Chuyển đến nội dung chính

Nhớ tiếng đờn, lời ca vọng cổ

Trần Hiệp Thủy
Những ngày cuối tháng 4 lịch sử, lang thang trên đất Bắc, vãn cảnh chùa Hương, tình cờ ghe câu ca vọng cổ với tiếng đờn bầu vẳng xa ở một góc chùa.
Đờn độc huyền âm thanh trầm bổng, réo rắt vui buồn, gợi nhớ xa xôi. Lời ca, giọng hát phương Nam vang trên đất thủ đô, bảng lảng trong sương khói ban chiều như đưa tôi về miền ký ức tuổi thơ miền Tây xưa một thời gian khó…
Thuở trước quê nghèo, xã tôi chỉ vài người có máy hát đĩa, thâu băng. Ở cái xứ không điện, thắp đèn dầu, máy “nghe, nhìn” chạy bằng pin, bình ácquy, nên người ta xài rất tiết kiệm. Nhớ những đêm bơi xuồng đi ruộng, ngang nhà có máy thâu băng, nghe Minh Cảnh, Mỹ Châu, Út Trà Ôn hát vọng cổ của Viễn Châu, tiếng đờn Văn Vĩ mà không dám khua dầm để xuồng đi chầm chậm, chờ xuống hết câu vọng cổ. Thời khó khăn, ít được nghe cải lương, vọng cổ trên truyền hình, trong máy thâu băng, thì nghe dân tài tử đờn ca ngoài đời.

Viễn Châu được mệnh danh là ông vua viết lời vọng cổ (Trong ảnh: Soạn giả Viễn Châu cùng vợ trong một bài vọng cổ)
Bác Ba, thím Tám, thằng Năm trong xóm cũng thành danh với ngón đờn, chất giọng chẳng thua kém gì dân chuyên nghiệp. Chị ruột tôi lấy chồng xóm trên, gia nhập luôn nhóm tài tử gia đình gồm cha chồng, vốn là thầy đờn có tiếng, chồng chị là tay đờn tài hoa, em chồng và chị tôi trở thành danh ca phục vụ đám cưới, đám ma, đám giỗ hay tụ họp tùy hứng. Chất hào sảng, phóng khoáng của những con người phương Nam như đọng lại, rồi bật ra từ tiếng đờn, lời ca vọng cổ.
Tôi đọc ở đâu đó phân tích của một nhà phê bình âm nhạc, khi chơi một bản nhạc của Mozart, Beethoven hay Chopin, thì người ta phải đánh ra bấy nhiêu nốt, ngừng lại bấy nhiêu lâu, không sai một ly, chỉ có khác ở lối diễn tả bằng cảm xúc. Còn đờn ca tài tử Nam Bộ, thì lại trao cho người chơi cái quyền “sáng tạo” ngẫu hứng rất cao. 
Từ căn bản, nhịp nhàng của bài tổ, thì cùng một bài, người đờn, người hát khác nhau. Cùng một người đờn, người hát, nhưng khi này, khi khác biểu diễn khác nhau. Đó chính chất tài tử mà vẫn tạo ra cái thần của môn nghệ thuật dân gian này.
Những ngày cuối tháng 4, đồng bằng quê tôi đang nô nức chờ đợi sự kiện lớn, chưa từng có ở vùng đất này: Festival đờn ca tài tử – Một loại hình nghệ thuật độc đáo có một không hai trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc được UNESCO vinh danh di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 
Từ thuở cha ông đi mở cõi phương Nam, thuở “cọp rầm, sấu quậy”, “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh”, nay thành một dải đồng bằng hơn 18 triệu dân, nối sông liền biển, là tâm điểm của 500 triệu dân ASEAN. Quê tôi, ngày ấy, bây giờ.
Vẫn tiếng đờn, lời ca ấy, nhưng nay đã khác xưa khi cái bình dị thường ngày trong xóm, ấp, được nâng tầm di sản nhân loại. Nhớ tiếng đờn, lời ca vọng cổ, như nhớ lời cha ông, bao thế hệ phải giữ gìn, phát huy tài sản vô giá của nhân loại.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...