31 tháng 7, 2014

Nhà thờ Đức bà Paris mừng 850 tuổi

Vài lời: Mình có dịp đến Nhà thờ Đức bà Paris (Notre Dame de Paris) 2 lần (1998 và 2005), đi dọc sông Sene, loanh quanh nhà thờ và vào bên trong. Hồi nhỏ, nghe cô giáo dạy sử, thầy dạy văn kể về Nhà thờ đức bà Paris. Lúc đọc tiểu thuyết của đại văn hào Pháp Victor Hugo, mường tượng công trình kiến trúc này qua tác phẩm Thằng gù ở gác chuông nhà thờ đức bà Paris. Cô giáo nói, Nhà thờ đức bà ở Sài Gòn rất giống ở Paris, là một phiên bản của người Pháp xây dựng trong bước đường "thực dân khai hoá" xứ An Nam. Là dân quê tỉnh lẻ, lúc đó mình cũng chã biết Nhà thờ đức bà ở Sài Gòn ra sao. Có dịp biết, thấy chẳng giống mấy. Màu sắc thì khác biệt, tương phản giữa trắng, thấp thoáng trong mù sương lãng đãng của Ba Lê hoa lệ với màu ngói đỏ tươi giữa Sài Gòn nắng nóng. Điểm na ná duy nhất là hình dáng kiến trúc.  


Nhà thờ đức bà Sài Gòn (ảnh: hiepcantho)



  
Doanh Nhân Sài Gòn, Thứ Sáu, 21/06/2013 07:51 (GMT+7)
Chiếc xe ca hai tầng dừng lại bên trạm, đoàn du khách lục tục kéo xuống, thi nhau băng qua đường để rồi vội vã đứng vào tít cuối phần đuôi đã rất dài của dòng người xếp hàng chờ đến khi được vào thăm một địa chỉ du lịch nổi tiếng nhất của Kinh thành ánh sáng. Đó là đại giáo đường Công giáo La Mã Notre-Dame de Paris, khởi công xây dựng năm 1163 và hoàn tất năm 1345, nghĩa là năm nay đã tròn 850 năm hiện hữu.


Đã nhiều lần đến đây tham quan, chụp ảnh nhưng đây là lần đầu tiên tôi được tiếp cận Notre-Dame de Paris gần và cao đến vậy. Chiếm hết phần sân trống mênh mông phía trước ngôi giáo đường rộng lớn này (dài 124m, ngang 69m và cao 90m nếu tính cả ngọn sắt nhọn phía trên một tháp chuông) là một hệ thống bục, tam cấp, nấc thang toàn bằng gỗ chắc chắn để khách du lịch từ mọi nơi trên thế giới tìm đến có thể quan sát, thật kỹ, thật rõ toàn bộ mặt tiền của Notre-Dame de Paris.
Công trình mới này do Tòa Thị chính Paris chi bởi vì vương cung thánh đường này chính là địa chỉ du lịch số 1 của Paris. Dù gì nơi đây cũng cất giữ cái mão gai mà Chúa Jêsu đã phải đội trong ngày chịu nạn cũng như một phần của cây thập giá mà trên đó ngài đã bị đóng đinh.
Nếu không có tòa kiến trúc kiểu gô-tích với những cửa sổ yểm kính màu tuyệt đẹp này thì chưa chắc Paris đã có thể là điểm đến của hơn 50 triệu du khách mỗi năm.
Hoàn tất sau gần hai thế kỷ xây dựng, ngôi giáo đường này đã là chứng nhân lịch sử của Paris từ thời cư dân Paris còn tập trung sinh sống, làm ăn ở tả ngạn sông Seine và trên đảo Ile de la Cité.
Theo dòng thời gian, nó từng là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, từ các lễ đăng quang ngai vàng của các ông vua, lễ thành hôn của họ cho đến nghi thức đăng quang Hoàng đế của Napoléon Bonaparte và Hoàng hậu Joséphine hồi năm 1801. Nó càng trở nên nổi tiếng hơn sau khi văn hào Pháp Victor Hugo phát hành cuốn tiểu thuyết cùng tên vào năm 1831.
Du khách cũng xếp hàng thật dài ở cánh bên trái của nhà thờ, chấp nhận mua vé 8 euro để được leo lên tháp chuông tít trên cao. Một nhân viên bảo vệ cao to chặn xét từng người, không cho mang thức ăn, thức uống cũng như loại trừ những du khách lớn tuổi, có bệnh tim mạch, không chịu được độ cao và khó thở ở chỗ chật chội.
Đây là việc phải làm vì bạn phải leo lên đến 374 bậc thang bằng đá đã mòn lõm sau khi bị hàng triệu triệu bàn chân giẫm lên. Đường lên khám phá tháp chuông, tìm kiếm Thằng gù Nhà thờ Đức Bà, nàng Esmeralda và những con quái thú gargouille chẳng dễ dàng, nhiều du khách thở hổn hển, nhiều lần dừng lại lấy hơi trong lồng cầu thang uốn cong, chật hẹp khiến xảy ra tình trạng dồn cục.


Nhưng vượt qua được gian khổ rồi thì sẽ hưởng những giây phút lâng lâng thú vị vì toàn cảnh Paris hiện ra trong tầm quan sát của mọi người. Kia rồi, tháp Eiffel và mái vòm của đền thờ Sacré-Cœur (Trái tim Cực thánh).
Dưới kia, những du thuyền lớn Bateau Mouche và Batobus tiếp nhau cập bến để du khách lên bờ tham quan Notre-Dame de Paris. Và du khách còn hiểu ra rằng, các quái thú bằng đá thực ra đóng vai trò ống thoát nước mưa, tránh cho đá, vôi vữa bị cuốn trôi trong những trận mưa bão, chứ không đơn thuần là tượng đá hù dọa tà ma, quỷ dữ đừng bén mảng vào nhà của Chúa.
Gọi là tháp chuông nên hai tòa tháp của thánh đường không thể thiếu các quả chuông đúc bằng đồng. Thực tế là có đến năm quả chuông, cái lớn nhất có tên là Emmanuel (có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta), nặng hơn 13 tấn, được lắp vào tháp Nam từ năm 1681 và luôn rền vang trước nhất mỗi khi báo thời giờ trong ngày hoặc đánh tiếng loan báo sự kiện quan trọng sắp diễn ra.
Bốn quả chuông còn lại gắn trong tháp Bắc sau khi được đúc xong vào năm 1856. Đầu năm 2012, bốn quả chuông này được tháo xuống, thay thế bởi bộ tám quả chuông mới vào cuối tháng 1/2013. Đồng thời, một quả chuông rất to khác, tên là Marie, cũng được treo cạnh chuông Emmanuel.
Chương trình mừng sinh nhật thứ 850 của Notre-Dame de Paris bắt đầu với sự bảo dưỡng và phục chế dàn đàn organ khổng lồ với gần 8.000 ống đồng và thép vào chiều ngày 20/12/2012. Công việc bảo trì, sửa chữa rồi tối tân hóa (lắp thêm thiết bị điện tử điều khiển tự động) cỗ máy âm nhạc cổ xưa này đã ngốn hết 10 tháng.
Hãy quan sát thật kỹ, dàn organ này có chiều cao tương đương tòa nhà ba tầng, đa phần lắp ráp vào nhà thờ từ thế kỷ XVIII và có khả năng phát ra âm thanh tương đương một dàn nhạc với 120 thành viên.


Chương trình kỷ niệm 850 năm Notre-Dame de Paris sẽ kéo dài cho đến ngày 24/11/2013. Khi những quả chuông đồng của vương cung thánh đường này ngân vang lúc giao thừa chào năm mới 2014, có khả năng Notre-Dame de Paris đã là điểm đến thăm của 18 triệu khách từ mọi nơi trên thế giới, tức 4 triệu khách nhiều hơn năm 2012.
Vâng, đây chính là địa chỉ thu hút nhiều du khách ngoại quốc nhất khi họ đến Kinh thành ánh sáng, hơn hẳn một đại giáo đường công giáo La Mã khác là đền thờ Sacré-Cœur trên đồi Montmartre và cũng hơn hẳn bảo tàng Louvre hay tháp Eiffel.
Chỉ sau khi đã mãn nguyện với việc tham quan và chụp ảnh phía ngoài và phía trong ngôi giáo đường nổi tiếng nhất thế giới này bạn mới nên đi bộ khoảng hơn trăm mét đến cửa hàng ở số 31 rue Saint-Louis en lIle để tự thưởng cho mình một cây kem.
Kem của nhà Berthillon thơm ngon, thu hút du khách từ năm 1954 đến nay. Xem cô gái Pháp thao tác tạo nên bông hoa nhiều màu toàn bằng kem cao ngất ngưởng phía trên miếng bánh quế hình chóp cũng đủ khiến bạn lưu luyến Paris khi đến lúc phải trở về nhà.
Vị kem Berthillon cùng mùi bánh crêpe quết xi rô dâu hoặc sôcôla lỏng tỏa lan từ các chiếc xe đẩy quanh ngôi giáo đường thuộc một trong những yếu tố khiến trong 14 lần ghé Paris kể từ năm 1998 đến nay, tôi đã có tám lần tìm đến đây ngắm cảnh.


P.NGUYỄN DŨN

Đột phá chính sách chuyển đổi cây trồng

Phải chuyển đổi cây trồng để thay thế nguyên liệu nhập khẩu, giảm giá thành chăn nuôi để tăng sức cạnh tranh cho hàng nội địa là giải pháp đã được các cơ quan quản lý đề ra. Nhưng khâu triển khai quá chậm và ngổn ngang nhiều việc cần phải tháo gỡ.  

Đi sau vẫn chậm
Theo Bộ NN-PTNT, đến năm 2015, vùng ĐBSCL sẽ chuyển đổi 112.000 ha trồng lúa sang các loại cây trồng khác và đến năm 2020 tổng diện tích đất trồng lúa sẽ chuyển đổi sang các loại cây trồng khác là 204.000 ha. Nhiều doanh nghiệp (DN) cũng đã tham gia dự án chuyển đổi như Công ty TNHH Dekalb VN (Monsanto) tiên phong nghiên cứu và thử nghiệm nhiều mô hình trồng bắp trên đất lúa tại ĐBSCL. DN này cũng đã liên kết với nhiều công ty đầu tư thu mua như Tài Lộc, Adeco, Toyota Tsusho... hình thành chuỗi cung ứng để cung cấp bắp nông sản cho các công ty chế biến thức ăn gia súc. Ông Nguyễn Hồng Chính, Giám đốc đối ngoại Dekalb VN, khẳng định vùng ĐBSCL có ưu thế nhất về canh tác bắp (ngô) lai, với năng suất trung bình ổn định 9 - 11 tấn/ha (hạt khô), tiềm năng có thể đạt 12 - 13 tấn/ha, gấp đôi mức trung bình cả nước. Canh tác bắp lai giúp bà con thu lãi hơn lúa 40 - 80%. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là sản xuất bắp lai còn manh mún nhỏ lẻ, mới chuyển đổi, thiếu kỹ thuật canh tác và thiếu sự hiểu biết về hạt giống, thiếu cơ giới hóa, khâu chế biến sau thu hoạch… nên giá thành cao. Từ đó không thể cạnh tranh nổi với bắp nhập khẩu.
GS-TS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, cho rằng: “Chuyển đổi cây trồng cần phải được nhìn trong một bình diện toàn cảnh thì mới đạt hiệu quả. Để làm được điều này, vai trò của các DN là rất quan trọng. DN phải năng động tìm, mở thị trường cho những sản phẩm hàng hóa của mình. Nhưng để có những DN năng động như vậy thì nhà nước phải có những cơ chế chính sách hỗ trợ. Nông dân liên kết với nông dân thành một cụm, từ đó liên kết với DN, các nhà khoa học nhảy vào huấn luyện nông dân sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn. Làm đúng thì công ty thu mua và mua cao hơn thị trường, nếu không thì không mua”.
TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard), khẳng định: “Nếu cần sự đột phá, hỗ trợ về đất đai, cung cấp thông tin, hỗ trợ đào tạo lao động thì chưa đủ mà nên tiến tới miễn giảm thuế, có chế độ bảo hiểm rủi ro, tổ chức đầu tư hạ tầng để đưa DN vào mới thành công”.
Không thể chuyển đổi nếu chính sách lắt nhắt          
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, dự kiến năm 2014 - 2015 sẽ chuyển đổi khoảng 112.000 ha diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang cây màu, nhưng kế hoạch chỉ mới tính theo cung mà không tính theo cầu nên sẽ còn nhiều khó khăn. “Cần có nhiều hơn nữa các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân và được thực thi có hiệu quả. Các vấn đề đất đai, khoa học kỹ thuật cho sản xuất hàng hóa lớn ở khu vực nông nghiệp, nông thôn đang cần sự sửa đổi cực kỳ mạnh dạn để chuyển đổi nông nghiệp sang một mô hình khác. Chứ cứ lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ, một ít chính sách hỗ trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật... có tính đối phó, theo đuôi như vừa qua thì rõ ràng không ăn thua”, ông Hiệp phân tích.
GS-TS Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, cũng than phiền: “Một trong những vấn đề cần đổi mới trong tư duy là đầu tư cho khoa học hiện nay quá thấp, chỉ khoảng 0,15% tổng chi cho khoa học của nhà nước. Đầu tư cho khoa học nông nghiệp của VN hiện chỉ có 6 USD/ha/năm, trong khi Hàn Quốc cao gấp 50 lần, Thái Lan gấp 10 lần và Philippines gấp 7 lần. Ở Đài Loan, chỉ một viện nghiên cứu rau thôi thì kinh phí đầu tư mỗi năm là 20 triệu USD. Thế nhưng, cả ngành nông nghiệp của VN mỗi năm chỉ có 30 triệu USD đầu tư nghiên cứu khoa học thì làm sao phát triển cho kịp?”.
Ông Nguyễn Hồng Chính kiến nghị: “Trong suốt thời gian qua, chúng tôi đã tiếp cận gần 8.000 nông dân nhưng chuyển đổi chỉ được 4.400 ha, nếu kế hoạch chuyển đổi 120.000 ha trong 3 năm thì ít nhất mỗi năm chúng ta phải tiếp cận tập huấn chuyển giao cho khoảng 30.000 nông dân với khoảng 400 - 500 lớp tập huấn/năm. Đây là khối lượng công việc rất lớn và rất cần có sự vào cuộc mạnh mẽ từ các cơ quan chức năng. Ngoài ra, nhà nước cần quan tâm đầu tư công nghệ sau thu hoạch như máy lẩy bắp hạt, lò sấy… để giảm tỷ lệ hao hụt, tăng sự đồng đều chất lượng của nông sản, bảo quản lâu hơn để cạnh tranh với hàng nhập khẩu”.
Quang Thuần - Chí Nhân


Hay nhưng cần có lộ trình

Nghị định 36/2014/NĐ-CP về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra đã có hiệu lực từ ngày 20-6 nhưng nhiều ý kiến cho rằng cần có lộ trình để các điều, khoản trong nghị định áp dụng được trong thực tế
TS Võ Hùng Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội cá tra, cho rằng với nghị định này, ngành cá tra sẽ được chú trọng hàng đầu về bảo đảm chất lượng, an toàn từ vùng nuôi, đến chế biến, xuất khẩu.
Xu hướng tất yếu
Theo đó, nghị định yêu cầu doanh nghiệp (DN) và hộ nuôi phải đăng ký diện tích, sản lượng và cả hợp đồng xuất khẩu. Đồng thời, yêu cầu các cơ sở nuôi cá tra thương phẩm phải đạt tiêu chuẩn VietGAP hoặc chứng chỉ quốc tế phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam. “Năm 2013, tổng số diện tích nuôi cá tra đạt chứng chỉ quốc tế chưa tới 20%. Nghị định 36 đặt ra mục tiêu này nếu đạt được sẽ thích ứng với luật Farm Bill của Mỹ, là con đường nâng cao chất lượng cá tra” - ông Dũng trình bày.
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ), cho biết chỉ trong một thời gian ngắn, con cá tra đã vươn lên đỉnh vinh quang hơn bất kỳ cây, con nào. Từ hơn 5.000 ha nuôi trồng ở đồng bằng sông Cửu Longcá tra Việt Nam đã “bơi” ra gần 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, mang về gần 2 tỉ USD mỗi năm. Xuất khẩu cá tra có lúc đóng góp khoảng 2% GDP quốc gia, tạo việc làm cho hàng chục triệu công nhân, người nuôi và lao động phụ trợ. Tuy nhiên, sau ánh hào quang của loài “đế ngư” này là cảnh bát nháo, bấp bênh, trồi sụt về mặt giá cả... Nguyên nhân được xác định là do phát triển nóng, thiếu quy hoạch, mạnh ai nấy làm. “Lần đầu tiên một nghị định ra đời điều chỉnh hoạt động nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra thương phẩm, được kỳ vọng sẽ tác động tích cực đến ngành cá tra để sắp xếp lại “đội hình”, xác lập trật tự mới, gắn kết chuỗi giá trị sản phẩm. Công cụ pháp lý quan trọng này sẽ thúc đẩy liên kết vùng, thương hiệu hóa và luật hóa luật chơi để các DN ứng xử và liên kết lại, đủ sức cạnh tranh với bên ngoài” - ông Hiệp phân tích.

Cùng quan điểm, ông Lê Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản An Giang (AFA), cho rằng nghị định 36 sẽ giúp các cơ quan chức năng quản lý tốt hơn về mặt diện tích nuôi trồng, sản lượng để tránh tình trạng cung vượt cầu như đã từng diễn ra. Cũng theo ông Bình, trong thời gian tới, các bộ, ngành liên quan sẽ đưa ra giá sàn xuất khẩu để giải quyết triệt để tình trạng DN cạnh tranh không lành mạnh bằng cách bán phá giá trên các thị trường. Việc làm này cũng giúp cho giá cá nguyên liệu trong nước ổn định hơn theo hướng hài hòa lợi ích giữa DN với nông dân. “Đối với các DN làm ăn đàng hoàng thì không có gì phải quan ngại những quy định mới này. Bởi, đây là xu thế tất yếu của thế giới trong cuộc cạnh trạnh về chất lượng chứ không phải về giá. Do đó, giữa các DN xuất khẩu và người nuôi phải gắn kết với nhau để giữ ổn định về chất lượng cá tra từ khâu nuôi, chế biến, đến xuất khẩu. Một khi đã có giá sàn rồi thì DN nào sản xuất giỏi, tiết kiệm được chi phí sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn. Đây là bước đi mang tính bền vững cho nghề nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra trong thời gian tới. Hơn hết, nó giúp giữ uy tín cho cá tra Việt Nam” - ông Bình khẳng định.
Khó áp dụng ngay vào thực tế
Tuy nhiên đến nay, hầu hết các DN xuất khẩu cá tra ở ĐBSCL đều than khó và chưa sẵn sàng để áp dụng. Theo bà Trương Thị Lệ Khanh - Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty CP Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp) - nghị định này đang gây nhiều khó khăn cho các DN xuất khẩu, nhất là quy định về độ ẩm, tỉ lệ mạ băng và cả việc phải đăng ký hợp đồng xuất khẩu với Hiệp hội Cá tra. Bà Khanh cho rằng để bảo đảm độ ẩm 83% và mạ băng không vượt quá 10% thì chắc chắn DN phải bán sản phẩm với giá cao và sẽ khó được các thị trường truyền thống chấp nhận. Đặc biệt, nếu áp đặt quy định chung này đối với tất cả sản phẩm khác làm ra từ cá tra như cá tẩm bột, chả cá… thì DN càng gặp khó khăn hơn. “Nếu chúng ta làm nóng vội, thị trường không chấp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến xuất khẩu. Từ đó, dẫn đến rất nhiều hệ lụy như không đạt kế hoạch xuất khẩu, hàng tồn kho nhiều trong khi công nhân mất việc làm” - bà Khanh nhìn nhận.
Đồng quan điểm này, ông Doãn Tới, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cá tra đồng thời là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Nam Việt (An Giang), cho rằng trong tình hình thị trường xuất khẩu đang gặp khó khăn như hiện nay thì một số quy định trong Nghị định 36 chưa cần thiết phải áp dụng ngay và cần có lộ trình cụ thể để DN có đủ thời gian chuẩn bị. “Về mặt lý thuyết, nghị định mới rất hay nhưng khó áp dụng ngay vào thực tế. Bởi hiện nay, giá cá tra xuất khẩu cũng như cá tra nguyên liệu đều xuống rất thấp nên cả DN và người nuôi đều gặp khó khăn. Nhiều DN tồn kho khá lớn trong khi sức tiêu thụ lại rất hạn chế. Ngoài ra, nếu áp dụng ngay Nghị định 36 đối với người nuôi cá tra thì chẳng khác nào đẩy họ ra khỏi cuộc chơi vì thiếu vốn để đầu tư theo tiêu chuẩn” - ông Tới đắn đo.
Ở ĐBSCL, nhiều hộ nuôi cá tra đang bị ngân hàng kiện ra tòa, buộc phải bán nhà đất trả nợ. Do đó, để ao cá tra của những hộ nuôi này đạt tiêu chuẩn VietGAP là điều không dễ. Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu cá tra Việt Nam (VASEP), cho rằng: “Nông dân và DN thiếu vốn đã nhiều năm nay. Việc nuôi theo chuẩn VietGAP không quá khó, phần lớn những hộ nuôi nhỏ lẻ đã đạt chuẩn nhưng chưa xin giấy. Nếu hộ nuôi không tuân thủ việc này, tác hại không chỉ một mình họ mà còn cho cả những hộ khác”.
Sắp có thông tư hướng dẫn
Chiều 29-7, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Phạm Anh Tuấn - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - khẳng định mục đích đầu tiên của Nghị định 36 là nhằm thay đổi toàn diện mặt nhận thức về ngành sản xuất cá tra đối với tất cả những người liên quan. Đây là rào cản lớn nhất và hiện có nhiều người không muốn thay đổi. Nhiều người chỉ muốn làm theo thói quen, theo ý của mình để mang lại lợi ích riêng mà không nghĩ đến lợi ích chung. Đó là lý do họ phản ứng và không muốn thay đổi. “Về tổng thể, Nghị định 36 sẽ thúc đẩy ngành thủy sản trong nước hoạt động hiệu quả hơn, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Thực tế việc sản xuất, xuất khẩu ngành hàng cá tra đang có quá nhiều bất cập, cần phải chấn chỉnh, thay đổi” - ông Tuấn nói.
Về vấn đề có 2 điểm trong Nghị định 36 mà DN “kêu” rất nhiều liên quan đến chất lượng là hàm ẩm và tỉ lệ mạ băng, ông Phạm Anh Tuấn lý giải: “Đúng là độ ẩm không phải là chỉ tiêu liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm nhưng việc DN nói được thị trường chấp nhận thì chưa đúng. Thị trường mà DN nói ở đây là các đối tác của họ chứ không phải người tiêu dùng cuối cùng. Nếu người tiêu dùng cuối cùng mua miếng cá về thấy nhiều nước quá, họ sẽ kêu ca và có ấn tượng không tốt. Điều này chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu cá của Việt Nam”.
Còn về vấn đề hàm lượng nước tối đa không được vượt quá 83%, ông Tuấn cho biết bộ ghi nhận ý kiến này và sẽ đánh giá lại xem thực tế ra sao. Nếu đúng là có sự thay đổi như phía DN nói, bộ sẽ có kiến nghị để điều chỉnh. Còn khi chưa có báo cáo đánh giá lại thì DN vẫn phải nghiêm túc thực thi theo quy định tại Nghị định 36.
Theo ông Phạm Anh Tuấn, hiện dự thảo thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 36 đã lấy xong ý kiến góp ý của các bộ, ngành, địa phương và DN. “Chúng tôi đang điều chỉnh, hoàn thiện trước khi ban hành để bảo đảm tính thông suốt. Dự tính khoảng 1-2 tuần nữa, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ ký ban hành thông tư này” - ông Tuấn chia sẻ.
Văn Duẩn


THỐT NỐT - CA LINH

18 tháng 7, 2014

Để sản xuất cánh đồng lớn bền vững

Trần Hữu Hiệp
Tổ chức mở rộng SX cánh đồng lớn (CĐL)  đạt trên 50% diện tích đất trồng lúa vùng ĐBSCL, trong đó hơn 90% diện tích để XK gạo là mục tiêu "khát vọng" của Cty CP Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS).

SX cánh đồng lớn còn nhiều vướng mắc
Tại buổi lễ ký kết chương trình hợp tác chiến lược giữa AGPPS với Viện Bảo vệ thực vật và khánh thành Trung tâm Nghiên cứu SX sản phẩm sinh học diễn ra hôm 8/7/2014, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT AGPPS một lần nữa khẳng định quyết tâm đó.
Điển hình
Với phương châm “trước là phục vụ, sau là kiếm ăn”, nhiều năm qua, AGPPS luôn gắn bó với nhà nông. Vừa qua, AGPPS đã phát hành hơn 1,8 triệu cổ phiếu trị giá hơn 56 tỷ đồng cho 1.724 nông dân miền Tây để gắn bó lợi ích sống còn với Cty, đặc biệt là tham gia CĐL, biến nông dân thành cổ đông Cty, góp phần xây dựng đội ngũ doanh nhân nông nghiệp tương lai.
Quá trình chuyển hóa từ “Cty bán thuốc sâu” sang DN nông nghiệp nổi tiếng của AGPPS cho thấy bước chuyển quan trọng của SXKD nông nghiệp ở ĐBSCL. Từ cánh đồng mẫu lớn của AGPPS năm 2007 chỉ 200 ha đã phát triển mạnh, không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường, mà quan trọng hơn là đã tạo ra mô hình tổ chức SX mới gắn kết thị trường, khắc phục tình trạng SX nhỏ lẻ, manh mún.
Liên kết chặt chẽ “4 nhà” trong SX, chế biến và tiêu thụ, từng bước đưa nông nghiệp ĐBSCL lên SX hàng hóa lớn, hiện đại.
CĐL của AGPPS đã trở thành hiện tượng trong nông nghiệp, được nhân rộng ở nhiều tỉnh, thành, không chỉ ở vùng ĐBSCL, mà còn “tiến ra Bắc”, với tổng diện tích đến nay đạt khoảng 134.000 ha.
Còn đó nỗi lo
Nhiều hội nghị, hội thảo về CĐL đã được tổ chức. Mô hình này trở thành “nguồn cung thực tiễn” sinh động để các cơ quan Trung ương và địa phương hoạch định cơ chế, chính sách hỗ trợ, tổ chức triển khai thực hiện.
 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 62/2013/QĐ-TTg, Bộ NN-PTNT đã ban hành Thông tư 15/2014/TT-BNNPTNT về chính sách khuyến khích hợp tác hỗ trợ liên kết SX gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng CĐL.
Tuy nhiên, thực tiễn vừa qua ở ĐBSCL cho thấy SX lúa gạo trong CĐL vẫn tồn tại nhiều bất ổn, cần được tiếp tục tháo gỡ để hoàn thiện. Những thách thức và vướng mắc của mô hình này vượt ngoài tầm nỗ lực của một DN như AGPPS hay các DN làm nông nghiệp. Nó đang đòi hỏi sự chuyển đổi căn bản, toàn diện và cần những cải cách mạnh mẽ hơn nữa từ cơ chế, chính sách đồng bộ gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh và thu nhập cho nông dân và xây dựng NTM.
CĐL đang là một mô hình tốt, nhưng vẫn còn đó nỗi lo lớn, đặt ra trách nhiệm không chỉ của DN, nông dân mà đang đòi hỏi các cơ chế, chính sách mới hơn, mạnh mẽ hơn từ các cơ quan hoạch định chính sách và thực thi để tháo gỡ, mang lại hiệu quả cao hơn.
Những bất ổn nội tại của CĐL là liên kết giữa nông dân và DN vẫn lỏng lẻo. Chuyện “bẻ kèo” khi thị trường có biến động đã diễn ra ở cả 2 phía doanh DN lẫn nông dân mà bên thiệt hại không thể làm gì được, bởi hiện không có quy định pháp luật cụ thể để xử lý. DN đầu tư, ứng giống cho nông dân khi bị “xé hợp đồng” không biết kêu ai.
Ngược lại, để đáp ứng điều kiện được XK gạo, có xu hướng DN hợp thức hóa việc liên kết xây dựng vùng nguyên liệu hơn là quyết tâm hợp tác thực sự, DN “quay lưng” với nông dân khi giá gạo xuống thấp. Thực tế đang cần một cơ chế pháp lý và xử lý theo luật hợp đồng liên kết để bảo vệ các quan hệ mới một cách hữu hiệu qua CĐL. Nhìn rộng ra là cơ chế pháp lý về liên kết vùng ĐBSCL, trong đó có liên kết DN và nông dân.
Do tính chất nhạy cảm của vấn đề an ninh lương thực nên DN đang bị đặt vào tình thế ngày càng khó khăn khi phải theo đuổi cả hai mục tiêu thương mại và xã hội, phục vụ và kiếm lời mà họ lại chưa được chuẩn bị tốt để làm tốt những mục tiêu này.
Thương mại hóa ngành SX lúa gạo, đặc biệt là hiện đại hóa chuỗi giá trị hạt gạo, bao gồm đổi mới thể chế, cải tiến công nghệ, ứng dụng ngày càng nhiều hơn các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, hướng đến sản xuất bền vững hơn với môi trường, chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn. Khả năng cạnh tranh của ngành phải xây dựng trên cơ sở hiệu quả và đổi mới, chứ không phải trên thù lao giá rẻ cho nông dân hay phong trào xây dựng cánh đồng lớn.
Những thách thức lớn hơn từ đồng ruộng mà CĐL đang đối mặt là mâu thuẫn giữa mục tiêu xây dựng đội ngũ nông dân hiện đại, chuyên nghiệp với thực trạng thu nhập thấp của lao động nông nghiệp hiện nay.
Yêu cầu đòi hỏi mỗi tiểu vùng trong vùng ĐBSCL, tùy điều kiện tự nhiên, sinh thái, trình độ phát triển SX và quy mô phát triển thị trường, cần có quy hoạch ưu tiên sản phẩm lợi thế để thúc đẩy tái cơ cấu không chỉ về sản lượng mà về giá trị, thu nhập của người dân.
Cần áp dụng phân vùng theo không gian, có chính sách hỗ trợ khác nhau ở “vùng lõi”, “vành đai” và các khu vực trồng lúa bình thường khác, có xem xét mục tiêu SX lúa cho an ninh lương thực hay lúa hàng hóa.
Điều quan trọng hơn là phải tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược XK gạo mang “tính chính trị - xã hội” và tính thương mại để có chính sách rõ ràng, phân biệt giữa hai mục tiêu để tăng cường hỗ trợ nhóm thực hiện mục tiêu chính trị - xã hội, giải phóng một phần gánh nặng để tăng lợi nhuận, đồng thời nâng cao trách nhiệm cho nhóm thương mại. Những chuyển đổi này rất cần cho việc xây dựng và phát triển bền vững CĐL.


Nhớ cây đủng đỉnh xứ quê xưa

Trần Hữu Hiệp
Báo Nông thôn ngày nay, 18-7-2014
Em đi theo chồng, anh nơi này bao tháng ngày trông/Như dây đủng đỉnh, nuôi trái tình bao tháng ngày qua/Tình đã trọn xanh rồi, người nỡ đem đi hết cho đành/Ai xui cho mình, ôm nỗi buồn cho người ta vui”. Đó là lời bài hát “Dây đủng đỉnh buồn”. Loài này sinh ra như thể gắn liền với những đám cưới nhà quê xưa một thời bãng lãng.
Cây đủng đỉnh là loài cọ, họ cau, lá giống đuôi cá nên trong tiếng Anh còn được gọi là fishtail palm (cọ đuôi cá). Lá và bông đủng đỉnh cùng với tàu dừa, tàu cau, bẹ chuối thường được dùng để làm cổng, màn cửa, rạp cưới.


Tôi nhớ những đám cưới quê xưa rộn ràng, trẻ con xúm xít bên ngoài rạp cưới làm bằng cây đủng đỉnh. Đám trẻ chạy theo một quãng đường để nhìn mặt cô dâu, chú rễ; lao nhao mấy câu đồng dao: “Cô dâu chú rễ, làm bể bình bông, đổ thừa con nít, bị đòn nát đít”…
Tôi nhớ về cây đủng đỉnh của một thời tuổi thơ. Con nít xứ quê miền Tây xưa, đứa nào mà không “rành sáu câu” những đám cưới che rạp đủng đỉnh. Khung sườn, cột kèo làm bằng thân cau, bằng tre hay các loại cây trong vườn nhà. Bẹ chuối tách ra quấn vào thân cột, kèo, trang trí bằng lá, bông đủng đỉnh thành “ngôi nhà sinh thái” cho hai họ, quan khách đến chung vui. Trên mỗi thân cột trong rạp cưới, người ta viết tên 2 người chạy bàn phục vụ khách với thực đơn rõ ràng. Đãi đám cưới tùy theo gu mỗi nơi, nhưng món cù lao thì không thể thiếu. Theo “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức (Khai Trí, Sài Gòn, 1970), thì “Cù lao chính là cái lẩu, đồ đựng thức ăn có nước, giữa có ống đựng than lửa”. Còn tên gọi cái lẩu, theo nhà Nam Bộ học Sơn Nam, chính là kết tinh văn hóa, giao thoa ngôn ngữ của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer trên mảnh đất phương Nam.
Một trái ớt đỏ, mấy trái cau kiểng hay lá, bông đủng đỉnh thường ngày, với bàn tay tài hoa của những nghệ nhân miệt vườn quê tôi, bỗng chốc biến thành mắt chim phượng, mào, cánh chim công, những cặp uyên ương, long - phụng hấp dẫn.
Dáng cây đủng đỉnh lơ thơ, nhởn nhơ như tên gọi của nó ngày nào và những đám cưới miền quê xưa đang lùi vào dĩ vãng. Ngày nay dịch vụ “cưới trọn gói” với xe hoa, seri ảnh cưới, giàn nhạc, âm thanh xập xình vang cả một khúc sông và bao tiện nghi khác không chỉ có ở thị thành, mà đã về tận miền quê xa xôi… Ngày xưa đã lùi xa. Đám cưới nay chẳng mấy ai dựng rạp bằng cây đủng đỉnh. Trẻ con bây giờ thiếu gì đồ chơi điện tử, có đứa còn nổi tiếng là game thủ tung hoành thế giới mạng, nên đâu còn hứng thú với những trò cất nhà chòi, đám cưới giả ngày trước đượm chất quê mùa với dây đủng đỉnh!

Cây đủng đỉnh xứ quê xưa một thời chỉ còn trong ký ức.

14 tháng 7, 2014

Nông dân Tân Hiệp trồng lúa tăng thu nhập, bán khí thải

C.Quốc – Trần Hữu Hiệp
TT - Trong lúc nhiều nông dân ở ĐBSCL trồng lúa không có lãi do giá thành quá cao thì nhiều hộ dân ở huyện Tân Hiệp (Kiên Giang) và Phú Tân (An Giang)... cùng rủ nhau trồng lúa theo mô hình “một phải, sáu giảm” vì giúp giảm đáng kể giá thành, tăng thu nhập.
Theo quy trình này, một phải là phải dùng giống lúa xác nhận, còn sáu giảm gồm: giảm lượng nước vừa đủ, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm lượng giống gieo sạ, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm phân bón và giảm phát thải khí nhà kính. Dự án do Quỹ bảo vệ môi trường (EDF) hỗ trợ và Viện Nghiên cứu và phát triển ĐBSCL cùng hai hợp tác xã (HTX) tổ chức thực hiện.
Giảm đầu vào
Ai mua không khí?
Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu lần 3 tại Tokyo (Nhật) xác định cơ chế “mua bán không khí”. Theo đó, các quốc gia và cơ sở công nghiệp có lượng khí thải CO2 vượt mức quy định phải có nghĩa vụ mua “tín chỉ carbon” ở những nơi tiết kiệm được. Ở VN, sản xuất với yêu cầu giảm khí nhà kính đã được thực hiện bởi một số dự án thủy điện, rác thải, nước thải. Từ cuối năm 2013, Quỹ đối tác carbon (CPF) của Ngân hàng Thế giới cùng với Thụy Điển, Na Uy và Tây Ban Nha cam kết sẽ mua 3 triệu “tín chỉ carbon” của chương trình phát triển thủy điện nhỏ thuộc REDP của VN. Một “tín chỉ” tương đương 1 tấn CO2. Song cho đến nay, việc bán “tín chỉ” trong sản xuất lúa vẫn còn là vấn đề mới. Trong khi đây là hoạt động chủ yếu của nông dân VN trước yêu cầu đảm bảo an ninh lương thực và sinh kế.
đo khí phát thải từ sản xuất lúa
Những ngày cuối tháng 6-2014 là thời điểm người dân tại HTX Kênh 7B (xã Đông Thạnh A, huyện Tân Hiệp) và HTX Thới Thượng (huyện Phú Tân) hối hả thu hoạch vụ lúa hè thu. Đây là vụ mùa thứ năm mà người dân tham gia dự án. Ông Võ Minh Chiếu (chủ nhiệm HTX Kênh 7B) chỉ cánh đồng hơn 10ha sắp thu hoạch cho biết qua năm vụ canh tác với sự trợ giúp, tập huấn kỹ thuật của cán bộ EDF và Đại học Cần Thơ, giá thành sản xuất cho mỗi công ruộng (1.000m²) ông tính toán được chỉ còn 1,2 triệu đồng, trong khi trước đây luôn ở mức 1,6-1,8 triệu đồng. Ông Chiếu nhớ lại vụ đầu tiên thực hiện theo mô hình này HTX của ông chỉ có khoảng 100 hộ tham gia, nhưng hiện nay có khoảng 220 hộ vì họ thấy được lợi ích của mô hình. “Trước đây tôi là một nông dân giỏi, nhưng là giỏi... xịt thuốc trừ sâu, còn bây giờ đã khác rồi. Đặc biệt với sự hướng dẫn của nhà khoa học, khi nào cần thiết thì đưa nước vào, khi không cần thiết thì rút nước ra (kỹ thuật ngập khô xen kẽ) chứ không để nước ngập ruộng quanh năm như trước đây nên thân lúa rất chắc, không ngã đổ đã làm giảm thất thoát trong thu hoạch” - ông Chiếu cho hay.
Còn bà Nguyễn Thị Nương, một thành viên HTX này, cũng chia sẻ trước đây làm ruộng cứ phun thuốc rất nhiều lần (8-10 lần/vụ) để phòng bệnh, nhưng hiện nay chỉ khi nào lúa bệnh nặng dữ lắm mới phun (phun tối đa 2-3 lần/vụ). Ngoài ra, theo tính toán của bà Nương, với kỹ thuật sạ lúa 12 kg/công trong khi trước đây phải sạ 40 kg/công, bón phân 50 kg/công nay còn 30 kg/công... mà năng suất không đổi thì nông dân đã thành công bởi giảm được giá thành. Tương tự, ông Lê Văn Tài - chủ nhiệm HTX Thới Thượng - chia sẻ vì lợi ích của kỹ thuật “một phải sáu giảm” mà lúc đầu chỉ vài chục hộ tham gia, nay HTX của ông đã có vài trăm hộ. Tuy nhiên, những người dân trên hiện chỉ còn lo lắng khâu đầu ra được các doanh nghiệp tiêu thụ cả ba vụ trong năm bởi hiện chỉ mua 1-2 vụ.
Sẽ bán khí thải
PGS.TS Nguyễn Văn Sánh - viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển ĐBSCL - cho biết nhận thấy khí thải canh tác lúa nước phân bố cao trong khu vực nông nghiệp và các yếu tố gây ra khí thải như bón phân, sạ giống dày, quản lý nước không hợp lý mà nếu giảm được sẽ có nghĩa tăng thu nhập cho nông dân (vì giảm được giá thành sản xuất). Nhận thấy kỹ thuật “một phải, sáu giảm” là công cụ quan trọng để thực hiện nên từ năm 2010, Viện Nghiên cứu và phát triển ĐBSCL kết hợp với EDF phát triển trồng lúa giảm khí thải nhà kính và tăng thu nhập cho nông dân tại hai địa phương trên. Kết quả cho thấy so với mô hình trồng lúa truyền thống thì trồng lúa “một phải, sáu giảm” giảm được 4-5 tấn khí thải/ha/vụ, năng suất tăng 5% và giá thành sản xuất giảm 15-20%/ha/vụ.

Ông Trần Quang Củi - phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang - cho biết sở đã làm việc với một doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gạo để có thể mua ba vụ và kêu gọi một doanh nghiệp khác mua lúa của nông dân trồng lúa “một phải, sáu giảm”. Theo ông Củi, hiện doanh nghiệp và nông dân chỉ mới dừng lại ở chỗ thống nhất giá là ký hợp đồng mua chứ doanh nghiệp chưa bao tiêu sản phẩm. Ông Củi nói với những lợi ích thực tế, khi dự án của EDF không còn nữa thì người dân địa phương vẫn tiếp tục làm với kỹ thuật đã được tập huấn. Bà Trần Thu Hà - giám đốc Dự án VLCRP thuộc EDF - đề nghị sau này khi dự án rút đi thì người dân cần tiếp tục duy trì cách trồng theo mô hình “một phải, sáu giảm” để đảm bảo tính bền vững của dự án. Theo bà Hà, khí thải nhà kính giảm từ dự án này hoàn toàn có cơ hội bán ra ở các thị trường tự nguyện.

13 tháng 7, 2014

Sách xưa chuyện cũ

Vừa được anh bạn Huỳnh Kim bên Saigon Times Group gửi cho đường link KHO SÁCH XƯA của QUÁN VEN ĐƯỜNG nơi hải ngoại. Mình không biết chủ nhân Quán Ven Đường là ai, nhưng nhìn lượng đầu sách được lưu trữ, upload, công phu xếp đặt, lời văn tỏ bày ... thấy quý trọng tấm lòng của những người Việt xa xứ vọng cố hướng qua sách. Như bắt được vàng khi nhìn thấy bìa của các quyển: Đại Việt Quốc Thư, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, An Nam Chi Lược, Phong Lưu cũ mới, Thú chơi cổ ngoạn ... của Vương Hồng Sển và nhiều sách khác. 

Hồi nhỏ mình học văn, mê sách, giữ sách cẩn thận, nên được chị bán hàng ở hiệu sách quốc doanh huyện Ô Môn (Cần Thơ) cho mượn sách đọc khỏi phải mua tốn tiền (cũng chẳng có đủ tiền để mà mua). Nhờ viết chữ đẹp, nên thẩy thủ thư của trường mượn viết giùm bảng Mục lục sách trên giấy A0 treo ở Thư viện. Để trả công, thầy ưu tiên cho mượn sách giáo khoa, sách tham khảo luyện thi học sinh giỏi hay những loại sách in các bài phê bình văn học, tác phẩm, tác giả của ông Hoài Thanh; các bài tranh luận gữa Phan Khôi và Hải Triều về nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh ... Với kiến thức học sinh lớp 7, lớp 8 của mình thời đó, đọc sách phê bình, nghị luận như lạc vào rừng cây triết học. Nhưng cũng nhờ 2 nguồn sách mượn này mà "sách quốc doanh" chính thống không thiếu với mình. Nhưng sách xưa, như Đại Việt sử Ký, sách của Hồ Biểu Chánh, Thơ Mới, Văn Thơ tiền chiến ... thì chỉ được thầy dạy văn "kể lại nội dung" hoặc cho mượn được vài cuốn cũ mèm, sờn ráy với lời dặn "giữ kỹ". Thật ra, thầy không dặn, đọc sách cũng chẳng dám lật nhanh, sợ rách.
Vậy mà nay, nó được các quế nhơn có lòng tốt tập hợp lại, dễ dàng tra cứu, đọc thoải mái trên mạng. Xin trân trọng giới thiệu, ai thích thì đọc, xem như lời cảm ơn với những người quý sách cũ.   

10 tháng 7, 2014

TIẾNG VIỆT GỐC KHMER TRONG NGÔN NGỮ BÌNH DÂN Ở MIỀN TÂY NAM BỘ - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CA DAO [1]

Th.S Trần Minh Thương [2]

1. Đặt vấn đề

1.1. Không gian văn hoá

Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Quốc Vượng (chủ biên), phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng, xen với các vùng trũng như Đồng Tháp Mười ở hai bên sông Tiền, tứ giác Long Xuyên ở phía Tây sông Hậu, là những hồ nước thiên nhiên góp phần điều hoà lưu lượng cho sông Cửu Long vào mùa nước nổi tháng 9, tháng 10. Ngoài khơi là vùng biển nông, có nhiều đảo và quần đảo như Côn Sơn, Thổ Chu, Nam Du, Phú Quốc..., cùng một vài dãy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang.

1.2. Chủ nhân văn hóa và ngôn ngữ

Những năm cuối TK XVII, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính vào kinh lý miền Nam. Đến năm 1779 thì cương vực của phủ Gia Định đã bao trùm toàn vùng Nam Bộ hiện nay. Kể từ thời điểm đó, những người Việt ở miền Trung, miền Bắc đã vào vùng Đồng Nai, Gia Định khai phá đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, rồi tiến dần xuống vùng đất Cửu Long.

Người Khmer ở ĐBSCL hiện nay ước khoảng 1.3000.000 người, tập trung nhiều nhất là ở các tỉnh Sóc Trăng (khoảng 400 ngàn), Trà Vinh (khoảng 320 ngàn), Kiên Giang (khoảng 204 ngàn), An Giang (khoảng 85 ngàn), Bạc Liêu (khoảng 60 ngàn), Cần Thơ (khoảng 39 ngàn), Cà Mau (khoảng 24 ngàn), Vĩnh Long (khoảng 21 ngàn)…

Là một tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Khmer đã sinh sống lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hoá, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp. Và chính trong đời sống cộng cư ấy, sự ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Khmer và tiếng Việt diễn ra như một quy luật tất yếu của ngôn ngữ.

Trong bài nầy, chúng tôi không có tham vọng gì hơn là chỉ tìm đọc, và học thêm những chữ có liên hệ giữa tiếng của người Kinh và Khmer, liệt kê ra đây một số câu ca – vốn là lời ăn tiếng nói có trong dân gian, hầu truy tầm căn nguyên của chúng.

2. Tiếng Viết gốc Khmer qua ca dao Tây Nam Bộ

2.1. Những tiếng Khmer còn giữ nguyên gốc trong tiếng Việt

Những chữ Việt gốc Campuchia thông dụng trong tiếng Việt. Dân Việt đã ký âm những chữ này bằng cách dùng mẫu tự tiếng Việt. Chúng ta đã dùng những chữ loại nầy vài thế kỷ nay, đến nỗi chúng ta không biết nó từ đâu mà có, chỉ cần hiểu nghĩa và dùng chúng như những chữ Việt thông dụng khác. Song, số lượng những từ ngữ nguyên gốc này xuất hiện trong ngôn ngữ phổ thông của tiếng Việt không nhiều.

Xneng là dụng cụ đươn bằng nang tre, trúc của người Khmer, có hình như cái xuổng. Người bình dân dùng để xúc cá, tép ở những nơi có nước cạn, cỏ hoang mọc đầy. Câu hát của người nào đó đã cất lên vẳng văng trên cánh đồng thửa ruộng:

Chiều chiều lấy cái xneng

Lên đồng xúc cá hái sen một mình

Ở một câu ca khác:

Thằn lằn cụt đuôi ai nuôi mày lớn

Dạ thưa thầy con lớn mình ên

Khmer có êng: một mình, chuyển sang Việt ngữ mất chữ g thành ên cũng mang nét nghĩa một mình.

Hay:

Xa em nhớ vị sim lo

Xa em nhớ khứa cá kho quê nghèo

Sim lo (hay sum lo) là món canh của người Khmer nấu bằng bầu, hay lá bình bát dây, đặc biệt nó được nêm bằng mắm bò hóc (prahok), đây là từ người Việt mượn nguyên mẫu để sử dụng.

Cái nóp đã gắn liền với quân dân Nam Bộ thành đồng. Nóp cũng là tiếng Khmer còn giữ lại nguyên gốc, nó chuyển sang tiếng Việt bằng phiên âm mà thôi:

Vai mang cái nóp tay xách cái lọp cái lờ

Về miền đồng chua nước mặn đặng nhờ miếng ăn

Cái lộp theo tiếng Khmer là dụng cụ đan bằng tre, dùng để bắt cá tôm. Một đầu của lộp có hom bện bằng tre vót cỡ chiếc đũa ăn, hình phễu, cá tôm, rùa rắn vào được nhưng không thể ra. Nông dân miệt này ai cũng biết, cũng dùng lộp để bắt thuỷ sản.

2.2. Những từ Khmer được Việt hoá

Từ tiếng Khmer nhưng khi đi vào tiếng Việt, người Việt, người Hoa có cách phiên âm của riêng mình. Dần dần nó bị chuyển cả về hình thức ngữ âm, lớp từ này khá phổ biến trong ngôn ngữ bình dân vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Có điều người ta nói, người ta viết nhưng ít khi chú ý nguồn gốc của nó có từ đâu.

2.2.1. Những từ chỉ địa danh

Trong số 13 tỉnh thành ở vùng đất Chín Rồng thì có đến hơn nửa trong số các danh từ riêng ấy hoặc là có từ gốc Khmer hoặc còn tồn nghi về gốc Khmer của nó. Có thể kể như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, …

Từ vùng đất mũi còn vang vọng lời ca :

Cà Mau khỉ khọt trên bưng

Dưới sông sấu lội, trong rừng cọp um



Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là Tuk Khmau, nghĩa là nước đen mà thành. Nguyên cớ là vùng rừng U Minh gồm Cán Gáo, Tân Bằng, Trèm Trẹm, Cái Tàu và phía bên hữu ngạn sông Ông Đốc, ..., nước ngập quanh năm, nước tích tụ lâu ngày chảy ngang qua rừng đầy lá mục của dừa nước, tràm, gừa ráng, choại, dớn, lát, sậy, năn, cỏ nước mặn, ... nên nước màu vàng đậm như nước trà, nhiều khi đen, có mùi hôi và vị phèn chua, mặn, ...

Về đất Ba Xuyên nghe câu hát :

Chợ Sóc Trăng chà gạo lộn trấu càng,

Anh thương em là thương lời ăn tiếng nói dịu dàng,

Chớ không phải anh vì bạc vì vàng mà thương.

SỨC CẦU YẾU HƠN SỨC XE. VTC16

Cá tra thành ngành kinh doanh có điều kiện. VTC16

9 tháng 7, 2014

Không từ bỏ lợi thế cạnh tranh của cây lúa


Thứ Sáu,  4/7/2014, 21:42 (GMT+7)

Trung Chánh
Phải có sự đầu tư cho nghiên cứu, lai tạo để cho ra những giống lúa mới, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của nhà nhập khẩu. Ảnh: T.L
(TBKTSG) - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu đến năm 2020 chuyển hơn 200.000 héc ta đất lúa sang trồng màu, trong đó sẽ dành khoảng 53.000 héc ta cho cây bắp. Tuy nhiên, tại hội thảo “Tái cơ cấu ngành lúa gạo ĐBSCL”, tổ chức tại Cần Thơ giữa tuần rồi, TS. Lê Đức Thịnh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (DCRD), tỏ ra băn khoăn khi cho rằng chưa có căn cứ để xác định từ bỏ lợi thế cạnh tranh (cây lúa) sẽ đạt hiệu quả.
Lách qua khe cửa hẹp
Theo dự báo của Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO), sản xuất lúa gạo thế giới tiếp tục xu hướng tăng mạnh thời gian tới nhưng thương mại gạo toàn cầu sẽ tăng chậm hơn so với tốc độ phát triển sản xuất. Theo TS. Jong Ha Bae, Trưởng đại điện FAO tại Việt Nam, sản xuất lúa gạo thế giới tăng chủ yếu ở phân khúc cấp thấp và trung bình do việc mở rộng diện tích sản xuất ở Myanmar, Campuchia… Riêng phân khúc gạo chất lượng cao và gạo thơm vẫn còn nhiều triển vọng. “Đây là cơ hội để các bạn chuyển hướng sản xuất, tăng xuất khẩu vào những thị trường có nhu cầu ở phân khúc này”, ông khẳng định.
Tuy nhiên, theo TS. Samarendu Mohanty, chuyên gia Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), đối với phân khúc thị trường gạo chất lượng cao, hiện Việt Nam đã xuất khẩu được gạo thơm Jasmine nhưng với thị phần rất nhỏ, phần lớn của “miếng bánh” đã rơi vào tay Thái Lan với loại gạo thơm Hom Mali và Ấn Độ với gạo Basmati.
Về thị trường tiêu thụ, ông Samarendu Mohanty cho biết hiện có khoảng 39% khối lượng gạo Hom Mali của Thái Lan được bán sang các nước châu Á, 17% bán sang châu Phi, 22% cho Mỹ. Trong khi đó, gạo Basmati của Ấn Độ đã khai thác gần như toàn bộ những thị trường sử dụng loại gạo này như Iran, Ảrập Saudi, Iraq, Kuwait, Yemen…
Nên tập trung tái cơ cấu nội tại ngành lúa gạo, từ giống, đầu vào, công nghệ sau thu hoạch, xúc tiến thương mại... thay vì triển khai tái cơ cấu một cách mơ hồ theo hướng chuyển đổi cây trồng.
Theo ông Samarendu Mohanty của IRRI, xét về điều kiện đất đai, khí hậu… Việt Nam rất khó sản xuất được gạo thơm giống như Hom Mali của Thái Lan hay Basmati của Ấn Độ. “Đặc biệt, các bạn rất khó cạnh tranh, thay thế được Thái Lan, Ấn Độ ở những thị trường họ đang xuất khẩu tốt bởi họ đã tạo được những thương hiệu rất nổi tiếng từ hàng thập kỷ nay rồi”, ông nói.
Vậy hướng đi nào cho Việt Nam trong chiến lược phát triển ngành gạo sắp tới?
“Việt Nam có thể sản xuất các loại gạo thơm khác, có thể chất lượng thấp hơn Hom Mali một chút. Các bạn nên đi theo hướng tìm kiếm, khai thác thêm thị trường mới”, ông Samarendu Mohanty khuyến cáo.
Tái cơ cấu nội tại ngành
Trên cơ sở xác định được chiến lược phát triển, một số nhà chuyên môn cho rằng nên tập trung tái cơ cấu nội tại ngành lúa gạo, từ giống, đầu vào, công nghệ sau thu hoạch, xúc tiến thương mại... thay vì triển khai tái cơ cấu một cách mơ hồ theo hướng chuyển đổi cây trồng.
Theo ông Samarendu Mohanty, chẳng hạn đối với lúa giống, phải có sự đầu tư cho nghiên cứu, lai tạo để cho ra những giống lúa mới, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của nhà nhập khẩu.
Cùng quan điểm, TS. Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho rằng trên cơ sở nắm rõ nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp sẽ triển khai, tổ chức liên kết với nông dân để sản xuất lúa hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu.
Còn theo TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, thì tái cơ cấu ngành lúa gạo, tức là giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán, qua đó nâng cao thu nhập cho nông dân. “Muốn làm được điều đó, chúng ta phải tiết kiệm nước, giảm phân bón, thuốc trừ sâu. Bên cạnh đó, phải có giống chất lượng, xây dựng thương hiệu gạo và phát triển tốt công tác xúc tiến thương mại, tìm thị trường để có giá bán cao hơn”, ông Sơn nói.
Trong khi đó, một số đại biểu tham dự hội thảo cho rằng Nhà nước cần phải tập trung nguồn lực (kể cả chính sách tín dụng) cho tái cơ cấu công nghệ sau thu hoạch bởi đây là một mắt xích còn khá yếu trong chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo ở nước ta. Theo ước tính sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công nghệ sau thu hoạch yếu kém đã gây thất thoát khoảng 3.000 tỉ đồng/năm.
Chuyển sang trồng bắp - chưa hợp lý
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang từng bước chuyển đổi hơn 200.000 héc ta đất sản xuất lúa tại ĐBSCL sang trồng màu các loại, trong đó dành một phần lớn diện tích cho trồng bắp. Liệu đây có phải là một bước đi đúng? Theo ông Nguyễn Đình Bích, chuyên gia phân tích thị trường lúa gạo, việc giảm diện tích trồng lúa để giúp nâng cao thu nhập cho nông dân là chuyện viển vông. Theo ông Bích, muốn chi phối được thị trường gạo thế giới, tức việc giảm diện tích sản xuất lúa của ĐBSCL có tác động đến giá xuất khẩu gạo thế giới, thì diện tích giảm phải đủ lớn, “chứ một vài trăm ngàn héc ta thì nhằm nhò gì, quá ít so với tổng diện tích sản xuất lúa của Việt Nam và càng ít hơn so với thế giới”, ông Bích nói.
Trong khi đó, các số liệu thống kê cho thấy Việt Nam đang thiếu hụt một lượng bắp rất lớn. Cụ thể, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ riêng bốn tháng đầu năm 2014, Việt Nam đã chi khoảng 522 triệu đô la Mỹ để nhập 2,04 triệu tấn bắp, tăng ba lần về khối lượng và hai lần về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Thiếu bắp và phải chi hàng tỉ đô la Mỹ hàng năm để nhập khẩu bắp là một thực tế đang diễn ra. Tuy nhiên, theo ông Bích, chưa có cơ sở để khẳng định chuyển từ trồng lúa sang bắp sẽ giành thắng lợi.
Ông Bích đưa ra hai lý do để khẳng định điều đó là không khả thi: thứ nhất giá bắp Việt Nam chịu tác động bởi giá bắp thế giới, thứ hai, Việt Nam không thể đóng cửa thị trường để nâng giá bắp nội địa được. Vì vậy, để việc chuyển đổi thành công, nhất thiết năng suất và diện tích bắp của Việt Nam phải cạnh tranh được với thế giới”, ông Bích khẳng định.
Theo ông Bích, năng suất lúa của Việt Nam rất cao, có khả năng cạnh tranh lớn “thế mà bây giờ định vứt bỏ cái khả năng cạnh tranh lớn ấy để chạy theo cái mặt hàng (bắp) cạnh tranh không lại, rõ ràng đây là chuyện không hợp lý”, ông nói.
Trung Chánh

Đa Dạng Hóa Sản Phẩm Cá Tra Nhiều Thách Thức Trên Thị Trường Thế Giới

GIẢM PHỤ THUỘC THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC NHÌN TỪ TRÁI THANH LONG

3 tháng 7, 2014

Nhớ ông già quê kể chuyện xưa

Trần Hữu Hiệp
Ở quê tôi xưa có ông Tư Hộ sống độc thân mà lúc nào nhà cũng rộn rã tiếng trẻ con trong xóm. Ông Tư chạc tuổi 60, thường mặc quần xà lỏn ống lửng, lưng vận, mình trần suốt ngày.
Ông già không biết chữ mà có tài kể chuyện phát mê. Hồi nhỏ tôi học văn, thích đọc truyện, cũng được vào đội tuyển giỏi văn cấp trường, cấp huyện; nhưng thời khó khăn, đâu có được sách, báo nhiều như bây giờ, vớ được quyển sách cũ mèm, sờn ráy là mân mê đọc ngấu nghiến. Kiến thức văn chương, chữ nghĩa của tôi có được phần lớn nhờ… nghe ông Tư kể chuyện đời xưa.

Ông Tư Hộ không kể chuyện ma (con nít thường sợ ma, nhưng rất thích nghe chuyện ma). Chuyện của ông từ Nhị thập tứ hiếu, tích Tàu thuần Việt đến chuyện kể bình dân không rõ tác giả... tất thảy đều rất hấp dẫn bọn trẻ con. Trong số đó có nhiều truyện của Hồ Biểu Chánh, các “phiên bản truyền miệng” như: Ngọn cỏ gió đùa, Chúa tàu Kim Quy, Lời thề trước miếu, Nhà giàu - nhà nghèo… có sức hấp dẫn lạ thường. Sau này, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh được tái bản như một hiện tượng sách; tôi được đọc nhiều hơn, càng thích, yêu tài sử dụng phương ngữ Nam Bộ, cảm cụ viết như dân lục tỉnh xưa nói chuyện mà càng phục ông Tư Hộ kể chuyện xưa.
Khác thời xưa xa vắng, con gái tôi bây giờ mới học lớp hai đã có “phây” để tâm tình, “chát, chít” với bạn bè. Rời bỏ những trang nhật ký trên giấy học trò ngày nào, các cô cậu ngày nay ở đâu cũng bấm điện thoại lên facebook.
Thay cho không gian truyện cổ tích, chuyện kể đời xưa là không gian ảo của thế giới mạng ngày nay. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, truyền thông, Internet,… là thành tựu chung của nhân loại, nhưng cũng có thể là con đường tội lỗi của nhiều người. Không ít trẻ con trầm cảm, tự kỷ hiện sống trong thế giới ảo giữa đời thực. Không ít những án mạng thương tâm đã xảy ra mà nguyên nhân từ việc sử dụng tràn lan, vượt quá sự kiểm soát cần thiết các phương tiện nghe, nhìn, bấm ngón tay của con trẻ ngày nay.
Giữa ồn ào phố chợ, giữa ngồn ngộn thông tin hàng ngày, tôi bỗng nhớ lại không gian ruộng đồng, làng quê miền Tây yên ả này xưa và văng vẳng tiếng kể chuyện đời xưa của ông già quê để còn có thể ngẫm chuyện nay.

Những đoạn văn ngất ngưỡng