27 tháng 8, 2013

Gái chưa chồng Đài Loan cất trứng 'để dành'

VnExpress

Mắc kẹt giữa áp lực lấy chồng sinh con và theo đuổi sự nghiệp, ngày càng nhiều phụ nữ Đài Loan lựa chọn đông lạnh trứng ở các phòng sản khoa như một giải pháp "để dành" cho tương lai. 

Nhiều phụ nữ Đài Loan gác lại một bên trách nhiệm làm mẹ để theo đuổi sự nghiệp. Ảnh minh họa: ST
Nhiều phụ nữ Đài Loan gác lại một bên trách nhiệm làm mẹ để theo đuổi sự nghiệp. Ảnh minh họa: Straits Times
Phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong lực lượng lao động ở Đài Loan. Trong thời buổi kinh tế suy thoái, áp lực việc làm càng trở nên nặng nề hơn bao giờ hết. Đó là nguyên nhân khiến tuổi kết hôn trung bình ở hòn đảo này tăng từ 24 tuổi vào những năm 1980, lên 30 tuổi như hiện nay, và dẫn đến xu hướng đông lạnh trứng.
"Tôi không biết khi nào buồng trứng của mình bắt đầu thoái hóa nhưng tôi biết chắc rằng tôi sẽ lấy chồng muộn và sẽ làm mẹ", Linn Kuo, 34 tuổi, người đã chọn giải pháp đông lạnh trứng từ ba năm trước nói.
Kuo đang làm quản lý tại công ty trách nhiệm hữu hạn Hệ thống Cisco Đài Loan với thu nhập cao và có thể làm việc tại nhà. Tuy nhiên, trong khi đường công danh trôi chảy thì đường tình duyên của cô lại khá lận đận. 
Sau khi mẹ mất, Kuo nhận ra rằng việc có con cái đỡ đần bên cạnh lúc gần đất xa trời là rất quan trọng. "Tôi đã nghiên cứu và quyết định đông lạnh trứng", cô nói.
Lai Hsing-hua, giám đốc phòng khám tại trung tâm sinh sản e-Stork, thành phố Tân Trúc, phía bắc Đài Loan, cho hay ông nhận ra sự cần thiết của dịch vụ đông lạnh trứng khi nhiều bệnh nhân đề nghị xin trứng hỗ trợ sau khi kết hôn muộn.
"Chúng tôi nghĩ nếu họ đông trứng sớm hơn, có thể họ sẽ không cần phải dùng trứng hỗ trợ nữa", ông nói. "Đó là lý do tại sao chúng tôi kết hợp thụ tinh nhân tạo với ý tưởng trên, nhằm giúp họ không phải sử dụng trứng của người khác khi khả năng sinh sản đã giảm sút".
Mỗi tháng, phòng khám của ông Lai nhận được hơn 100 cuộc gọi hỏi về việc đông trứng. Cách đây 5 năm, chỉ có 20 trường hợp lựa chọn phương pháp này. Năm 2011, con số này tăng lên trên 70 trường hợp và hơn 50 trường hợp vào năm ngoái. Trong 6 tháng đầu năm nay, có hơn 40 người đã đông trứng ở phòng khám của ông Lai.
Nhờ có công nghệ phát triển, phôi thai hiện nay có tỷ lệ sống sót rất cao với phương pháp đông trứng. Dịch vụ này có chi phí khoảng 80.000 Đài tệ (2.700 USD) và toàn bộ quá trình lấy trứng chỉ mất khoảng 20 phút. 
Chen Fen-ling, một giáo sư thuộc đại học Đài Bắc, cho hay, những áp lực xã hội đang khiến phụ nữ trì hoãn việc cưới xin và xây dựng gia đình.
"Phụ nữ đã kết hôn giống như những ngọn nến đang cháy ở cả hai đầu", bà nói. "Họ đi làm kiếm tiền cả ngày nhưng khi trở về nhà, họ phải tiếp tục chăm sóc con cái và bố mẹ chồng. Áp lực này thường khiến phụ nữ do dự khi quyết định kết hôn".
Những áp lực về nghề nghiệp, hôn nhân và làm mẹ này được phản ánh rõ trong tỷ lệ sinh thấp của hòn đảo. Cả Đài Loan và Hong Kong đều đứng thứ ba từ dưới lên trong bảng xếp hạng toàn cầu về tỷ lệ trẻ sơ sinh trên một phụ nữ, chỉ xếp trên Macau và Singapore. Đây là thông tin của World Factbook, một ấn phẩm thường niên của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). 
Nhân Mã (theo AsiaOne)

26 tháng 8, 2013

Bài 1. Người có nhiều vợ và bồ bậc nhất Sài Gòn: Từ nghệ sĩ tài hoa đến ngôi mộ nhỏ ven đường làng

Cho tới ngày nay ở Sài Gòn, ngoài Hùng Cường, chưa có nghệ sĩ nào nổi bật trên hầu hết các lĩnh vực nghệ thuật, như: Tân nhạc, cải lương, kịch nói, phim ảnh... Ông còn là võ sĩ quyền Anh từng thượng đài thi đấu...
Nghệ sĩ Hùng Cường.

>> Đón đọc ấn phẩm Lao Động & đời sống số 18

Ông cũng là nam nghệ sĩ được cho là có nhiều vợ và bồ nhất ở Sài Gòn. Vậy mà khi chết đi, ông nằm trong ngôi mộ nhỏ ven con đường làng ở Bến Tre.

Làm sôi động sân khấu cải lương

Cho tới ngày nay, chưa có ai làm được chuyện “kinh thiên động địa” trên sân khấu cải lương như Hùng Cường. Đó là vào năm 1959, một nghệ sĩ chưa từng được biết trong giới cải lương, chưa từng đảm nhận bất cứ vai phụ nào, bỗng bất ngờ xuất hiện trong vai chính và thành công vang dội.

 Đó là điều không thể hiểu nổi, bởi một người theo nghề cải lương phải mất ít nhất 2-3 năm làm “giàn bao” mới lên được vai phụ, rồi cũng mất chừng ấy thời gian mới lên được vai chính nếu thực sự có tài và khổ luyện. Người làm chuyện “động trời” ấy là ca sĩ tân nhạc Hùng Cường.

Trước đó, dù là ca sĩ tân nhạc nổi tiếng, nhưng Hùng Cường rất yêu thích cải lương, nên bỏ công sức nghiên cứu, học hỏi. Với một nền móng nhạc lý vững vàng, cộng với chất giọng đã được trui rèn và sự kiên trì, cố gắng khổ luyện, ông đã mạnh dạn bước lên sân khấu cải lương và khẳng định ngay tên tuổi của mình.

Đoàn cải lương Ngọc Kiều như đánh cược với chén cơm manh áo của mấy chục con người khi chấp nhận cho ca sĩ tân nhạc Hùng Cường chưa hề hát cải lương đóng vai chính Roméo trong vở mới dựng “Mộng đẹp đêm trăng”. Một giàn diễn viên gạo cội thời đó của đoàn Ngọc Kiều như Ngọc Đáng, Ngọc Giàu, Hoàng Kinh, Thanh Sang, Kim Nguyên, Thanh Kỳ… đã chấp nhận làm “giàn bao” cho Hùng Cường.

Kể từ đó, trên bầu trời cải lương miền Nam xuất hiện một ngôi sao rực sáng, Hùng Cường đã giúp cho tiếng tăm và doanh thu của đoàn Ngọc Kiều cải thiện đáng kể. Với vóc dáng “sáng” sân khấu, chất giọng tenor khỏe, lối diễn xuất vừa tự nhiên vừa tự tin và rất hợp lý, cùng những bài bản cải lương đã được luyện tập kỹ càng, Hùng Cường đã thành công vang dội ngay từ vai diễn đầu.

Tức thì, chủ đoàn Ngọc Kiều ký tiếp hợp đồng với Hùng Cường để hát vai chính trong kịch bản mới “Tuyết phủ chiều đông” sẽ khai trương tại rạp Viễn Trường (Mỹ Tho, Tiền Giang) sau một tháng tập dượt. Hùng Cường đã mướn riêng một nhạc sĩ cổ nhạc đến nhà ông luyện tập ngày đêm. Ngoài ra ông rất nhạy bén, biết được sở đoản, sở trường của mình, nên đã phối hợp với soạn giả cải lương lồng vào kịch bản khá nhiều đoạn tân nhạc, khai thác đúng tài năng của ông.

 “Tuyết phủ chiều đông” của soạn giả Bạch Yến Lan và giọng hát mới toanh Hùng Cường đã tạo nên một sự kiện chấn động “thánh địa cải lương” Mỹ Tho. Rạp Viễn Trường đầy kín từ chỗ ngồi đến chỗ đứng, bên ngoài còn dư khán giả gần nửa rạp.

Tiếp theo, đoàn Ngọc Kiều dựng tiếp vở cải lương “Màu tím đèn hoa giấy”, khai trương từng bừng tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo năm 1960, rồi tiếp tục lưu diễn nhiều tỉnh, thị xã lớn ở miền Tây. Hùng Cường đóng vai Kha Phong - một kiếm sĩ Phù Tang điêu luyện, bên cạnh tài danh Ngọc Đáng. ''Ngôi sao'' cải lương Hùng Cường rực sáng từ dạo đó.

Đóng phim, đóng kịch, viết nhạc, làm thơ... 

Hùng Cường tên thật là Trần Kim Cường, sinh năm 1936 tại tỉnh Bến Tre, sau theo gia đình về sinh sống ở Sài Gòn. Ngay từ khi còn là học sinh Trường Trung học Trần Hưng Đạo, ông đã có thể tự sáng tác và biểu diễn những bài hát học sinh trong các lần hội diễn của trường. Sau khi học xong “tú tài”, ông chính thức theo nghiệp ca hát tại các vũ trường Kim Sơn, Baccara...

Ngay từ những năm 1954-1955, Hùng Cường đã nổi tiếng với các nhạc phẩm “tiền chiến” như: Ông lái đò, Vọng ngày xanh, Sơn nữ ca, Đường xưa lối cũ… Tất cả đều được thu đĩa và đạt số bán kỷ lục ở Sài Gòn bấy giờ.

Sau khi bước sang cải lương và thành công vang dội, Hùng Cường vẫn tiếp tục gắn bó với sân khấu ca nhạc và lại làm người hâm mộ quay cuồng theo ông với một thể loại nhạc mới lạ lần đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn – nhạc giật, như cách gọi lúc đó là nhạc “kích động”, một dạng pop-rock đã được Việt Nam hóa. Nhạc “kích động” với giọng ca Hùng Cường chỉ thực sự đạt đỉnh cao khi phối hợp cùng Mai Lệ Huyền - một ca sĩ nữ cũng “quậy” không kém.

Những ca khúc tươi vui và “kích động” như: Hai trái tim vàng, Vì chưa ngỏ ý, Túp lều lý tưởng… đã từng làm sôi động giới trẻ miền Nam cuối thập niên 1960 - đầu 1970.

Sau ca nhạc, cải lương, Hùng Cường tiếp tục “lấn sân” sang điện ảnh. Hàng loạt các phim do Hùng Cường thủ vai chính được người xem chú ý thời bấy giờ như: “Chân trời tím”, “Mãnh lực đồng tiền”, “Còn gì cho nhau”, “Nắng chiều”, “Ly rượu mừng”, “Vết thù trên lưng ngựa hoang”… Lúc mới bước sang điện ảnh, Hùng Cường bị châm chích rất ác ý, chê bai là “cải lương”.

Thế nhưng, sau khi thành công với phim đầu tiên “Chân trời tím”, nhiều hãng phim đã mời Hùng Cường cộng tác và phim nào có tên ông cũng ăn khách. Hãng phim Kim Thân đã trả thù lao khá cao để mời Hùng Cường và Mai Lệ Huyền đóng cặp trong phim “Mãnh lực đồng tiền”.

Theo chân Hùng Cường, nhiều đào kép cải lương khác ở Sài Gòn cũng tham gia đóng phim, mà nổi hơn cả là Thanh Nga và Mộng Tuyền. Lúc đầu, các nữ tài tử điện ảnh rất ngại đóng cặp với kép hát cải lương, trong đó có Hùng Cường. Theo báo chí thời ấy, công ty phim truyện Liên Ảnh trước khi mời Kim Vui đã có ngỏ ý mời Thẩm Thúy Hằng đóng cặp với Hùng Cường, nhưng Thẩm Thúy Hằng từ chối, có lẽ do “định kiến” ấy.

Nhưng sau đó “người đẹp Bình Dương” Thẩm Thúy Hằng mới tiếc rẻ, khi thấy Kim Vui nổi bật bên Hùng Cường trong phim “Chân trời tím” và phim vừa thành công về tài chính vừa đoạt Giải văn học nghệ thuật Sài Gòn năm 1971, lại vinh dự là lần đầu tiên một cuốn phim Việt Nam phụ đề Pháp ngữ được gửi đi trình chiếu tại Ðại hội điện ảnh tổ chức ở Dianard, Anh Quốc.

Vào những năm 1960, khi cải lương đang chiếm lĩnh Sài Gòn, một nhóm “kịch sĩ” đứng đầu là Vân Hùng, La Thoại Tân, Hùng Cường hợp cùng kỳ nữ Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng và ca sĩ Túy Hồng tạo nên một “đặc chủng” nghệ thuật mới mang tên “Kịch nghệ Sài Gòn”. Kịch Sài Gòn ra đời muộn, không ồn ào, không thu hút ngay được nhiều khán giả tới rạp, nhưng dần dần cũng tạo được chỗ đứng.

Ngoài kỳ nữ Kim Cương vốn là con nhà nòi về kịch nói, số còn lại đều từ điện ảnh, ca nhạc sang. Có thể nói, chính những cái tên như Thẩm Thúy Hằng, Hùng Cường đã lôi kéo một lượng khán giả không nhỏ, giúp sân khấu kịch Sài Gòn có chỗ đứng và phát triển dần. 

Võ sĩ ngoài đời và trên sàn diễn

Trong giới tài tử điện ảnh ở Sài Gòn trước năm 1975, có 2 người được cho là giỏi võ nhất, đó là Lý Huỳnh và Hùng Cường. Lý Huỳnh vừa đóng phim vừa mở võ đường Thái cực đạo, nên được phong là “võ sư”.

Hùng Cường mê đánh quyền Anh từ thời học sinh, sau này ông vẫn tiếp tục tập quyền Anh như là môn võ thể dục giúp rèn luyện sức khỏe. Lúc ấy, phong trào tập luyện quyền Anh ở Sài Gòn rất yếu, số người giỏi chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, trong đó có Hùng Cường.

Năm 1970, khi hàng trăm ngàn bà con Việt kiều bỏ nhà cửa, đất đai, tài sản ở Campuchia về Việt Nam lánh nạn và sinh sống, mở lò dạy quyền Anh thì phong trào mới phát triển trở lại. Sau đó, người ta tổ chức thi đấu môn quyền Anh, Hùng Cường cũng đăng ký “thượng đài”, nhưng vào phút cuối đã bỏ cuộc vì bận theo đoàn hát đi lưu diễn xa. Chuyện này được Hùng Cường thể hiện lại trong nội dung một vở cải lương sau đó.

Hùng Cường còn thọ giáo môn võ Bình Định của một thầy dạy võ nổi tiếng ở Quy Nhơn trong một lần đi diễn ở đây. Khi về Sài Gòn, Hùng Cường rước hẳn thầy dạy võ vào Sài Gòn dạy cho mình cả năm trời. Với năng khiếu bẩm sinh, Hùng Cường đã nhanh chóng thăng đến hạng “đai đen”.

Nhờ tập luyện nhiều môn võ đông tây, kim cổ mà Hùng Cường rất giỏi võ và có sức khỏe hơn người. Khi đóng phim hay diễn trên sân khấu, ông thường ra đòn giống như thật, nếu người bạn diễn cũng giỏi võ, họ sẽ cống hiến cho người xem những màn biểu diễn võ thuật đẹp mắt. Nhờ giỏi võ mà khi đóng phim ở những trường đoạn đánh nhau hoặc cảnh đóng nguy hiểm, Hùng Cường thường tự đóng chứ không nhờ người đóng thế, đó cũng là một lợi thế của Hùng Cường so với những nghệ sĩ đóng phim khác.
Một nghệ sĩ chưa từng được biết trong giới cải lương, chưa từng đảm nhận bất cứ vai phụ nào, bỗng bất ngờ xuất hiện trên sân khấu cải lương trong vai chính và thành công vang dội. Người làm chuyện “động trời” ấy là ca sĩ tân nhạc Hùng Cường.

Người có nhiều vợ và bồ bậc nhất Sài Gòn (2): Chuyện tình Hùng Cường - Bạch Tuyết

(LĐĐS) - Số 19 - Chủ nhật 18/08/2013 07:46
    Trong lịch sử sân khấu cải lương gần 100 năm qua, giai đoạn nào cũng có những “cặp đôi hoàn hảo”, như Phùng Há - Năm Châu của thập niên 1940 - 1950, hay sau này là Thành Được - Út Bạch Lan, Minh Cảnh - Mỹ Châu, Minh Vương - Lệ Thủy, Thanh Tuấn - Thanh Kim Huệ... Nhưng theo những người trong nghề, có lẽ cặp đôi Hùng Cường - Bạch Tuyết là “hoàn hảo” nhất.

    >> Đón đọc ấn phẩm Lao Động & Đời sống số 19

    Bài 2: Chuyện tình Hùng Cường - Bạch Tuyết

    “Cải lương chi bảo” Bạch Tuyết

    Sự xuất hiện của ngôi sao Hùng Cường trên bầu trời cải lương cũng là lúc bộ môn nghệ thuật đặc trưng này của Nam Bộ bước vào thời kỳ cực thịnh. Thập niên 1960 có thể nói là “thời kỳ hoàng kim” của sân khấu cải lương. Thời ấy ở Sài Gòn và cả miền Nam, bộ môn nghệ thuật cải lương đủ sức làm lu mờ mọi bộ môn nghệ thuật, mọi hoạt động giải trí khác.

    Cũng trong giai đoạn này, cái tên Hùng Cường đứng bên Bạch Tuyết có sức thu hút mãnh liệt người mộ điệu cải lương và được đặt cho biệt danh cặp “sóng thần”, cùng với tên đoàn hát Dạ Lý Hương mà họ đầu quân.

    Bạch Tuyết tên thật là Nguyễn Thị Bạch Tuyết, sinh ngày 24.12.1945 tại Khánh Bình - Châu Đốc (thuộc tỉnh An Giang ngày nay). Từ nhỏ, Bạch Tuyết đã có khiếu ca hát tân nhạc, ngâm thơ. Cuối năm 1955, sau một tai nạn thảm khốc, mẹ cô đã từ giã cuộc đời, để lại hai đứa con gái tuổi còn thơ dại. Còn rất nhỏ, mà Bạch Tuyết đã đi hát kiếm tiền ở những nhà hàng ca nhạc.

    Thời đó, cô cũng như các bạn học rất ái mộ các nghệ sĩ như Thanh Nga, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng… Sau thời gian học, cả đám hay kéo vào hậu trường sân khấu xem tập tuồng và cũng để xin hình và chữ ký của các thần tượng mà mình ái mộ. Thanh Nga tuy nổi tiếng nhưng rất nhiệt tình và không bao giờ từ chối người hâm mộ.

    Nhìn thấy Bạch Tuyết, cô đào Thanh Nga bất ngờ hỏi: “Em có biết hát không?”. “Dạ thưa, em chỉ biết hát tân nhạc thôi” -  Bạch Tuyết bẽn lẽn đáp lời. Thanh Nga mỉm cười và nói: “Cưng đi hát đi, chị tin rằng cưng sẽ thành công”. Những lời nói khích lệ đó của nghệ sĩ Thanh Nga như là định mệnh, làm thay đổi cả số phận, cuộc đời của Bạch Tuyết. Không lâu sau, vào năm 1963, Thanh Nga và Bạch Tuyết lại gặp nhau trong một tình huống khác: Bạch Tuyết đoạt giải Thanh Tâm còn Thanh Nga là người trao giải!

    Năm 1960, Bạch Tuyết vào học trường nội trú, thời gian này bà bắt đầu giao du học hỏi với nhiều nghệ sĩ, trong đó có soạn giả Điêu Huyền. Điêu Huyền nhận bà làm con nuôi, cho gia nhập đoàn Kiên Giang. Năm 1961, đoàn Kiên Giang diễn vở “Lá thắm chỉ hồng”, cô đào chính tới trễ, Bạch Tuyết bất ngờ được giao vai cô lái đò Lệ Chi, diễn xuất của bà khiến khán giả hết sức ngạc nhiên. Dù còn rất trẻ, Bạch Tuyết đã khẳng định tên tuổi mình ở đoàn hát tỉnh Kiên Giang.

    Nhờ đó, bà được nghệ sĩ Út Trà Ôn mời về đoàn Thống Nhất và đảm nhận vai chính trong vở “Tiếng hát Muồng Tênh”, tên tuổi bà bắt đầu nổi từ đó. Cuối năm 1962, bà vào đoàn Bạch Vân. Năm sau được giải Thanh Tâm cho diễn viên triển vọng cùng các nghệ sĩ Mộng Tuyền, Trương Ánh Loan, Tấn Tài, Thanh Tú, Diệp Lang. Năm 1964, bà về hát cho đoàn Dạ Lý Hương, hợp tác với các soạn giả danh tiếng bấy giờ là Hà Triều - Hoa Phượng, tài năng của bà càng được khẳng định.

    Năm sau, vở “Tần Nương Thất” đã mang lại cho bà huy chương vàng giải Thanh Tâm cho nghệ sĩ xuất sắc. Năm 1966, Hùng Cường gia nhập đoàn Dạ Lý Hương, cùng với Bạch Tuyết tạo thành 1 cặp đôi hoàn hảo trong mắt khán giả. Đến năm 1971, bà cùng với Hùng Cường mở gánh hát Hùng Cường – Bạch Tuyết. 

    NSƯT Bạch Tuyết.

    Cặp “sóng thần” Hùng Cường – Bạch Tuyết


    Suốt thời gian dài, từ năm 1966 cho tới 1972, hai cái tên Hùng Cường – Bạch Tuyết luôn xuất hiện đầy rẫy trên các trang báo, trên các panô quảng cáo, trên khắp các nẻo đường Sài Gòn. Dù đã mấy chục năm trôi qua, nhưng nhiều người Sài Gòn vẫn chưa quên những vở tuồng để đời của cặp đôi Hùng Cường – Bạch Tuyết như: “Cho trọn cuộc tình” ; “Lệnh của bà”; “Má hồng phận bạc” , “Tình chú Thoòng”’ “Trăng Thề Vườn Thúy”, “Cung Thương sầu nguyệt hạ”... cùng hàng chục bản tân cổ giao duyên với giọng ca Hùng Cường - Bạch Tuyết.

    Những giai thoại về Hùng Cường – Bạch Tuyết thì nhiều vô kể, liên quan đến mọi khía cạnh, từ nghề nghiệp đến tình cảm. Chẳng hạn, người ta cho rằng chuyện tình giữa Tam Lang và Bạch Tuyết tan vỡ là có yếu tố Hùng Cường. Nhưng Bạch Tuyết cho rằng mình yêu quý Hùng Cường đơn thuần vì thái độ lao động nghệ thuật.
    Hùng Cường – Bạch Tuyết “hoàn hảo” đến mức ca diễn đều hay, hát tân nhạc và cổ nhạc đều tốt, quăng bắt hợp lý... Chính họ đã làm nên thương hiệu Dạ Lý Hương nổi đình nổi đám vào giữa thập niên 1960.
    Bạch Tuyết kể: “Ngày ấy những vở tuồng tôi hát với Hùng Cường tạo hiệu ứng rất tốt, khán giả kéo đến rạp như sóng thần, vì vậy báo giới mới đặt cặp “sóng thần” Hùng Cường – Bạch Tuyết. Hùng Cường là một nghệ sĩ cực kỳ giỏi. Đó là một con người tài hoa, có tri thức, đam mê nghề, hết sức nghiêm túc với nghề. Với một người như vậy, lại làm việc chung thì không có cớ gì lại không đem lòng yêu mến được.

    Nhưng con người tôi lạ lắm, tôi nhớ có lần nói với anh ấy: “Em rất thương anh, quý anh. Mọi khán giả đều yêu mến anh, muốn được gần gũi anh, muốn được anh yêu. Em lại được anh yêu trong nghệ thuật, em muốn giữ mãi cảm xúc đẹp, thanh khiết này để dâng hiến cho khán giả”. Phải đấu tranh nội tâm và kiềm chế dữ lắm chứ. Rất may là không có chuyện gì xảy ra chứ nếu không chưa chắc tình cảm và hình ảnh của chúng tôi trong nhau lại mãi đẹp như thế”.

    Họ đã làm nên một Dạ Lý Hương

    Giải thưởng Thanh Tâm ra đời năm 1958 do nhà báo Trần Tấn Quốc lập ra để khuyến khích nhân tài trẻ cho sân khấu cải lương. Sau khi ra mắt, giải Thanh Tâm trở nên danh giá trong làng sân khấu. Ngoài tiêu chuẩn ca diễn xuất sắc, giải Thanh Tâm còn đòi hỏi tiêu chuẩn đạo đức, cho nên nghệ sĩ luôn rèn luyện, phấn đấu. Việc chấm giải rất lạ, không hề có một cuộc thi nào diễn ra.

    Ban giám khảo sẽ đi xem tất cả các vở tuồng trong năm, chọn ra tuồng hay, nghệ sĩ giỏi rồi cuối cùng mới ngồi lại bình bầu. Vì thế, nghệ sĩ phải luôn trong tư thế “thi” suốt cả năm, hết năm này lại năm khác, hết suất này tới suất khác. Thậm chí phải luôn sống tử tế, vì chỉ cần tai tiếng là coi như bị loại.

    Nghệ sĩ Thanh Nga là người duy nhất nhận giải Thanh Tâm lần đầu tiên năm 1958. Những người trong giới đều nhìn nhận, giải thưởng Thanh Tâm ngày ấy có sức động viên rất lớn, khuyến khích nghệ sĩ trẻ rèn luyện để có cơ hội bước lên bục vinh quang. Hùng Cường là nghệ sĩ cải lương duy nhất tài năng thăng hoa trong thời kỳ của giải Thanh Tâm nhưng lại không nhận được giải thưởng này, lý do là vì khi đó Hùng Cường đã 24 tuổi, vượt quá tuổi quy định của giải thưởng.

    Thực ra, dù giải Thanh Tâm không chỉ dành riêng cho nghệ sĩ cải lương ở Sài Gòn, nhưng trong 10 năm tồn tại với 24 huy chương vàng được trao, không có nghệ sĩ nào ở đoàn tỉnh được nhận vinh dự cao quý ấy, mà tất cả đều đang hát ở Sài Gòn. Mà ở Sài Gòn, giải thưởng Thanh Tâm cũng tập trung vào diễn viên của một số đoàn “đại bang”, trong đó phải kể đến đoàn Kim Chung và đoàn Dạ Lý Hương.

    Thời ấy ở Sài Gòn, dân mộ điệu cải lương nếu thích xem tuồng “hương xa”, tuồng tích cũ, có đánh kiếm, kể cả chuyện bên Tàu, bên Nhật, người ta tìm đến đoàn Kim Chung. Còn đối với những khán giả yêu thích tuồng “tình cảm xã hội”, những câu chuyện của xã hội miền Nam đương đại, họ tìm đến đoàn Dạ Lý Hương.

     Lý hương là một loài cây có nguồn gốc từ Châu Mỹ, được người Pháp đưa đến trồng đầu tiên ở Đà Lạt. Cây có nhiều hoa màu vàng lục nhạt, hay lục nhạt, thơm ngát về đêm, vì vậy mà có tên là dạ lý hương. Chọn đặt tên cho đoàn hát là “Dạ Lý Hương” vào đầu thập niên 1950, ông Bầu Xuân muốn gửi gắm vào đó sự “tỏa hương” của nghệ thuật cải lương. Dù vậy, đoàn Dạ Lý Hương vẫn không có gì nổi bật sau khi thành lập.

    Mãi đến năm 1964, khi ngôi sao mới đoạt giải Thanh Tâm là “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết về đầu quân, cùng lúc cặp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng vừa kết nối thành cặp “bài trùng” để cho ra những tuồng hát “tâm lý xã hội” sâu sắc, thì đoàn Dạ Lý Hương mới có tiếng nói trong giới sân khấu cải lương Sài Gòn.

     Tuy vậy, cho đến khi Hùng Cường về đầu quân cho Dạ Lý Hương vào năm 1966, thì cái tên Dạ Lý Hương mới vượt lên tột đỉnh, làm lu mờ các đoàn hát khác. Đoàn Dạ Lý Hương với Hùng Cường - Bạch Tuyết đi tới đâu là tạo nên hiện tượng tới đó, rạp hát không bào giờ còn chỗ trống, thậm chí mỗi ngày diễn 2 suất, tiền bán vé phải chứa bằng bao bố...
    Ngày ấy đoàn Dạ Lý Hương “danh giá” đến nổi khi đội bóng đá miền Nam Việt Nam chuẩn bị đi tranh giải Merdeka 1966 ở Malaysia, các cầu thủ “được” chiêu đãi... một suất xem hát ở đoàn hát này. Vì vậy mà chiếc cúp danh giá Merdeka từ Kuala Lumpur đội tuyển giành được mang về Sài Gòn có dấu ấn của đoàn Dạ Lý Hương, của Hùng Cường – Bạch Tuyết. Cũng từ duyên cớ này mà người Sài Gòn được chứng kiến một câu chuyện khác, gắn với cái tên của đội trưởng đội tuyển bóng đá miền Nam, danh thủ Phạm Huỳnh Tam Lang.

    Người có nhiều vợ và bồ nhất Sài Gòn (3): Chuyện “tay ba” thú vị Tam Lang-Bạch Tuyết-Hùng Cường

    (LĐĐS) - Số 20 - Thứ bảy 24/08/2013 19:43
      Câu chuyện “tay ba” Tam Lang - Bạch Tuyết - Hùng Cường gắn liền với chiếc cúp Merdeka năm 1966. Thời ấy, giải Merdeka giống như giải Châu Á thu nhỏ.

      >> Đón đọc ấn phẩm Lao Động & đời sống số 20

      Một tờ báo ở Sài Gòn khai thác chuyện “tay ba” Tam Lang - Bạch Tuyết - Hùng Cường.

      Các tuyển thủ miền Nam đã vượt qua các đội Thái Lan, Nhật Bản, Hồng Kông, Miến Điện... để bước lên ngôi vô địch. Chiếc cúp Merdeka 1966 gắn liền với tên tuổi của thủ quân đội tuyển miền Nam là Phạm Huỳnh Tam Lang. Ít người biết rằng, chiếc cúp danh giá này còn có dấu ấn của đôi “sóng thần” cải lương thời bấy giờ là Hùng Cường - Bạch Tuyết.

      Xem cải lương trước khi đi dự giải đấu lớn

      Giải Merdeka năm 1966 được đánh dấu lần tổ chức thứ 10 liên tục, với sự tham gia của 12 quốc gia, vùng lãnh thổ sừng sỏ về bộ môn bóng tròn là: Đại Hàn (Hàn Quốc ngày nay), Nhật Bản, Miến Điện (Myanmar), Kuwait, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Nam Việt Nam và nước chủ nhà Malaysia. Một món quà bất ngờ đến với đội tuyển trước khi đi Malaysia 3 ngày.

      Sau buổi tập sáng, đích thân ''ngôi sao'' cải lương Hùng Cường và bầu Xuân (đoàn Dạ Lý Hương) đến mời toàn đội tới chiêu đãi 1 suất hát tại rạp Quốc Thanh. Nếu chuyện này diễn ra vào năm 2013, ắt hẳn là khá buồn cười nhưng vào thời điểm năm 1966, khi mà cải lương đang thời vàng son, còn các cầu thủ bóng đá chưa cao giá thì lời mời trên là rất vinh dự.

      Sở dĩ có cuộc “chiêu đãi” suất hát cải lương này là do Hùng Cường rất mê bóng đá, ông đã bàn với bầu Xuân tổ chức buổi “chiêu đãi”, vừa để quảng bá cho đoàn hát Dạ Lý Hương. Trước giờ kéo màn, bầu Xuân nói vài lời phi lộ và chúc đội tuyển lên đường thi đấu thành công. Các cầu thủ được mời lên sân khấu chào khán giả và để đoàn hát tặng hoa. Cô đào hát nổi tiếng Bạch Tuyết bước đến trước thủ quân Phạm Huỳnh Tam Lang trao bó hoa tươi thắm.

      Sau này Tam Lang đã có lần thừa nhận là ngay ở lần chạm mặt đầu tiên ấy, “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết đã hớp hồn chàng cầu thủ tài hoa từng được gọi vào đội tuyển bóng đá Châu Á. Không biết “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết gửi gắm gì trong bó hoa, mà tại Kuala Lumpur sau đó mấy ngày Tam Lang đá như “lên đồng”. Tam Lang đóng vai trò quan trọng đưa đội tuyển miền Nam đoạt ngôi vô địch tại “chảo lửa” Kuala Lumpur.

      Chuyện tình Tam Lang - Bạch Tuyết

      Lần gặp nhau đầu tiên vào tháng 8 năm 1966 khi Bạch Tuyết tặng hoa cho thủ quân Tam Lang, giữa họ đã nổ ra tiếng sét ái tình. Thủ quân Tam Lang chợt thấy lòng lâng lâng, giúp anh thanh thoát đôi chân trong những trận cầu căng thẳng sau đó ở Malaysia.

      Còn Bạch Tuyết, suốt thời gian dài theo gánh hát cải lương thường lênh đênh trên những chiếc ghe biểu diễn khắp vùng sông nước, nên bà luôn cầu trời ban cho mình một tấm chồng trên bờ. Và bà đã được toại nguyện khi gặp Phạm Huỳnh Tam Lang, cầu thủ bóng đá đang rất nổi danh- không chỉ ở Sài Gòn- mà cả Châu Á.

      Sau khi đội bóng đoạt ngôi vô địch trở về, Tam Lang thường xuyên đến đoàn Dạ Lý Hương, nhưng không phải để coi hát cải lương, mà là để thăm Bạch Tuyết. Tính tình hiền hòa, cử chỉ ân cần, phong cách lịch lãm của chàng cầu thủ bóng đá lừng danh Châu Á đã nhanh chóng chinh phục trái tim của cô đào cải lương đang nổi như cồn trên đất Sài Gòn. Họ cưới nhau sau đó gần 1 năm. Thời đó, ở Sài Gòn thanh niên nam nữ rất ngưỡng mộ chuyện tình Tam Lang - Bạch Tuyết mà họ cho là “đẹp như huyền thoại”.

      Thế nhưng, cuộc tình tưởng như là hoàn hảo của họ chỉ kéo dài được hơn 6 năm. Bạch Tuyết từng có lần tâm sự: “Hai đứa thương nhau, mà như tuồng cải lương vậy đó. Thương nhau mà không có con được nên đành phải xa nhau vì anh Tam Lang là người cực kỳ tốt và có hiếu với gia đình. Sau anh Tam Lang lập gia đình và có một con gái. Hai đứa thương nhau lắm nhưng xa nhau chỉ vì hoàn cảnh thôi. Tụi này vẫn thân quý nhau”.

      Bạch Tuyết cũng cho biết, vì bà theo đoàn diễn rày đây mai đó, còn ông Tam Lang cũng thường xuyên đi thi đấu xa nhà, vì vậy mà thời gian họ bên nhau rất ít. Tuy nhiên, đó không phải là lý do chính làm họ xa cách, điều quan trọng là cả hai vợ chồng mong mãi mà chẳng có một mụn con nào.

      Bạch Tuyết quan niệm, là phụ nữ mà không sinh được con thì không nên ràng buộc người chồng. Sau đó bà đã lại có chồng và mang thai, sinh được cậu con trai kháu khỉnh. Bố của cháu là tiến sĩ kinh tế ở Pháp về thăm quê, có lẽ đó là duyên tiền định, nhờ đó mà bà có được cuộc sống yên ấm và có điều kiện nâng cao kiến thức sau này. Trong lúc Tam Lang cũng có mái ấm gia đình khác và có được đứa con gái xinh xắn. Âu cũng là duyên số, trời định!

      (Còn tiếp)

      Người có nhiều vợ và bồ nhất Sài Gòn(4): Tam Lang xách súng rulô rượt bắn Hùng Cường?

      (LĐĐS) - Số 20 - Chủ nhật 25/08/2013 11:13
        Ngày ấy, khi cuộc hôn nhân giữa Tam Lang và Bạch Tuyết tan vỡ, dư luận Sài Gòn cho rằng do những vai diễn quá mùi mẫn trên sân khấu của Hùng Cường và Bạch Tuyết.
        NSƯT Bạch Tuyết.

        Quả thật, thời đó bất cứ người hâm mộ nào cũng chạnh lòng trước những cảnh diễn, sự quăng bắt ngọt ngào, đằm thắm giữa Hùng Cường - Bạch Tuyết. Thậm chí có báo còn đưa tin giật gân là vì ghen mà Tam Lang xách súng rulô đuổi bắn Hùng Cường.

        Cách đây hơn 10 năm, sau thành công của những vai diễn mang tính thể nghiệm trên sân khấu Sài Gòn như Diễn kịch một mình, Hoàng hậu hai vua, Độc thoại đêm…, một ký giả kịch trường đã hỏi vì sao Bạch Tuyết lại chọn cuộc chơi độc diễn này? Câu hỏi khiến Bạch Tuyết thấy nao lòng.

        Khán giả vẫn dành tình yêu cho bà cùng các bạn diễn như Tấn Tài, Thanh Sang, Minh Vương, Thanh Tuấn… Nhưng cất giữ một góc trong lòng khán giả và trong chính Bạch Tuyết, không thể bù đắp, không ai thay thế được, đó là nghệ sĩ Hùng Cường.

        Thỉnh thoảng Bạch Tuyết vẫn bắt gặp những câu hỏi tò mò của khán giả, đại loại: “Ai cũng mê Hùng Cường. Bạch Tuyết đóng chung với Hùng Cường đẹp và hợp nhau đến vậy, Bạch Tuyết có mê Hùng Cường không?”. Và Bạch Tuyết đã hỏi lại: “Thế mọi người thấy tôi có mê Hùng Cường không?”. Khán giả hồn nhiên bảo: “Mê quá chớ sao không. Nếu không mê thì làm sao ca diễn tình tứ, hòa quyện vào nhau như thế được…”.

        Vậy là, khán giả trả lời hộ cho bà. Chỉ có điều, sự tình tứ, độ nồng nàn, sức cuốn hút vào nhau trên sàn diễn chỉ còn lại cái dè chừng, nghi hoặc ở ngoài đời.

        Đêm - nhân vật của Hùng Cường và Bạch Tuyết bay bổng cùng nhau. Ngày - hai con người, hai cá thể cứ chực sẵn vẻ lạnh lùng, thách thức cố ý. Bạch Tuyết thổ lộ: “Tôi ẩn náu trong sự kiêu hãnh mà kỳ thực, luôn yếu đuối, trẻ con, khờ khạo trước anh lẫn cuộc đời…”.

        Về tin đồn rằng vì quá ghen tuông với những cảnh mùi mẫn trên sân khấu nên Tam Lang xách súng rulô rượt bắn Hùng Cường, Tam Lang đã có lần giải thích: “Đúng là khi còn đá cho đội cảnh sát của chế độ cũ, tôi được gắn lon trung sĩ và được phát khẩu súng ngắn. Ngay sau đó tôi trả súng lại vì thấy nguy hiểm, đồng thời cũng không muốn giữ súng vì đâu có chi cần thiết để giắt kè kè bên người. Do đó không hề có chuyện tôi xách súng rượt kép hát ngay trên sân khấu như đồn đại đâu. Ngay cả cái lon trung sĩ cũng là chuyện chẳng đặng đừng vào thuở ấy. Lương cầu thủ chẳng được là bao, do vậy ông bầu của đội mới gắn cho tôi thêm lon trung sĩ cảnh sát để có thêm vài đồng lương hằng tháng”.

        Câu chuyện Hùng Cường - Bạch Tuyết - Tam Lang còn được soạn giả nào đó “cắc cớ” viết hẳn thành bài tân cổ giao duyên rất nổi tiếng có tên “Chuyến xe thơ mộng” được chính Hùng Cường và Bạch Tuyết hát liên tục trên đài phát thanh Sài Gòn đầu thập niên 1970.

        Nội dung bài hát: Trên một chuyến xe đò “lục tỉnh” về miền Tây, cô gái tên là Nguyễn Thị Bạch Tuyết mơ màng ngủ khi tỉnh giấc thấy mình ngã vào vai của người bạn đường ngồi bên cạnh có tên là “Trần Trung Dũng tự là Hùng Cường”.

        Họ làm quen nhau, đưa nhau qua phà Mỹ Thuận, theo xe về Châu Đốc quê Bạch Tuyết. Trước khi chia tay, chàng trai nói: “Xin phép ghé thăm và tặng cô một món quà”. “Món quà gì vậy anh?”, cô gái hỏi. “Một chiếc xe kết đầy hoa trắng”, chàng trai trả lời. Để rồi Bạch Tuyết hát câu cuối cùng của bài hát: “Cảm ơn anh. Xe hoa em đã nhận rồi, người tặng chính là một cầu thủ vang danh”. Bài hát đã dứt, mà thính giả còn nghe giọng Hùng Cường kêu với theo: “Trời ơi!”.

        Đầu năm 1971, sau khi đã quá nổi tiếng với tư cách một cặp diễn hoàn hảo, ăn khách nhất ở Sài Gòn, Hùng Cường cùng Bạch Tuyết tách ra lập đoàn cải lương riêng cho họ mang tên “Đoàn cải lương Hùng Cường - Bạch Tuyết”. Hùng Cường và Bạch Tuyết không có đối thủ cạnh tranh với tư cách đôi nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu. Nhưng trong vai trò quản lý, điều hành một đoàn hát thì họ không bằng nhiều “ông bầu”, “bà bầu” có “nanh vuốt” trên đất Sài Gòn. Chỉ hơn 1 năm sau “liên danh” Hùng Cường - Bạch Tuyết tan rã

        Cho phép mang thai hộ nhưng cấm quan hệ trực tiếp

        Bài trên báo Đất Việt

        (ĐVO) - Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã đề nghị cho phép mang thai hộ, tuy nhiên theo ông Dương Đăng Huệ, Tổ trưởng Tổ biên tập Dự án Luật thì việc mai thai hộ phải có sự can thiệp của y tế, cấy ghép noãn và tinh trùng vào tử cung người mang thai hộ, chứ người chồng không được phép quan hệ trực tiếp với người mang thai hộ.
         
        Cho phép mang thai hộ nhưng cấm quan hệ trực tiếp
         
        "Trong dự thảo đã nói rất rõ về khái niệm, quy định được phép mang thai hộ. Những người phụ nữ do có bệnh lý hoặc dị tật bẩm sinh, u xơ tử cung, suy gan, suy thận hoặc những bệnh phụ khoa... rất muốn có con để đảm bảo hạnh phúc gia đình nhưng không có khả năng mang thai. Tuy nhiên những người vợ này vẫn có noãn. Cần phải nói rõ là họ vẫn có noãn để thụ tinh được chứ không phải xin noãn, nhưng họ có những bệnh lý không thể mang thai được và cần nhờ đến người thứ ba. Đấy là những điều kiện đối với người cần người mang thai hộ" - Ông Dương Đăng Huệ ở Vụ Pháp Luật dân sự - kinh tế, Tổ trưởng Tổ biên tập Dự án Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cho biết.
         
        Theo đó, định nghĩa mang thai hộ được quy định là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật lấy noãn và trứng của người mẹ và tinh trùng của người bố thụ tinh trong ống nghiệm. Khi noãn và tinh trùng gặp nhau tạo thành phôi thì chuyển phôi đó vào trong tử cung của người phụ nữ khác để nhờ người này mang thai và sinh con. Mang thai và sinh con thôi chứ không được trả thù lao. 
         
        Ông Dương Đăng Huệ ở Vụ Pháp Luật dân sự - kinh tế, Tổ trưởng Tổ biên tập Dự án Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
        Ông Dương Đăng Huệ ở Vụ Pháp Luật dân sự - kinh tế, Tổ trưởng Tổ biên tập Dự án Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
        "Việc mang thai hộ không áp dụng trong trường hợp sử dụng noãn của người mang thai hộ kết hợp với tinh trùng của người bố. Bởi vì nếu lấy noãn của người mang thôi hộ để thụ tinh thì sẽ liên quan đến yếu tố sinh học. Cho nên việc người chồng quan hệ trực tiếp với người mang thai hộ là hoàn toàn bị cấm" - Ông Huệ khẳng định.
        Cũng theo ông Huệ, đứa trẻ ra đời từ người mang thai hộ sẽ mang gen di truyền của người phụ nữ có noãn, chứ không phải là của người mang thai hộ. Vấn đề này rất rõ ràng, và cũng không sợ là đứa trẻ nằm trong tử cung của người mang thai hộ sẽ mang gen của người mang thai hộ. 
         
        "Nếu hiểu khái niệm huyết thống đồng nhất với khái niệm di truyền thì quan hệ huyết thống là quan hệ giữa người phụ nữ có noãn, chứ không phải quan hệ huyết thống với người mang thai hộ. 
         
        Bản chất của mang thai hộ nếu hiểu đúng nghĩa của nó là sự giúp đỡ của người phụ này với người phụ nữ khác nhằm duy trì nòi giống và gắn kết gia đình hạnh phúc" - Ông Huệ nói.
         
        Liên quan đến việc: chỉ những người thân thích, họ hàng mới được phép mang thai hộ, ông Huệ giải thích: "Người mang thai hộ không nhất thiết phải là họ hàng, huyết thống, ruột già, cô, dì, bác... mà có thể là ngoài họ hàng hoặc bạn bè thân thích cũng được. Khái niệm này được mở rộng ra chứ không bó hẹp như mọi người nghĩ. Tuy nhiên, phải là thân thích để đảm bảo tính không vụ lợi trong việc này".
         
        Ngoài ra, cũng theo ông Huệ, vợ chồng nhờ người mang thai hộ phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ về vật chất ở mức cần thiết cho người mang thai hộ. "Ví dụ như phải đảm bảo việc ăn, ở, chế độ dinh dưỡng, khám sức khoẻ, sữa... cho người mang thai như những người khác. Tuy nhiên, người mang thai hộ không được phép đòi hỏi vượt quá những mức bình thường" - Ông Huệ cho biết.
         
        Cho phép mang thai hộ nhưng cấm đẻ thuê
         
        "Nếu tôi không nhầm thì có khoảng 197 quốc gia và vùng lãnh thổ, tuy nhiên không có nhiều nước cho phép mang thai hộ. Cũng có một số nước còn mở rộng hơn cả mục tiêu nhân đạo cả mục tiêu thương mại. Theo tôi được biết tại Ấn Độ mỗi năm có khoảng 1000 trung tâm đẻ thuê, mà mỗi năm đẻ ra 25.000 trẻ em theo phương thức đẻ thuê. 
         
        Việc đẻ thuê này được ký hợp đồng, và được ràng buộc với những điều khoản cụ thể trong hợp đồng. Tài liệu cho thấy thu nhập từ người vợ mang thai hộ một lần thu nhập bằng người chồng lái taxi 4 năm. 
         
        Như vậy là thu nhập rất cao, như vậy một số nước họ không chỉ vì mục đích nhân đạo mà còn kinh doanh luôn. Nhưng ở Việt Nam thì không có chuyện đó, Việt Nam chỉ đặt ra mục đích vì nhân đạo, để giúp đỡ nhau xử lý những vẫn đề trong thực tiễn. 
         
        Chính vì vậy dự thảo mới đặt ra mục đích cho phép mang thai hộ vì mục tiêu nhân đạo, cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại" - ông Huệ nói.
         
        Trước băn khoăn: cho phép mang thai hộ vì mục tiêu nhân đạo nhưng liệu có bị làm dụng không? Vì khoảng cách giữa nhân đạo và thương mại là rất mong manh? Ông Huệ cho biết, vấn đề này đã được quy định rất chặt chẽ trong dự thảo. 
         
        "Ví dụ như điều kiện đối với người mang thai hộ là phải có sức khỏe, không có bệnh tật. Phải đẻ một lần rồi mới có kinh nghiệm trong việc mang thai. Hay về mặt tuổi tác phải từ 21 đến 42 tuổi, thế giới cũng quy định đó là độ tuổi tốt để mang thai.
         
        Còn về phía người nhờ mang thai hộ cũng được quy định rất cụ thể. Ví dụ chỉ những cặp vợ chồng lấy nhau rồi không mang thai được một cách bình thường mới được nhờ mang thai hộ. 
         
        Ví dụ như ca sĩ, người mẫu, người giàu không muốn mang thai thì không được phép nhờ người mang thai hộ. Tất cả những vấn đề đó đều được tính đến và có quy định rất chặt chẽ" - Ông Huệ cho biết.
         
        Duyên Duyên - Vũ Lan

        23 tháng 8, 2013

        Thương hiệu Mê Kông

        Hữu Hiệp
        Nước mắm Phú Quốc vừa được Tổng vụ Nông nghiệp - Uỷ ban Châu Âu trao chứng nhận tên gọi xuất xứ, được bảo hộ tại 28 nước, mở ra nhiều kỳ vọng cho các thương hiệu nông sản ĐBSCL. Nhưng vẫn còn nhiều mặt hàng nông sản khác như lúa gạo, thuỷ sản, trái cây đang rất cần được quan tâm đầu tư, chuẩn bị tốt hơn để tạo ra nhiều thương hiệu mạnh khác. Nhìn lại hơn 10 năm triển khai Chương trình thương hiệu quốc gia, đã có hàng trăm thương hiệu được vinh danh như bia Sài Gòn, sữa Vinamilk, các mặt hàng cơ khí, dệt may, … nhưng gần như thiếu vắng “thương hiệu mạnh” đại diện cho các mặt hàng nông sản chủ lực của vùng ĐBSCL – là điều rất đáng suy ngẫm.

        Thực tế đó đã được nhận diện; song, cần đặt nó trong một chuỗi giá trị của quá trình sản xuất hàng hóa. Cần xác định rõ trách nhiệm, lợi ích của từng “chủ thể” tham gia, những “công đoạn” quyết định, “khâu đột phá” để chọn lựa giải pháp, thứ tự ưu tiên và tiến hành đồng bộ Chiến lược thương hiệu cho vùng. Chiến lược đó cần được bắt đầu từ doanh nghiệp, gắn kết chặt chẽ với nông dân, nhà khoa học, truyền thông và cần được sự khuyến khích, hỗ trợ hiệu quả hơn nữa từ Nhà nước.
        Nông dân là người trực tiếp làm ra nguyên liệu nông sản, nhưng với hiện trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, nguồn lực đầu tư, khả năng nắm bắt thông tin thị trường hạn chế, khó có thể đóng vai trò quyết định trong khâu “đột phá”. Nhà nước có tác động to lớn trong việc tạo ra cơ chế, chính sách, điều tiết thị trường. Nhưng Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp trong xây dựng thương hiệu. Các nhà khoa học chính là “chất xám” của thương hiệu; nhưng các nghiên cứu của họ rất cần các “đơn hàng” để ứng dụng. Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế trở thành những địa chỉ ứng dụng nghiên cứu cụ thể. Doanh nghiệp là “mắc xích” cuối cùng, quan trọng nhất trong chuỗi giá trị nông sản; vừa tác động đầu vào, quyết định quá trình sản xuất, chế biến, vừa nắm đầu ra sản phẩm. Trong khi thiếu vắng những thương hiệu nông sản quốc gia, uy tín trên thị trường quốc tế, thì vẫn còn nhiều doanh nghiệp ít quan tâm xây dựng thương hiệu, sẵn sàng “choảng nhau” qua các chiêu trò hạ giá bán, giành hợp đồng để được phần mình nhưng thua phần lớn trước các đối thủ nước ngoài. Thực trạng đó, tạo ra nhiều áp lực cho các mặt hàng nông sản chủ lực của ĐBSCL, vừa chịu sự “cạnh tranh sân nhà”, vừa “gồng mình” trước sự lấn lướt của các “đối thủ” ngoại.
        Một chiến lược thương hiệu mang tên “Mê Kông delta” với yêu cầu liên kết doanh nghiệp và “các nhà” đang là yêu cầu bức thiết hơn là tiếng vang của nước nắm Phú Quốc đột phá vào thị trường châu Âu.


        22 tháng 8, 2013

        “Ai đến Bali cũng có một mối tình”...

        Vài lời: quen nhóm bạn Indo từ những ngày học tập ở CHLB Đức (1997-1999). Hầu hết bọn chúng đã sang Sài Gòn vào năm 1999; còn mình thì bây giờ mới sắp có cơ hội sang đó (24-31/8/2013) trong khoá huấn luyện do GIZ tài trợ, lưu bài này để từ từ đọc và đi thực tế để xem sao.
        TTO - Trong “Eat, Pray, Love” Elizabeth Gilbert đã viết như thế. Và trở lại Bali với dân đi bụi như tôi vốn dĩ xa xỉ. Nhưng tôi nợ miền đất ấy, nợ những chàng trai đầu đội mũ Hindu trắng một lời hẹn ước, rằng tôi sẽ quay lại Ubud không chỉ một mình như ngày hôm qua…
        Sắc màu Ba Li - Ảnh: Băng Giang
        Được mệnh danh là hòn đảo của những ngôi đền - Bali vẫn đã và sẽ là một điểm đến ưa thích của du khách bởi sự sống động của một nền văn hóa đậm đà bản sắc hiện diện trên từng mái nhà, góc phố, từng bức tường bao quanh những ngôi đền cổ linh thiêng.
        Linh thiêng Pura Besakid
        Khi chúng tôi đến, đền mẹ Pura Besakid đang tổ chức lễ cúng tế Kuningan quan trọng trong năm, được tổ chức sau lễ Galungun khoảng 10 ngày. Kuningan là hoạt động cuối cùng trong chuỗi Galungun để đưa tiễn tổ tiên về trời.
        Do đó, vào ngày tổ chức Kuningan tất cả các thành viên trong gia đình sẽ đến dâng hương, hoa và cầu phúc tại các ngôi đền quan trọng trong trang phục Hindu truyền thống.
        Besakid là ngôi đền quan trọng bậc nhất trên đảo Bali nằm dưới chân núi lửa Gunnung Agung, ngọn núi cao nhất ở Indonesia, vốn được tin là nơi cư ngụ của các vị thần và linh hồn tổ tiên người Bali. Đó là một tổ hợp đền phức hợp cầu kỳ với rất nhiều đền thờ mang đậm dấu ấn Bali: những mái đền nhiều tầng lợp cọ đen nhánh.
        Đền mẹ Pura Besakid là ngôi đền cổ linh thiêng nhất trên đảo Bali - Ảnh: Băng Giang
        Dễ dàng tìm thấy nhiều ngôi đền nhỏ trong vườn nhà, đền thờ của làng, của vùng, nhưng chỉ ở nơi linh thiêng như đền mẹ Besakid mới có thể tìm thấy những ngôi đền 11 mái - con số thể hiện quyền uy tối thượng và sự thờ phụng cao quý nhất người dân Bali dành cho các vị thần.
        Galungun là lễ kỷ niệm chiến thắng của cái thiện trước cái dữ, vào dịp lễ này, người Bali trang hoàng các ngôi đền, đường phố, dâng lễ để cảm ơn các vị thần đã tạo ra trái đất và cuộc sống. Họ cũng tin rằng tổ tiên sẽ về thăm nhà vào lễ Galungun. Trang phục màu trắng chủ đạo nổi bật trên nền đá xám của tấm áo Besakid, với những khay lễ được chuẩn bị tỉ mẩn, khéo léo bằng tài hoa của người Bali khiến chúng tôi choáng ngợp và cảm phục.
        Một ngày cho hành trình khám phá Pura Besakid trong lễ Kuningan dường như không đủ. Từ chân núi Agung trở về Ubud, không khí lễ hội vẫn tràn ngập các ngôi làng, tưới mát tâm hồn của những lữ khách lang thang.
        Lung linh Ulun Danu Bratan
        Sau kỳ lễ Kuningan, người Bali đổ về Ulun Danu đông đến tắc đường. Các nhóm thanh niên di chuyển bằng xe máy, có người dẫn đoàn, cờ quạt rợp trời khiến chúng tôi rất tò mò. Đường lên vùng cao nguyên trung tâm Bedugul - Bali có nét gì đó như đường lên Đà Lạt, dâu tây được trồng khắp các sườn núi, tươi mát và ngon lành.
        Hồ Bratan (Bedugul) vốn là miệng của một ngọn núi lửa đã tắt Catur nằm ở độ cao 1.300m so với mặt nước biển. Tại đây vua Gusti Agung Anom, vương triều Mengwi đã cho xây dựng đền Ulun Danu thờ nữ thần nước Dewi Danu. Những rặng núi dài soi bóng trên mặt hồ Bratan lung linh, tạo cho ngôi đền một vẻ đẹp khoáng đạt.
        Đền Gunnung Kawi - Ảnh: Giang Nguyên
        Khí hậu ôn hòa, se lạnh và trong trẻo, khiến Ulun Danu là một địa điểm được nhiều người dân bản địa chọn làm nơi dừng chân du ngoạn cuối tuần hay vào các dịp nghỉ. Và thật ấn tượng, khi ngay trong khuôn viên của ngôi đền Ấn giáo lại có sự tồn tại của một bảo tháp Phật giáo, một sự giao thoa tôn giáo khá thú vị và bất ngờ.
        Để thưởng thức cảnh hồ thơ mộng và lãng mạn, một  trong những lời khuyên dành cho du khách là hãy kiếm một du thuyền trong lòng hồ Bratan khi bình minh hay hoàng hôn, để tận hưởng trọn vẹn sự yên tĩnh và trầm mặc của ngôi đền bồng bềnh trên sóng nước Ulun Danu Bratan.
        Tìm mặt trời ở Tanah Lot
        Rời Ulun Danu, hành trình rong ruổi đưa chúng tôi tới thăm Tanah Lot - ngôi đền trên biển, một trong 7 ngôi đền linh thiêng trên đảo Bali. Nằm trên một hòn đá, khi thủy triều lên trông Tanah Lot trông như một con tàu đang rẽ sóng ra khơi, điềm tĩnh, hiên ngang và lạ lùng.
        Đền Tanah Lot - Ảnh:
        Ngôi đền được xây dựng bởi một tu sĩ Bà La Môn đến từ đảo Java vào khoảng thế kỷ 16. Người ngoại đạo không thể vào bên trong đền, nên lựa chọn yêu thích nhất cho du khách là ngồi bên này vách núi ngắm ngôi đền chìm dần vào màu hoàng hôn huyền ảo của Ấn Độ Dương.
        Tôi ngồi yên lặng trên ghế mây, phía trước là ngôi đền Hindu huyền thoại. Tôi đã từng ngồi ở chốn này, từ khi mặt trời vẫn còn chói chang soi mình trên biển, cho đến khi đường chân trời đổi màu, và rồi bóng đêm ôm lấy con thuyền đá đang trầm mình giữa ồn ào sóng vỗ dưới kia. Hôm nay, tôi sẽ lại có dịp nghe lòng mình đằm lại, giữa những khoảnh khắc mơ màng trong chuyến trở lại Bali.
        Đêm trên phố Kajeng
        Sau những ngày di chuyển liên tục, chúng tôi không đếm được có bao nhiêu bậc thang lên các ngôi đền mà bàn chân mình đã bước qua. Trong ký ức chỉ còn có ngôi đền rừng già Gunnung Kawi với những mật thất tạc sâu vào vách núi. Là Besakid lộng lẫy huy hoàng. Là Ulun Danu hiền hòa thơ mộng hay Tanah Lot kiêu hãnh đến kỳ vỹ. Cả Uluwatu bên bờ biển treo mình trên vách đá, nhỏ bé và trầm tư.
        Đêm Ubud - trung tâm văn hóa nghệ thuật của hòn đảo xinh đẹp Bali, tôi và bạn thong thả bước đi trên phố Kajeng, nơi mỗi một viên gạch lát đường là của một người khách du lịch góp tiền xây dựng lên.
        Bình yên phố Kajeng - Ảnh: Băng Giang
        Trong ánh đèn nhập nhoạng hắt ra từ những ngôi nhà vườn hai bên đường, làm sao tôi lại có thể nhận ra một viên gạch với dòng chữ “Bác Hồ - Việt Nam” giữa vô vàn những viên gạch lát đường khác. Một nhóm người Việt đã đến đây năm 2009 và góp tiền đặt viên gạch này vào đường Kajeng. Có sợi chỉ đỏ nào đã nối trái tim tôi với bạn đồng hành chưa bao giờ gặp này không?
        Tiếng ghi ta bập bùng từ một hàng hiên níu bước chân tôi dừng lại và nhập hội với 3 thanh niên địa phương đang ngồi chơi đêm. Nick, Putu và Eka đã hát cho chúng tôi nghe những giai điệu Bali sâu lắng, những bài tiếng Anh sôi nổi, hay đơn giản chỉ là tiếng gẩy đàn trong đêm yên tĩnh.
        Và tôi đã hiểu vì sao Elizabeth Gilbert trong “Eat, Pray, Love” đã viết : “Ai đến Bali cũng có một mối tình”...
        THỦY TRẦN

        Ai có thẩm quyền cho phép cờ bạc?

        Vài lời: Một bài viết hay. Xin phép tác giả được lưu vào mục "Thích pháp luật".
        Đọc tin Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về hai dự thảo nghị định kinh doanh đặt cược, đua ngựa, đua chó, bóng đá quốc tế và nghị định về hoạt động kinh doanh casino, không khỏi nảy sinh thắc mắc: Các nghị định thường do Chính phủ chủ động soạn thảo và ban hành, vì sao với hai nghị định này lại phải thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội?

        Hóa ra Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã nêu một ngoại lệ, tức có một loại nghị định đặc biệt mà việc ban hành phải được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đó là các nghị định của Chính phủ được ban hành để “Quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội”. Loại nghị định không dùng để hướng dẫn thi hành một đạo luật nào đó được gọi là “nghị định tiên phát”.

        Chuyện kinh doanh cá cược và chuyện đánh bạc có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội nên chắc chắn thuộc loại “nghị định tiên phát”. Nhưng liệu việc Ủy ban Thường vụ họp, cho vài ý kiến rồi đồng ý cho Chính phủ ban hành hai nghị định này như thế đã chặt chẽ chưa? Liệu hoạt động mang tính cờ bạc này được điều chỉnh bởi một nghị định là đủ chưa hay nên được chi phối bởi một luật hay ít nhất là một pháp lệnh?

        Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định rõ như trên nên quy trình mà Bộ Tài chính đại diện Chính phủ soạn hai nghị định là đúng thủ tục và trình tự nhưng nếu nhìn rộng ra thì việc Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển giao một phần quyền lập pháp cho Chính phủ như thế là chưa ổn trong một số trường hợp, đặc biệt ở trường hợp kinh doanh cá cược và casino cụ thể này.

        Lẽ ra cần phải có những nghiên cứu tác động xã hội, những điều tra xã hội học, những khảo sát các mẫu dân số để trả lời các câu hỏi vẫn đang bỏ ngỏ: cho kinh doanh cá cược như thế liệu có dẫn đến các tệ nạn xã hội hay không; làm sao để hạn chế người nghèo, người đang nhận trợ cấp xã hội tham gia cá cược; đưa cá cược vào kinh doanh liệu có ảnh hưởng đến hoạt động xổ số hiện đang là nguồn thu ngân sách quan trọng của nhiều tỉnh?

        Không thể phát biểu cảm tính kiểu mức cược tối thiểu 10.000 đồng là quá thấp, ai mà chơi; mức tối đa 1 triệu đồng không đáp ứng nhu cầu nên vẫn sẽ có cá độ ngầm… Tất cả những con số đó phải lượng hóa bằng các nghiên cứu khoa học, nghiêm túc và có hệ thống.

        Vấn đề cho phép hay không cho phép người Việt vào chơi ở các sòng bài casino trong nước cũng vậy. Vừa dựa vào kinh nghiệm của các nước như Singapore, vừa phải nghiên cứu tâm lý ưa cờ bạc của dân ta để từ đó đưa ra những khuyến cáo khách quan, khoa học. Lãnh vực kinh doanh cá cược và nhất là kinh doanh casino có tiềm năng đem lại lợi nhuận lớn. Từ đó hoạt động vận động hành lang để tác động lên chính sách chắc chắn là có và không thể tránh được. Chuyển văn bản chi phối hoạt động của loại hình kinh doanh này từ một nghị định (dù loại đặc biệt phải có ý kiến đồng ý của Thường vụ Quốc hội) sang pháp lệnh hay luật là nhằm có sự bàn bạc rộng rãi hơn, tránh được các tác động vận động hành lang này.

        21 tháng 8, 2013

        Tư duy giáo dục và cái quần ống túm

        Trần Hiệp Thuỷ
        Chuyện 100 học sinh (HS) Trường THPT Hà Huy Giáp (huyện Cờ Đỏ, TP.Cần Thơ) bị đuổi về nhà vì mặc quần ống túm, nhanh chóng thu hút sự quan tâm của dư luận. Người chia sẻ, kẻ phê bình. Lãnh đạo Sở GDĐT TP.Cần Thơ cũng cho biết, không có bất kỳ quy định nào như vậy. Việc nhà trường kiểm tra đại trà, buộc nhiều HS phải về nhà thay quần là không nên và gây phản cảm.
        Câu chuyện làm tôi nhớ cách đây hơn 30 năm, thuở còn học phổ thông. Sáng thứ 2 đầu tuần mỗi tháng, HS nam chúng tôi phải xếp hàng dọc riêng để thầy giáo đi ngắm từ đầu hàng đến cuối hàng, chọn một cái đầu tóc ngắn làm mẫu để học trò nào tóc dài phải về nhà cắt theo. Có mẫu được thầy chọn, tuy tóc ngắn “ba phân đều”, nhưng kiểu đầu sọ khỉ, rất khó coi, thật bụng không ai muốn làm theo.
        Thuở đó quê tôi học trò nghèo, một bộ đồ đi học mặc “ba đời anh em”. Chuyện tóc ngắn dài, có khi còn phụ thuộc túi tiền của cha mẹ. Có đứa, để thầy giáo không phát hiện tóc dài, sáng sớm đã nhúng đầu vô nước cho tóc ướt, gọn gàng hơn. Trong trường thì vậy, ngoài đường, thanh niên để tóc dài bị giữ lại, buộc cắt tóc ngắn. Người mặc quần óng loe, bị phạt rọc ống quần. Những cách làm ấu trĩ đó đã không còn tồn tại mấy mươi năm qua. Vì vậy, chuyện một trường qui định “chi tiết”, ống quần chỉ được rộng 18 - 20cm, rồi đuổi HS “vi phạm” thành “chuyện lạ”, thu hút quan tâm của nhiều người cũng phải.
        Có phụ huynh cho rằng “chỉ cần quy định đồng phục, quần sậm, áo trắng là chuẩn, cần gì phải đo ống quần cỡ nào. Mặc quần ống rộng, hẹp có quan trọng gì đâu, miễn HS thấy thích, tự tin là được”. Không biết nhà trường có thấy được?

        Môi trường giáo dục văn minh, lịch sự không thể chấp nhận kiểu ăn mặc lố lăng. Kỷ cương, kỷ luật trong nhà trường là cần thiết để rèn luyện ý thức, giáo dục đạo đức cho HS. Sự lo ngại một bộ phận giới trẻ đang lệch lạc trong suy nghĩ và hành vi qua các biểu hiện sinh hoạt, trang phục, kiểu tóc nhố nhăng là có cơ sở. Nhưng giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho giới trẻ không thể là sự áp đặt, rao giảng hay ép buộc mà cần trang bị cho các em năng lực tự điều chỉnh bản thân khi đối mặt trước xã hội bên ngoài bộn bề, phức tạp.
        Những học trò “khuôn mẫu - ống quần 20cm” ngày hôm nay được nhào nặn, có thể là công dân máy móc của tương lai. Nó cũng đáng sợ không kém sự lệch lạc. Tư duy giáo dục không nằm trong “cái quần ống túm”!


        16 tháng 8, 2013

        Lợi ích cho nông dân

        Trần Hữu Hiệp
        Kỳ tích đổi mới của Việt Nam được cả thế giới biết đến có lẽ bắt đầu từ nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Từ một đất nước thiếu lương thực, Việt Nam nhanh chóng trở thành cường quốc xuất khẩu gạo thứ hai thế giới cũng là nhờ nông nghiệp. Cuối thập kỷ 1990, khi châu Á rơi vào cơn “bão tài chính”, nhờ tăng nguồn lực đầu tư, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, kinh tế đất nước đã vượt qua khó khăn. Cuối năm 2007, khi cả thế giới oằn mình gánh chịu suy thoái kinh tế, tác động mạnh mẽ đến công nghiệp và dịch vụ nước ta, thì một lần nữa, khu vực nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn tăng xuất khẩu gạo ở mức kỷ lục, trở thành “cứu cánh” cho nền kinh tế đất nước.
        Thế nhưng, hiện nay ngành nông nghiệp Việt Nam và vựa lúa gạo miền Tây đều rất khó khăn, nông dân sản xuất thua lỗ. Thực ra, những “tín hiệu trục trặc” của thị trường nông sản và điểm yếu trong kết nối cung - cầu của nó đã bộc lộ cách đây hơn 10 năm khi lúa gạo dư thừa phải mua tạm trữ; điệp khúc trúng mùa mất giá, chi phí đầu vào tăng, đầu ra bí đã được nhắc đi nhắc lại.
        Nhưng những “kỳ tích trong nông nghiệp”, đặc biệt là sự gia tăng năng suất và sản lượng lúa đạt kỷ lục liên tục nhiều năm đã làm “vừa lòng” nhiều người. Tư duy đổi mới được ca tụng một thời, dường như bắt đầu chậm lại, không thấy những đột phá mới như thời của “khoán 10, khoán 100”. Trong bối cảnh như vậy, Chính phủ đã ban hành đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Nhưng nhìn từ “vựa lúa quốc gia” ĐBSCL, còn nhiều vấn đề phải nỗ lực giải quyết.

        Ngành nông nghiệp Việt Nam gặp khó khăn như hiện nay do 3 nguyên nhân chủ yếu. Một là, do thời kỳ “hái trái ở cành thấp” trong sản xuất nông nghiệp với khai thác tài nguyên sẵn có là chủ yếu đang đi qua; thị trường lúa gạo thế giới đã và đang cạnh tranh khốc liệt, nhất là thách thức từ các quốc gia mới nổi như Myanmar, Campuchia và chính sách tự túc lương thực của các nước dùng gạo.
        Hai là, những yếu kém nội tại của ngành nông nghiệp và đặc biệt là thiếu tư duy đổi mới trong nông nghiệp. Đây là nguyên nhân chính. Mặc dù chúng ta nói nhiều đến “liên kết 4 nhà”, nhưng trên thực tế thì mối liên kết giữa sản xuất - chế biến - tồn trữ và xuất khẩu gạo còn nhiều yếu kém. Nhìn tổng thể, nó đang “bị chặt” ra thành nhiều khúc mà phần thiệt thòi nhiều nhất đang thuộc về nông dân. Công tác khuyến nông cũng xoay quanh phần nhiều về cây lúa mà ít quan tâm chuyển dịch các loại cây trồng khác với hỗ trợ giống, kỹ thuật canh tác, mô hình, đặc biệt là tiêu thụ. Chuỗi giá trị sản xuất, kênh phân phối, phân khúc thị trường lúa gạo đang có vấn đề. Chuỗi giá trị đó đang bộc lộ nhiều khiếm khuyết đã được các nhà nghiên cứu phân tích từ thực tiễn, các địa phương cũng phản ánh nhiều. Trong đó nổi lên là “lợi ích thực sự” chưa đến được với nông dân. Cần hệ thống giải pháp căn cơ, đồng bộ thì mới giải quyết được tình trạng “trúng mùa mất giá, được giá, hết hàng”. Cần phải chuyển từ tư duy làm ra “chén cơm đầy” - nhiều sản lượng, sang “chén cơm ngon” - mang lại nhiều giá trị, đặc biệt là lợi nhuận hợp lý cho người nông dân. 30% lợi nhuận hay cao hơn nữa cho người trồng lúa và mức lãi hợp lý cho các ngành nghề nông nghiệp khác để nông dân có thể sống được với nghề, làm giàu được bằng nghề nông, phải chuyển được từ “quyết tâm chính trị” sang “bài toán kinh tế”.
        “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp” bắt đầu từ đâu? Cây lúa, con cá hay chăn nuôi? Ông Lê Vĩnh Tân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp ví von dân dã là “nền nông nghiệp nước ta như con tôm đang thời kỳ lột vỏ”. Lột tốt thì khỏe mạnh, phát triển, không thì… chết. Hơn cả tái cơ cấu, phải là cuộc lột xác thật sự. Cuộc “lột xác” đó phải được tiến hành từ chính những thế mạnh và yếu kém nội tại của nền nông nghiệp, nhưng nên “hướng cầu”, thay vì chỉ châm bẩm vào “nguồn cung” như cách trả lời chọn cây lúa, con cá hay chăn nuôi hiện nay. Tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL phải là quá trình hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái và xây dựng nông thôn mới, giúp hàng chục triệu nông dân ĐBSCL vượt qua thách thức, trở thành “doanh nhân nông nghiệp”, làm giàu được bằng nghề nông.
        Nông dân phải được đào tạo nghề nông nghiệp, tập trung vào việc nâng cao giá trị sản xuất các ngành hàng chủ lực của vùng; đào tạo nghề phi nông nghiệp để tác động tích cực trở lại cho nông nghiệp, nông thôn. Đó là cách thức giúp nông dân không chỉ đứng vững trên đồng ruộng mà còn có thể làm giàu từ nông nghiệp, nông thôn.

        Sẽ phản biện từng văn bản luật trước khi ban hành

        Tuổi Trẻ, ngày 12/08/2013 08:45
        TT - Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định phê duyệt đề án cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
        Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Bùi Tất Thắng, viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch - đầu tư), cho rằng: Chính phủ sẽ giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì, làm đầu mối phối hợp chính sách giữa các bộ, ngành, các đơn vị theo hướng kiến tạo, hỗ trợ phát triển vì lợi ích chung của đất nước.
        Ông Bùi Tất Thắng - Ảnh: Đ.NAM
        Theo ông Thắng, thực tế từ nhiều năm nay, một trong những khâu yếu trong công tác điều hành là sự phối hợp chính sách chưa tốt; có tình trạng các văn bản pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn và khắc chế lẫn nhau. Ví dụ khi đưa ra một chính sách này thì lại có văn bản của chính sách khác hạn chế, thậm chí mâu thuẫn với nội dung của văn bản kia. Và để các văn bản điều hành của Chính phủ thành một hệ thống nhất quán, không bị mâu thuẫn, chồng chéo nhau đòi hỏi phải có một cơ quan chịu trách nhiệm điều phối, điều hòa các chính sách.
        * Ông có thể nói cụ thể hơn một vụ việc gần đây nhất?
        - Chẳng hạn, gần đây dư luận phản ánh việc xây dựng một sân vận động lớn không thua gì sân vận động quốc gia ở huyện Hoài Đức (Hà Nội), trong khi chức năng của nó là ở cấp huyện và chỉ phục vụ một bộ phận nhỏ. Câu chuyện đặt ra là trong khi mình còn nghèo, vậy nên đầu tư vào các lĩnh vực khác có tốt hơn không? Vậy vấn đề đặt ra là đã có sự phối hợp thật tốt giữa các ban, ngành và các cấp chưa? Đây chính là ý tưởng mà đề án này muốn đem lại.
        * Thưa ông, đề án cải cách này có đề cập sự phối hợp với các bộ ngành trong điều hành kinh tế vĩ mô không?
        "Nếu không có một cơ quan chịu trách nhiệm điều phối thì tình trạng các văn bản, chính sách chồng lấn có thể vẫn sẽ tiếp tục xảy ra, nhất là trong lĩnh vực đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, đầu tư công; khi mà nhu cầu đầu tư rất lớn trong khi nguồn lực lại có hạn "
        Ông BÙI TẤT THẮNG
        - Trong đề án cải cách này, Chính phủ có nêu rất cụ thể. Về nguyên tắc, sự phối hợp phải tiến hành đồng bộ, ở tất cả các khâu của chu trình làm chính sách. Theo đó, không phải đợi đến khi các bộ, ngành làm xong dự thảo rồi phía cơ quan điều phối mới có ý kiến mà cần kết hợp ngay từ đầu, có thể là ngay từ khi thành lập tổ nghiên cứu để nghiên cứu, soạn thảo một chính sách cụ thể nào đó. Chẳng hạn, như khi thành lập một tổ ban hành chính sách về tiền tệ thì không phải chỉ có mỗi mình Ngân hàng Nhà nước, mà phía Bộ Tài chính phải cử người vào, Bộ Kế hoạch - đầu tư cũng cử người đến, thậm chí cả Văn phòng Chính phủ cũng cần cử đại diện vào làm thành viên tổ soạn thảo, hoặc để theo dõi, đôn đốc...
        Ngoài ra, đề án cũng yêu cầu Bộ Kế hoạch - đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương và Ngân hàng Nhà nước phải phối hợp với nhau trong toàn bộ chu trình xây dựng và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô chứ không phải phối hợp ở mỗi khâu soạn thảo, ban hành chính sách mà không theo dõi, đánh giá. Và đề án cũng nêu rất cụ thể trong trường hợp có những biến động bất thường về kinh tế - chính trị - xã hội, cả trong nước lẫn ngoài nước rơi vào khủng hoảng, lạm phát cao hay thiểu phát, kinh tế suy giảm đột ngột... thì những lúc như vậy buộc chính sách điều hành càng phải có sự phối hợp chặt chẽ, ăn ý với nhau.
        Vấn đề cuối cùng là phối hợp trong việc xây dựng hệ thống thông tin. Đây là vấn đề hết sức quan trọng vì nếu thông tin về số liệu khác nhau thì dẫn đến đánh giá khác nhau, mà đánh giá khác nhau sẽ dẫn đến đề xuất các giải pháp chính sách khác nhau. Mà khi chính sách không khớp nhau thì chắc chắn sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn, thiếu nhất quán, thiếu hỗ trợ nhau trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
        * Thưa ông, đề án có nhắc đến việc huy động các chuyên gia, nhà quản lý vào điều hành kinh tế vĩ mô. Vậy điều này được hiểu như thế nào?
        - Theo quyết định, Chính phủ giao Bộ Kế hoạch - đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan để huy động các chuyên gia tham vấn giúp. Tuy nhiên để làm được việc này cần phải có cơ chế cụ thể, xác định việc huy động các chuyên gia theo cách thức gì? Quyền lợi cũng như nghĩa vụ của họ thế nào, từ đó mới có thể huy động được hiệu quả chất xám từ đội ngũ các chuyên gia.
        Việc mời các chuyên gia tham vấn sẽ còn tùy vào nội dung từng văn bản pháp luật cụ thể chuẩn bị ban hành để mời được những chuyên gia có kiến thức chuyên sâu, và tùy thuộc vào cả thời gian cần thiết để tổ chức lấy ý kiến tham vấn. Ví dụ, khi chuẩn bị ban hành một chính sách trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, bên cạnh các nhà làm chính sách, quyết định yêu cầu mời các chuyên gia kinh tế trong lĩnh vực này đến để nghe tham vấn, phản biện, cho ý kiến trước khi văn bản được ban hành.
        * Vậy sắp tới trong điều hành kinh tế vĩ mô, lĩnh vực nào theo ông là "nóng" nhất cần phải tập trung tham vấn, phản biện?
        - Thực tế có nhiều lĩnh vực được xã hội quan tâm. Nhưng hiện tại, một số lĩnh vực cần tập trung nhất là lĩnh vực tài chính, tiền tệ, đất đai; các chính sách liên quan đến đầu tư, chương trình phát triển ở các ngành kinh tế mũi nhọn, các chiến lược, quy hoạch phát triển của các ngành cũng như các chính sách liên quan đến đầu vào, đầu ra của thị trường, thuế... - những lĩnh vực có liên quan mật thiết đến đời sống của người dân. Sự phối hợp giữa chính sách tài chính và chính sách tiền tệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô, bởi lẽ có phối hợp tốt với nhau thì mới có thể vừa làm tốt nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng vừa giữ được mức ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát, nợ công, xuất - nhập khẩu, dự trữ ngoại tệ, tỉ giá hối đoái... Thực tế thời gian qua cho thấy nếu muốn giảm lạm phát mà chỉ có mỗi chính sách tiền tệ, không quản lý chặt chính sách chi tiêu công cộng thì chưa chắc đã đạt được mục tiêu đặt ra.
        * Ông có nghĩ rằng với đề án trên, liệu chúng ta có chấm dứt được tình trạng văn bản pháp luật chồng chéo không?
        - Theo tôi, việc ban hành quyết định phê duyệt đề án cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô là rất kịp thời. Tuy nhiên, do phạm vi của đề án chỉ tập trung vào lĩnh vực quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô nên trong trường hợp làm tốt nhất thì cũng chỉ có tác dụng trong phạm vi này, vì thế không bao quát được hết mọi lĩnh vực. Hơn nữa hiện nay các cơ quan thực hiện chính sách vẫn là nơi khởi thảo các chính sách thì khả năng chồng chéo, thiếu nhất quán vẫn còn. Để giải quyết triệt để vấn đề này cần có một cách nhìn tổng quát, cần đổi mới và có cách tiếp cận mới hơn về quy trình làm chính sách. Nếu làm được những điều đó thì hi vọng sẽ khắc phục được cơ bản, còn không thì chúng ta cũng chỉ giải quyết được một phần chứ khó nói đến việc khắc phục triệt để được.
        ĐĂNG NAM thực hiện