31 tháng 7, 2017

Trò chơi may rủi và nhân lực đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Vé số tạo ra nguồn thu lớn nhưng ít tạo ra giá trị vật chất cho xã hội. Những con số tăng trưởng doanh thu và đóng góp lớn của xổ số tỉ lệ nghịch với chất lượng nhân lực đồng bằng đang đòi hỏi phải có những quyết sách mạnh mẽ. 
Mặc dù phải cạnh tranh gay gắt với xổ số điện toán, nhưng doanh thu của 21 công ty xổ số kiến thiết (XSKT) miền Nam năm 2016 vẫn đạt hơn 65.000 tỉ đồng, tương đương 3 tỉ USD, chiếm khoảng 90% doanh thu toàn ngành. Mỗi tỉnh, thành chỉ có 1 công ty XSKT, nhưng đó thật sự là “mỏ vàng”.
Chưa kể nguồn thu từ Vietlott từng gây sốt thị trường vé số gần một năm qua, chỉ riêng 6 tháng đầu năm nay, hoạt động XSKT riêng khu vực Tây Nam Bộ đã mang về hơn 9.323 tỉ đồng nguồn thu ngân sách, bằng 72,2% dự toán thu toàn ngành xổ số cả nước, chiếm 25,3% tổng thu nội địa của cả vùng.

Không thể phủ nhận, xổ số là ngành kinh doanh siêu lợi nhuận, là nguồn thu quan trọng trong điều kiện ngân sách eo hẹp. Địa phương có thể sử dụng phần lớn từ nguồn thu xổ số để tái đầu tư cho các công trình y tế, giáo dục, xây dựng nông thôn mới. Nhưng đó chỉ là một mặt tích cực của “đồng tiền kinh tế”. Vé số tạo ra nguồn thu lớn nhưng ít tạo ra giá trị vật chất cho xã hội. Đó là chưa kể có bao nhiêu đồng tiền bị hao hụt trung gian như lương cho giám đốc và cán bộ quản lý, hệ thống đại lý, vé số hủy hay các kiểu tài trợ của các công ty XSKT cho các mối “quan hệ ngoài ngành”?
Từ năm 2017, khoản thu từ XSKT mới được đưa vào cân đối ngân sách sau một thời gian dài “nằm ngoài”. Trong khi chất lượng quản lý một nguồn thu nhạy cảm, đầy những bất trắc, rủi ro, kể cả những án mạng từ cờ bạc. Một nghịch lý là những tỉnh nghèo, chỗ trũng về giáo dục lại đứng đầu cả nước về nguồn thu xổ số. Đội ngũ những người bán vé số dạo thường đầy ắp ở những địa phương nghèo.
Đặt trò chơi may rủi bên cạnh chất lượng nhân lực ĐBSCL - thị trường lớn của XSKT - là một so sánh khập khiễng nhưng rất đáng để suy ngẫm.
Sau hơn 10 năm chọn “phát triển nguồn nhân lực” là một trong ba khâu đột phá, phải thừa nhận nhân lực ĐBSCL có bước phát triển mới về quy mô, số lượng, nhưng so với các vùng miền trong cả nước lại tiếp tục tụt hậu. Tây Nam Bộ đang xếp cuối bảng cả nước với chỉ 11,4% số lao động từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế, chưa kể một lượng lớn các em bỏ học vì sinh kế. Tỉ lệ học sinh bỏ học ở 3 cấp của vùng này cao gần 3 lần cả nước. Kinh tế khó khăn, chi phí học hành lớn là nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh bỏ học.
Một năm học mới sắp đến. Lo cho giáo dục bậc đại học rất cần, nhưng cũng chỉ là “phần ngọn” nếu không được xây nền vững từ bậc mầm non, tiểu học và trung học. Những con số tăng trưởng doanh thu và đóng góp lớn của xổ số tỉ lệ nghịch với chất lượng nhân lực đồng bằng đang đòi hỏi phải có những quyết sách mạnh mẽ. Hệ thống giáo dục từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, đại học đến các trường nghề trong vùng cần được quan tâm đầu tư để đủ sức tạo ra “sản phẩm nhân lực” tốt hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của xã hội.
Cuộc chiến chống lại nghèo khó và vươn lên thoát khỏi vùng trũng về chất lượng nhân lực của miền Tây Nam Bộ rất cần được tăng tốc với cách làm hiệu quả hơn.

Giáo dục không chỉ hướng đến chất lượng, nguồn cung có uy tín cho xã hội và doanh nghiệp, mà cần nâng cao ý thức để người dân quan tâm nhiều hơn đến giáo dục nhằm kiến tạo tương lai vững chắc cho con em mình, hơn là các trò chơi may rủi.

27 tháng 7, 2017

Bò Úc nhập đàn cùng bò Việt: Tại sao không?

Trần Hữu Hiệp
Cuối năm 2016, hệ thống cửa hàng “bò khỏe” tưng bừng khai trương ở Cần Thơ, bằng việc cung cấp một lượng lớn thịt bò Úc tươi sống, đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng các tỉnh ĐBSCL.
“Bò khỏe” sau hơn nửa năm được “khai sinh”, đã xác lập một chuỗi giá trị của con bò ngoại ngay tại xứ sở đồng bằng, hàng ngày đang mời chào các bà nội trợ bằng lợi thế mới. 
Đàn bò Úc nhập khẩu đang nhập đàn bò Việt.

Từ nước Úc đến miền Tây Nam Bộ
Ngày 21/4/2017, tại Tân cảng Cái Cui (Cần Thơ) tổ chức lễ đón tàu biển quốc tế đầu tiên, trong đó có một lô hàng đặc biệt: 1.800 còn bò tơ dưới 20 tháng tuổi từ Úc vượt đại dương đến đây, xác lập một kênh phân phối tiêu dùng mới ở miền Tây.
Cty cổ phần Nông trại Sinh thái Việt là đơn vị nhập khẩu và là chủ đầu tư hệ thống “bò khỏe” phân phối thịt bò Úc tươi sống tại Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL đang hình thành hệ thống cung cấp bò sạch, chất lượng cao trên toàn quốc.
Nhà đầu tư không chỉ nhập hàng, phân phối thịt mà còn đầu tư các trang trại nuôi nhốt tại quận Ô Môn (Cần Thơ) và xây dựng vùng trồng nguyên liệu cỏ voi làm thức ăn cho bò rộng 450 ha cùng hệ thống dây chuyền giết mổ hiện đại đạt tiêu chuẩn ESCAS của Bộ Nông nghiệp Úc.
Đây là quy trình giết mổ bằng phương pháp công nghiệp hiện đại, trong vòng không quá 2 giờ “bò khỏe” đã được cung cấp cho khách hàng với độ tươi ngon gần như nguyên vẹn.
Xét ở góc độ kinh tế, bò ngoại đang nằm “kèo trên” so với bò nội. Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Vang- Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi Việt Nam, số lượng thịt bò nhập khẩu về Việt Nam tăng rất mạnh trong thời gian gần đây, bán với giá phải chăng và được ưu đãi thuế nhập khẩu.
Thịt bò Úc có giá rất cạnh tranh do được chăn nuôi quy mô lớn, trong khi chăn nuôi bò tại Việt Nam quy mô nhỏ, giống bò chất lượng kém, chưa đảm bảo truy xuất nguồn gốc.
Vì vậy, mặc dù bị đội phí vận chuyển, bò ngoại vẫn đang cạnh tranh về giá bán, chất lượng đảm bảo và đang xác lập một kênh phân phối mới với nhiều lợi thế hơn thịt bò nội.
Bò Úc có “húc chết” bò Việt?
Chuyện không chỉ có ở miền Tây Nam Bộ, thời gian gần đây, thịt bò Úc, bò Mỹ, Pháp được nhập khẩu với số lượng lớn đã “gây khó” cho thịt bò nội. Nhu cầu tiêu dùng thịt bò ở miền Tây nói riêng và cả nước nói chung ngày càng lớn, trong khi nguồn cung trong nước liên tục giảm.
Trước khi nhập “bò Tây”, thị trường trong nước vẫn phải nhập bò thịt từ Campuchia, Thái Lan, Lào qua đường tiểu ngạch, khó kiểm soát kể cả về số lượng cũng như dịch bệnh. Thời gian gần đây, nguồn cung này cũng khan hiếm.
Số liệu thống kê cho thấy, mặc dù nuôi bò sữa được khuyến khích tăng đàn, nhưng tổng đàn bò cả nước vẫn có xu hướng giảm.
Năm 2007, số lượng đàn bò nước ta là 6,7 triệu con, nhưng đến năm 2013 chỉ còn khoảng 4,97 triệu con, giảm 1,73 triệu con trong 6 năm. Hiện cả nước có 5,2 triệu con bò, trong đó, ĐBSCL có gần 678.000 con, xếp thứ 3/6 vùng cả nước, chiếm 13% tổng đàn.
Bến Tre và Trà Vinh là 2 tỉnh có đàn bò lớn nhất với gần 30% tổng đàn bò của vùng. Cơ giới hóa trong nông nghiệp phát triển, đàn bò hiện nay chủ yếu để giết thịt và lấy sữa.
Với nhu cầu dùng thịt bò trong vùng ĐBSCL và trong nước tăng, ngành chăn nuôi không đáp ứng đủ lượng hoặc phải nhập khẩu theo đường tiểu ngạch từ các nước láng giềng rất khó kiểm soát chất lượng, thì việc tăng một lượng lớn thị bò nhập khẩu từ các nước có nền nông nghiệp phát triển như Úc, Mỹ, Nhật thời gian gần đây là sự vận hành tất yếu của quy luật cung cầu.
Vấn đề là việc xác lập các cơ chế, chính sách để đáp ứng sức cầu; nâng chất, đảm bảo nguồn cung và lồng ghép với phát triển chăn nuôi trong nước, các phân khúc giá trị gia tăng và ngành phụ trợ như khuyến khích vùng trồng nguyên liệu cỏ dùng làm thức ăn, khuyến khích đầu tư trang trại, lò giết mổ đảm bảo chất lượng thực phẩm như cách làm mới mà “bò khỏe” ở miền Tây đang đi tiên phong.
Tuy nhiên, trước sự tăng một lượng lớn bò ngoại nhập khẩu, nhiều người lo lắng cho ngành chăn nuôi có nguy cơ gục ngã. Đã có ý kiến đề nghị “chặn bò ngoại” bằng các biện pháp hành chính trong điều hành nhập khẩu.
Có người cho rằng, nếu không có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho ngành chăn nuôi và người chăn nuôi, thì không bao lâu nữa bò Úc “húc chết” bò Việt.
Nhưng nhiều ý kiến cho rằng, chính sách khuyến khích là cần, những hàng rào kỹ thuật thay cho hàng rào thuế quan trong xuất nhập khẩu thời mở cửa cũng cần. Nhưng “sự nuông chiều” hay kiểu bảo vệ bằng cách “che chắn” thường dễ triệt tiêu động lực cạnh tranh cho ngành sản xuất trong nước. 
Việt Nam đã tham gia hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do FTA đa phương và song phương với các nước. Nguyên tắc “có đi có lại” buộc chúng ta không thể cấm cửa bò ngoại trong khi muốn tăng xuất khẩu vào nước bạn các mặt hàng chúng ta đang có lợi thế.
Nâng cao sức cạnh tranh của hàng nội là con đường tất yếu để tồn tại trong xu hướng mở cửa, hội nhập và ngành chăn nuôi cũng không phải là ngoại lệ.

Trở lại câu chuyện, vậy bò Úc đang “húc bò” Việt hay đang “nhập đàn”? Hướng đi mới vừa đặt ra thách thức cạnh tranh cho ngành chăn nuôi trong nước, vừa đang bổ trợ các khiếm khuyến đang tồn tại nhiều năm liền của ngành chăn nuôi kém sức cạnh tranh. Thay vì cấm cửa bò ngoại, rất cần nghiên cứu, khuyến khích đầu tư với phương thức tương tự như “bò khỏe”.    

25 tháng 7, 2017

Miền Tây chủ động đón lũ

Trần Hữu Hiệp
Nước sông Mê Công tiếp tục đổ về ĐBSCL, nhiều khu vực đầu nguồn Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên nước đang lên nhanh.
Đây là tín hiệu lạc quan cho những người dân ở ĐBSCL đang ngóng lũ. Khác với tình hình các tỉnh miền núi phía Bắc, mấy ngày qua mưa lớn gây lũ ống, lũ quét cục bộ, sạt lở đất gây thiệt hại về người, tài sản; thì phần lớn cư dân miền Tây đang “đón lũ” bằng tâm thế chủ động mà không chủ quan. 
Người dân miền Tây gọi mùa nước nổi là mùa lũ. Ở ĐBSCL này không có lũ cuốn, lũ quét, càng không có lụt, chỉ có nước lên theo mùa. Mùa nước nổi ở miền Tây Nam bộ có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành, tồn tại của vùng đất này. Nói theo các nhà khoa học, nó tham gia kiến tạo và phát triển đồng bằng. 
Sông nước miền Tây

Mấy năm qua ĐBSCL vắng bóng mùa lũ, kèm theo là hệ quả của việc mất một lượng lớn phù sa và dân cư mất sinh kế mùa nước nổi. Năm 2016, vùng này còn phải gánh chịu thiệt hại nặng nề nhất trong lịch sử do hạn mặn. Khi tài nguyên nước sông Mê Công sụt giảm nghiêm trọng, thiếu hụt một lượng lớn phù sa, đồng ruộng “suy dinh dưỡng”, ảnh hưởng nặng nề đa dạng sinh học. Hiện tượng lũ tràn đồng khan hiếm do các quốc gia đầu nguồn xây đập thủy điện, “trích máu dòng sông” bằng các dự án chuyển nước sông Mê Công và tác hại của đê bao cục bộ trong vùng, làm cho các dòng sông “đói phù sa”, đổi dòng hung bạo tạo ra sạt lở.
“Chiếc áo giáp phù sa” bảo vệ bờ biển đồng bằng cũng bị làm mỏng đi. Nhiều công trình thủy lợi cục bộ trong vùng thời gian qua được làm theo kiểu mạnh ai nấy lo đã phá vỡ các túi chứa nước lũ được điều tiết tự nhiên hàng ngàn năm qua. Việc chạy đua “quay vòng hệ số sử dụng đất” trong sản xuất nông nghiệp khiến “lũ đẹp” không vào được nội đồng.
Nước lên cao, nếu xem thường, không chủ động thích nghi thì thiệt hại là lẽ thường. Nhưng mùa nước nổi cũng mang về nhiều nguồn lợi nông nghiệp, thủy sản và sinh kế cho người dân. Mặc dù cũng là hiện tượng lũ lụt, nhưng lũ miền Tây đối với người đồng bằng không phải là thiên tai. Nước về nhiều tuy gây ngập lụt nhưng có tác dụng rất lớn trong việc tháo chua, rửa phèn, tiêu diệt mầm bệnh, vệ sinh đồng ruộng, đặc biệt là bồi đắp phù sa. Kinh nghiệm cho thấy, năm nào lũ cao là vụ đông xuân năm sau trúng mùa. Cư dân vùng này đã biết sống chung với lũ bằng việc thay đổi phương thức canh tác nông nghiệp và đa dạng hóa sinh kế, chuyển sang khai thác nguồn lợi thủy sản dồi dào.

Từ bài học trong quá khứ, cần xem những tín hiệu dự báo “lũ sớm, nước lên cao” năm nay bằng một tâm thế bình tĩnh, tích cực và chủ động. Không thể ứng phó ngắn hạn như “đèn cù” từ “chống hạn” năm trước sang “chống lũ” năm nay. Chính quyền và người dân không ngồi chờ, nhưng cũng không đổ tiền vội vã vào các công trình cục bộ. Bài toán cân bằng tổng thể và yêu cầu “chi phí - lợi ích” cần được đặt ra trước tiên cho bất kỳ một quyết định đầu tư công trình vội vã nào.
Lũ ở ĐBSCL năm 2017 nếu có xảy ra, cần được xem như là một liều thuốc thử để đánh giá kết quả những nỗ lực củng cố triết lý sống chung với khô hạn, biến đổi khí hậu, nước biển dâng lẫn sống chung với lũ, vượt lên đỉnh lũ vốn đã được hình thành bằng chính mồ hôi, nước mắt và cả máu của những người trong cuộc. Vì vậy, rất cần sự chuyển đổi tận gốc từ tư duy “chống lũ, né lũ, chung sống với lũ”, đến chủ động đón lũ và vượt lên đỉnh lũ để hướng đến một ĐBSCL an toàn, trù phú và phát triển bền vững trong tương lai.

TRẦN HỮU HIỆP

24 tháng 7, 2017

Ðể chính sách đi vào đời sống

Trần Hữu Hiệp
Thể chế, bao gồm cơ chế, chính sách và tổ chức thực thi, cùng với hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực được xác định là “3 đột phá chiến lược” của nước ta. Các năm qua, cải cách thể chế đã góp phần quan trọng tạo động lực cho phát triển, hoàn thiện môi trường kinh doanh tốt hơn.
Song trong thực tế vẫn còn không ít chính sách chưa đi đúng trọng tâm, thiếu đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống hoặc “theo đuôi thiệt hại”. Vì vậy không ít giải pháp được thực thi theo kiểu “đau đâu bôi thuốc đó” chứ chưa phải dựa trên các dự báo khoa học, “xét nghiệm” hay “kết quả tầm soát bệnh” để phòng tránh hiệu quả. Chính sách luôn bị “độ trễ” khi đến người dân.
Lộc biển - Nông sản đồng bằng. Ảnh: Internet

Lại có những chính sách không phát huy tác dụng. Nhiều nông dân phấn khởi trước chính sách hỗ trợ “cơ giới hóa nông nghiệp”. Nhưng Quyết định 63/2010/QÐ-TTg chỉ cho phép hỗ trợ lãi suất ngân hàng cho người dân mua máy có tỷ lệ nội địa hóa ít nhất 60%. Nên họ đành “từ chối hỗ trợ”, chọn máy ngoại giá cả chấp nhận được, tiện dụng và chất lượng hơn. Chính sách thì tốt, nhưng chưa tính toán khoa học nguồn lực, vốn để thực thi chính sách.
Mô hình “Cánh đồng lớn” được ca tụng, nhưng cũng bị vướng do nông dân tham gia “Cánh đồng lớn” thì hộ gia đình mất suất hỗ trợ giống, mua máy nông nghiệp, hệ thống sấy lúa, địa phương mất suất hỗ trợ đầu tư kênh mương thủy lợi… Trong khi những vấn đề lớn như chính sách tích tụ ruộng đất, bảo đảm tỷ lệ vốn cổ phần của nông dân, cổ phần của DN trong nước... để loại hình công ty cổ phần này không bị thao túng trên sàn chứng khoán vẫn đang trong giai đoạn... nghiên cứu.
Thực tế đang cần một hệ thống các cơ chế, chính sách đồng bộ, căn cơ, điều kiện vật chất bảo đảm thực thi cho sự phát triển nói chung và cho tam nông nói riêng. Nông dân cần “cung hàng sỉ” ổn định lâu dài hơn là chính sách cấp “hàng lẻ” nhất thời. Tư duy làm chính sách cần được đổi mới mang tính chủ động, dựa vào thế mạnh, tiếp cận theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực vùng.
Ðể có được một cơ chế, chính sách đặc thù cần tư duy tiếp cận thực tiễn - thước đo hiệu quả của cơ chế chính sách, cũng như cần rà soát lại các cơ chế, chính sách cho tam nông. Phải gắn lợi ích của nông dân, DN với định hướng và quy hoạch của Nhà nước và chủ động trước biến động của thị trường, thay vì sự “bị động theo đuôi” bằng tính chủ động hỗ trợ để làm tốt. Cần những sửa đổi mạnh dạn để chuyển đổi nông nghiệp sang một mô hình khác, chứ cứ lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp, hỗ trợ... có tính đối phó, theo đuôi thiệt hại và giải pháp “xức thuốc đỏ” như vừa qua thì rõ ràng chưa thấm vào đâu...


“Gỡ khó” hạ tầng giao thông ĐBSCL

Quốc Ngữ
GD&TĐ - Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có không ít địa phương trải thảm đỏ mời gọi nhà đầu tư nhưng kết quả mang lại rất thấp. Nguyên nhân chủ yếu do nhà đầu tư thường không “ưng ý” khi khảo sát hạ tầng giao thông. Đây là thực trạng chung của vùng và các cơ quan chức năng đang nỗ lực tìm giải pháp tháo gỡ… 
Điều bất cập là được xem như yếu tố then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đầu tư cho hạ tầng giao thông ở vùng ĐBSCL lại chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.

Gặp khó vì hạ tầng giao thông
Là một trong những địa phương còn nhiều khó khăn ở vùng ĐBSCL, những năm qua, tỉnh Trà Vinh đã không ngừng nỗ lực để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Thế nhưng nguồn vốn FDI rót vào tỉnh này vẫn rất nhỏ giọt. Nguyên nhân chủ yếu do nhà đầu tư thường “bỏ của chạy lấy người” khi khảo sát hạ tầng giao thông trong tỉnh. Hiện tại, tỉnh Trà Vinh có 3 tuyến quốc lộ đi qua địa bàn, gồm QL54, QL53 và QL60 với tổng chiều dài 250km. Tuy nhiên chỉ có 10km đạt chuẩn cấp 3 đồng bằng, còn lại đều là đường cấp thấp. Chính hạ tầng giao thông yếu kém đã kiềm chế thu hút đầu tư, dù lãnh đạo tỉnh luôn rộng cửa; thậm chí là trải thảm đỏ để mời gọi các dự án đến với tỉnh nhà.
Không chỉ ở Trà Vinh, thực trạng này diễn ra tại hầu hết các tỉnh vùng ĐBSCL. Hiện nay, trên một số tuyến quốc lộ kết nối như QL60, QL53, QL54, QL91, QL63, tuyến N1, N2... chất lượng đường còn thấp, một số cầu lớn chưa hình thành. Hầu hết các tuyến đường trục dọc và ngang đều chưa đạt về cường độ yêu cầu và tiêu chuẩn đường vào cấp quy hoạch. Các đường trục hay quốc lộ với kết cấu láng nhựa có E thấp; thậm chí nền, mặt đường và E còn thấp hơn các đường tỉnh đã đầu tư ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Trung và miền Bắc… Chẳng hạn như tỉnh Trà Vinh chỉ có 10km đường cấp III, còn lại hầu hết là cấp IV và cấp V có mặt đường láng nhựa với E thấp và hầu hết các đường kết nối đều phải qua các trạm thu phí đường bộ theo hình thức BOT. Tình trạng này cũng diễn ra phổ biến và tập trung ở các tỉnh: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hậu Giang và một phần tỉnh Cà Mau. Cũng vì hạ tầng giao thông kém phát triển đã dẫn đến tình trạng gia tăng tai nạn giao thông, đặc biệt là ở các tuyến đường xuống cấp.
Bên cạnh đường bộ, vùng ĐBSCL còn có hệ thống sông, kênh rạch dài 28.000km. Trong đó 13.000km có khả năng khai thác vận tải, chiếm 70% chiều dài đường sông của cả nước. Tuy nhiên, hiện nay việc đầu tư lại chủ yếu tập trung 2 lĩnh vực là đường bộ (79%) và hàng hải (13%). Còn đường thủy nội địa (thế mạnh của vùng) chỉ chiếm 1% tổng vốn đầu tư trong giai đoạn vừa qua. Trong khi đó, hệ thống đường bộ lại được quan tâm đầu tư với nhiều trục quốc lộ và cầu lớn được xây dựng, nâng cấp mở rộng như QL1A, tuyến N2, trục ven biển phía Nam, cầu Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận… khiến việc sử dụng vận tải đường bộ càng được thúc đẩy (dù chi phí vận tải đường bộ cao hơn rất nhiều so với đường thủy nội địa).
Cũng vì hạn chế về năng lực cảng biển, gần 80% hàng hóa xuất nhập khẩu của vùng phải thông qua hệ thống cảng miền Đông Nam Bộ với cự ly vận tải từ 100 - 300km và 70% lượng hàng hóa vẫn phải chuyển tải về các cảng tại TPHCM và cảng Cái Mép bằng đường bộ. Đối với vận tải container, tỷ lệ này lên tới gần 90%. Điều này đã khiến tỷ lệ chi phí vận tải trong chi phí logistics của hàng hóa trong vùng tăng cao.
Cần đẩy mạnh liên kết vùng
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - đánh giá: “Đối với việc đầu tư cho hạ tầng giao thông, bên cạnh những công trình, dự án trước mắt, cần phải có chiến lược và tầm nhìn dài hơi. ĐBSCL có tiềm năng rất lớn về giao thông thủy, nhưng không thể phát huy được do trước đây khi xây dựng các cầu, chúng ta không chú ý đến tĩnh không thông thuyền. Bây giờ nó đã trở thành điểm nghẽn kìm hãm sự phát triển giao thông thủy. Đây là bài học cần được khắc phục”.
Các chuyên gia cũng cho rằng, thiếu tính toán kỹ trong đầu tư đã dẫn đến hàng loạt những phát sinh nhập nhằng về sau. Đơn cử là dự án nâng cấp, cải tạo QL53 (đoạn Long Hồ - Ba Si trên địa bàn 2 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh) với tổng chiều dài toàn tuyến 45,7km, khởi động vào tháng 5/2015 theo hình thức BOT (tổng mức đầu tư trên 1.222 tỉ đồng). Sau khi khởi động một thời gian, ngành chức năng mới “phát hiện” rằng người dân Trà Vinh muốn đi qua Bến Tre phải nộp phí cầu Cổ Chiên, trong tương lai muốn đi qua Vĩnh Long phải nộp phí QL53, muốn đi Sóc Trăng phải nộp phí cầu Đại Ngãi. Như vậy, một tỉnh vốn nghèo nhất ở miền Tây sẽ nằm trong thế khó khi người dân phải nộp phí liên tục khi muốn đi ra ngoài tỉnh. Sau đó, dự án này đã phải dừng lại, không triển khai theo hình thức BOT nữa, mà bố trí ngân sách giai đoạn 2016 - 2020 (Bộ Giao thông Vận tải đã thống nhất và trình Chính phủ xem xét).
Mặc dù được quan tâm đầu tư, nhưng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông và hệ thống logistics vùng ĐBSCL vẫn còn kém phát triển. Vấn đề liên kết vùng chưa được chú trọng; các trục giao thông chính nhằm gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế là nguyên nhân tác động mạnh đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Do vậy, việc xây dựng kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và hệ thống logistics vùng Tây Nam Bộ nhằm cụ thể hóa các chiến lược, quy hoạch và lựa chọn được các dự án trọng điểm có tính kết nối vùng, liên vùng là rất cần thiết nhằm giảm thiểu tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí trong bối cảnh vốn đầu tư công ngày càng hạn hẹp.

22 tháng 7, 2017

Thư viện VideoClip: Điểm nghẽn cơ chế xuất khẩu gạo

Heo khó, bò khỏe

Trần Hữu Hiệp
“Giải cứu” thịt heo vẫn là vấn đề nổi cộm của ngành chăn nuôi hơn nửa năm qua. Đã có quá nhiều hoạt động “giải cứu” được phát động, cả hệ thống chính trị nhiều nơi vào cuộc. 
Hàng loạt giải pháp được đưa ra, từ kêu gọi, vận động đến quy định chỉ tiêu phấn đấu, chỉ tiêu thi đua. Có lúc giá thịt heo trên thị trường có nhích lên đôi chút, nhưng nhìn chung “đầu ra con heo” vẫn bị nghẽn. Con heo vẫn đang gặp khó.
Bò Úc sau khi bị gây choáng sẽ được mổ treo trên dây chuyền hiện đại, an toàn, vệ sinh. Ảnh: Quang Vinh

Tại diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đã nêu ra nguyên nhân dẫn đến một lượng lớn heo không tiêu thụ được là do “cung vượt quá cầu” và “3 yếu kém” của ngành là chăn nuôi nhỏ lẻ, liên kết và tổ chức thị trường yếu kém. Nhưng thực ra, còn một nguyên nhân của mọi nguyên nhân là bất cập của cơ chế chính sách, chất lượng của quy hoạch, dự báo hạn chế và việc chỉ đạo, điều hành sản xuất chưa gắn kết tốt với thị trường tiêu thụ làm cho con heo gặp khó.  
Từ con heo, nhìn sang con bò vẫn là vấn đề cần chăm lo chính sách. Thời gian gần đây, bò ngoại với số lượng lớn đã gây khó cho thịt bò nội. Nhu cầu tiêu dùng thịt bò ngày càng lớn, trong khi nguồn cung trong nước liên tục giảm. Với nhu cầu dùng thịt bò trong nước tăng, ngành chăn nuôi không đáp ứng đủ lượng hoặc phải nhập khẩu theo đường tiểu ngạch từ các nước láng giềng rất khó kiểm soát chất lượng, thì việc tăng một lượng lớn thị bò nhập khẩu từ các nước có nền nông nghiệp phát triển như Úc, Mỹ, Nhật thời gian gần đây là sự vận hành tất yếu của quy luật cung cầu.
Theo xu thế đó, lần đầu tiên ở ĐBSCL, một hệ thống cung cấp thịt bò tươi nhập khẩu nguyên con, sau khi nuôi nhốt và giết mổ bằng các lò mổ tập trung hiện đại, được đưa vào khai thác với thương hiệu “Bò khỏe” tại Cần Thơ. Sau hơn nửa năm khai sinh, “Bò khỏe” đã xác lập một chuỗi giá trị của con bò ngoại mới tại vựa lúa miền Tây Nam bộ. Công ty CP Sinh Thái Việt là đơn vị nhập khẩu và là chủ đầu tư hệ thống “Bò khỏe”, phân phối thịt bò Úc tươi sống tại Cần Thơ, các tỉnh ĐBSCL và tiến tới mở rộng hệ thống cung cấp bò sạch, chất lượng cao trên toàn quốc. Một chuỗi cung ứng mới của con bò ngoại đã được xác lập từ Úc đến Việt Nam, không chỉ mời chào làm thay đổi thói quen tiêu dùng của các bà nội trợ hàng ngày, mà nó còn có khả năng đáp ứng một lượng thịt lớn cho các suất ăn công nghiệp bằng lợi thế của thịt ngoại giá cả phải chăng, được bảo chứng bằng thương hiệu “Bò khỏe” đang là một thách thức đối với thịt bò nội.
Dư địa của thị trường bò thịt trong nước còn rất lớn. Từ xu thế nhập thịt bò đông lạnh thời gian đầu, nhiều doanh nghiệp chuyển sang nhập khẩu bò nguyên con về để sinh sản và nuôi trong nước chứ không còn để vỗ béo đơn thuần như trước nữa. Phương thức mới này không còn là việc mua bán đơn thuần mà đang bổ sung cho ngành chăn nuôi trong nước bằng sức mạnh của bò ngoại. Đằng sau thịt “Bò khỏe” được bán tại các cửa hàng phân phối là hệ thống trang trại, lò giết mổ hiện đại và đồng cỏ nguyên liệu được đầu tư dùng làm thức ăn cho bò, tạo ra những “phân khúc giá trị mới”, giải quyết việc làm cho người lao động.
Hướng đi mới vừa đặt ra thách thức cạnh tranh cho ngành chăn nuôi trong nước, vừa đang “bổ trợ” các khiếm khuyết đang tồn tại nhiều năm liền của ngành chăn nuôi kém sức cạnh tranh. Thay vì “cấm cửa” bò ngoại, rất cần nghiên cứu, khuyến khích đầu tư với phương thức tương tự. Nhiều vấn đề như cải tạo giống bò chất lượng cao, tổ chức lại hệ thống chăn nuôi bằng các phương thức phù hợp, có chính sách khuyến khích đầu tư hệ thống giết mổ hiện đại, đảm bảo thịt bò sạch, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hợp tác chăn nuôi, phân phối. Nhìn thực trạng “heo khó, bò khỏe”, thay vì chạy theo “giải cứu”, cần thiết kế lại chính sách bằng tư duy phát triển.
Vấn đề quan trọng hơn các hoạt động “giải cứu” là phải xác lập các cơ chế, chính sách để đáp ứng sức cầu; nâng chất, đảm bảo nguồn cung và lồng ghép với phát triển chăn nuôi trong nước, các phân khúc giá trị gia tăng và ngành phụ trợ cho chăn nuôi, khuyến khích đầu tư trang trại, lò giết mổ đảm bảo chất lượng thực phẩm.
Chính sách bảo trợ hàng nội, hàng rào kỹ thuật thay cho hàng rào thuế quan trong xuất nhập khẩu thời mở cửa là rất cần, nhưng “sự nuông chiều” hay kiểu bảo vệ bằng cách “che chắn” thường dễ triệt tiêu động lực cạnh tranh cho ngành sản xuất trong nước.
Việt Nam đã tham gia hàng loạt các hiệp định thương mại tự do FTA. Hàng loạt các dòng thuế nhập khẩu hàng hóa được đưa về bằng 0 theo lộ trình cam kết. Nguyên tắc “chơi chung” và “có đi có lại” buộc chúng ta không thể cấm cửa bò ngoại trong khi muốn tăng xuất khẩu vào nước bạn các mặt hàng chúng ta đang có lợi thế. Nâng cao sức cạnh tranh của hàng nội là con đường tất yếu để tồn tại trong xu hướng mở cửa, hội nhập và ngành chăn nuôi không phải là ngoại lệ.


Nhìn con bò, lo chính sách

Trần Hữu Hiệp
Lần đầu tiên ở ĐBSCL, một hệ thống cung cấp thịt bò tươi nhập khẩu nguyên con, sau khi nuôi nhốt và giết mổ bằng các lò mổ tập trung hiện đại, được đưa vào khai thác với thương hiệu “Bò Khỏe” tại Cần Thơ.
Sau hơn nửa năm khai sinh, “Bò Khỏe” đã xác lập một chuỗi giá trị của con bò ngoại mới tại vựa lúa Tây Nam Bộ. 
“Chuỗi giá trị ngược”: Bò từ Úc đến đồng bằng
Hồi cuối tháng 4 năm nay, Tân Cảng Cái Cui (Cần Thơ) đã tổ chức lễ đón tàu biển quốc tế đầu tiên cặp cảng mang theo một lô hàng đặc biệt: 1.800 con bò tơ dưới 20 tháng tuổi từ Úc lần đầu tiên vượt đại dương đến đồng bằng. Cty TNHH TM DV SX Đông Hà là đơn vị nhập khẩu và là chủ đầu tư hệ thống “Bò Khỏe” phân phối thịt bò Úc tươi sống tại Cần Thơ, các tỉnh ĐBSCL và tiến tới mở rộng hệ thống cung cấp bò sạch, chất lượng cao trên toàn quốc.

Nhà đầu tư không chỉ nhập hàng, phân phối thịt mà còn đầu tư các trang trại nuôi nhốt tại quận Ô Môn (Cần Thơ), vùng trồng nguyên liệu cỏ voi làm thức ăn cho bò rộng 450ha tại Kiên Giang và hệ thống dây chuyền giết mổ hiện đại đạt tiêu chuẩn ESCAS của Bộ Nông nghiệp Úc. Đây là quy trình giết mổ bằng phương pháp gây choáng, trong vòng không quá 2 giờ đã được cung cấp cho khách hàng với độ tươi ngon gần như nguyên vẹn.
Một chuỗi cung ứng mới của con bò ngoại đã được xác lập từ Úc đến Việt Nam, không chỉ mời chào làm thay đổi thói quen tiêu dùng của các bà nội trợ hàng ngày, mà nó còn có khả năng đáp ứng một lượng thịt lớn cho các suất ăn công nghiệp bằng lợi thế của thịt ngoại giá cả phải chăng, được bảo chứng bằng thương hiệu “Bò Khỏe” đang là một thách thức đối với thịt bò nội. Một “chuỗi giá trị ngược” của con bò Úc với đầu vào ở nước ngoài và đầu ra ở trong nước đang được vận hành, đặt ra nhiều suy ngẫm cho ngành chăn nuôi và hệ thống phân phối thịt bò ở miền Tây Nam Bộ.
Trong khi đó, các kênh phân phối thịt bò truyền thống ở ĐBSCL hiện nay vẫn chủ yếu tiếp nhận lượng thịt từ các lò giết mổ thủ công và hệ thống cửa hàng bán lẻ riêng lẻ hoặc trong các chợ truyền thống.  
Bò Úc "húc chết" bò Việt?
Xét ở góc độ kinh tế, bò ngoại đang nằm “kèo trên” so với bò nội trong cuộc chiến giành giật khách hàng. Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Vang, Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi Việt Nam, số lượng thịt bò nhập khẩu về Việt Nam tăng rất mạnh trong thời gian gần đây, bán với giá phải chăng và được ưu đãi thuế nhập khẩu. Thịt bò Úc có giá rất cạnh tranh do họ chăn nuôi quy mô lớn, trong khi chăn nuôi bò tại Việt Nam quy mô nhỏ, giống bò chất lượng kém, chưa đảm bảo truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, mặc dù bị đội phí vận chuyển, bò ngoại vẫn đang có ưu thế về giá bán, chất lượng đảm bảo và đang xác lập một kênh phân phối mới với nhiều lợi thế hơn thịt bò nội.
Chuyện không chỉ có ở miền Tây, thời gian gần đây, thịt bò Úc, bò Mỹ, Pháp được nhập khẩu với số lượng lớn đã “gây khó” cho thịt bò nội. Nhu cầu tiêu dùng thịt bò ở miền Tây nói riêng và cả nước nói chung ngày càng lớn, trong khi nguồn cung trong nước liên tục giảm. Trước khi nhập “bò Tây”, thị trường trong nước vẫn phải nhập bò thịt từ Campuchia, Thái Lan, Lào qua đường tiểu ngạch, khó kiểm soát. Thời gian gần đây, nguồn cung này cũng khan hiếm.
Trong khi đó, theo số liệu thống kê, mặc dù nuôi bò sữa được khuyến khích tăng đàn, nhưng tổng đàn bò cả nước vẫn có xu hướng giảm. Năm 2007, số lượng đàn bò nước ta là 6,7 triệu con, nhưng đến năm 2013 chỉ còn khoảng 4,97 triệu con, giảm 1,73 triệu con trong 6 năm. Hiện cả nước có 5,2 triệu con bò, trong đó, ĐBSCL có gần 678 ngàn con, xếp thứ 3/6 vùng cả nước, chiếm 13% tổng đàn. Bến Tre và Trà Vinh là 2 tỉnh có đàn bò lớn nhất với gần 30% tổng đàn bò của vùng.
Cơ giới hóa trong nông nghiệp phát triển, đàn bò hiện nay chủ yếu để giết thịt và lấy sữa. Với nhu cầu dùng thịt bò trong vùng ĐBSCL và trong nước tăng, ngành chăn nuôi không đáp ứng đủ lượng hoặc phải nhập khẩu theo đường tiểu ngạch từ các nước láng giềng rất khó kiểm soát chất lượng, thì việc tăng một lượng lớn thị bò nhập khẩu từ các nước có nền nông nghiệp phát triển như Úc, Mỹ, Nhật thời gian gần đây là sự vận hành tất yếu của quy luật cung cầu.
Vấn đề là việc xác lập các cơ chế, chính sách để đáp ứng sức cầu; nâng chất, đảm bảo nguồn cung và lồng ghép với phát triển chăn nuôi trong nước, các phân khúc giá trị gia tăng và ngành phụ trợ như khuyến khích vùng trồng nguyên liệu cỏ dùng làm thức ăn, khuyến khích đầu tư trang trại, lò giết mổ đảm bảo chất lượng thực phẩm như cách làm mới mà “Bò Khỏe” ở miền Tây đang đi tiên phong.  
Con bò và câu chuyện chính sách
Trước sự tăng một lượng lớn bò ngoại nhập khẩu, nhiều người lo lắng cho ngành chăn nuôi sớm gục ngã. Đã có ý kiến đề nghị “chặn bò ngoại” bằng các biện pháp hành chính trong điều hành nhập khẩu. Có người cho rằng, nếu không có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho ngành chăn nuôi và người chăn nuôi, thì không bao lâu nữa bò Úc "húc chết" bò Việt.
09-35-18_thit_bo_uc_1
Khách hàng mua thịt bò Úc
Trong khi đó, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách khuyến khích là cần, những hàng rào kỹ thuật thay cho hàng rào thuế quan trong xuất nhập khẩu thời mở cửa là rất cần, nhưng “sự nuông chiều” hay kiểu bảo vệ bằng cách “che chắn” thường dễ triệt tiêu động lực cạnh tranh cho ngành sản xuất trong nước.
Việt Nam đã tham gia hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do FTA đa phương và song phương với các nước. Chúng ta là thành viên tích cực của các “thị trường chung” với nhiều cam kết mạnh mẽ mở cửa thị trường bán buôn, bán lẻ. Hàng loạt các dòng thuế nhập khẩu hàng hóa được đưa về bằng 0 theo lộ trình cam kết. Nguyên tắc “chơi chung” và “có đi có lại” buộc chúng ta không thể cấm cửa bò ngoại trong khi muốn tăng xuất khẩu vào nước bạn các mặt hàng chúng ta đang có lợi thế. Nâng cao sức cạnh tranh của hàng nội là con đường tất yếu để tồn tại trong xu hướng mở cửa, hội nhập và ngành chăn nuôi không phải là ngoại lệ.
Vậy bò Úc đang húc bò Việt hay đang “nhập đàn”? Hướng đi mới vừa đặt ra thách thức cạnh tranh cho ngành chăn nuôi trong nước, vừa đang “bổ trợ” các khiếm khuyến đang tồn tại nhiều năm liền của ngành chăn nuôi kém sức cạnh tranh. Thay vì “cấm cửa” bò ngoại, rất cần nghiên cứu, khuyến khích đầu tư với phương thức tương tự. Nhiều vấn đề như cải tạo giống bò chất lượng cao, tổ chức lại hệ thống chăn nuôi bằng các phương thức phù hợp, có chính sách khuyến khích đầu tư hệ thống giết mổ hiện đại, đảm bảo thịt bò sạch, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu mạnh để ngành chăn nuôi trong nước thay vì “gồng mình” chống đỡ với bò ngoại, cần được cải tiến và đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong hợp tác chăn nuôi, phân phối. Nhìn con bò, cần lo chính sách phù hợp.
Dư địa của thị trường bò thịt trong nước còn rất lớn. Từ xu thế nhập thịt bò đông lạnh thời gian đầu, nhiều doanh nghiệp chuyển sang nhập khẩu bò nguyên con về để sinh sản và nuôi trong nước chứ không còn để vỗ béo đơn thuần như trước nữa. Phương thức mới này không còn là việc mua bán đơn thuần mà đang bổ sung cho ngành chăn nuôi trong nước bằng sức mạnh của bò ngoại. Đằng sau thịt “Bò Khỏe” được bán tại các cửa hàng phân phối là hệ thống trang trại, lò giết mổ hiện đại và đồng cỏ nguyên liệu được đầu tư dùng làm thức ăn cho bò, tạo ra những “phân khúc giá trị mới”, giải quyết việc làm cho người lao động.



16 tháng 7, 2017

Phú Quốc: Từ đại công trường đến thiên đường du lịch

Trần Hữu Hiệp
Phú Quốc có trở thành thiên đường du lịch? Tương lai của Phú Quốc ra sao?... Tất cả phụ thuộc vào cách ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm của con người đối với "đảo ngọc" hiện nay
Trong 3 nơi được chọn xây dựng thành đặc khu là Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang) thì đảo Phú Quốc được đánh giá có nhiều lợi thế hơn. Phú Quốc nằm ở khu vực chiến lược biển Tây Nam, giàu tiềm năng, độc lập với đất liền, có điều kiện áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù và là không gian lý tưởng cho việc thí điểm xây dựng một mô hình đặc khu hành chính - kinh tế.

Thời gian qua, "phần cứng" trên đảo đã được quan tâm đầu tư tạo diện mạo mới. "Cổng trời" - sân bay quốc tế Phú Quốc, "cửa bể" - cảng biển quốc tế tổng hợp An Thới, Dương Đông; các đường trục Bắc - Nam, vòng quanh đảo và tuyến xương cá đã được xây dựng. Theo chân đường cáp ngầm xuyên biển đầu tiên ở nước ta dài nhất Đông Nam Á, đưa điện quốc gia vượt biển ra "đảo ngọc", đường cáp quang viễn thông cũng đã hình thành. Cùng với những công trình hạ tầng lớn trên đảo là nhiều dự án đầu tư tầm cỡ quốc gia và quốc tế, nhất là các dự án du lịch lớn, xác lập nhiều kỷ lục, đang tạo ra sức hút mới.
Phú Quốc đang sở hữu nhiều kỷ lục quốc gia và quốc tế. Đây là hòn đảo lớn nhất nước. Sân bay quốc tế Phú Quốc là sân bay đầu tiên của cả nước được xây dựng mới từ sau năm 1975. Vườn thú thiên nhiên bán hoang dã Safari Phú Quốc (nằm trong tổ hợp dịch vụ du lịch thuộc dự án Khu Du lịch sinh thái Vinpearl có tổng vốn đầu tư 17.000 tỉ đồng) cũng là khu Safari đầu tiên, lớn nhất của cả nước… Nhiều người so sánh Phú Quốc với hình ảnh Đà Nẵng, thậm chí còn vượt qua TP miền Trung năng động này với các dự án kỷ lục như cáp treo Hòn Thơm dài hơn cáp treo Bà Nà, vốn chung một nhà đầu tư.
Thực ra, Phú Quốc đang như một đại công trường. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng 50.000 lao động là ngư dân từ khắp mọi miền đất nước đến Phú Quốc; hơn 20.000 lao động làm việc ở các công trình, có nơi hằng ngày trên 2.000 công nhân. Việc phát triển "nóng" như vậy đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý của địa phương. Đặc biệt, tình hình an ninh - trật tự ở Phú Quốc có nhiều diễn biến phức tạp do các lực lượng lao động phổ thông đổ về đây rất lớn. Chỉ riêng số vụ tai nạn giao thông, huyện đảo này đã chiếm 50% toàn tỉnh Kiên Giang. Số vụ trọng án xảy ra nhiều hơn. Phú Quốc bao đời nay vốn rất bình yên, đêm đến nhiều nhà dân ngủ không đóng cửa nhưng hiện nay có nguy cơ trở thành túi chứa tệ nạn. Người bể hụi, trốn nợ, trốn lệnh truy nã... cũng chạy ra Phú Quốc.
Tội phạm ở đâu cũng có nhưng Phú Quốc là "đảo ngọc", khách du lịch đến đây sẵn sàng trả phí cao hơn trong đất liền nên họ có quyền đòi hỏi được cung cấp "sản phẩm dịch vụ chất lượng cao". Những gì đang diễn ra ở Phú Quốc trong thời gian qua rất đáng lo ngại. Vì thế, cần làm sạch môi trường xã hội, quản lý tốt hơn và xây dựng một cộng đồng dân cư sạch.

Văn hóa bản địa, ý thức, niềm tự hào, ham muốn làm giàu từ "đảo ngọc" sẽ biến mỗi người dân trở thành một "đại sứ tiếp thị" cho Phú Quốc. Họ sẽ là yếu tố kết nối văn hóa "đảo ngọc" với cộng đồng khác trong nước và quốc tế. Cùng với văn hóa, xã hội là yêu cầu đầu tư, bảo vệ môi trường. Sự phát triển quá nóng của Phú Quốc gần đây đã mang đến thực tế: bộ máy công quyền quá tải, ô nhiễm môi trường. Ngoài các dự án đầu tư cục bộ thì hệ thống xử lý nước thải, rác thải, Phú Quốc gần như chưa có gì.
Phú Quốc có trở thành thiên đường du lịch? Tương lai của Phú Quốc ra sao?... Tất cả phụ thuộc vào cách ứng xử khôn ngoan, có trách nhiệm của con người đối với đảo ngọc hiện nay!


14 tháng 7, 2017

Đồng bằng sông Cửu Long: Cần đột phá trong phát triển hạ tầng giao thông

Xác định giao thông là một trong ba khâu đột phá cho sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội, thời gian qua, mạng lưới giao thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã có sự quan tâm đầu tư. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cơ sở hạ tầng giao thông vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu để phát huy thế mạnh của vùng và đang là “điểm nghẽn” của quá trình phát triển.
Kết nối thông suốt
Thời gian qua, nhiều công trình giao thông trọng điểm của vùng ĐBSCL đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng như: Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 TP Hồ Chí Minh-Năm Căn; đường cao tốc TP Hồ Chí Minh-Trung Lương; tuyến Nam Sông Hậu, Quản Lộ-Phụng Hiệp; đường nối Cần Thơ-Vị Thanh... khởi công nâng cấp tuyến vận tải thủy từ TP Hồ Chí Minh qua Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đến Hà Tiên và TP Hồ Chí Minh-kênh Chợ Gạo-Chợ Lách-Mang Thít-Đại Ngãi-Bạc Liêu...
Bên cạnh các công trình, dự án đã hoàn thành, còn có những con đường mới cùng các cây cầu được đầu tư xây dựng. Đơn cử như cầu Cao Lãnh bắc qua sông Tiền; cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu, nối huyện Lấp Vò (tỉnh Đồng Tháp) và quận Thốt Nốt (TP Cần Thơ) cùng các công trình quan trọng như Đường Hồ Chí Minh giai đoạn II, đường hành lang ven biển phía Tây Nam cũng được khởi công... Đây là dự án đặc biệt quan trọng để kết nối khu vực phía Tây của ĐBSCL tạo thành trục giao thông huyết mạch thứ hai song song với Quốc lộ 1, xóa đi cảnh chen chúc lộn xộn, mất thời gian, thiếu an toàn tại các bến phà vốn tồn tại hàng thế kỷ nay. Đồng thời, góp phần rút ngắn khoảng đi từ TP Hồ Chí Minh đến các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang...  

Cầu Cần Thơ đi vào hoạt động góp phần thuận lợi cho giao thương của bà con các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long. 
Còn những “điểm nghẽn”
Thực tế cho thấy, còn nhiều hạn chế trong đầu tư phát triển hạ tầng giao thông hỗ trợ phát triển liên kết vùng ĐBSCL. Cụ thể là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nhất là hạ tầng giao thông trục chưa có tính kết nối và liên thông thuận lợi giữa các địa phương trong nội vùng và liên vùng. Đầu tư kết nối giữa các phương thức vận tải chưa phát huy hiệu quả của toàn hệ thống, thiếu đồng bộ, nhất là kết nối giữa đường sắt và cảng biển.
Bên cạnh đó, đầu tư cho giao thông thủy cũng thiếu đồng bộ, chỉ tập trung đầu tư, xem nhẹ việc duy tu, bảo trì luồng lạch, trang thiết bị đường thủy, nâng cao năng lực bốc xếp, kho bãi… Trong khi đó, hệ thống cảng biển, cảng sông trên địa bàn cũng manh mún. Lĩnh vực vận tải thủy chưa khai thác hết thế mạnh về điều kiện tự nhiên sông nước của khu vực để phát triển, tạo sự liên kết giữa các phương thức vận tải thủy-bộ trong vận chuyển hành khách, hàng hóa giữa các địa phương trong toàn vùng. Ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho rằng: “Thời gian qua, ở ĐBSCL vận tải bằng đường bộ là chủ yếu, các phương thức vận tải khác chưa phát huy được hiệu quả khai thác. Việc khai thác, sử dụng hiệu quả công trình sau đầu tư chưa được chú trọng, gây lãng phí nguồn lực. Các trung tâm logistics quy mô còn nhỏ (dưới 10ha), chủ yếu phục vụ một số doanh nghiệp trong khu vực khu công nghiệp hoặc một địa phương, chưa phát triển đến quy mô phục vụ một ngành hoặc một vùng kinh tế.
Về các địa phương, để hoàn thành một dự án giao thông cần có sự tham gia đầu tư của Nhà nước ít nhất là 50% tổng vốn đầu tư, nhưng khả năng ngân sách nhà nước rất khó khăn. Chủ yếu nguồn vốn ngân sách hằng năm phân bổ cho ngành giao thông chỉ đủ để bố trí nguồn vốn đối ứng phục vụ các dự án ODA, không còn vốn để triển khai các dự án khác. Do đó vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu đầu tư và khả năng nguồn lực.
Gỡ khó cho hạ tầng giao thông
Nhiều ý kiến cho rằng, đối với việc đầu tư cho hạ tầng giao thông, bên cạnh những công trình, dự án trước mắt, cần phải có chiến lược và tầm nhìn dài hơi. ĐBSCL có tiềm năng rất lớn về giao thông thủy, nhưng không thể phát huy được do trước đây khi xây dựng các cầu, chúng ta không chú ý đến tĩnh không thông thuyền. Giờ đây nó trở thành "điểm nghẽn" kìm hãm sự phát triển giao thông thủy. 
Bên cạnh đó, do đặc điểm của vùng ÐBSCL có nhiều kênh rạch, nền địa chất phức tạp, vật liệu khan hiếm, các dự án trong khu vực có tổng mức đầu tư rất lớn, do đó cần có những giải pháp, cơ chế đặc thù nhằm tăng cường nguồn vốn đầu tư cho khu vực này. “Chúng ta nên tăng nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông vùng ÐBSCL; ban hành một số cơ chế, chính sách phù hợp tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn vốn thực hiện các dự án, trong đó Nhà nước phải góp từ 30 đến 50% vốn vào dự án, đồng thời thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước bỏ vốn xây dựng hạ tầng giao thông bằng các hình thức BT, BOT...”-ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nói.
Ông Nguyễn Văn Thể, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng nhấn mạnh, nhu cầu đầu tư hệ thống giao thông ở ĐBSCL là rất lớn. Ông Thể cho rằng: “Để đột phá về giao thông, việc đầu tư cần làm nhanh và có trọng điểm. Nên tập trung cho những tuyến đường thúc đẩy phát triển kinh tế vùng. Rà soát lại quy hoạch hạ tầng giao thông của vùng và của các địa phương, kể cả quy hoạch của ngành giao thông và các lĩnh vực. Phải xác định vai trò thật sự của công tác quy hoạch để qua đó loại bỏ các quy hoạch không phù hợp, không bám sát sự phát triển của ngành, địa phương và của vùng. Không phát triển hạ tầng giao thông bằng mọi giá, phải thật sự tính toán kỹ. Phát triển hạ tầng giao thông phải gắn với chiến lược phát triển của ngành trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực”.

Bài và ảnh: THÚY AN

10 tháng 7, 2017

Chiếc giày Nike và con cá tra Việt Nam

Trần Hữu Hiệp
(TBKTSG) - Từ ngày 1-7-2017, Nghị định 55/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra có hiệu lực thi hành, thay thế Nghị định 36/2014/NĐ-CP còn nhiều bất cập. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với cá tra thương phẩm. Nhiều doanh nghiệp đã thể hiện sự đồng tình với “khung pháp lý mới”. Ông Dương Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần (CTCP) Hùng Vương, cho rằng “Nghị định 55 sẽ là nghị định khởi nghiệp”.
Nhưng đằng sau ánh hào quang “kỳ tích cá tra” và kỳ vọng “đường bơi mới” cho đế ngư, còn nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết để “cá tra khởi nghiệp” thành công.
Thu hoạch cá tar của người nuôi ở Thốt Nốt - Cần Thơ. Ảnh: hiepcantho

Khi Thủ tướng làm tiếp thị
Một câu chuyện không liên quan gì đến cá tra, nhưng cũng gợi ý một cách tiếp cận mới. Hình ảnh truyền thông ấn tượng trong chuyến thăm Mỹ đầu tháng 6 vừa qua của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc là “chiếc giày Nike” được ông dùng để chứng minh lợi ích của nhà đầu tư Mỹ.
Theo phân tích của Thủ tướng, một đôi giày sản xuất tại Việt Nam vào thị trường Mỹ giá 100 đô la Mỹ, “phân khúc Việt” chỉ hưởng một phần nhỏ là 22 đô la, còn lại 78 đô la là chi phí bán lẻ, vận chuyển, thuế, phí, hậu cần logistics và các chi phí liên quan do phía Mỹ hưởng. Đồng nghĩa với việc nó đã tạo ra dịch vụ, việc làm chiếm đến 78% chuỗi giá trị chiếc giày Mỹ “Made in Vietnam”. Các tập đoàn kinh tế lớn của Mỹ với đội ngũ chuyên gia tư vấn đầu tư, thương mại và pháp lý hùng hậu chắc chắn không thể không nhìn ra điều này.
Mỹ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam. Trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước khoảng 51 tỉ đô la Mỹ, họ đã nhập siêu từ nước ta hơn 32 tỉ. Mặc dù các tập đoàn hàng đầu của Mỹ đã có mặt sớm và đạt nhiều thành công, nhưng cường quốc kinh tế số 1 thế giới này chỉ đạt mức đầu tư khiêm tốn hơn 10,2 tỉ đô la Mỹ, chiếm 3,36% tổng vốn FDI và xếp thứ 9 trong số 119 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam. Con số này thấp xa so quốc gia đầu bảng là Hàn Quốc, với gần 54,5 tỉ đô la Mỹ. Số liệu này chắc chắn chưa làm hài lòng các ông chủ Mỹ. Nhưng nó cũng không làm hài lòng chúng ta đứng trên phương diện lợi ích quốc gia.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như sản phẩm may mặc, trái cây, tôm, cá tra, giúp nước ta là một trong 16 quốc gia nhập siêu vào Mỹ, nhưng “phân khúc” chuỗi giá trị mà ta được hưởng cũng chỉ là phần nhỏ bé. Tiếp tục đặt “giày Nike” bên cạnh “con cá tra Việt Nam” sẽ thấy ra nhiều điều đáng suy ngẫm. Mặc dù Mỹ là thị trường xuất khẩu cá tra hàng đầu của Việt Nam, nhưng cho đến nay chưa thấy một chính khách nào “tiếp thị quốc gia” cho con cá tra như cách làm của Thủ tướng.
Tái cấu trúc ngành cá tra cần tầm nhìn rộng hơn, sự tiếp cận đa ngành và giải quyết liên ngành. Có hay không kiểu tư duy quẩn quanh trong ao hồ? Nay, cần tiếp cận mới với yêu cầu chi phối được chuỗi giá trị đích thực của con cá tra toàn cầu.
Đặt “chiếc giày Nike” của Mỹ bên cạnh con cá tra Việt Nam là một so sánh khập khiễng, nhưng nhiều gợi mở. Một bên là giá trị thương hiệu được Brand Finance định giá 32 tỉ đô la Mỹ, đứng đầu danh sách thương hiệu may mặc toàn cầu có giá trị cao nhất năm 2017, chiếm hơn 60% thị trường cường quốc số 1 thế giới. Một bên là con cá tra mặc dù nổi tiếng, nhưng hầu như chưa có thương hiệu, đang bị chặt ra làm nhiều khúc. Chia sẻ lợi ích vượt trội của nhà đầu tư Mỹ qua góc nhìn “đôi giày Nike” cũng rất cần tăng cường lợi ích của chuỗi giá trị cá tra Việt vào thị trường Mỹ. Đó cũng chính là thông điệp cốt lõi từ chiếc giày Nike và con cá tra.
Phân khúc giá trị cá tra nào cho người Việt?
Đầu năm nay, giá cá tra nguyên liệu tăng mạnh có lúc vượt đỉnh giá 28.000 đồng/ki lô gam. Nguyên nhân chủ yếu được cho là do thị trường Trung Quốc ăn hàng mạnh để tiêu thụ trong nước và chế biến, gắn mác xuất khẩu đi nước thứ ba. Mặc dù vậy, giá cá tra nguyên liệu nông dân ĐBSCL bán ra chỉ hơn 1 đô la Mỹ/ki lô gam. Sau chế biến, các doanh nghiệp Việt bán cá tra phi lê vào thị trường Mỹ chỉ khoảng 2,2-2,4 đô la Mỹ/ki lô gam, trong khi giá bán tại các siêu thị Mỹ khoảng 12-15 đô la Mỹ/ki lô gam. Một “phân khúc giá trị” mới được tạo ra ngay trên đất Mỹ. Các nhà kinh doanh Mỹ đang nắm giữ lợi ích lớn hơn nhiều những ông chủ nhỏ ở quê hương con cá tra nhờ lợi thế hệ thống phân phối, dịch vụ thương mại liên quan. Điều đó góp phần lý giải tại sao người Mỹ, thay vì cấm cửa cá tra Việt Nam bằng cuộc chiến cá da trơn trước đây để bảo vệ những người nuôi cá nheo, thì họ đã chọn mở cửa đón nhận, nhưng kèm theo các “yêu sách” kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, vệ sinh an toàn thực phẩm để tiếp tục hưởng lợi từ “phân khúc thị trường” cá tra mà họ đang nắm giữ.
Việt Nam đang trong thế “độc quyền” cung ứng hơn 90% thị phần xuất khẩu cá tra thế giới. Nhưng nhà độc quyền không có quyền làm giá. Hiện khoảng 80% giá thành cá tra là chi phí thức ăn; trong khi khoảng 80% các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ quyền cung cấp thức ăn, quyết định giá nguyên liệu. Cũng khoảng 70% nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, thủy sản như bắp, dầu cám và các nguyên, phụ liệu khác cũng được nhập khẩu. Sản xuất cá tra đang bị chi phối mạnh từ “đầu vào”. Khi cá tra được giá, người nuôi chỉ lãi khoảng 20%, còn lại 80% thuộc phân ngành thức ăn. Thua lỗ, thì người nuôi mất trắng. Chưa kể, vẫn còn tình trạng “bồ nhà chơi xấu nhau trên sân khách” khi các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra cạnh tranh nhau bằng cách hạ giá bán, tác động xấu đến người nuôi. Năng lực tài chính, quản trị yếu kém và thiếu liên kết chuỗi cá tra đang là thách thức mà doanh nghiệp và nông dân cần phải vượt qua.
Trong khi đó, gần 20 năm cá tra “vượt biên giới quốc gia” cũng chỉ đơn điệu với sản phẩm catfish, chưa có nhiều sản phẩm giá trị gia tăng mới với hàm lượng chất xám nhiều hơn. Bên cạnh đó, 92 triệu dân Việt Nam là một thị trường lớn, khó có thể chấp nhận một thị phần tiêu thụ cá tra nội địa chỉ chiếm khoảng 2% như hiện nay. Bên cạnh các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc, sản phẩm cá tra cần tìm đường đi vào bàn ăn của người tiêu dùng ngay quê hương mình.
Phân khúc cá tra nào của chúng ta? Chuỗi giá trị con cá tra không chỉ nằm ở công đoạn nuôi, chế biến và xuất khẩu khỏi biên giới quốc gia, mà còn một phân khúc rất lớn từ “đầu vào” - thức ăn và “đầu ra” mà nhà nhập khẩu đang nắm giữ. Dư địa gia tăng giá trị từ cá tra còn nhiều. Chỉ riêng lượng bùn thải từ các ao nuôi cá tra hiện nay làm ô nhiễm môi trường cũng có thể biến thành tiền khi nó được tận dụng làm nguyên liệu chế biến phân sinh học. Các dịch vụ hậu cần logistics, giá trị thương hiệu và các sản phẩm như collagen được tạo ra từ da cá tra của Công ty Vĩnh Hoàn, dầu ăn Ranee từ mỡ cá tra của tập đoàn Sao Mai cùng nhiều sản phẩm sáng tạo khác cần được khuyến khích, đầu tư mạnh mẽ hơn nữa để tạo ra nhiều phân khúc giá trị của loài cá này.
Tái cấu trúc ngành cá tra cần tầm nhìn rộng hơn, sự tiếp cận đa ngành và giải quyết liên ngành. Có hay không kiểu tư duy quẩn quanh trong ao hồ, nay cần tiếp cận mới với yêu cầu chi phối được chuỗi giá trị đích thực của con cá tra toàn cầu. Tại sao không? Trong khi chúng ta chứ không phải ai khác đang nắm giữ thế độc quyền. “Cá tra khởi nghiệp” có thành công hay không phụ thuộc vào tư duy phát triển, cách tiếp cận hệ thống và giải quyết hiệu quả những thách thức của chuỗi giá trị cá tra đang đặt ra hiện nay.