Trung Chánh
(TBKTSG) - Đạo luật Nông trại (Farm Bill) của Mỹ sẽ đưa đến những thay đổi gì và thách thức nào đối với ngành cá tra Việt Nam sau năm 2017? TBKTSG trao đổi với các chuyên gia, doanh nghiệp: ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP); ông Võ Hùng Dũng, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Cá tra Việt Nam (VN Pangasius) và ông Nguyễn Văn Đạo, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Gò Đàng.
TBKTSG: Đạo luật Nông trại của Mỹ (thiết lập quy trình giám sát chặt chẽ từ khâu sản xuất đến chế biến đối với các loài cá da trơn nhập khẩu theo tiêu chuẩn tương đương với tiêu chuẩn mà Mỹ đang áp dụng, trong đó có cá tra và cá ba sa của Việt Nam) đã được phía Mỹ ban hành từ tháng 2-2014. Từ đó đến nay, vì sao chúng ta không chủ động chuẩn bị để đáp ứng tiêu chuẩn của Mỹ mà đợi đến khi Mỹ đưa ra mốc thời gian thực thi cuối cùng là vào năm 2017 thì lại than khó khăn?
Ông Trương Đình Hòe.
- Ông Trương Đình Hòe: Theo quan điểm của tôi, cá tra Việt Nam sản xuất để bán đi quốc tế và mình đã đạt các tiêu chuẩn liên quan mà quốc tế đã quy định rồi, chẳng hạn như vấn đề kiểm soát chất lượng sản phẩm, quản lý vùng nuôi... Mình tuân thủ và theo các chuẩn mực quốc tế quy định, chứ đâu phải do mình tự đặt ra được, nghĩa là nước nhập khẩu yêu cầu tiêu chuẩn nào, thì mình - người sản xuất và xuất khẩu - mới đáp ứng đúng như vậy.
Bây giờ, với Luật Nông trại của Mỹ, đúng là nó đã được đề cập từ rất lâu, nhưng họ chưa đưa ra tiêu chuẩn hay những quy định cụ thể, thì sao chuẩn bị ngay từ đầu được? Dù quy định mới là gì thì họ cũng phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực của quốc tế, chứ đâu thể muốn đặt ra cái gì là đặt.
Còn vấn đề của Việt Nam, không thể nói 18 tháng (18 tháng chuyển tiếp kể từ khi quy định mới có hiệu lực là tháng 3-2016 - PV) là đủ hay thiếu, dài hay ngắn. Biết đâu ngày mai mình đạt được luôn thì sao, bởi Việt Nam đã áp dụng những chuẩn mực quốc tế từ lâu và đã xuất khẩu ra cả trăm thị trường chứ không chỉ riêng thị trường Mỹ.
Quy định trong Luật Nông trại là của Mỹ và áp dụng ở Mỹ, nhưng trong đó có một phần liên quan đến Việt Nam là bắt buộc chúng ta phải chứng minh hệ thống sản xuất và xuất khẩu phải tương đương hệ thống của Mỹ. Nếu chỉ xét về yếu tố kỹ thuật, mình có thể đáp ứng được, nhưng về mặt bảo hộ, nếu Mỹ không muốn cá tra vào, họ nói không tương đương thì mình cũng phải chịu thôi.
Mặt khác, trước đây Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) chỉ kiểm tra ở nhà máy thôi, còn bây giờ chuyển sang Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), thì áp dụng cả chuỗi sản xuất. Như vậy, đây không phải là câu chuyện của một mình doanh nghiệp chế biến nữa.
Ông Nguyễn Văn Đạo.
- Ông Nguyễn Văn Đạo: Trước đây, phía Mỹ chỉ mới có ý định giám sát như thông tin mới được công bố đây thôi, chứ chưa triển khai, cho nên doanh nghiệp đâu biết Mỹ đặt ra những tiêu chuẩn hay quy định gì và do lúc đó mình đang đấu tranh, thậm chí bây giờ cũng phải tiếp tục đấu tranh nên đâu thể chuẩn bị ngay từ đầu được.
TBKTSG: Luật Nông trại đặt ra quy định gì cho doanh nghiệp và liệu phía Việt Nam có đáp ứng được với quy định như vậy hay không?
- Ông Võ Hùng Dũng: Bây giờ còn quá sớm để nói về Luật Nông trại, nhưng theo công bố của USDA thì sẽ thực hiện từ tháng 3-2016 và có thời gian chuyển tiếp là 18 tháng. Hai vấn đề chính của luật này là: thứ nhất, USDA sẽ kiểm tra 100% sản phẩm, chứ không như FDA trước đây là 1%; thứ hai nữa là sẽ áp dụng kỹ thuật sản xuất tương đương mà USDA ban hành để nhà sản xuất trong nước áp dụng và nhà sản xuất ở nước ngoài bán vào Mỹ cũng phải đạt như vậy.
Ông Võ Hùng Dũng.
Theo tôi, Luật Nông trại là một vấn đề rất khó đối với ngành cá Việt Nam vì, thứ nhất, giữa nền sản xuất của Mỹ và Việt Nam có sự khác biệt; thứ hai, nếu đây là nhằm cản trở nhập khẩu cá tra vào Mỹ, thì cho dù kỹ thuật, tiêu chuẩn chúng ta tốt, hệ thống có tương đương với Mỹ đi nữa, nhưng họ đánh giá, nói không tương đương thì cũng không làm gì được.
- Ông Trương Đình Hòe: Hôm 8-12 vừa qua, chúng tôi tổ chức một hội thảo với sự trình bày của ông John Connelly, Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản Mỹ, về một số vấn đề liên quan đến nội dung của luật này. Đối tượng tham dự là các doanh nghiệp, cho nên cơ bản doanh nghiệp đã nắm được rồi.
Còn chuyện có đáp ứng được không, tôi nghĩ người ta làm được thì mình sẽ làm được, nhưng vấn đề là nó sẽ tốn bao nhiêu tiền thôi. Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng do đây là chuyện mới nên doanh nghiệp chưa quen, có thể “lớ ngớ” một chút trong thời gian đầu nhưng rồi sẽ quen thôi.
- Ông Nguyễn Văn Đạo: Từ xưa đến nay, Mỹ đang “tròng” mình vô cái luật chống bán phá giá dưới sự giám sát của FDA để họ bảo hộ sản xuất trong nước. Nhưng, hiện nay họ “tròng” mình vào thêm một bộ luật nữa do USDA giám sát là Luật Nông trại. Luật này bắt buộc hệ thống từ sản xuất đến xuất khẩu của mình phải tương đương hệ thống của Mỹ nhưng cụ thể điều kiện nào tương đương với Mỹ thì họ chưa triển khai, mình chưa biết. Tuy nhiên, phải thừa nhận là để điều kiện về nuôi trồng, chế biến của Việt Nam tương đương với Mỹ thì rất... khó.
Còn chuyện thực hiện, nói chung về mặt nguyên tắc người ta yêu cầu thì bắt buộc mình phải làm và hy vọng lần này mình cũng sẽ vượt qua được. Từ xưa đến nay, thị trường nào cũng có rào cản nhưng mình đều vượt qua hết. Vấn đề là cần phải có thời gian.
TBKTSG: Vậy Việt Nam cần làm gì để ứng phó với luật mới này của Mỹ?
- Ông Võ Hùng Dũng: Đương nhiên chúng ta phải phản đối thôi, từ cấp Chính phủ, mà cụ thể là Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao nên có thư để phản đối với phía Mỹ rằng làm như vậy là vi phạm cam kết WTO, ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế của người dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thậm chí trong phản đối có thể tính đến chuyện kiện Mỹ. Chúng ta cũng nên có cách thức dựng rào cản đối với Mỹ trong việc nhập khẩu nguyên liệu trong ngành chăn nuôi và ngay cả thịt bò, bởi vì trong thương mại, chuyện trả đũa là bình thường. Anh áp cái việc gì đó với chúng tôi thì chúng tôi cũng có biện pháp ngăn sản phẩm của anh, đó là cái hướng chúng ta nên nghĩ đến.
Ngoài ra, chúng ta cũng phải tính đến việc nâng cấp sản xuất trong nước, việc này không phải chỉ đối phó với Luật Nông trại mà thật sự nền sản xuất chúng ta cũng có vấn đề, chúng ta kêu ca rất nhiều từ chuyện mạ băng, hàm ẩm đến chuyện vệ sinh môi trường. Bên cạnh đó, chúng ta phải có thảo luận sâu hơn với phía Mỹ về các tiêu chuẩn họ đặt ra trong luật Nông trại. Ví dụ, với việc họ ban hành tiêu chuẩn đó, thì Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ thảo luận tiêu chuẩn đó như thế nào và lộ trình thực hiện ra làm sao để giảm bớt khó khăn cho ngành cá tra.
TBKTSG: Chúng ta cũng không loại trừ một kịch bản xấu có thể xảy ra, tức là xuất khẩu sang Mỹ sụt giảm, thậm chí không vào được thị trường Mỹ sau năm 2017. Ứng phó với tình huống này như thế nào?
- Ông Nguyễn Văn Đạo: Chắc chắn là trong thời gian đầu, khi Mỹ áp dụng luật này, mình sẽ bị “bầm dập”, sẽ bị “khựng” lại ở thị trường Mỹ vì điều kiện giữa hai nước có một khoảng cách lớn. Nhưng về nguyên tắc, thị trường khác sẽ bổ sung.
Tuy nhiên, nên nhớ rằng, từ xưa đến nay, cá tra Việt Nam đi châu Âu và Mỹ là chủ lực và mỗi thị trường chiếm khoảng 20% tỷ trọng toàn ngành. Đối với Mỹ, xưa giờ họ dựng rào cản đối với Việt Nam bằng thuế chống bán phá giá nên ta đã gặp khó rồi. Còn với châu Âu, do kinh tế trì trệ, đồng euro mất giá nên trong năm 2015, việc xuất khẩu sang thị trường này cũng giảm. Xuất khẩu cá tra đã xoay sang thị trường Trung Quốc dù chịu rất nhiều rủi ro trong thanh toán.
Với tình hình bất lợi tại hai thị trường lớn, chắc chắn Trung Quốc sẽ có “bài” mới để chèn ép ta thôi, có điều chưa biết đó là “bài” gì. Nói chung là tình hình chung sắp tới sẽ tiếp tục khó khăn.
- Ông Trương Đình Hòe: Nếu nói như vậy thì đợi 18 tháng tới (hết 18 tháng chuyển tiếp - NV) tập trung xuất sang thị trường Trung Quốc đi, chứ cần gì lo chuyện đáp ứng thị trường Mỹ nữa.
Mình còn thời gian chứ không phải ngày mai Mỹ thực hiện luật mới liền mà nói chuyện đi chuyển hướng thị trường. Chiến lược thị trường là chiến lược thường xuyên của doanh nghiệp chứ đâu phải khi “kẹt” chỗ này mới chuyển hướng thị trường ra chỗ khác. Thông thường, theo chiến lược thị trường thì doanh nghiệp thấy thị trường nào đó tốt thì họ sẽ đưa hàng qua.
TBKTSG: Vậy bài toán cho doanh nghiệp cá tra trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào sân chơi chung là phải thay đổi và sẵn sàng thay đổi để ứng phó với những biến động liên tục của thị trường?
- Ông Trương Đình Hòe: Quá trình vận động phải là quá trình liên tục cập nhật cái mới, chứ không chỉ riêng chuyện của Mỹ. Ví dụ, châu Âu cứ một thời gian lại ra quy định này, quy định kia, đương nhiên anh muốn bán cho người ta, thì anh phải hiểu biết luật chơi để đáp ứng.
Cái quyền lớn nhất của doanh nghiệp là quyền “nói không”, nhưng đó là khi anh không muốn bán nữa, chứ nếu còn nhắm tới một thị trường nào đấy thì phải đáp ứng những quy tắc của thị trường đó. Tự thân doanh nghiệp phải tìm hiểu để đáp ứng đòi hỏi của thị trường chứ đâu ai có thể cầm tay chỉ việc phải làm thế này thế kia được.
Ở góc độ hiệp hội, mình chỉ tập hợp ý kiến của doanh nghiệp, trên cơ sở đó xem họ cần cái gì thì kiến nghị chính sách. Cho nên, cũng đừng nói rằng doanh nghiệp phải thay đổi thích ứng gì cả, mà khi anh ra kinh doanh thì anh phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng, của thị trường, nếu không sẽ không tồn tại được.
Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ:
Chấp nhận cuộc chơi, đẩy mạnh tái cấu trúc ngành
Đạo luật Nông trại đã được ban hành từ tháng 2-2014. Đến nay, các doanh nghiệp, hiệp hội cùng các cơ quan chức năng liên quan của chúng ta đã chủ động ứng phó thế nào mà để đến nay lại nói lo mất thị trường Mỹ vốn chiếm khoảng 20% thị phần xuất khẩu cá tra?
Theo sau Mỹ, cũng có thể EU, các nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ đặt ra các rào cản kỹ thuật tương tự. 92 triệu dân Việt cũng đang đòi hỏi chất lượng nông sản sạch, có thể truy xuất nguồn gốc. Cá tra, nếu muốn mở rộng thị trường “sân nhà”, phải đa dạng hóa sản phẩm và lâu dài, phải đáp ứng tiêu chuẩn, chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm tốt hơn.
Cần nhìn nhận các rào cản kỹ thuật mà các quốc gia dựng lên, nếu họ làm trong khuôn khổ các thỏa thuận và nguyên tắc thương mại, thì cũng là “yêu cầu của luật chơi”. Qua đó, doanh nghiệp Việt phải chủ động ứng xử thích hợp, vừa hợp tác, vừa đấu tranh dựa trên các công cụ pháp lý và kinh tế. Về lâu dài, cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của “chuỗi giá trị cá tra”.
Con cá tra Việt Nam đã tạo nên kỳ tích, nhưng vẫn đang “bị chặt làm nhiều khúc”. Các doanh nghiệp Việt phải liên kết lại để đủ sức cạnh tranh với bên ngoài, phải thương hiệu hóa từ ao nuôi đến bàn ăn và luật hóa “luật chơi” trong “sân chơi cá tra” toàn cầu.
Thay vì lo ngại, la toáng lên, thì các bên liên quan trong chuỗi cá tra cần chủ động và vào cuộc mạnh mẽ hơn. Từ nay cho đến tháng 3 năm sau, Bộ Nông nghiệp vá Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương và các cơ quan chức năng của ta cần có các cuộc gặp gỡ với Bộ Nông nghiệp và Bộ Thương mại của Mỹ để thỏa thuận về các điều kiện cụ thể áp dụng đối với người nuôi và doanh nghiệp Việt xuất khẩu cá tra vào Mỹ. Những thông tin này phải đến được doanh nghiệp và cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ để chuyển đổi, “sàng lọc” năng lực thực sự của doanh nghiệp. Hiệp hội cá tra với vai trò tập hợp, “bà đỡ” cho doanh nghiệp cũng không thể đứng ngoài cuộc.
Chủ thể quan trọng nhất trong chuỗi đó là doanh nghiệp. Khác với chuỗi lúa gạo trong đó nông hộ nhỏ lẻ là chủ yếu, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá tra đã đầu tư vùng nuôi với quy mô lớn hơn, quản lý và giám sát theo chuỗi cũng như áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng tốt như chứng nhận HACCP, ASC, BAP, BRC và ISO 22000. Các doanh nghiệp cũng đã kiểm soát được khoảng 70% diện tích vùng nuôi. 30% còn lại là các hộ nuôi gia công, có thể đáp ứng nhu cầu trong nước và thị trường khác. Vì vậy, vấn đề là các doanh nghiệp phải liên kết lại, phân chia thị phần trên cơ sở các phân khúc thị trường theo những tiêu chuẩn, điều kiện phù hợp. Không thể bỏ tất cả cá tra “vào một giỏ hàng” và chỉ theo tiêu chuẩn Mỹ. Yêu cầu lâu dài là tính liên kết bền vững của chuỗi giá trị cá tra với tiêu chuẩn chất lượng ngày càng cao. Hãy biến thách thức thành cơ hội để đẩy nhanh hơn tái cấu trúc ngành cá tra Việt Nam.
Mời xem thêm


15 tháng 12, 2015

Đất và người đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
Tôi làm thơ, viết bài đăng báo, tạp chí khá sớm, từ khi còn là học sinh trung học hơn 33 năm trước và hiện đang là cộng tác viên của hơn 10 tờ báo, tạp chí Trung ương, địa phương.
Bài đầu tiên của tôi trên Báo Nông nghiệp Việt Nam cách đây 18 năm, nhưng tôi mới thật sự gắn bó thường xuyên với tờ báo ngành này khoảng 9 năm qua với vai trò bạn đọc thân thiết và cũng là bạn viết.

Dù bài của tôi trên báo Nông nghiệp VN không nhiều so với báo khác, nhưng điểm lại hơn 5.000 bài báo của mình, mới phát hiện ra, đa số là bài viết của tôi dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, về đồng bằng sông Cửu Long. Ngẫu nhiên, tờ báo ngành trở nên gần ngũi với đời sống, công việc của tôi, trở thành kênh thông tin 2 chiều bổ ích. Qua đó là cơ hội tốt để tôi có thể trao đổi, chia sẻ, bày tỏ những vấn đề của cuộc sống gắn với công ăn, việc làm của người nông dân đồng bằng.
Với tôi, viết báo cũng như tập thể dục hàng ngày, như cơm để ăn, nước để uống. Có những trang viết hay, viết dở, nhưng mỗi dòng chữ, ngòi bút sử dụng phải có trách nhiệm và tôi tìm thấy sự chia sẻ qua tờ báo này.
ĐBSCL, nơi tôi sinh ra, lớn lên, đi học, đi làm, vùng đất mà tôi đã, đang và sẽ tiếp tục gắn bó đời mình. Trong môi trường nông nghiệp, giữa không gian ruộng đồng, ba má, anh chị em tôi - những người nông dân miền Tây chân chất vẫn bám quê, sống cuộc đời bình dị. Có lẽ vì vậy mà cái chất nông dân, cái gốc nông thôn dường như đã ngấm trong máu của mình.
Qua viết báo, tôi tìm thấy sự đồng cảm của tờ báo và bạn đọc với những trăn trở về nhiều vấn đề. Đồng bằng là vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản, tuyến đầu “đảm bảo an ninh lương thực quốc gia”, nhưng hạt gạo của người nông dân đồng bằng - “những người lính an ninh” đó đang bị cắn chia làm tám phần, con cá tra bị chặt ra làm nhiều khúc, cây mía chặt thành nhiều lóng, trái dừa bị bửa ra nhiều miếng… Cái trăn trở là phần của người làm ra nó đang bị teo tóp, thiệt thòi.

Qua báo, tôi có thể chia sẻ trăn trở của mình về tình trạng “nghèo trên vựa lúa miền Tây”. Vì sao một bộ phận không nhỏ nông dân, nhiều nhất là những người trẻ bỏ ruộng đồng, di cư lên thành thị, làm đủ thứ nghề, kể cả những ngành nghề nhạy cảm để mưu sinh? Đó là do cuộc sống bấp bênh. Sản xuất nông nghiệp như “cây đòn gánh”. Một đầu gánh nặng nguyên liệu, vật tư, phân bón, chi phí ngày càng cao; đầu kia là tiêu thụ được chăng hay chớ, điệp khúc “trúng mùa, mất giá, được giá, hết hàng” cứ diễn ra. Nhiều nông dân làm nông nghiệp với “cái đòn gánh” đó vừa đi, vừa gánh, vừa bị lắc lư trong thế dễ ngã, đi khéo vẫn sẩy chân như thường. Nông dân phải vượt qua (hay vướng lại) trong “4 bước đi”: Bước lên, bước xuống, bước vào, bước ra. Vào làm ăn và đi lên hợp tác hóa nông nghiệp theo cách làm mới hay bước ra riêng lẻ, tụt hậu trước thách thức, cạnh tranh toàn cầu? 
Đó không chỉ là trăn trở của nhiều người mà đang là những bức xúc nổi lên, những vấn đề lớn đặt ra nếu chậm được giải quyết căn cơ, thì kỳ tích lúa gạo, trái cây và thủy sản - thành tựu to lớn của nông nghiệp Việt Nam sau 30 năm đổi mới sẽ cũng chỉ là quá khứ. Thành tích đã qua không phải là một đảm bảo chắc chắn cho thành công tới. “Vựa lúa gạo quốc gia” hay vị thế của một nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi phải có tầm nhìn, tư duy và nhận thức mới. Nông sản Việt có được phát huy lợi thế cạnh tranh hay không bằng chính tư duy, tầm nhìn và cách làm. Chiếc bánh ngon của mình cũng có thể thành miếng mồi ngon của thiên hạ.  “Chiếc bánh nông sản” cần được chế biến thành những “chiếc bánh” ngon hơn, bán giá cao hơn, lãi hợp lý hơn cho những người làm ra nó. Thời gian qua, Báo Nông nghiệp Việt Nam không chỉ phản ánh những bất cập mà còn phát hiện những điển hình mới, đề xuất giải pháp xây dựng, tạo diễn đàn hiến kế cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân. Ai cũng biết, Việt Nam là một nước nông nghiệp và nông nghiệp là "bệ đỡ" của nền kinh tế. Điều đó đã được khẳng định trong lịch sử phát triển đất nước này và vẫn còn nguyên ý nghĩa. Nhưng muốn giàu có, phát triển, không thể chỉ dựa vào hạt gạo, trái cây, con cá, con tôm, không chỉ trông chờ vào tài nguyên hữu hạn, mà quan trọng hơn là khai thác tài nguyên vô hạn là trí tuệ, sức sáng tạo của con người. Chủ thể trong nông nghiệp, nông thôn chính là người nông dân. Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường, người nông dân không chỉ là những người cần cù, lao động giỏi, mà còn phải là những người kinh doanh giỏi, không chỉ biết làm ra nhiều nông sản mà quan trọng hơn là làm ra nhiều giá trị lợi nhuận từ nông sản để làm giàu. 
Để làm được điều đó, nông dân cần được giải phóng gánh nặng của “cây đòn gánh", được trang bị kiến thức của người kinh doanh. Đào tạo nghề nông nghiệp, tập trung nâng cao các chuỗi giá trị nông sản; đào tạo nghề phi nông nghiệp để chuyển nghề và tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn là chìa khóa. 
Doanh nhân hóa nông dân ĐBSCL thay cho những hỗ trợ nông dân, nông nghiệp, nông thôn có tính “theo đuôi thiệt hại” như vừa qua. Những sáng kiến, đề xuất đó đã được báo ngành ta chuyển tải, đề xuất, kiến nghị, cổ vũ, động viên bằng ngôn ngữ báo chí rất gần gũi với nông dân. 
Kỷ niệm 70 năm tờ báo ra đời không chỉ là dịp để đội ngũ những người làm báo tự hào về tờ báo ngành của mình được chính Bác Hồ khai sinh, mà hơn hết là niềm tin yêu của độc giả. Chúc báo giữ vững tôn chỉ, mục đích của tờ báo trước nhiều thách thức của báo chí, biến động của thông tin, tiếp tục khẳng định thương hiệu của tờ báo tam nông Việt Nam... 

13 tháng 12, 2015

Gà công nghiệp Pháp đổ bộ

Báo Pháp luật TPHCM, ngày 13-12-2015
(PL)- Hiện nay tại một số siêu thị như Big C (Hoàng Văn Thụ), Maximark (Cộng Hòa) thịt gia súc ngoại nhập có bò Úc, bò Mỹ.
Riêng thịt gia cầm nổi lên thịt gà Pháp Le Boucher do Công ty TNHH Le Boucher (Long An) sản xuất và phân phối.
Tuần trước đại sứ Pháp tại Việt Nam cho biết sau khi Việt Nam gỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu thịt bò và táo Pháp thì các mặt hàng này chính thức được nhập vào Việt Nam và trước mắt là thịt bò đông lạnh sẽ có mặt ở thị trường Việt Nam.
Thường thịt được nhập từng tảng lớn, xẻ ra từng mảng mà dán tem chứng nhận không xuể. Ảnh: T.U
Thịt heo truy xuất nguồn gốc bằng mã code
Để tiến xa hơn nữa, mang đến cho NTD những sản phẩm an toàn, có truy xuất nguồn gốc, khoảng tháng 6-2016, Vissan sẽ cho ra thị trường thịt heo truy xuất nguồn gốc thông qua mã code. Theo đó chỉ cần chiếc smartphone, NTD có thể kiểm tra miếng thịt do hộ chăn nuôi nào, được giết mổ tại đâu… Những sản phẩm này được đóng gói sẵn, trước mắt sẽ phân phối tại cửa hàng giới thiệu Vissan.
Ông TRẦN QUANG THẮNGViện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM:
Người tiêu dùng sẽ chuyển sang dùng thịt đông lạnh

 
Ngành chăn nuôi Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sắp tới (nhất là TPP) đó là: Chăn nuôi gà Việt Nam không có khả năng cạnh tranh, kể cả gà thịt và gà đẻ trứng nên rất dễ bị xóa sổ. Riêng chăn nuôi heo, dù Việt Nam có ưu thế bởi người dân có thói quen sử dụng thịt tươi, tuy nhiên xu hướng tiêu dùng này cũng sẽ nhanh chóng thay đổi và người dân chuyển dần sang việc sử dụng thịt đông lạnh... Đối với chăn nuôi bò, hiện thịt bò nhập từ Mỹ, Úc hay từ các nước ASEAN đã có giá rất cạnh tranh do quy mô chăn nuôi của các nước lớn, trong khi chăn nuôi bò tại Việt Nam quy mô nhỏ, giống chất lượng kém. Bên cạnh đó, các mặt hàng như thịt heo từ Đan Mạch, từ Canada, Mỹ rất rẻ là những thách thức rất lớn. 
Do đó ngành chăn nuôi Việt Nam với quy mô sản xuất nhỏ, không đồng đều, số lượng doanh nghiệp lớn ít đang cần phải chuẩn bị với tốc độ và chất lượng nhanh hơn các ngành khác bởi nhiều thành viên TPP, đặc biệt là Mỹ, Canada, Úc, New Zealand là các nước có thế mạnh về xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi, trong khi các sản phẩm của Việt Nam có chất lượng kém và chưa xuất khẩu được vào các thị trường lớn do “vướng” về quy mô và các rào cản kỹ thuật.
Bà HUỲNH THỊ KIM CÚCPhó Giám đốc Sở NN&PTNT TP.HCM:
Heo VietGAP bán tại những điểm được công bố

 
Heo được chứng nhận VietGAP được đóng dấu kiểm soát giết mổ ngay tại lò giết mổ của Chi cục Thú y và được cấp giấy chứng nhận sản xuất theo quy trình VietGAP, được bày bán tại những địa chỉ được công bố, như Vissan, Sagrifood, Co.opmart, HTX An Hạ (tại chợ Hòa Bình, chợ Thái Bình, cửa hàng 176 Hai Bà Trưng).
Đối với thịt ngoại nhập như bò Úc, bò Mỹ, Nhật, thịt gia cầm, việc cho phép nhập khẩu là Cục Thú y, phía Nam là Chi cục Thú y Vùng VI, nếu đạt yêu cầu họ mới cho nhập. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp gian lận. Vì thế khi mua cũng phải xem kỹ hình thức, bao gói còn nguyên vẹn, còn hạn sử dụng, nơi cung cấp uy tín.
Ông TRẦN HỮU HIỆPỦy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ:
Làm VietGAP chi phí cao nhưng ra thị trường bị đánh đồng với sản phẩm thường

 
Các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalG.A.P. hay các tiêu chuẩn khác đối với nông sản, bao gồm sản phẩm chăn nuôi nhằm đảm bảo chất lượng ATVSTP. Đến nay vấn đề truy xuất nguồn gốc đặt ra để đáp ứng xu hướng hội nhập sâu rộng khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại, gần nhất là cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành cuối năm nay. Mới đây Hoa Kỳ đặt ra yêu cầu cá tra Việt Nam hay các nước vào Mỹ phải đảm bảo truy xuất nguồn gốc và ngược lại.
Tuy nhiên, bất cập tại Việt Nam lâu nay là những người chăn nuôi, trồng rau theo VietGAP hay GlobalG.A.P. với chi phí cao nhưng khi đưa ra thị trường bị đánh đồng với sản phẩm không áp dụng các tiêu chuẩn trên. Do đó vấn đề đặt ra là việc quản lý nhà nước làm thế nào để NTD phân biệt được. Thứ hai, phải phát triển theo chuỗi, chẳng hạn nông sản thực phẩm muốn bán vào siêu thị cần phải đáp ứng những tiêu chí, quy trình đảm bảo ATVSTP truy xuất nguồn gốc,… phải thương hiệu hóa sản phẩm đó. Khi hệ thống phân phối kiểm soát được nguồn gốc chất lượng giúp NTD mua sản phẩm xuất xứ rõ ràng.


Đối với thịt ngoại nhập cũng vậy, cần quản lý chất lượng nguồn gốc như thế nào, bởi NTD đặt niềm tin vào chuỗi cung cấp chứ không thể kiểm tra được.

Con gái Hà Nguyên biểu diễn Piano "IT'S A SMALL WORLD"

12 tháng 12, 2015

Nhớ cái hàng ba mái nhà xưa

Ở miền Tây Nam Bộ bây giờ, chẳng còn mấy đứa trẻ nào biết và gọi tên phần hành lang trước mỗi ngôi nhà là “cái hàng ba” như lứa tuổi 6X chúng tôi trở về trước, để nhớ, để thương về cái hàng ba đong đầy kỷ niệm ấu thơ.
Cho tôi một vé đi về miền… tuổi thơ. Nơi đó là quê nội, tôi đã sống thời thơ bé. Nơi có hàng cau thẳng đứng thân cây, cạnh vườn trầu mượt vàng lá thắm. Có cái hàng ba mang bóng nắng mái hiên rọi xuống cho tôi biết giờ đi học buổi chiều vì nhà nghèo không có đồng hồ để định “cái thời gian”.

Hàng ba là gì? Sao gọi hàng ba? Có lẽ nó là đặc sản phương ngữ Nam Bộ. Người miền Bắc, ngoài Trung, không nghe ai gọi thế. Người ta gọi “hành lang” hay “thềm nhà”. Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 2011; từ điển Từ và ngữ của giáo sư Nguyễn Lân; NXB Tổng hợp TP. HCM 2006, tôi tra mãi cũng không có từ này.
Theo từ điển Từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, trang 603, thì “hàng ba” là hành lang phía trước nhà, phần nền có mái che nhưng không có tường bao quanh. Nếu đếm cột ở hàng ba, thì mỗi nhà chỉ có 1 hàng cột, thường là 4 cây, đâu phải 3. Có lẽ người Nam Bộ xưa xuôi phương Nam khai khẩn đất hoang, vẫn nhớ miền cố thổ với mái nhà xưa “3 gian, 2 mái”, nên gọi phần phía trước căn nhà của mình là cái hàng ba?
Hàng ba nhỏ trước ngôi nhà quê, rộng bằng chiều ngang ngôi nhà, nhưng thâm hậu chỉ khoảng 1-2 thước hơn. Chiều chiều tắt nắng, người lớn thì ra hàng ba đánh cờ, bày trà cùng uống, cùng san sẻ vui buồn, nghĩa tình lối xóm.
Con nít thì ra hàng ba chuyện trò, tán dóc. Hàng ba là “sân chơi” nho nhỏ của bọn trẻ ngày xưa. Con gái thì đánh đũa, búng dây thun, hột me, hột ô môi. Con trai thì đá dế, đá cá lia thia.

Ngày nay, giữa ồn ào phố chợ hay cái bề bộn đã xâm chiếm làng quê, có còn ai nhớ về cái hàng ba xưa trước ngôi nhà quê như để nhớ thương về một thời dĩ vãng đã xa xăm?

3 tháng 12, 2015

Hội thảo Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững: Bài 2 - Định hình các giải pháp then chốt

Trong bối cảnh hội nhập sâu và toàn diện sắp tới, ngành nông nghiệp phải chuẩn bị các bước đi thích hợp để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Để làm được điều này, liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau hay giữa các tổ chức kinh tế với cơ sở sản xuất, hộ nông dân để phát huy thế mạnh của mỗi bên nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tăng tính cạnh tranh, thương hiệu, uy tín thị trường là một xu thế tất yếu. Bên cạnh đó, việc rà soát lại cơ chế chính sách, thúc đẩy kinh tế hợp tác, tái cơ cấu và đổi mới toàn diện ngành nông nghiệp cũng là những vấn đề mà các đại biểu tham dự hội thảo “Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững” bàn thảo, kiến nghị nhiều giải pháp quan trọng.
Liên kết - yếu tố sống còn
“Chúng ta đang có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp nước nhà, nhưng đồng thời, cũng phải đối mặt với nhiều thách thức vì nền nông nghiệp rất dễ bị tổn thương. Đã đến lúc chúng ta không thể né tránh thách thức mà buộc phải thích ứng, đối mặt để tồn tại. Phát triển nền nông nghiệp bền vững thì cách tốt nhất là thực hiện có hiệu quả chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thủy sản...” - đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội, phát biểu tại hội thảo.
Chuỗi giá trị là những hoạt động thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau cho đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng do nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện. Chuỗi giá trị có ý nghĩa vô cùng to lớn trong sản xuất nông nghiệp, nhất là đất nước ta đang hội nhập sâu rộng với quốc tế. Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là xuất khẩu, do đó từng người nông dân hoặc các tổ hợp tác, hợp tác xã nhỏ lẻ không thể tự thực hiện được chuỗi sản xuất và tiêu thụ ở thị trường quốc tế. Vì vậy cần phải thực hiện liên kết giữa các nông hộ - tổ chức của nông dân - các doanh nghiệp thì mới có thể đủ năng lực để đưa sản phẩm của Việt Nam ra thị trường quốc tế và làm gia tăng giá trị cho chuỗi sản xuất nông nghiệp.
“Đây là vấn đề không mới, nhưng triển khai trong thực tế còn chậm và nhiều vướng mắc”, ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ) cho biết. Theo ông Trần Hữu Hiệp, thời gian qua, các địa phương đã ký kết và thực hiện nhiều chương trình hợp tác, đã phát huy hiệu quả nhất định, nhưng còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân do đâu? Thứ nhất, cho đến nay, vẫn chưa có một “cơ chế pháp lý” rõ ràng và “một mô hình chỉ đạo, điều phối” liên kết vùng thật sự hiệu quả. Thứ hai, việc liên kết mới chủ yếu giữa chính quyền với chính quyền, thông qua ký kết các chương trình hợp tác, dựa vào “mối quan hệ tốt đẹp” giữa các địa phương với nhau, là sự cam kết tự nguyện, thiếu ràng buộc trách nhiệm pháp lý, nên hiệu quả chưa tốt. Thứ ba, mặc dù chúng ta nói nhiều đến “liên kết 4 nhà”, nhưng trên thực tế, mối liên kết giữa sản xuất - chế biến - tồn trữ và tiêu thụ nông sản còn nhiều yếu kém.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân xem sản phẩm triển lãm tại hội thảo Ảnh: VIỆT DŨNG
Đồng quan điểm này, PGS-TS Võ Thị Thanh Lộc (Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL) cho biết: Nhìn tổng thể, mối liên kết này đang bị “chặt” ra thành nhiều khúc mà phần thiệt thòi nhất đang thuộc về nông dân. Nếu Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện, môi trường tốt thì sẽ thúc đẩy liên kết mạnh mẽ hơn, nông dân đỡ thiệt thòi. Không chỉ có liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp (liên kết dọc) hay doanh nghiệp với doanh nghiệp (liên kết ngang), theo TS Phạm Nguyên Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu sẽ giải quyết được những vấn đề cốt tử: nắm bắt được thông tin thị trường cần cái gì, cần vào thời điểm nào, cần bao nhiêu và giá cả ra sao; có thể thực hiện “sản xuất và bán cái thị trường cần, không phải bán cái chúng ta có”.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng, ngoài “liên kết 4 nhà” đã được triển khai thời gian qua, yêu cầu của liên kết vùng không thể để từng tỉnh hay vài ba tỉnh tự làm với nhau, mà cần có khung pháp lý rõ ràng và một mô hình điều phối liên kết hiệu quả. Đã có một số mô hình tổ chức được đề xuất như thành lập Hội đồng vùng, nhưng theo đề xuất này thì lại đẻ thêm bộ máy, cồng kềnh về hành chính. Nhưng có thể tiếp cận theo hướng thí điểm, chọn lựa nội dung “liên kết nhà nước”, tạo cơ chế, chính sách, khuyến khích thúc đẩy “liên kết thị trường”, liên kết doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh. “Cần xem đây là vấn đề cụ thể thực hiện đột phá chiến lược “cải cách thể chế” - một trong ba đột phá chiến lược đã được xác định”, ông Trần Hữu Hiệp nhấn mạnh.
Chọn chính sách đòn bẩy
Ở góc độ vĩ mô, ông Nguyễn Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã mang đến hội thảo một cái nhìn mới về hướng tiếp cận chuỗi giá trị nông sản thông qua nghiên cứu. Theo đó, cần phải đổi mới hoạt động sản xuất, kinh doanh nông sản chủ lực hiệu quả và bền vững, phù hợp với thực trạng nền sản xuất nông nghiệp với lộ trình hợp lý trong điều kiện đặc điểm Việt Nam. Giải pháp chính của vấn đề này là đổi mới thể chế, nâng cao năng lực điều phối giữa các khâu và các tác nhân tham gia chuỗi nông sản hiệu quả và bền vững; tiếp tục phân cấp, phân quyền, nhất là giảm quyền ở cấp trên, ủy quyền cho cấp dưới, cần sớm thành lập Hội đồng cạnh tranh quốc gia trực thuộc Chính phủ, có người điều hành (không kiêm nhiệm) để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, trong đó có nông sản chủ lực trong chuỗi giá trị. Ông Nguyễn Văn Hiếu khuyến nghị và đề xuất 9 giải pháp, trong đó các giải pháp then chốt là sớm trình Quốc hội thông qua Luật Quy hoạch quốc gia, ban hành chính sách tài chính ưu đãi đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sản phẩm chủ lực quốc gia; đổi mới nhận thức và pháp luật về tư hữu đất đai và hạn điền, thành lập Viện Giống quốc gia và Cục Thương hiệu quốc gia…
Thứ trưởng Bộ LĐTB-XH Đào Hồng Lan cho biết: Chuỗi giá trị nông nghiệp trải qua rất nhiều khâu, nhiều chủ thể khác nhau, nâng cao vai trò, vị thế của người nông dân, nâng cao kiến thức sản xuất nông nghiệp là yếu tố then chốt. Theo đó, đến hết quý 2-2015, tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo chỉ 5%. Để giải bài toán này, Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình, nhất là Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Qua 5 năm thực hiện đề án này, các địa phương rà soát lại lao động, đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Có 2,2 triệu lượt; 42,7% học nghề nông nghiệp, số còn lại chuyển sang phi nông nghiệp. Kết quả, 78,7% có việc làm sau học nghề. Chính phủ giao cho Bộ NN-PTNT xây dựng chương trình đào tạo, tránh việc triển khai dàn trải, gắn với xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao kỹ năng sản xuất, năng lực cho nông dân
Theo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh, để phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp, doanh nghiệp không thể liên kết cụ thể với từng hộ nông dân mà phải thông quan đại diện của họ. Hiện nay, Bộ NN-PTNT đang xây dựng nghị định về HTX và sẽ sớm trình Chính phủ ban hành Nghị định này để “siết” lại liên kết 4 nhà. Trong chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Bộ NN-PTNT sẽ chọn một số sản phẩm chủ lực để làm thí điểm liên kết chuỗi, trước nhất là 2 sản phẩm cà phê và lúa gạo. Chậm nhất là cuối năm 2015 hoặc sang đầu năm 2016, Bộ NN-PTNT sẽ trình Chính phủ chỉnh sửa Quyết định 62/2013/QĐ-TTg ngày 25-10-2013 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Hiện nay, Bộ NN-PTNT đang tập trung xây dựng khung và các vấn đề liên quan đến chuẩn sản xuất an toàn (GAP) theo hướng thuận lợi hơn cho nông dân, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn và xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao toàn quốc. Phấn đấu đến năm 2020, cả nước sẽ có 10 khu nông nghiệp công nghệ cao, nhằm làm gia tăng giá trị nông sản quốc gia.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ
Để làm được vấn đề này, khoa học công nghệ luôn đóng vai trò then chốt. Đến tham dự và cùng chủ trì hội thảo, Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân đã nêu nhiều giải pháp quan trọng, đáp ứng được sự mong mỏi của các doanh nghiệp, HTX, nông dân sản xuất giỏi. Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, nếu không tiến hành sản xuất lớn, không thể áp dụng khoa học công nghệ. Chỉ có sản xuất lớn dưới sự liên kết mạnh mẽ giữa nông dân và HTX, nông dân và doanh nghiệp thì mới có điều kiện để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào. Từ năm 2010, khoa học công nghệ đã đổi mới để đáp ứng nhu cầu quốc gia. Hiện nay, Bộ KH-CN đang tập trung cho 9 sản phẩm quốc gia gồm 6 sản phẩm chính thức: Sản phẩm lúa gạo Việt Nam chất lượng cao, năng suất cao; thiết bị siêu trường, siêu trọng; Bảo đảm an ninh, an toàn mạng thông tin; động cơ sử dụng cho phương tiện giao thông vận tải; Sản phẩm vaccine phòng bệnh cho người và vật nuôi của Việt Nam;  Sản phẩm phục vụ an ninh quốc phòng. 3 sản phẩm dự bị gồm: Sản phẩm cá da trơn Việt Nam chất lượng cao và các sản phẩm chế biến từ cá da trơn; Sản phẩm nấm ăn và nấm dược liệu; Sản phẩm vi mạch điện tử. Việc lựa chọn và triển khai sản phẩm quốc gia thể hiện sự đổi mới quan trọng trong sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam. Đó là lấy sản phẩm và doanh nghiệp làm trọng tâm để thu hút và gắn kết các nguồn lực khoa học công nghệ cho việc phát triển sản phẩm, phát triển doanh nghiệp. “Khoa học công nghệ luôn sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp và bà con nông dân”, Bộ trưởng Nguyễn Quân cam kết.
Diễn ra trong 1 ngày, thời gian làm việc không nhiều, nhưng hội thảo đã thu hút 28 ý kiến của lãnh đạo các bộ ngành, các chuyên gia, các nhà khoa học, doanh nghiệp, HTX và nông dân. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu bày tỏ: Có nhiều tham luận giá trị, chuẩn bị công phu nhưng thời gian không cho phép nên tác giả không thể trình bày tại hội trường, đề nghị các đại biểu tham khảo, tự nghiên cứu sâu hơn. Về tổng thể, có thể nói hội thảo đã hoàn thành mục tiêu đề ra. Hội thảo đã lắng nghe nhiều ý kiến và các mô hình về trồng trọt, chăn nuôi, lâm sản, thủy sản trên phạm vi cả nước. Đây là những giải pháp, mô hình sáng tạo, sáng kiến từ thực tế cuộc sống, sản xuất. Hiện cả nước có 2.500 mô hình liên kết, trong đó, hơn 40% là thành công, còn 60% chưa được đánh giá. Nhiều mô hình mới xuất hiện như sản xuất nghêu ở Bến Tre, tái cơ cấu nông nghiệp ở Đồng Tháp, mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị rau quả ở tỉnh Bắc Giang, mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị ngành chăn nuôi: nghiên cứu điển hình ngành thịt heo tại Chương Mỹ (Hà Nội), sản xuất gà an toàn theo chuỗi giá trị của HTX Chăn nuôi và thủy sản Gò Công; mô hình tổ chức sản xuất cá ngừ theo chuỗi giá trị tại Bình Định, hình chuỗi giá trị nguyên liệu gỗ rừng trồng tại
Quảng Bình… Hầu hết các ý kiến tại hội thảo đều thể hiện rõ sự quyết tâm đổi mới, phấn đấu xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện. “Ẩn chứa bên trong các đề xuất, hiến kế phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững là trách nhiệm cộng đồng và đặc tính nhân văn của người Việt Nam”, ông Nguyễn Văn Giàu đúc kết.
 Đây là lần thứ 4 Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với Báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức hội thảo về các chủ đề “nóng”. Những vấn đề nêu từ hội thảo sẽ được tổng kết, báo cáo với lãnh đạo các cơ quan Trung ương, Chính phủ, Quốc hội để định hình chính sách cho tương lai. Từ các hội thảo trước, chúng ta đã kiến nghị Quốc hội, Chính phủ ban hành các chính sách như xây dựng cánh đồng lớn, đóng tàu vỏ thép cho ngư dân. Tôi mong rằng Báo Sài Gòn Giải Phóng sẽ mạnh mẽ hơn nữa, quyết tâm hơn nữa, cùng với các cơ quan báo chí khác, phối hợp tổ chức bàn thảo những vấn đề quan trọng đang đặt ra, để góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Ông Nguyễn Văn Giàu, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
TRẦN MINH TRƯỜNG

- See more at: http://www.sggp.org.vn/kinhte/2015/12/404792/#sthash.IkF7TWWN.dpuf