Chuyển đến nội dung chính

Thích ứng với thời tiết cực đoan

SGGP Thứ Sáu, 6/11/2020 06:55

Năm 2020 liên tục xảy ra thiên tai như mưa đá ở miền Bắc; bão lũ, sạt lở đất khốc liệt ở miền Trung; hạn mặn, ngập lụt cục bộ và thời tiết cực đoan ở Nam bộ… Từ hạn mặn khốc liệt quay sang ngập lụt, thời tiết cực đoan hơn; nắng nóng, mưa lũ thường xuyên hơn là do biến đổi khí hậu (BĐKH) hay nguyên nhân nào khác?



Một cánh đồng ở ĐBSCL bị xâm nhập mặn

Chỉ nhìn ở ĐBSCL, các đợt triều cường liên tục tấn công, biến nhiều tuyến phố thành sông, gây tắc nghẽn giao thông, đảo lộn sinh hoạt, ảnh hưởng nghiêm trọng sinh kế người dân. Ở nhiều khu vực đô thị trong vùng, đỉnh triều đã lên mức kỷ lục trong vòng 30-40 năm qua. Trong khi đó, đỉnh lũ năm nay được cho là thấp hơn so với trung bình nhiều năm và theo các cơ quan dự báo thủy văn, mùa khô 2020-2021 vùng ĐBSCL sẽ tái diễn hạn mặn gay gắt hơn. Nghịch lý là trong khi mực nước đầu nguồn sông Mê Công xuống thấp thì các đô thị vùng giữa và hạ lưu sông Tiền, sông Hậu lại bị ngập sâu; nhiều đô thị phải vật lộn với nước ngập. Liền sau đỉnh triều cường, người dân lại phải đối mặt với trận hạn mặn mới.

Trong khi chúng ta phải tăng cường đấu tranh với các quốc gia đầu nguồn xây đập thủy điện, vốn đang “trích máu” dòng Mê Công, gây ra nhiều hệ lụy cho vùng hạ du, thì cũng phải nhìn nhận những tác động tiêu cực do chính vấn đề nội tại của vùng gây ra. Sản xuất chạy theo sản lượng đã vắt kiệt sức đất, thâm dụng và lãng phí tài nguyên, nhất là tài nguyên nước. Mặt trái của các hoạt động kinh tế gây nhiều hệ lụy ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái. Các “túi trữ nước” tự nhiên ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên bị phá vỡ. Việc khai thác bùn cát quá mức, xây dựng nhà cửa và hạ tầng sát bờ sông, kênh, rạch làm gia tăng nguy cơ sạt lở.

Các nhà khoa học đã nhận diện, tác nhân chủ yếu tạo ra hiện tượng “ngập tràn cục bộ” tại các đô thị là do con người đã “cướp mất không gian của nước”. Nhiều bờ bao khép kín của các tiểu vùng để sản xuất lúa thu đông “đeo bám” mục tiêu ngắn hạn, tăng sản lượng lúa; chạy theo hệ số quay vòng đất cao trong sản xuất nông nghiệp khiến nước lũ không vào được nội đồng để mang phù sa, thiếu dưỡng chất thiên nhiên, đã làm cho đất đai suy dinh dưỡng. Yêu cầu “dành không gian cho nước” để nước không giành chỗ của con người, càng trở nên bức bách hơn.

Để khắc phục tình trạng phố ngập, không phải là chi nhiều tiền cho các công trình xây dựng, mà cần khắc phục, thay đổi tư duy ngập nước và đảm bảo nguyên tắc không hối tiếc. Cần chuyển từ chống ngập triệt để sang điều tiết nước linh hoạt, với các tính toán khoa học và thực tế, rút ngắn thời gian ngập và mức ngập nông hơn, ít ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt hơn. Từ chống ngập bị động, sang chủ động thích ứng, nhằm giảm thiểu tác hại. Chống ngập cần những giải pháp công trình, kỹ thuật, việc kiểm soát lũ, triều cường bằng hệ thống đê, cống đồng bộ, trạm bơm, hệ thống thoát nước... Nhưng quan trọng hơn vẫn là các giải pháp phi công trình, là tư duy, theo cách tiếp cận vùng, không cục bộ địa phương, tránh xung đột lợi ích, đô thị gắn với nông thôn.

TS TRẦN HỮU HIỆP

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...