31 tháng 3, 2012

Sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL - Vẫn mạnh ai nấy làm



SGGP, Thứ bảy, 31/03/2012, 00:49 (GMT+7)
Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ để trở thành cường quốc xuất khẩu gạo trong thời gian ngắn. Trong đó, ĐBSCL đóng vai trò chủ lực, chiếm 53% sản lượng lúa, 96% lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, thời gian qua, tăng trưởng ngành lúa gạo không tiếp tục cải thiện sinh kế cho người trồng lúa ĐBSCL. Thực tế sản xuất, tiêu thụ lúa gạo đang bộc lộ nhiều bất cập, khó khăn… Đó chính là nhận định của các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học tại hội thảo “Những giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL”, tổ chức tại Đồng Tháp vào ngày 30-3.
  • Mười loại gạo trong một bát cơm
Thời kỳ 2006-2011, xuất khẩu gạo đạt trên 33,8 triệu tấn, trị giá trên 14,1 tỷ USD, nâng lũy kế xuất khẩu gạo giai đoạn 1989-2011 đạt trên 83,6 triệu tấn, trị giá trên 25 tỷ USD. Nếu như năm 2006, lượng gạo xuất khẩu chỉ đạt gần 4,69 triệu tấn, trị giá 1,195 tỷ USD thì đến năm 2011, xuất khẩu gạo vẫn đạt cao kỷ lục với 7,105 triệu tấn, trị giá 3,507 tỷ USD.

Tuy nhiên, sản xuất, tiêu thụ lúa gạo đã và đang bộc lộ nhiều vấn đề bất cập về năng suất, số lượng; chưa gắn với quy hoạch và thị trường tiêu thụ. Nông dân, các nhà khoa học, các doanh nghiệp… đã có nhiều nỗ lực lớn, nhưng vẫn chưa tìm được hướng đi vững chắc, lâu dài cho cây lúa, hạt gạo Việt Nam. Hạt gạo Việt Nam chưa thật sự ấn tượng đối người tiêu dùng trong khu vực và thế giới, chưa tạo dựng được thương hiệu riêng.
Nguyên nhân chính của vấn đề này là hiện có quá nhiều loại gạo, vì thế việc xây dựng thương hiệu, chất lượng gạo gặp khó. Trong một bát cơm có tới 10 loại gạo khác nhau. Trách nhiệm này thuộc về ai, ngành công thương hay nông nghiệp?
Khâu phơi sấy còn thủ công, gây thất thoát khoảng 2 triệu tấn lúa/năm tại ĐBSCL.
Tiến sĩ Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt, cho rằng, xuất khẩu gạo phải gắn với sản xuất lúa, còn ở Việt Nam thì “ông nào biết ông nấy”. Cải thiện chất lượng lúa gạo không khó. Vấn đề là phải có dự báo thị trường tốt để điều hành sản xuất. Hiện nay, trong vòng 3-4 tháng ĐBSCL có thể làm ra 4-5 triệu tấn gạo nhưng tiêu thụ là cả vấn đề.
Ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) phản biện: “Nói doanh nghiệp, hiệp hội đặt hàng rất khó. Riêng vấn đề gạo phẩm cấp thấp, thật ra không phải tới giờ này mới phát hiện mà ngay đầu vụ chúng tôi đã liên tục cảnh báo, khuyến cáo xuống giống lúa IR50404 không quá 20% nhưng bây giờ thì nhiều quá… Trong khi gạo thơm lại giảm, nhiều khả năng giá lên nhưng không có nguồn để xuất”.
Cần nhớ rằng những năm trước đây, khi VFA xuất khẩu gạo sang thị trường trung bình, gạo IR50404 thường được dùng để pha trộn, vì vậy nông dân mới lao vào sản xuất giống này. Khi thị trường cần gạo phẩm cấp cao thì VFA gạt IR50404 qua một bên. Lỗi này rõ ràng không thuộc về nông dân!
  • Thách thức lớn
Ông Nguyễn Thành Biên, Thứ trưởng Bộ Công thương, nhìn nhận: “Đầu năm 2012, xuất khẩu gạo không đạt mục tiêu đề ra, thậm chí giảm mạnh. Theo số liệu mới nhất, tới ngày 29-3 Việt Nam mới xuất 1,058 triệu tấn gạo, giảm 42% về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước. Chúng ta đang đối mặt với sự cạnh tranh lớn từ gạo cấp thấp của Ấn Độ, Pakistan, Myanmar, Campuchia. Việc giữ các thị trường truyền thống rất khó khăn. Trong 6 tháng đầu năm 2012, tiêu thụ hết một lượng lớn gạo cấp thấp là rất khó khăn trong khi các loại gạo cao cấp, gạo thơm không có để xuất khẩu”.
Hạt gạo Việt Nam đang chịu sự cạnh tranh lớn từ các nước trong khu vực.
Ông Phạm Văn Bảy nhận định: Tình hình rất phức tạp, bất lợi cho gạo Việt Nam. Sản lượng tăng nhưng thương mại lại giảm. Đối thủ nặng ký nhất là Ấn Độ tiếp tục xuất giá thấp. Dự kiến quý 2 sẽ xuất khẩu 2 triệu tấn. Nhưng tình hình rất căng vì mưa xuống, hạ tầng không đảm bảo, không đủ container để đi hàng. Trong tháng 3 ký được nhiều hợp đồng mới.
Đặc biệt thị trường Trung Quốc tăng cao, tới nay đã đăng ký 600.000 tấn (năm 2011 chỉ có 200.000 tấn), đã giao 110.000 tấn. Nhưng xử lý 500.000 tấn còn lại là vấn đề khá nan giải vì các doanh nghiệp đang rất thiếu container để xuất gạo. Các thị trường truyền thống cũng yêu cầu xuất bằng container trong khi chi phí xuất đang tăng khoảng 4 USD/tấn gạo.

Đến nay, các doanh nghiệp đã mua tạm trữ hơn 500.000 tấn gạo, nhiều khả năng sẽ hoàn thành kế hoạch trước 15-4. Tuy nhiên, giá lúa gạo mấy ngày qua có chiều hướng giảm nhẹ. “Có 3 nguyên nhân: Các doanh nghiệp nhỏ đầy kho. Gạo mua, chế biến rồi nhưng không có chỗ giao hàng. Giá xuất có chiều hướng giảm. Mấy ngày qua, khách hàng nước ngoài đề nghị giảm giá 5 - 10 USD/tấn. Hiện gạo cấp thấp khó bán. Hồng Công, Trung Quốc mua đa phần chính ngạch là gạo 5% tấm.
Vụ hè thu tới, phải hạn chế tối đa xuống giống lúa IR50404, chú trọng trồng lúa thơm, chất lượng cao. Nếu không sẽ tự giết mình thôi… Có thể khẳng định tình hình đang khó cho doanh nghiệp và bà con nông dân. Để đạt kế hoạch xuất khẩu 6,5 - 7 triệu tấn gạo năm 2012 rất gian nan, không đơn giản” - ông Phạm Văn Bảy khẳng định. 
BÌNH ĐẠI 
GS-TS Võ Tòng Xuân: “Kiểm điểm” bốn nhà
Người nông dân cũng như mấy ông lãnh đạo của Thái Lan chỉ chọn những giống lúa chất lượng cao, dù năng suất thấp, 2,5 - 3 tấn/ha/vụ. Còn ở Việt Nam ngược lại, không muốn thấy lúa dưới 3 tấn/ha/vụ. Đòi hỏi giống lúa cực ngắn ngày, năng suất, chất lượng cao, quả là thách thức lớn đối với các nhà khoa học… Ở các nước tiên tiến, có học mới làm nông dân còn ta thì khác. Nông dân muốn trồng gì làm nấy, không biết bán cho ai. Trên cùng cánh đồng có rất nhiều giống lúa; không đồng đều mẫu mã, không bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Khi thu mua, thương lái cũng trộn lẫn.
Các nhà xuất khẩu gạo cũng không có giống nào rặt. Khuyết điểm lớn nhất của doanh nghiệp là không có thị trường, đầu ra ổn định; không vùng nguyên liệu, không nhà máy sấy lúa, không thương hiệu. Trong khi đó, “ông nhà nước” có quyền lực nhất nhưng vẫn để nông dân muốn làm gì làm.

Năm 2011, thương lái chạy kiếm mua lúa IR50404 dù khuyến cáo không trồng. Nay thì không mua, để cho doanh nghiệp muốn mua nông sản của nông dân bằng cách nào cũng được… Hậu quả là nông dân gánh chịu thiệt thòi nhiều nhất!

28 tháng 3, 2012

Chuyện đồng bằng: GIỮ “NỒI CƠM” CỦA QUỐC GIA

Bài trên BÁO LAO ĐỘNG ngày 29-3-2012

Trần Hữu Hiệp
Nghị quyết 08/NQ-CP ngày 26-3-2012 về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật của Chính phủ đã bàn và tỏ rõ quyết tâm bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa. Chính phủ đang lo “Nồi cơm” cho quốc gia.

Đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm nhặt
Đất trồng lúa được xác định không chỉ là tài nguyên quý giá của quốc gia mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông dân, là yếu tố quyết định an ninh lương thực trong nước và góp phần đảm bảo an ninh lương thực thế giới. Quốc hội đã có Nghị quyết chuyên đề bảo vệ 3,81 triệu ha đất trồng lúa như một sự đảm bảo cho tương lai. Chính phủ cũng đang tỏ rõ quyết tâm bằng quy định và chế tài pháp luật trong việc bảo vệ, sử dụng có hiệu quả “tư liệu sản xuất đặc biệt” này. Theo đó, trong trường hợp thật sự cần thiết phải chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích khác, phải “áp dụng qui trình nghiêm ngặt”: lập quy hoạch và thẩm định quy hoạch. Việc chuyển đổi đất lúa phải có sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, có phương án khai thác, cải tạo các loại đất khác để bù đắp lại diện tích đã chuyển đổi. Chính phủ cũng tính đến việc hỗ trợ ngân sách cho địa phương có đất trồng lúa và người trồng lúa; đồng thời kiểm soát chặt việc sử dụng nó cho đầu tư trồng lúa.  Đó là tư tưởng chính của Nghị định Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa đang được Bộ Nông nghiệp khẩn trương hoàn chỉnh trình Chính phủ ban hành.
Bộ Tài nguyên & Môi trường cũng được giao hoàn chỉnh Báo cáo của Chính phủ để trình Quốc hội ban hành ban hành Nghị quyết kéo dài thời hạn sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân khi hàng loạt thửa đất của Chủ sử dụng sắp “hết hạn” vào năm 2013. Theo đó, người sử dụng đất sẽ tiếp tục được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, sử dụng đúng qui hoạch và pháp luật. Trong thời gian kéo dài đến khi Luật Đất đai (sửa đổi) có hiệu lực, người sử dụng có đầy đủ quyền va 2nghĩa vụ theo qui định. Tuy nhiên, đối với những hộ gia đình, cá nhân đã hoàn toàn tháot ly khỏi nông thôn, nhiều năm không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nữa thì quan điểm của Chính phủ là không tiếp tục giao đất lâu dài để tránh lãng phí nguồn tài nguyên.       

Dự án Cung cấp thiết bị y tế Bệnh viện đa khoa Châu Đốc thu hút tài trợ từ Quỹ Cô-oét:

Phó Thủ tướng Hoàn Trung Hải vừa có văn bản đồng ý chủ trương kêu gọi Quỹ Cô-oét tài trợ cho dự án Cung cấp thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa khu vực Châu Đốc; giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Y tế, UBND tỉnh An Giang để thẩm tra, đánh giá thực trạng xây dựng Bệnh viện đa khoa khu vực Châu Đốc, xác định hạn mức vốn vay ODA cần thiết để kêu gọi quỹ Cô-oét tài trợ ... trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

516 chỉ tiêu đào tạo KTS, Kỹ sư theo địa chỉ sử dụng năm 2012 cho Tây Nam Bộ

Ngày 28-3-2012, tại Hà Nội, BCĐ Tây Nam Bộ, Bộ GD&ĐT có buổi làm việc với Trường ĐH Kiến trúc TPHCM thống nhất giao 516 chỉ tiêu tuyển sinh năm 2012 với 4 chuyên ngành đào tạo: Kiến trúc, xây dựng, qui hoạch và hạ tầng đô thị đáp ứng cho 129 đơn vị cấp quận, huyện (4 chỉ tiêu/quận, huyện). Đây là chỉ tiêu năm đầu tiên thực hiện đề án đào tạo nguồn nhân lực theo địa chỉ sử dụng vùng ĐBSCL do BCĐ Tây Nam Bộ phối hợp Trường ĐH Kiến trúc TPHCM thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
H.Hiệp

Chuyện đồng bằng: Tư duy vùng và thống nhất hành động

Trần Hiệp Thủy
Ngày 26.3, đồng chí Nguyễn Phong Quang - Phó Trưởng ban Thường trực BCĐ Tây Nam Bộ, Ủy viên Ủy ban Quốc gia biến đổi khí hậu (QGBĐKH) - đã chủ trì cuộc họp lãnh đạo 13 tỉnh, thành ĐBSCL để tìm “tiếng nói chung và thống nhất hành động” để cùng đề xuất Trung ương các công trình, dự án đầu tư trong chương trình ứng phó BĐKH, nước biển dâng của vùng gắn với chương trình đầu tư quốc gia.
ĐBSCL trước thách thức BĐKH
3 vấn đề quan trọng được lãnh đạo tỉnh, thành đề nghị Trung ương quan tâm là: (1) Đầu tư đê biển từ Bến Tre đến Hà Tiên (Kiên Giang), xác định mục tiêu tổng thể, gắn kết đa mục tiêu (ứng phó BĐKH, cân bằng hệ sinh thái rừng ngập mặn, đảm bảo bố trí sản xuất và ổn định dân cư, đáp ứng nhu cầu giao thông ...). Trên cơ sở huy động sự tham gia của các nhà khoa học, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của địa phương để chọn lựa cách làm; (2) Ưu tiên đầu tư các công trình chống ngập tại các đô thị lớn trong vùng (TP.Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long và Cà Mau); (3) Xem xét lồng ghép các mục tiêu thủy lợi, ứng phó BĐKH đối với vùng Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.
BĐKH, nguy cơ nước biển dâng là vấn đề toàn cầu, mang tầm quốc gia nên không thể lấy “tư duy tỉnh” để “ứng phó”. Cần một không gian đầu tư vùng rộng lớn hơn ranh giới tỉnh ngay từ việc “hoạch định chủ trương đầu tư”, vừa đáp ứng nhu cầu bức xúc trước mắt, nhưng phải tính đến mục tiêu lâu dài, có phân kỳ đầu tư, tránh mỗi tỉnh làm một kiểu. Các bộ, ngành Trung ương cũng cần xem xét lại tiêu chí “trần vốn dự án đầu tư không quá 200 tỉ đồng”/dự án để các tỉnh “liên kết lại”.
Chính phủ đã xác định tầm nhìn dài hạn và quyết tâm rất cao: Đã ban hành Chiến lược quốc gia ứng phó BĐKH, đề án đầu tư đê biển từ Quảng Ngãi đến Hà Tiên - Kiên Giang, thành lập Ban Chỉ đạo, Ủy ban QG về BĐKH do đích thân Thủ tướng làm Chủ tịch, một Phó Thủ tướng làm Phó Chủ tịch Thường trực để “đủ tầm” chỉ đạo công tác vừa cấp bách, vừa mang tầm chiến lược này. Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ là thành viên duy nhất đại diện cho vùng ĐBSCL tham gia Ủy ban cũng cho thấy Chính phủ quan tâm xác định vị trí đặc biệt của vùng này trong chiến lược chung của quốc gia. Vị thế đó đang đặt ra yêu cầu vượt lên “tư duy hành chính tỉnh” đến “liên kết vùng” trong chiến lược quốc gia.

27 tháng 3, 2012

Từ chén cơm đầy đến chén cơm ngon

Mặc dù tạo ra kỳ tích được cả thế giới ngưỡng mộ nhưng nông dân ĐBSCL lại đang đứng trước nhiều thách thức trong bước chuyển căn bản từ vị thế của người làm ra nhiều lúa gạo cho “chén cơm đầy” đến nền sản xuất lúa gạo hàng hóa - “chén cơm ngon” để bán được giá, làm giàu. Bước chuyển căn bản đó rất cần sự “chuyển đổi tận gốc” trong tư duy, không chỉ của những người nông dân mà hơn thế, trong “tư duy hoạch định chính sách”.
Nông dân phải chịu gánh nặng vay vốn sản xuất, đóng lãi, kể cả phải vay lãi cao bên ngoài; mua chịu vật tư phân bón, thuốc trừ sâu đầu vụ, cuối vụ trả “đội giá thành”. Nhiều gia đình nông dân hiện nay đang phải nặng gánh lo cho “nhà mình” với nhiều khoản chi tiêu ăn uống, chữa bệnh, học hành con cái và nhiều khoản đóng góp khác; lại còn lo cho... nhà hàng xóm (đám tiệc, giỗ quải, giao tế ở nông thôn...).
Điều đáng quan tâm là mối quan hệ với nhà xuất khẩu gạo mà hiệu quả kinh doanh đầu ra này gần như quyết định giá lúa hàng năm. Hạt gạo của người nông dân còn phải gồng mình làm nhiệm vụ “bình ổn giá” tiêu dùng cho xã hội, đảm bảo an ninh lương thực và làm nhiệm vụ ngoại giao trong cuộc chiến an ninh lương thực toàn cầu.
Hạt gạo bị “cắn chia” làm nhiều phần cũng là điều tất yếu trong điều kiện sản xuất lúa hàng hóa, cần sự tham gia của “nhiều nhà” nhưng điều đáng quan tâm là sự gắn kết theo chuỗi và phân phối lợi nhuận cho tác giả chính của nó - nông dân - đang có vấn đề. Thực trạng này đang đặt ra nhiều bài toán cho ngành sản xuất lúa gạo hàng hóa ở ĐBSCL.
Chuyện từ đồng ruộng ra thương trường hiện nay cũng phải đặt lên hàng đầu. Thương trường là cạnh tranh, muốn cạnh tranh phải có nguồn lực và kiến thức. Không chỉ kiến thức làm ruộng, trồng cây, nuôi cá, mà cả kiến thức quản lý đồng vốn, quản trị doanh nghiệp. Đòi hỏi khắc nghiệt từ thương trường buộc những người nông dân ngày nay phải chuyển từ tư duy làm ra nhiều nông sản sang làm ra nhiều giá trị từ nông sản và chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Hay nói cách khác, người nông dân ngày nay muốn sống được bằng nghề, làm giàu từ nghề nông phải gắn ruộng vườn của mình với thương trường. Họ cần được giải phóng gánh nặng bằng kiến thức của người kinh doanh. Nông dân ĐBSCL được đào tạo nghề nông nghiệp, tập trung vào việc nâng cao giá trị sản xuất các ngành hàng chủ lực của vùng, trong đó có ngành trồng lúa, đào tạo nghề phi nông nghiệp để chuyển nghề và tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn… là những cách thức giúp người nông dân không chỉ đứng vững trên đồng ruộng mà còn có thể làm giàu được từ nông nghiệp, nông thôn.
Quá trình đó giúp họ không chỉ có kiến thức về kỹ thuật sản xuất, nuôi trồng mà còn phải có kiến thức về quản trị đồng vốn, về thị trường, hệ thống phân phối để tiêu thụ sản phẩm đạt lợi nhuận cao nhất; hay nói cách khác là phải “doanh nhân hóa nông dân”. Doanh nhân hóa nông dân ĐBSCL phải được diễn ra trong không gian của nông thôn đồng bằng, những đặc thù của “tam nông” Việt Nam.
Cần đưa thương hiệu gạo ĐBSCL vào Chương trình thương hiệu quốc gia của Chính phủ để quảng bá hình ảnh đất nước. Một nhãn hiệu Made in Mekong Delta cho lúa gạo đồng bằng là cách tiếp cận hiệu quả với thị trường lúa gạo thế giới, chính là tài sản - thương hiệu chung cho các doanh nghiệp kinh doanh gạo xuất khẩu. Một nước vốn có truyền thống và thế mạnh sản xuất lúa, xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, một quốc gia có nền “văn minh lúa nước”, không lý do gì hạt gạo đồng bằng, gạo Việt lại chưa được đặt ở vị trí trang trọng của một thương hiệu mang tầm quốc tế.
Những thành công bước đầu của những mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, “Công ty cổ phần nông nghiệp” cho thấy nâng cao giá trị các công đoạn làm ra hạt lúa (giống, kỹ thuật, tổ chức sản xuất, tác động chính sách đầu vào) là rất quan trọng nhưng “chuỗi giá trị” quan trọng hơn cần sự tác động tích cực ở các khâu từ hạt lúa trên đồng ruộng đến hạt gạo hàng hóa trên thương trường (chống thất thoát sau thu hoạch, kho chứa, xay xát, đặc biệt là kinh doanh xuất khẩu gạo).
Nhu cầu bức xúc là phải liên kết chuỗi giá trị lúa gạo, liên kết vùng ĐBSCL mà trọng tâm là “vành đai lúa” gồm khoảng 30 huyện nằm ở các tỉnh trọng điểm gồm An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và một phần ở các tỉnh còn lại trong vùng.
Cần tiếp tục đổi mới toàn diện cơ chế xuất khẩu gạo - hiện là khâu cuối cùng đang tác động mạnh mẽ vào “túi tiền” của người nông dân - trong điều kiện cạnh tranh gay gắt khi xuất hiện doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn trong lĩnh vực xuất khẩu gạo vào năm 2012.
TRẦN HỮU HIỆP(Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Xã hội Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ)

60 chỉ tiêu đào tạo thạc sĩ chính sách công cho ĐBSCL năm 2012.

Được sự đồng ý của Bộ GDĐT, BCĐ Tây Nam Bộ phối hợp với Trường ĐH Kinh tế TPHCM tuyển sinh 60 chỉ tiêu thạc sĩ chính sách công cho cán bộ diện qui hoạch. Chương trình được tổ chức tại TP.Cần Thơ, bắt đầu từ năm 2012, hình thức đào tạo không tập trung trong thời gian 2 năm, thông qua ôn tập và thi tuyển theo danh sách do UBND tỉnh, thành đề cử (5 cán bộ/tỉnh).                      
H.Hiệp (trên Báo LAO ĐỘNG ngày 27-3-2012)

26 tháng 3, 2012

Ép bệnh và ép thu phí


Thứ hai, 26/03/2012, 02:51 (GMT+7)
Đó là hai câu chuyện thu hút sự quan tâm dư luận mấy tuần qua. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam còn có quyền khi không chấp nhận thanh toán 58 tỷ đồng từ Quỹ Bảo hiểm y tế (chỉ riêng ở 13 tỉnh, thành bị phát hiện) do các cơ sở y tế lạm dụng bảo hiểm. Nhưng từ nhiều năm qua, hàng triệu bệnh nhân đã phải không dám từ chối bóp bụng móc hầu bao trả thêm các chi phí “xét nghiệm chồng xét nghiệm” khi đến khám, điều trị tại bệnh viện. Việc các cơ sở y tế không công nhận kết quả xét nghiệm lẫn nhau (kể cả trường hợp chuyển bệnh) đã trở thành thủ tục “đầu tiên”. Nhiều bệnh nhân khi đến khám, điều trị tại các bệnh viện ở TPHCM và ĐBSCL đã từng phải làm lại nhiều xét nghiệm máu, X quang, siêu âm, thử nước tiểu… theo chỉ định mới, mặc dù đã có kết quả xét nghiệm tương tự của Trung tâm chẩn đoán y khoa Medic - TPHCM trước đó ít hôm.
Để bệnh nhân khỏi bị ép thêm bệnh, trả thêm tiền, cần ban hành những quy định, chuẩn mực bắt buộc các cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả xét nghiệm y khoa của mình; đồng thời buộc liên thông trách nhiệm để các cơ sở y tế phải công nhận kết quả xét nghiệm của nhau, nhẹ gánh cho bệnh nhân.
Dần dần tiến tới ghi nhận những thông tin cá nhân như nhóm máu, giới tính, tiền sử bệnh… trong dữ liệu cá nhân qua “Mã số công dân” riêng của từng người mà Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo các ngành chức năng xây dựng và áp dụng thống nhất trong vài năm tới.
Câu chuyện thứ hai liên quan đi lại. Việc ngành chức năng xây thêm các trạm thu phí quốc lộ 1 (Bình Chánh - Trung Lương) sau khi lái xe bỏ đường cao tốc TPHCM - Trung Lương như một kiểu “dí dân vào đường thu phí”.
Một Thứ trưởng Bộ GTVT còn giải thích: “Nếu không thu phí thì phương tiện sẽ đổ về quốc lộ 1 gây quá tải, một thời gian sau sẽ làm hỏng tuyến đường”. Một kiểu tư duy rất lạ: làm đường mà sợ có nhiều người đi (!). Té ra, việc lập trạm thu phí quốc lộ 1 cũng chỉ để xe không trốn đường cao tốc!
Liên quan việc này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có ý kiến giao Bộ GTVT chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công thương xem xét xử lý kiến nghị của Hiệp hội Vận tải hàng hóa TPHCM và Hiệp hội Vận tải ô tô An Giang về giá phí dịch vụ sử dụng đường cao tốc TPHCM - Trung Lương.
Song, câu chuyện phí đi lại chắc chắn còn dài. Ngày 1-6 đã đến gần, thời điểm phí bảo trì đường bộ, phí lưu hành phương tiện giao thông đường bộ, phí vào trung tâm các đô thị lớn (trước mắt thí điểm tại Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ) và nhiều loại phí mới có hiệu lực, đang đặt ra nhiều thách thức đối với người sở hữu ô tô, xe máy và những chủ nhân của nó khi bắt “con xe” của mình phải “cõng” hơn 10 loại thuế và phí khác nhau mà có người so sánh còn cao hơn gấp 2,5 lần so với bên Mỹ. Trong khi đó, các dịch vụ trông giữ xe, vệ sinh, bảo dưỡng cũng đua nhau tăng vọt.
Huy động sức dân để tạo nguồn thu phát triển giao thông là chủ trương nhất quán, nhất thiết phải làm và làm tốt. Nhưng làm cách nào để sức dân được “phát huy và chuyển động”, tiền vốn được chảy vào đúng đường đi, chắc chắn không phải là cách “dí dân đi theo con đường làm sẵn”.
Trần Hiệp Thủy

TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL: Đẩy mạnh liên kết, xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao


Báo SGGP, Thứ hai, 26/03/2012, 03:33 (GMT+7)

TS Nguyễn Văn Sánh
Tuần qua, sau khi đăng loạt bài “Hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, bền vững”, Báo SGGP đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phản hồi của các chuyên gia nghiên cứu, lãnh đạo ngành chức năng, địa phương nhằm đề xuất những cơ chế mới thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, chính sách hỗ trợ nông dân... Phóng viên Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, tác giả chính của đề án “Liên kết vùng với sự tham gia của 4 nhà” đã trình Chính phủ. TS Nguyễn Văn Sánh cho biết:
Mô hình liên kết “4 nhà” ở nhiều địa phương đã thực sự phát huy được vai trò của các nhà. Tuy nhiên, hiện các nhà đều có những khó khăn nhất định khiến mô hình này chưa được nhân rộng. Nhà khoa học gặp khó khăn về nguồn lực (cơ sở vật chất, con người và kinh phí) nhưng lại thiếu liên kết giữa viện, trường để phát huy thế mạnh của từng đơn vị; các nghiên cứu còn chồng chéo nhau; nhiều nghiên cứu chưa gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và ít những nghiên cứu liên ngành nên kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế còn hạn chế. Hướng tới nông nghiệp - nông thôn phát triển bền vững, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách về “tam nông”, chúng ta phải khẳng định được nông dân là đối tượng, nông nghiệp là cơ hội, nông thôn là địa bàn (nông thôn mới).
- PV: Thưa tiến sĩ, nói “nông dân là đối tượng, nông nghiệp là cơ hội, nông thôn là địa bàn” là không khó, nhưng để hiểu một cách tường tận vấn đề này là không dễ chút nào?
TS NGUYỄN VĂN SÁNH: Chúng ta phải hiểu vấn đề trên gắn với lợi thế so sánh và đặc thù sản xuất của vùng ĐBSCL. ĐBSCL hiện đóng góp hơn 50% tổng sản lượng lúa gạo cả nước, 90% lượng gạo xuất khẩu; chiếm gần 70% lượng trái cây của cả nước, hơn 70% sản lượng thủy sản của cả nước và đóng góp khoảng 80% lượng xuất khẩu. Nông nghiệp cơ hội chính là ở chỗ cây, con có lợi thế so sánh từng địa phương, tiểu vùng và vùng. ĐBSCL là lúa, gạo, cây ăn quả, cá da trơn và tôm. Tây Nguyên là cà phê, cao su và cây công nghiệp.
Nông dân là đối tượng: Nông dân đang canh tác cây gì, con gì, hoàn cảnh của họ ra sao, cách nào nâng cao năng lực của họ. Nông dân phải được nâng cao trong nghề chuyên môn. Trong đó, đào tạo nghề cho nông dân với yêu cầu họ phải nâng cao kỹ thuật sản xuất, năng lực tổ chức sản xuất, kết nối đầu vào đầu ra sản phẩm. Hiện chênh lệch giàu nghèo ở ĐBSCL là 6,4 lần và đang ngày càng rộng thêm. Khi nông dân còn nghèo thì chưa thể có một nền nông nghiệp bền vững, trong đó được quan tâm đầu tiên, trực tiếp là người nông dân phải được hưởng lợi công bằng và được bảo vệ trong môi trường sống ổn định. Tại sao chúng ta đặt vấn đề nông thôn là địa bàn? Hiện nay nông thôn là vùng dễ tổn thương nhất. Xây dựng nông thôn mới chính là một trong những giải pháp ổn định đời sống kinh tế - xã hội lẫn đời sống văn hóa tinh thần ở khu vực này. Xây dựng nông thôn mới thì phải biết đối tượng nông dân và cơ hội tăng thu cho nông dân qua phát triển nông nghiệp là ưu thế để xây dựng các tiêu chí khác trong 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.
- Liên kết vùng là vấn đề đã được đề cập nhiều nhưng tiến triển chưa tới đâu. Thậm chí, đề án do tiến sĩ là tác giả đã được Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ trình Chính phủ, nhưng đến nay vẫn “giậm chân tại chỗ”, nguyên nhân vì sao?
Việc triển khai chính sách “tam nông” là một định hướng tốt để xây dựng mối liên kết 4 nhà và liên kết vùng, giúp ĐBSCL phát triển toàn diện. Đồng thời triển khai việc liên kết là giải pháp toàn cục để thực hiện thành công chính sách “tam nông”. Để ĐBSCL phát triển bền vững thì bên cạnh sự gắn kết giữa doanh nghiệp với nông dân còn cần hoàn thiện thêm mối liên kết 4 nhà. Trong đó, doanh nghiệp cần tập trung phát triển thị trường, định ra khả năng tiêu thụ; nông dân hợp tác sản xuất có định hướng theo hợp đồng; nhà khoa học nghiên cứu đưa ra giải pháp tăng sản lượng, chất lượng và giảm giá thành sản phẩm; Nhà nước cần đầu tư cơ sở hạ tầng, cung cấp thông tin, tiêu chuẩn hóa sản phẩm xuất khẩu, có cơ chế chính sách thúc đẩy sản xuất, hỗ trợ tín dụng và tổ chức thực hiện liên kết.
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất và đòi hỏi của cuộc sống, Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL đã nghiên cứu và đề xuất một đề án tổng thể với các dự án: phát triển sản xuất lúa gạo; cây ăn trái, cá da trơn, tôm; nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua đào tạo nghề; cơ chế tổ chức và chính sách thực hiện các dự án trên. Đề án đã được Chính phủ chấp thuận cho triển khai. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn “nghẽn mạch” ở các bộ, ngành liên quan khi triển khai chi tiết.
- Để nâng cao đời sống nông dân, chúng ta cần phải xây dựng mô hình sản xuất mới. Thực tế vừa qua đã hình thành một số mô hình hiệu quả, nhưng để nông sản có giá trị cạnh tranh, công việc sắp tới sẽ còn nặng nề?
Nền nông nghiệp của ta có nhiều cơ hội. Với lợi thế 4 cây, con, hiện nay cũng đã “manh nha” vùng sản xuất lúa và tôm, cây ăn trái và thủy sản. Về cây lúa, mô hình cánh đồng mẫu lớn mới bắt đầu hình thành, cùng với vài điểm như Global GAP Cai Lậy… đã rút ngắn chuỗi giá trị, giải quyết được 4 đúng: chất lượng, giá cả, thời điểm và thị trường. Tuy nhiên, sản xuất lúa vẫn còn bất công trong chuỗi giá trị sản phẩm, nông dân trồng lúa vẫn còn nghèo; đầu vào, đầu ra sản phẩm vẫn còn bấp bênh, thất thoát sau thu hoạch còn lớn (có nơi đến 13%).
Để sản phẩm lúa gạo ổn định, ngoài cải tiến về phương pháp, mô hình sản xuất; mở rộng thị phần, thị trường theo nhiều kênh phân phối (chất lượng cao, trung bình); cải tiến vấn đề phân tích, dự báo thị trường và phân khúc thị trường để sản phẩm chất lượng cao (Global GAP chẳng hạn) phải khác sản phẩm bình thường. An ninh lương thực (dinh dưỡng, năng lượng) cần phải hiểu rõ hơn; bảo đảm cho người sản xuất ra lương thực phải sống được, có sinh kế phát triển; cải tiến hệ thống thương mại, xây dựng nông thôn mới.
Cơ hội về cây ăn trái, chúng ta có lợi thế so sánh nhưng sản xuất còn manh mún, cần có vùng nguyên liệu ổn định. Ví dụ Bưởi Năm Roi: Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang phải liên kết, chuẩn hóa giống chất lượng cao. Về thủy sản, cá tra hiện có thị trường rất rộng (khoảng 130 quốc gia và vùng lãnh thổ), tuy nhiên phân phối lợi nhuận chưa đồng đều. Giá đến bàn ăn cuối cùng hiện nay khoảng 17 USD/kg. Trong đó nông dân chỉ có 1,2 - 1,4 USD/kg, doanh nghiệp chế biến 3 - 3,5 USD/kg, còn lại là các khâu trung gian. Điều này dẫn đến lợi nhuận thấp, nông dân dễ treo hầm cá.
- Thưa tiến sĩ, để triển khai được mô hình sản xuất mới nhằm nâng cao giá trị nông sản, cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực, sắp tới chúng ta cần phải làm gì?
Chúng ta đã thấy rõ rằng, thời gian qua, tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, rời rạc, thiếu liên kết đã dẫn tới lợi thế so sánh khó khăn, đời sống nông dân khó khăn, kinh tế - xã hội nông thôn phức tạp. Chúng ta phải đẩy mạnh liên kết vùng vì thị trường không có ranh giới, biến đổi khí hậu không có ranh giới. Liên kết vùng với nhiều hình thức (liên kết ngang giữa nông dân với nông dân, liên kết dọc giữa các doanh nghiệp với quản lý chuỗi là nhà nước về cơ chế, tổ chức và chính sách...) sẽ giúp nâng cao chỗi giá trị hàng hóa, hình thành vùng sản xuất lớn, nâng dần lợi thế so sánh. Từ đó mới tính đến chuyện cạnh tranh nông sản với các quốc gia khác.
Để làm được điều này, vai trò của Nhà nước rất quan trọng (quản lý chuỗi). Nhà nước phải phát huy rõ vai trò nhạc trưởng và đầu tàu trên cơ sở tạo ra các cơ chế, cách tổ chức, chính sách thông thoáng. Nhà nước phải đưa ra thể chế, tiêu chuẩn hóa hàng hóa, quy hoạch đầu tư phát triển, giải quyết môi trường. Đồng thời, cần tăng cường mối liên hệ giữa viện nghiên cứu và trường đại học với các khu vực khác để hỗ trợ khoa học công nghệ, đào tạo nghề cho nông dân.
Mục tiêu cụ thể được xác định như sau: Lai tạo và chọn lọc những giống lúa, cây ăn quả, cá da trơn, tôm có năng suất, chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, có khả năng chống chịu dịch bệnh và thích ứng với điều kiện khí hậu của từng tiểu vùng sản xuất ở ĐBSCL. Xác định các giải pháp kỹ thuật trong quá trình canh tác và sau thu hoạch để giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi. Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng lúa gạo, trái cây, cá da trơn và tôm, trong đó, việc nối kết nông dân với doanh nghiệp từ sản xuất đến tiêu thụ được đặc biệt chú trọng. Nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua việc huấn luyện và chuyển giao khoa học, công nghệ và kỹ năng quản lý nông nghiệp. Chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp theo phương châm “ly nông bất ly hương”, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Phản hồi cơ chế, tổ chức và chính sách về liên kết vùng và liên kết “4 nhà” đến trung ương và các địa phương, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết 26-NQ/TW tại vùng ĐBSCL.
Trần Minh Trường thực hiện
Đồng bằng sông Cửu Long đang bội thu năng suất lúa. Ảnh: Hoàng Trọng

24 tháng 3, 2012

Thành lập cổng thông tin điện tử Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ.

Văn phòng Chính phủ vừa có công văn số 1645/VPCP-NC, truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh đồng ý thành lập cổng thông tin điện tử Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, hoạt động theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP - ngày 13.6.2011 của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử.     
H.HIÊP (Báo LAO ĐỘNG ngày 24-3-2012) 

Đồng chí Nguyễn Phong Quang - Phó Trưởng ban thường trực BCĐ Tây Nam Bộ tham gia Uỷ ban Quốc gia về biến đổi khí hậu


Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng - Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về biến đổi khí hậu (ủy ban) vừa ban hành Quyết định số 26/QĐ-UBQGBĐKH - ngày 20.3.2012 phê duyệt danh sách 22 thành viên ủy ban do Thủ tướng làm Chủ tịch, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải làm phó chủ tịch thường trực và Bộ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Minh Quang làm phó chủ tịch. Đồng chí Nguyễn Phong Quang - Phó Trưởng ban thường trực BCĐ Tây Nam Bộ là ủy viên cùng lãnh đạo các bộ, ngành liên quan. Cùng ngày, Thủ tướng cũng đã ban hành quy chế làm việc của ủy ban.

TÀI LIỆU HỌC MÔN LUẬT HIẾN PHÁP

Mời các anh/chị sinh viên lớp ĐH Luật khóa I, II  (TPCT) - ĐH Trà Vinh tải về các tài liệu học tập môn Luật Hiến pháp (Click vào các tài liệu sau):
I. CÁC VĂN BẢN LUẬT:
1. Hiến pháp năm 2013
2  Hiến pháp năm 1992
3. Hiếp pháp năm 1980
Hiếp pháp năm 1959
5.Hiến pháp năm 1946
6.Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 và Sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2007
7. Luật Tổ chức Chính phủ năm năm 2001
8. Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
8. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002
9. Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002
10. HP Hợp chúng qôốc Hoa Kỳ

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Giáo trình LUẬT HIẾN PHÁP (GS. Nguyễn Đăng Dung, ĐHQG Hà Nội)
2. Bài giảng LUẬT HIẾN PHÁP (Click vào để tải về):
2.1. Bài 1. Những vấn đề cơ bản về LHP
2.2. Bài 2. Chế độ chính trị
2.3. Bài 3. Chế độ kinh tế
2.4. Bài 4. Bộ máy nhà nước

22 tháng 3, 2012

Ép dầu, ép mỡ ai nỡ ép dân ...

Trần Hiệp Thủy
Có 2 câu chuyện thu hút sự quan tâm của dư luận mấy tuần qua. Câu chuyện thứ nhất: Bảo hiểm Xã hội VN còn có quyền khi không chấp nhận thanh toán 58 tỉ đồng từ Quỹ Bảo hiểm y tế (chỉ riêng ở 13 tỉnh, thành bị phát hiện) do các cơ sở y tế (CSYT) “lạm dụng” bảo hiểm.
Cầu, đường mới được xây dựng - niềm vui và nỗi lo ... phí.
Nhưng từ nhiều năm qua, hàng triệu bệnh nhân đã phải “không dám từ chối” móc hầu bao trả thêm các chi phí “xét nghiệm chồng xét nghiệm” khi đến khám, điều trị tại bệnh viện. Việc các CSYT không công nhận kết quả xét nghiệm lẫn nhau (kể cả trường hợp chuyển bệnh) đã trở thành “thủ tục đầu tiên”. Người phản ánh việc này khi đến khám, điều trị tại bệnh viện ở Cần Thơ đã từng phải làm lại nhiều xét nghiệm máu, X quang, siêu âm... theo chỉ định mới, mặc dù đã có kết quả xét nghiệm tương tự của Trung tâm chẩn đoán y khoa Medic - TPHCM rất uy tín trước đó ít hôm.
Để bệnh nhân khỏi bị “ép thêm bệnh, trả thêm tiền”, cần ban hành những qui định, chuẩn mực bắt buộc các CSYT phải chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả xét nghiệm y khoa của mình; đồng thời buộc “liên thông trách nhiệm” để các CSYT phải công nhận kết quả xét nghiệm của nhau.
Câu chuyện thứ hai liên quan đến việc đi lại. Việc ngành chức năng xây thêm các trạm thu phí QL1 (Bình Chánh - Trung Lương) sau khi lái xe bỏ đường cao tốc TPHCM - Trung Lương như một kiểu “ví dân vào đường thu phí”. Liên quan việc này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có ý kiến giao Bộ GTVT chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công thương xem xét xử lý kiến nghị của Hiệp hội Vận tải hàng hóa TPHCM và Hiệp hội Vận tải ôtô An Giang về giá phí dịch vụ sử dụng đường cao tốc TPHCM - Trung Lương.
Song, câu chuyện phí đi lại chắc chắn còn dài. Ngày 1.6 đã đến gần, thời điểm phí bảo trì đường bộ, phí lưu hành phương tiện giao thông đường bộ, phí vào trung tâm các đô thị lớn (trước mắt thí điểm tại Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ) và nhiều loại phí mới có hiệu lực, đang đặt ra nhiều thách thức cho ôtô, xe máy và những chủ nhân của nó khi bắt “con xe” của mình phải “cõng” hơn 10 loại thuế và phí khác nhau mà có người so sánh còn cao hơn gấp 2,5 lần so với bên Mỹ. Trong khi đó, các dịch vụ trông giữ xe, vệ sinh, bảo dưỡng cũng đua nhau tăng vọt. “Huy động sức dân” để tạo nguồn thu phát triển giao thông là chủ trương nhất quán, nhất thiết phải làm và làm tốt; nhưng làm cách nào để sức dân được “phát huy và chuyển động”, tiền vốn được chảy vào đúng đường đi. Chắc chắn không phải là cách “ví dân vào đường thu phí”.

20 tháng 3, 2012

HÀ TIÊN QUA GÓC NHÌN CỦA TÔI

Là dân Miền Tây chính gốc, nhưng mãi đến tháng 8-2010, lần đầu tiên mình mới đặt chân đến "thăm miền ước mơ", năm 2011, lần thứ hai trở lại ... Đây bến Tô Châu không quên niềm lưu luyến ... Tôi đã lang thang trong một buổi bình mình, thẩn thơ nghĩ về những bậc tiền nhân mở cõi ...


Chợ ẩm thực Hà Tiên
Sức sống Hà Tiên?
Bến Tô Châu sáng sớm

Tôi vô thăm Thạch Động, trời bát ngát mênh mông:
Thạch Động ở Hà Tiên không lớn hơn thạch động ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, dĩ nhiên không thể kỳ bí như thạch động ở Hạ Long hay Tam Cốc - Hạ Long trên cạn - ở Hoa Lư. Nhưng Thạch Động Hà Tiên có nét riêng tư, có cái hồn của biển Tây Phương Nam, gió núi miền biên ải Tây Nam ...

Tháng tám mưa dầm, nhưng đêm nay Hà Tiên chỉ lất phất mưa bay, cơn gió lạnh thổi vào từ biển, ... vẫn còn đó những mảnh đời lam lũ mưu sinh.
Nhưng người Hà Tiên nói chung, dường như cũng vô tư, chan hòa và thật thà như chú bé này. Vào chợ, shop mua hàng, du khách ít gặp ai nói thách.
Lăng tẩm dòng họ Mạc ...


NỖI NHỚ … XE LÔI

Trần Hiệp Thủy
Xe lôi đêm ở phố biển Hà Tiên. Ảnh: hiepcantho
Đã lâu, không thấy bóng dáng chiếc xe lôi nào - hình ảnh quen thuộc, gắn bó với đời sống văn hóa, sinh hoạt của nhiều thế hệ người Miền Tây. Thấy nhơ nhớ một thứ gì, thì ra, nỗi nhớ ... xe lôi!
Là người Miền Tây, chẳng mấy ai chưa từng ngồi xe lôi một thời: đi chợ, đi chơi, về quê, kể cả chở người … đi cấp cứu đến bệnh viện. Đủ thứ lý do để ngồi xe lôi. Xe lôi từng bị coi là tác giả của tai nạn giao thông. Đã mấy năm qua nhiều nơi dẹp xe lôi, phố phường dường như cũng bớt cảnh lộn xộn, giới xe lôi giành giựt khách. Những chiếc xe lôi "Made in Hai Lúa" xưa giờ đã được thay bằng những cổ xe lôi to đùng "Made in China". Nhưng bỏ xe lôi Miền Tây năm bảy năm rồi mà số vụ tai nạn giao thông hình như vẫn không giảm, té ra “oan xe lôi”.
Không ở đâu có loại phương tiện “đặc hữu” này như xứ sở Miền Tây. Từ điển Từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 mô tả “Xe lôi là loại xe có bộ phận chở khách, chở hàng được gắn vào sau xe đạp hoặc xe gắn máy”. Độc giả từng thích thú với đoạn tả cảnh đặc sệt chất giọng Miền Tây của ông già “Nam Bộ học” Sơn Nam có hình ảnh của chiếc xe lôi một thời “Con đường từ chợ Rạch Giá đến xóm Sóc Xoài quá gồ ghề, chiếc xe lôi nhảy tưng tưng từng chập ...". Cách đây mươi năm, Nhà báo Lê Thanh Nguyên (Báo Lao Động) có bài phóng sự hấp dẫn “Ê … xe lôi” phản ánh nét sinh hoạt phố phường mang đậm chất Miền Tây dân dã một thời. Nay không thể tìm lại hình ảnh quen thuộc đó.   
Nhiều người khen những anh Hai Lúa đồng bằng học chưa hết lớp ba mà biết sáng tạo ra máy móc, nông cụ hơn cả anh kỹ sư, tiến sĩ được học hành đàng hoàng. Nhưng trước khi sáng chế ra máy hút bùn, công cụ diệt rầy cứu lúa, thậm chí chế tạo cả máy bay “Made in Hai Lúa”, dân Miền Tây đã biết “chế tạo” ra XE LÔI. Từ một chiếc xe chỉ chở được 2 người (một người lái, một ngồi sau), dân lục tỉnh bắt nó phải chở 7 người (1 người lái và 6 người ngồi sau thùng xe). “Cấu trúc vật lý” của xe lôi máy thông thường gồm: “đầu kéo” là xe gắn máy và thùng xe có mui che, tải trọng thông thường chở 4 người ngồi sau, nhưng lúc thắt ngặt, đi lại khó khăn, nhiều bác tài chở 6-8 người vẫn khỏe re. Tiện ích của xe lôi là có thể chở khách đến tận cùng ngõ hẻm, kể cả hành lý, giá cước, lại vừa túi tiền với mọi người, nhất là dân lao động mua gánh bán bưng.
Quả thật, chiếc xe lôi vẫn luôn là hình ảnh quen thuộc của người dân đồng bằng sông Cửu Long. Hình ảnh đó đã trở thành một nét văn hóa rất độc đáo, ghi đậm dấu ấn trong lòng du khách khi ghé bước đến nơi này. Tôi vẫn có niềm tin, nếu làm một cuộc điều tra xã hội học, thì chắc chắn đa số những người miền Tây sống gắn bó với mảnh đất này hay vì một lý do gì biền biệt xa quê, thì bên cạnh những ký ức cuộc sống gắn bó với miệt vườn sông nước, ruộng đồng quê hương là hình ảnh những chiếc xe lôi thân thuộc một thời. Việc dẹp xe lôi để nhường chỗ cho những phương tiện văn minh như taxi, xe buýt là một tất yếu, nhưng xóa sổ hẳn một hình ảnh thân thương đặc trưng của một vùng đất như xe lôi, liệu có phải là một giải pháp khôn ngoan?
Mới đây, Tạp chí nổi tiếng Lonely Planet trực thuộc BBC Worldwide vừa có bài viết bình chọn ĐBSCL là một trong 10 điểm đến giá trị nhất trong năm 2012 (Top 10 best value destinations for 2012) và khuyên du khách hãy tự mình khám phá những giá trị Việt Nam bởi những trải nghiệm thú vị và bổ ích nơi đây. Cùng với sông nước miệt vườn, chợ nổi trên sông, hình ảnh chiếc xe lôi nếu được các công ty du lịch khôi phục, khai thác nhằm mục đích du lịch, chắc chắn sẽ tạo ra điểm khác biệt, tò mò khám phá của nhiều du khách đến vùng đất này.
Xe lôi "Made in China" thay cho "Made in Hai Lua"!

Sáp nhập hai "ông lớn" MobiFone và Vinaphone

Bee.net.vn. ngày 19/03/2012 21:10:37
- Ông Phan Hoàng Đức, ủy viên hội đồng quản trị, phó Tổng giám đốc thường trực Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã chính thức xác nhận thông tin này.
Ông Đức cho biết, trong quá trình tái cấu trúc chắc chắn VNPT sẽ giữ lại hệ thống mạng di động, và hệ thống hạ tầng… Nhưng lần tái cấu trúc này tập đoàn sẽ tiến hành sáp nhập 2 doanh nghiệp di động MobiFone và Vinaphone làm một.
Trên cơ sở đó 2 doanh nghiệp này sau khi được sáp nhập sẽ dùng chung hạ tầng. Đầu số di động mà khách hàng đang dùng của 2 nhà mạng hiện nay vẫn được giữ nguyên.
Minh Đức- N.Liên

Tin này đã được Thứ trượng Bô TTTT xác nhận không chính xác

19 tháng 3, 2012

Đám cưới rước dâu bằng xe Jeep độc đáo ở Cần Thơ

(Zing) - Một đám cưới diễn ra vào sáng ngày 17/3 vừa qua tại Cần Thơ khiến người dân lại một phen xôn xao vì màn rước dâu bằng xe Jeep.

Trong khi, dư luận chưa hết ồn ào vì những đám cưới "khủng" rước dâu bằng siêu xe xuất hiện ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam trong thời gian gần đây thì tại Cần Thơ, ngay gần siêu thị Maximax, người dân lại thêm một phen háo hức, tò mò với dàn xe Jeep đón dâu.
Hiện chưa rõ chủ nhân của đoàn xe Jeep này.


 

Trung phong
Theo Infonet

SỞ HỮU ĐẤT ĐAI - CẦN SỰ CHÍNH DANH


                                                                                 Trần Hữu Hiệp
Những cánh đồng xanh trên mảnh đất đang cần chính danh "chủ đất"
Sở hữu tư nhân về đất đai rất cần sự "chính danh”, nó không chỉ làm phong phú thêm "chế độ sở hữu toàn dân” về đất đai mà còn giúp từng thửa đất, ngôi nhà, mảnh vườn, miếng ruộng của người dân, cơ quan, doanh nghiệp có chủ thực sự. Thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân về đất đai trong lần sửa đổi Hiến pháp, Luật Đất đai sắp tới là nhu cầu bức thiết.
Khi "chiếc áo” pháp lý quá chật
Câu chuyện về người nông dân ở Long An hàng chục năm trời tích tụ để có được gần 500 ha đất canh tác, đáp ứng nhu cầu sản xuất lớn nhưng phải đối phó bằng cách nhờ người khác "đứng tên”; hàng loạt khiếu kiện đất đai kéo dài trở thành điểm nóng, chiếm đến 70% các vụ khiếu kiện hiện nay khó giải quyết dứt điểm; hệ quả của các quyết định thu hồi đất, giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi; những sai phạm liên quan cưỡng chế đất đai ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng... đã là những chỉ dấu về "chiếc áo pháp lý” – Luật Đất đai - không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, qui định mới. Đặc biệt, trước yêu cầu tổng kết thi hành và sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nó vừa bức xúc, vừa là cơ hội lịch sử để thay đổi căn bản Luật Đất đai so với các lần sửa đổi năm 1993, 1998, 2001, 2003 và năm 2009 vừa qua.

PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS - NHIỆM VỤ CẤP BÁCH


Bài trên báo Sài Gòn Giải Phóng, Thứ hai, 19/03/2012, 02:06 (GMT+7)
Trần Hữu Hiệp
“Vùng trũng” y tế, giáo dục - đào tạo ĐBSCL đang vượt trội về tỷ lệ người nhiễm HIV bị lây truyền qua đường tình dục.
Theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục của khu vực này đã tăng nhanh gấp 2,4 lần, từ 32% năm 2007 lên 76% năm 2011, cao nhất cả nước và cao hơn nhiều so bình quân cả nước là 41,4%.
Hiện toàn vùng có 30.117 người nhiễm HIV, trong đó mắc AIDS còn sống là 7.103 người, đã tử vong 10.522 người. An Giang là địa phương có số nhiễm HIV còn sống cao nhất với 4.450 người, Đồng Tháp: 3.776 người, Kiên Giang: 3.714 người và TP Cần Thơ: 3.645 người. Tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân của TP Cần Thơ là 304 cao nhất vùng, kế đến là Bạc Liêu: 243, Đồng Tháp: 225, Kiên Giang: 218 và An Giang là 206 người. Những con số thống kê rất đáng để... giật mình.

Theo nhận định của Bộ Y tế, ĐBSCL đang ở giai đoạn tập trung trong nhóm nguy cơ cao. Các tỉnh đã có nhiều cố gắng xây dựng mạng lưới tuyên truyền với 617 tuyên truyền viên đồng đẳng ở nhóm phụ nữ bán dâm, cao hơn 1,7 lần so với khu vực Đông Nam bộ. Trong năm 2011, chương trình phân phát bao cao su miễn phí đã được triển khai tại 91 quận/huyện, chiếm hơn 53% số quận, huyện và 852 xã, phường, chiếm gần 42% số xã, phường trong vùng với hơn 6,7 triệu bao cao su đã cấp phát, chiếm 23,5% số bao cao su cấp phát miễn phí cả nước.
“Dụng cụ” đã có, nhưng vấn đề đáng lo ngại là người dùng. Lý giải về những con số đáng lo ngại của ĐBSCL hiện nay, Bộ Y tế nêu ra 4 nguyên nhân cần quan tâm. Đó là nhận thức của người dân về đại dịch HIV/AIDS, đầu tư ngân sách còn nhiều hạn chế, nhân lực chuyên môn và cơ sở vật chất yếu kém.
Đoàn viên thanh niên đi đầu trong tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS. Ảnh: A.TR.
Kinh phí đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS trong vùng ĐBSCL thời gian qua chủ yếu từ chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế, chiếm đến 77,2%. Năm 2011, toàn vùng được đầu tư 126 tỷ đồng, bình quân 9,6 tỷ đồng/tỉnh; trong đó, một số địa phương tiếp nhận nguồn kinh phí rất thấp như Trà Vinh (3,7 tỷ đồng/năm), Bạc Liêu (4,3 tỷ đồng/năm).


Trong điều kiện nước ta vừa thoát khỏi tình trạng nước nghèo, nguồn viện trợ cho lĩnh vực này bị cắt giảm, sẽ rất khó khăn cho các địa phương đáp ứng tốt yêu cầu phòng, chống, ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS. Cách tiếp cận vốn để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, ngoài việc tiếp tục tranh thủ các nguồn viện trợ, đóng góp của cộng đồng, phải cân đối lại từ nguồn ngân sách để đầu tư. Lâu nay, nguồn thu từ xổ số kiến thiết, theo quy định phải ưu tiên đầu tư cho y tế, giáo dục theo tỷ lệ 70%, còn 30% các địa phương chủ động đầu tư cho các mục tiêu bức xúc khác. Tại Hội nghị tổng kết năm 2011 của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ vừa qua, các địa phương đã thống nhất đề xuất Chính phủ chấp thuận chủ trương để địa phương chủ động sử dụng 40% nguồn thu này cho các mục tiêu bức xúc khác.


Đã đến lúc cần xác định nhiệm vụ phòng, chống đại dịch HIV/AIDS là nhiệm vụ cấp bách để quan tâm đầu tư ngân sách thay cho việc chủ yếu trông chờ vào nguồn viện trợ như thời gian qua. Đừng để những con số thống kê đứng đầu cả nước về HIV/AIDS che mất ánh sáng lấp lánh của kỳ tích hạt gạo, trái cây, thủy sản vùng ĐBSCL. 
TRẦN HỮU HIỆP

"KẾ HOẠCH HÓA SINH SẢN" CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

TRẦN HỮU HIỆP

Dự thảo Luật Giáo dục đại học (GDĐH) đang được Quốc hội tập trung thảo luận. “Thành tích” đáng lo ngại là sự phát triển nóng của các trường ĐH: Hằng năm có thêm 11 trường mới ra đời. “Vùng trũng GDĐT” ĐBSCL mỗi năm cũng “đẻ” thêm 1 trường.
Vào năm 2000, toàn vùng chỉ có ĐH Cần Thơ, nay đã tăng lên 12 trường và 2 phân hiệu (của ĐH Kiến trúc TPHCM tại TP.Cần Thơ và ĐH Thủy sản Nha Trang tại tỉnh Kiên Giang). Ngoài ra, còn một số trường đã chính thức có chủ trương thành lập: ĐH Đồng bằng sông Cửu Long, ĐH đẳng cấp quốc tế tại Cần Thơ, ĐH Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ, ĐH Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ... Theo quy hoạch, đến năm 2020, ĐBSCL sẽ có khoảng 70 trường đại học và cao đẳng.
Theo đánh giá của Bộ GDĐT, ngoài ĐH Cần Thơ tương đối đủ điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên cơ hữu, các trường còn lại đều lâm cảnh khó khăn. Cả nước trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, ĐBSCL càng đáng lo ngại hơn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các địa phương trong vùng, trong 8,3% lao động được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật vào thời điểm 2010, số lao động có trình độ CĐ, ĐH chiếm tỉ lệ cao nhất với (4%).


Cần nhấn mạnh rằng, 10 năm qua, số sinh viên ĐH, CĐ tại vùng trọng điểm lúa gạo, thủy sản, trái cây của cả nước này đã tăng lên rất nhanh, cụ thể: Vĩnh Long (tăng 8,5 lần), Trà Vinh (5 lần), Đồng Tháp (4 lần), Kiên Giang và Cần Thơ (3 lần). Sự tăng trưởng này những tưởng mở ra chân trời mới cho con em “Hai Lúa” tiếp cận tri thức mới, ai dè chất lượng đào tạo của các trường ĐH mới thành lập lại có vấn đề.
Một vị lãnh đạo UBND của một tỉnh hiếm hoi ở vùng ĐBSCL chưa có trường ĐH than thở: Biết việc xin thành lập trường ĐH trong điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên thiếu thốn chưa hẳn hay bằng cho con em mình học trường chất lượng của tỉnh bạn, nhưng liệu trong tỉnh ủy, HĐND tỉnh, rồi dư luận dân chúng địa phương có “chịu yên” khi xung quanh tỉnh nào cũng có trường ĐH?
Có ý kiến cho rằng, cùng với tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc ngành ngân hàng, VN cũng cần “tái cấu trúc” mạng lưới ĐH để nâng cao chất lượng đào tạo. Ngoài biện pháp tăng cường kiểm định độc lập, đưa công tác đào tạo vào thực chất, cần phân biệt rõ giữa ĐH nghề (thực hành) và ĐH lý thuyết như cách các nước Âu - Mỹ đang áp dụng. Bài học tuyển chọn nhân sự của một tập đoàn CNTT nổi tiếng vừa qua - thẳng tay loại bỏ các ứng viên tốt nghiệp ĐH để chỉ chọn công nhân lành nghề cho vị trí mà họ đang cần – chính là câu trả lời cho “nhu cầu xã hội thực chất”.



16 tháng 3, 2012

Gần 24.000 tỉ đồng phát vay cho 3,6 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách vùng ĐBSCL

Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, đến nay hệ thống ngân hàng này đã phát vay gần 24 ngàn tỉ đồng cho trên 3,6 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trong vùng ĐBSCL. Tổng dư nợ đạt 16.920 tỉ đồng với hơn 1,5 triệu hộ, giúp trên 535 ngàn hộ thoát nghèo, thu hút hơn 472 ngàn hộ có việc làm, hơn 382 ngàn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn đi học, hơn 582 ngàn công trình vệ sinh, nước sạch được xây dựng, hơn 82 ngàn căn nhà vượt lũ cho hộ dân trong các cụm, tuyến dân cư và hơn 114 nghìn căn nhà ở cho hộ nghèo. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu chiếm khá cao (3,2%), gấp 1,7 lần bình quân chung toàn quốc; lãi tồn đọng chiếm hơn 1/3 lãi tồn đọng của toàn quốc; nợ không đối chiếu được còn nhiều, chiếm 2/3 toàn quốc. Bên cạnh một số ít chi nhánh hoạt động khá tốt thì đại đa số các chi nhánh hoạt động yếu kém.
Hữu Hiệp

Phê duyệt nhiệm vụ chung qui hoạch khu kinh tế Năm Căn, Cà Mau

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 296/QĐ-TTg ngày 12-2-2012 phê duyệt Qui hoạch chung xây dựng Khu Kinh tế Năm Căn, tỉnh Cà Mau đến năm 2030. Theo đó, Khu Kinh tế Năm Căn được xác định là khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực, gồm: khu phi thuế quan (công nghiệp – thương mại – dịch vụ), khu thuế quan (đô thị, nuôi trồng thủy sản kỹ thuật cao, dịch vụ du lịch sinh thái và trung tâm tiếp vận. Khu kinh tế Năm Căn có diện tích đất tự nhiên là 11.000ha, nằm dọc theo hành lang trục QL1A thuộc thị trấn Năm Căn, xã Hàm Rồng, Hàn Vịnh và ấp Ông Do thuộc xã Đất Mới; dân số hiện trạng trên 35.000 người, dự kiến qui mô dân số đến 2020 khoảng 40.000 – 45.000 người, đến 2030 khoảng 75.000 – 90.000 người. Thủ tướng giao UBND tỉnh Cà Mau phối hợp Bộ Xây dựng tổ chức lập đề án trong 12 tháng trình Thủ tướng quyết định phê duyệt
HỮU HIỆP

15 tháng 3, 2012

ĐBSCL: Báo động lây nhiễm HIV qua đường tình dục

Trần Hiệp Thủy
Đã đến lúc cần xác định nhiệm vụ phòng, chống đại dịch HIV/AIDS là nhiệm vụ cấp bách để quan tâm đầu tư ngân sách thay cho việc chủ yếu trông chờ vào nguồn viện trợ như thời gian qua.
Đừng để những con số thống kê “đứng đầu” cả nước về HIV/AIDS che mất ánh sáng lấp lánh của kỳ tích hạt gạo, trái cây, thủy sản vùng ĐBSCL!     
Giựt mình... những con số cao nhất nước
“Vùng trũng” y tế, giáo dục - đào tạo ĐBSCL đang “vượt trội” về tỉ lệ người nhiễm HIV bị lây truyền qua đường tình dục. Theo thống kê của Bộ Y tế, tỉ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục của “vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản” này đã tăng nhanh gấp 2,4 lần, từ 32% năm 2007 lên 76% năm 2011, cao nhất cả nước và cao hơn nhiều so bình quân cả nước là 41,4%. Hiện toàn vùng có 30.117 người nhiễm HIV; trong đó mắc AIDS còn sống là 7.103 người, đã tử vong 10.522 người. An Giang là địa phương có số nhiễm HIV còn sống cao nhất với 4.450 người, Đồng Tháp: 3.776 người, Kiên Giang: 3.714 người và TP. Cần Thơ: 3.645 người. Tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân của TP.Cần Thơ là 304 cao nhất vùng, kế đến là Bạc Liêu: 243, Đồng Tháp: 225, Kiên Giang: 218 và An Giang là 206 người.
Theo kết quả giám sát trọng điểm của cơ quan chức năng, thì Cần Thơ và An Giang cũng là 2 địa phương có tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm tương ứng là 10,67% và 3%, cao hơn tỉ lệ chung cả nước. Tỉ lệ nhóm phụ nữ bán dâm không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục từ 20 - 30%. Nguy cơ lây nhiễm của nhóm này cho bạn tình, rồi lan ra vợ/chồng cũng rất cao với tỉ lệ “ngất ngưỡng” từ 50 – 70%. Theo cơ quan chuyên môn, toàn vùng hiện có khoảng 15.000 phụ nữ bán dâm, 10.000 nam có quan hệ tình dục đồng giới ... như những “ngòi nổ chậm” của đại dịch nếu không được giám sát cộng đồng tốt và nâng cao nhận thức, kiểm soát hành vi tình dục. Những con số thống kê rất đáng để... giựt mình.
Tìm nguyên nhân “tăng trưởng”
Theo nhận định của Bộ Y tế, ĐBSCL đang ở giai đoạn “tập trung trong nhóm nguy cơ cao”. Các tỉnh đã có nhiều cố gắng xây dựng “mạng lưới tuyên truyền” với 617 tuyên truyền viên đồng đẳng ở nhóm phụ nữ bán dâm, cao hơn 1,7 lần so với khu vực Đông Nam Bộ. Trong năm 2011, chương trình phân phát bao cao su miễn phí đã được triển khai tại 91 quận/huyện, chiếm hơn 53% số quận, huyện và 852 xã, phường, chiếm gần 42% số xã, phường trong vùng với hơn 6,7 triệu bao cao su đã cấp phát, chiếm 23,5% số bao cao su cấp phát miễn phí cả nước. “Dụng cụ” đã có, nhưng vấn đề đáng lo ngại là “người dùng”. Lý giải về những “con số tăng trưởng” đáng lo ngại của ĐBSCL hiện nay, Bộ Y tế nêu ra 4 nguyên nhân cần quan tâm. Đó là nhận thức của người dân về đại dịch HIV/AIDS, đầu tư ngân sách còn nhiều hạn chế, nhân lực chuyên môn và cơ sở vật chất yếu kém.
Yêu cầu đầu tư và tiếp cận mới
Kinh phí đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS trong vùng ĐBSCL thời gian qua chủ yếu từ chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế, chiếm đến 77,2%. Năm 2011, toàn vùng được đầu tư 126 tỉ đồng, bình quân 9,6 tỉ đồng/tỉnh; trong đó, một số địa phương tiếp nhận nguồn kinh phí rất thấp như Trà Vinh (3,7 tỉ đồng/năm), Bạc Liêu (4,3 tỉ đồng/năm).
Trong điều kiện nước ta vừa thoát khỏi tình trạng nước nghèo, nguồn viện trợ cho lĩnh vực này bị cắt giảm, sẽ rất khó khăn cho các địa phương đáp ứng tốt yêu cầu phòng, chống, ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS. Cách tiếp cận vốn để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, ngoài việc tiếp tục tranh thủ các nguồn viện trợ, đóng góp của cộng đồng, phải cân đối lại từ nguồn ngân sách để đầu tư. Lâu nay, nguồn thu từ xổ số kiến thiết, theo qui định phải ưu tiên đầu tư cho y tế, giáo dục theo tỉ lệ 70%, còn 30% các địa phương động chủ động đầu tư cho các mục tiêu bức xúc khác. Tại Hội nghị tổng kết năm 2011 của BCĐ Tây Nam Bộ vừa qua, các địa phương đã thống nhất đề xuất Chính phủ chấp thuận chủ trương để địa phương chủ động sử dụng 40% nguồn thu này cho các mục tiêu bức xúc khác.