Chuyển đến nội dung chính

Phải liên kết và thích ứng với hạn, mặn gay gắt

Đối phó hay thích nghi trước trận hạn mặn lịch sử này tại ĐBSCL? Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Kinh tế, BCĐ Tây Nam bộ nói cần phải liên kết vùng để vượt qua.
Trần Hữu Hiệp
Hạn, mặn lịch sử tại ĐBSCL trong vòng 100 năm qua đã khiến hàng trăm ngàn hộ dân trong vùng đang thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng. Hàng triệu gia súc đói khát vì không có thức ăn, nước uống phải bán tháo chịu lỗ 10 triệu đồng/con. Thảm cảnh sẽ còn kéo dài nếu nước từ thượng nguồn chưa về kịp và không có mưa sớm.

Đứng trước tình hình cấp bách hạn mặn lịch sử đang diễn ra khốc liệt và gây thiệt hại trầm trọng này, cần xác định mục tiêu của chúng ta là đối phó hay thích nghi với hạn, mặn? Tại sao Israel có nhiều diện tích đất là sa mạc nhưng họ vẫn phát triển những dự án nông nghiệp hàng đầu thế giới; hay như Hà Lan có khoảng 27% diện tích nằm dưới mực nước biển nhưng lại là quốc gia xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu châu Âu. Do đó, vấn đề nông nghiệp ĐBSCL là cần thích nghi với điều kiện hạn, mặn hiện tại cũng như trong tương lai; bởi chống lại thiên nhiên bao giờ cũng khó hơn tìm cách thích nghi với thiên nhiên.
Chúng ta cần nhìn nhận rằng nước mặn cũng có cái lợi. Vì thế, để thích nghi với hạn, mặn dài lâu vùng ĐBSCL cần tổ chức lại cơ cấu sản xuất cho khoa học, phù hợp. Dựa vào điều kiện sinh thái của từng địa phương, từng nơi như vùng sinh thái nước ngọt, vùng sinh thái mặn, vùng nước lợ… để đưa ra mô hình sản xuất phù hợp cây gì, con gì. Vì thực tế một tỉnh ven biển của ĐBSCL có rất nhiều hộ dân nuôi tôm cho thu nhập gấp hàng chục lần so với trồng lúa. Bên cạnh đó chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của việc chuyển đổi cây trồng trong phương án thích nghi. Một số tỉnh đã chuyển khai sang trồng những giống lúa thích được với độ mặn 4‰. Mặt khác, áp dụng phương thức giảm thời gian để cây lúa đứng trên đồng, bằng cách gieo mạ để cấy ở những vùng thiếu nước tưới, bị ảnh hưởng hạn, mặn… Đối với cây ăn trái cũng tăng cường nghiên cứu các giống có khả năng thích nghi, chống chịu mặn tốt.
Song, để làm được những phương án trên, một yêu cầu mang tính tất yếu đối với chúng ta hiện nay là phải thực hiện tốt “liên kết vùng”. Đây là nhiệm vụ phức tạp, khó khăn và lâu dài, cần có tầm nhìn dài hạn, nhưng cũng cần những hoạt động cấp bách trong ngắn hạn. Vì vậy, công tác này cần được chỉ đạo tập trung, thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế trên cơ sở xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấn thông tin phản hồi từ các bên liên quan. Những chủ trương, định hướng phát triển vùng cần được cụ thể hóa bằng các mô hình tổ chức sản xuất, tăng cường liên kết vùng trong ứng phó Biến đổi khí hậu, quản trị và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và nước.
Về lâu dài, không nên phát triển cây lúa bằng mọi giá, ngăn mặn một cách cứng nhắc mà bỏ qua yếu tố kinh tế: chi phí và lợi ích. Theo đó, đề nghị những nhà hoạch định chính sách quan tâm mấy việc: Đầu tiên cần ưu tiên đầu tư vào một “vùng lõi lúa gạo” của ĐBSCL chỉ với khoảng 30 huyện, nhưng hiện chiếm hơn 50% sản lượng lúa của vùng. “Thung lũng lúa gạo” này được nhận diện nằm ở Tứ Giác Long Xuyên và lưu vực phù sa sông Tiền, sông Hậu. Phân biệt khu vực trồng lúa “trọng yếu” và “không trọng yếu” dựa trên sự phù hợp về sinh thái nông nghiệp, năng suất, tác động của biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó chúng ta phải áp dụng phân vùng theo không gian, có chính sách hỗ trợ khác nhau ở “vùng lõi”, “vành đai” và các khu vực trồng lúa bình thường khác, có xem xét mục tiêu sản xuất lúa cho an ninh lương thực hay lúa hàng hóa. Một yếu tố không kém phần quan trọng là quan tâm đời sống sức khỏe người dân, như xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, chống suy dinh dưỡng trẻ em...
Tầm nhìn dài hạn và bức xúc trước mắt cho một ĐBSCL phát triển an toàn, trù phú và bền vững trước tác động xấu của thiên tai và nhân tai thì “liên kết vùng” chặt chẽ và phối hợp liên tỉnh cần được xem là yêu cầu quyết định. Vì như thế sẽ nâng cao được sứng chống chịu, thích ứng trước biến đổi khí hậu chắc chắn sẽ diễn ra thường xuyên hơn, gay gắt hơn trong thời gian tới.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...