Chuyển đến nội dung chính

Câu thần chú của “ông thần than”

Trần Hiệp Thủy
Những người thợ mỏ
BÁO LAO ĐỘNG ngày 15-5-2012
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2011 nước ta tiếp tục xuất khẩu 17,2 triệu tấn than đá, trị giá 1,63 tỉ USD. Đó là thành tích rực rỡ của ngành than, niềm tự hào của những người thợ mỏ đã đổ mồ hôi lẫn máu làm ra “kim cương đen” cho cả nước. Nhưng đằng sau ánh hào quang là nỗi lo về câu chuyện “phát triển bền vững”.
Những cô gái nông dân ĐBSCL (Ảnh: Tăng Quầy)
Dư luận hết sức quan tâm nội dung đối thoại trực tuyến của Bộ trưởng Bộ KHCN Nguyễn Quân mới đây trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ. Theo vị bộ trưởng này, thì “đến năm 2020 lượng than nhập khẩu của nước ta còn lớn hơn số sản xuất ra”. Tháng 6.2011, Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN (TKV) đã nhập thử nghiệm chuyến than đầu tiên để chuẩn bị việc nhập khẩu lên tới trên 5 triệu tấn vào năm 2015. Trong khi đó, loại than cám chất lượng thấp dùng cho các nhà máy nhiệt điện vẫn được xuất với số lượng lớn. Lượng than cám 4, cám 5 chiếm tới 22,3% lượng than xuất khẩu năm 2009, năm 2010 là 21%, đến năm năm 2011 vẫn còn 12 triệu tấn trong tổng số hơn 17 triệu tấn than xuất khẩu của TKV.
Theo Quy hoạch điện VII, các trung tâm điện lực lớn ở ĐBSCL như Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), Kiên Lương (Kiên Giang) ... với tổng công suất hơn 9.400 MW sẽ được đưa vào sử dụng. Các nhà máy (NM) nhiệt điện này sẽ sử dụng than làm nhiên liệu chính. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu TKV khẩn trương chỉ đạo đơn vị tư vấn hoàn thành Dự án cảng trung chuyển than cho vùng trong tháng 4.2012; giao Bộ Công thương đề xuất nguồn, chủng loại than cung cấp cho các NM. Nhưng đến khi các NM điện than này vận hành, liệu có còn đủ than?
Theo dự báo, nhu cầu than trong nước sẽ tăng cao, đến năm 2015 sẽ thiếu 5,8 triệu tấn, năm 2020 VN thiếu tới 48 triệu tấn than, vượt cả năng lực sản xuất hiện nay của TKV. Trong khi đó, trữ lượng than Quảng Ninh chỉ còn khoảng 1,9 tỉ tấn, nếu khai thác như hiện nay, nhiều nhất 37 năm nữa sẽ cạn kiệt.
Hầu như người VN nào cũng biết chuyện “Cây tre trăm đốt” với câu thần chú nổi tiếng “khắc nhập, khắc xuất” đã giúp anh nông dân thật thà cưới được vợ, thắng tên nhà giàu tham lam, tráo trở. Hy vọng phép màu của câu thần chú sẽ được “ông thần than” dùng đúng chỗ, chứ không chỉ là “bửu bối” để giải bài toán lợi nhuận của TKV bất chấp lợi ích lâu dài. Câu chuyện xuất - nhập than hóa ra không chỉ là chuyện của vùng mỏ. Nó còn là chuyện đồng bằng và của cả nước.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...